Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Ngày 30 tháng Tư, Phỏng vấn Email bài này

Như Quỳnh De Prelle: Những Công Dân Viết Văn Bằng Bàn Phím

Lưu Diệu Vân: Dù muốn dù không, chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng biến cố 30 tháng Tư đã tạo nên những ranh giới vô hình: ranh giới thời gian giữa văn chương trước và sau 1975, cũng như ranh giới không gian trong và ngoài nước. Theo ý riêng của tác giả, biến cố này đã (và đang) đem lại những ràng buộc hay tháo gỡ nào trên nền văn học Việt Nam. Và nếu không có biến cố này, văn phong/đề tài/ý thức trong sáng tác của tác giả sẽ khác với bây giờ không, và nếu có, khác như thế nào?

Cảm ơn tác giả Lưu Diệu Vân và Ban biên tập Da màu đã gửi câu hỏi cho tôi về sự kiện 30.4 trong lịch sử văn chương Việt nói chung cũng như ranh giới vô hình của văn chương trước vào sau 75 và ranh giới giữa không gian trong và ngoài nước.

Chúng ta có gì sau năm 75, một nền văn học thống nhất hay một nền văn học bị chia rẽ theo nhiều hướng khác nhau, từ văn học xã hội chủ nghĩa miền Bắc vẫn tồn tại cho đến văn học miền Nam riêng biệt mà đặc sắc và sau này thêm nữa văn học Việt Nam ở nước ngoài. Tôi bắt đầu viết thơ từ năm 14 tuổi, tôi viết nhiều thể loại khác nhau và để trong ngăn kéo, chia sẻ với những bạn bè thân thiết và trên blog cá nhân. Thế hệ của tôi, một phần trưởng thành từ blog, mạng xã hội, tôi chả ngại ngần gì nói rằng, tôi lớn lên từ những kết nối ấy, sự chia sẻ ấy. Sự giàu có từ blog và internet cho chúng tôi trở thành những công dân viết văn bằng bàn phím chứ không phải bằng giấy và ngòi bút đơn thuần. Ở đó, tôi được nói chính tiếng lòng của tôi, đời sống của tôi để tôi tìm thấy bản thể cá nhân mình. Đến bây giờ, có điều kiện thời gian dành cho văn chương nhiều hơn, tôi tìm hiểu nhiều hơn lịch sử và những biến động của nhiều tác giả mà trước kia tôi chưa có điều kiện biết nhiều, hiểu nhiều ngoài tác phẩm của họ. Lịch sử với tôi luôn là các sự kiện và thông tin ở nhiều góc cạnh khác nhau, nhiều phía, ví dụ tôi luôn hỏi mọi người trong gia đình tôi ở đây, cách nhìn của họ về câu chuyện của chúng ta… và tôi hiểu rằng, khi bỏ đi những định kiến và hiểu tại sao những lý do thì câu chuyện sẽ khác và trở nên nguyên bản như chính nó. Trên thế giới có bao nhiêu dân tộc phải di rời đất nước của mình, nơi cội rễ của mình để tìm đường sống vì lý do chiến tranh, đó là những cuộc thay đổi và cách mạng, theo một nghĩa nào đó dù muốn hay không nhưng nó vẫn tiếp tục diễn ra. Người Do thái thành công ở Hoa Kỳ ở các lĩnh vực khoa học và nghệ thuật nói chung hay như phim ảnh, văn chương, họ có những tổng kết đớn đau này không, hay họ chỉ luôn được nhắc rằng anh ta gốc Do Thái hay đến từ một nơi nào đó với quốc tịch Hoa Kỳ… Sở dĩ tôi nói đến ví dụ này là vì sao sau hơn 40 năm, chúng ta vẫn còn những băn khoăn mơ hồ về những ranh giới ấy trong khi cuộc sống và thời gian thì vẫn không ngừng chuyển động, chúng ta có hiện tại và nhiều việc phải làm cho hôm nay để ngày mai hy vọng nhiều hơn. Trong thực tế, văn học Việt ở nước ngoài đang có những giá trị riêng biệt, những kho tàng quý giá cho văn học miền Nam, cả những tác giả gốc Việt với những quốc tịch khác nhau. Bỏ qua những ranh giới, chúng ta sòng phẳng và công bằng hơn với lịch sử thì chúng ta có những giá trị nhất định trong khối đa diện nhiều sắc màu với cả những nền văn học khác chứ không đơn giản so sánh với văn học trong nước với một khuôn mẫu và mô hình như những chiếc hộp. Tôi hy vọng, người Việt dù ở đâu không phải trên quê hương xứ sở Việt Nam họ cũng nên có tâm thế mới mẻ rằng nhà của mình là nơi để sống, để tiếp tục được làm người, được quyền tự do chứ không phải cứ nơi mình sinh ra hay gốc Việt của mình mới là giá trị vĩnh cửu. Có lẽ vì tôi trẻ nên tôi thấy những gì viễn xứ, lưu vong nó không phù hợp dù ở khía cạnh nào đó chiến tranh đã mang họ xa quê hương mình nhưng đó cũng là những lựa chọn và chúng ta cần cởi mở với những thực tế đã chấp nhận nó để tiếp tục cho khỏi hoài hương, khỏi mặc cảm. Có lúc nào đó chúng ta cần biết ơn lịch sử hơn là còn nguyên ân oán, hận thù?

Bây giờ là câu chuyện của tôi, một người được sinh ra ở những năm thập kỷ 80 của thế kỷ 20, sinh ra sau chiến tranh kéo dài. Tôi không thể hình dung rằng nếu không có năm 75 thì tôi sẽ ra sao, vì đó là điều tôi không đặt ra cho bản thân mình vì sự có mặt của tôi ở cuộc sống này là từ tình yêu của bố mẹ của tôi cũng như việc tôi đang sống ở đây là do tình yêu riêng tư của tôi chắp cánh chứ không phải lý do lịch sử đặc biệt nào. Nếu trời cho tôi sứ mệnh viết chính sử hay văn chương chính luận thì tôi có thể mơ ước nào đó với sự biến động trên nhưng tôi không có được nhu cầu đó trong nội tại của chính mình. Tôi không thể giả vờ bi kịch hay adua theo đám đông để tỏ ra quan tâm thời thế hay hiểu biết quá nhiều ngoài tầm bản thân cá nhân như một cái mode của nhiều trí thức và danh sĩ. Tôi có một cuộc sống khá đầy đủ, một tuổi thơ gắn liền với sách vở từ rất sớm, ước mơ và những tác phẩm văn học phương tây từ lúc nhỏ… nó như một nền tảng cho tôi sau này dần lớn lên, ý thức về đời sống và con người một ngày rõ hơn, thực tế hơn. Tôi luôn nhớ các câu chuyện mà bố mẹ tôi kể về những nỗi buồn và thân phận của người nghệ sĩ trong lĩnh vực nghệ thuật, những buổi đi xem phim, xem kịch của gia đình tôi lúc bấy giờ… những bài ca dao và dân ca của bà ngoại và của mẹ tôi, một dòng chảy trong máu của tôi về văn hóa truyền thống. Lúc nhỏ tôi không có sự phân chia nào trong văn học Việt Nam. Văn học Việt Nam trong tôi là gì? Những tác phẩm hiếm hoi và những tác giả hiếm hoi từ lúc nhỏ đến bây giờ, có bao nhiêu người, họ viết tiếp tục hay dừng lại chỉ sau 1 cuốn sách hay vài cuốn sách hay những tác phẩm, tác giả bị cấm không được lưu hành xuất bản, chuyện này tôi được nghe bố mẹ kể nhiều. Nghĩ ra thì văn học phương Tây đến với tôi trước và nhiều hơn văn học Việt rất nhiều, những tiểu thuyết của Pháp, Anh hay Đức, truyện cổ tích nước ngoài tôi đọc nhiều hơn rất rất nhiều lần các truyện cổ tích Việt, các tác giả âm nhạc và các nhà văn hoá lớn…Trong vài năm ở Sài Gòn, tôi tìm được nhiều cuốn sách về Văn học miền Nam trên những kệ sách cũ ở những nhà sách ẩn dật. Thế hệ của tôi gắn liền với internet và xa lộ thông tin, chúng tôi bằng cách này hay cách kia tìm hiểu các nguồn thông tin nhiều hơn về các sự thật nhiều hơn đằng sau mỗi tác giả, tác phẩm. Tôi vẫn luôn nhớ khi tôi đang là sinh viên ở trường đại học và khá quan tâm đến nhiều chuyện trong giới văn chương và trí thức, bạn tôi lúc đó làm việc bên Nhật, tìm một vài tài liệu cho tôi từ các thư viện của Hoa Kỳ, chúng tôi đã nhìn sự thật như thế, từ những dòng chảy bên ngoài, có thể là những đối lưu và nó trở thành hợp lưu trong nhận thức của một thế hệ có nhiều khát vọng tìm hiểu và khám phá trên cả những cảm nhận về con chữ, về tác phẩm. Tôi quan tâm trực tiếp đến con người hiện tại, các mối quan hệ xã hội chung quanh mình và cố gắng hiểu họ ở nhiều khía cạnh khác nhau, đó là lý do tôi chọn học chuyên ngành về xã hội nhân văn thay cho việc học về văn chương hay viết lách từ đầu. Đến bây giờ, để hiểu các cách nhìn khác nhau trên một vấn đề hay một câu chuyện, tôi thấy rằng, vẫn là câu chuyện của các thế hệ. Thế hệ của chúng tôi ý thức về cái tôi cá nhân nhiều hơn, về tình yêu của bản thế chính mình nhiều hơn. Tôi bắt đầu viết là những bài thơ tình, là những nỗi đau tôi hình dung được, hay cả những giấc mơ kéo dài về mộng mị, kiếm tìm. Hơn nữa, tôi là một người phụ nữ, tôi ít đao to búa lớn chuyện chính trị, thời thế dù tôi có hiểu nó theo cách nào, đọc vài ba cuốn sách hay nhiều hơn nữa… thì nó vẫn là lịch sử đã diễn ra, tôi tôn trọng và có nhiều lúc tôi vẫn đau lòng, cay đắng. Có quá nhiều bạn bè tôi, lớn tuổi hay ngang bằng tuổi, hay thế hệ xa xưa hơn, họ đã yếm thế, bi quan. Tôi không muốn nhìn thế hệ của mình yếu đuối như thế. Tôi có thể làm được gì để thay đổi những sự kiện đã diễn ra như sự không mong muốn của nhiều người, nhiều thế hệ ngoài việc tự nhủ chính mình, sống tử tế, làm việc tử tế, không có sự phân biệt nào giữa người này người kia, vùng này vùng nọ, nơi này nơi khác… vì ở đâu, lúc nào tôi cũng quan tâm đến giá trị mà tôi hướng đến là con người với tình yêu và sự tôn trọng lẫn nhau, cởi mở dành cho nhau. Văn chương là một cách để hiểu nhau hơn bằng nỗi đau khổ, sự tuyệt vọng và cả niềm tin tự tìm thấy ở chữ nghĩa, sự cô độc của loài người. Tôi nhìn thấy tình yêu hay bi kịch ở khắp nơi không kể màu da, địa lục nào… cái ác tràn lan bằng cách này hay cách khác.

Những tác phẩm văn học Pháp, những luồng tư tưởng ánh sáng từ cách mạng xã hội Pháp cũng như triết học Đức, những bài thơ tình yêu của nhiều tác giả khác nhau từ trong nước hay nước ngoài… ở khắp nơi trên thế giới đã giúp tôi có tư duy và cách nhìn thế giới không có sự phân chia nào ngoài phân chia giá trị khi thời ấu thơ của tôi. Nghĩa là dù tôi ở Việt Nam hay không ở Việt Nam tôi vẫn hướng đến những giá trị như thế, tình yêu và tự do cá nhân, làm cách nào để có tự do, hạnh phúc là những câu hỏi luôn thường trực trong tôi để sống và viết như một người bình thường và lý trí. Sau này, tôi quan tâm nhiều hơn đến văn hóa Mỹ và phương Tây nói chung thì tôi hiểu rằng, thế giới của tôi không dừng lại ở câu chuyện của đất nước tôi nữa, nó là câu chuyện của con người ở bất cứ đâu trên địa cầu này, tôi có thể khóc hay buồn đau khi tim tôi chạm vào được nỗi mất mát chiến tranh ở Trung Đông hay những tiếng bom đột kích tấn công ở sự kiện 11 tháng 9 năm nào, động đất ở Nhật bản hay như tôi đang ở giữa trái tim Châu âu mặc dù vẫn là một người An Nam da vàng, mũi không cao nhưng tôi có tâm thế bình đẳng với mọi người, không mặc cảm và không so sánh vì tất cả chúng ta khi trong một thế giới hòa nhập, các câu chuyện riêng không thể mãi phơi bày ra và không thể buồn đau mãi nữa, cuộc sống còn tiếp tục nếu chúng ta không vội vàng, tranh thủ hoặc có lúc phải chậm lại để nhìn chúng ta đang ở đâu, chúng ta sẽ làm gì ngày hôm nay. Việc học và nghiên cứu về phim ảnh theo trường phái Holywood của Mỹ trong học bổng Dự án điện ảnh Quỹ Ford tại Việt Nam đã giúp tôi có cách nhìn mở rộng hơn về thế giới rộng lớn nói chung và con người tích cực dù ở khía cạnh này hay khía cạnh khác. Để khỏi cực đoan, có kết thúc tốt đẹp và tử tế, chúng ta phải luôn tìm cách sống, lựa chọn cách sống mở để cuộc sống còn tiếp tục chứ không phải những ngõ cụt và bế tắc.

Vì thế, khi tôi không còn ở Việt Nam vì lý do tình yêu riêng tư của cá nhân chứ không phải lý do lịch sử đặc biệt nào, thì câu hỏi đặt ra với chính tôi là bao giờ tôi xuất hiện với văn chương dù có muộn màng. Tôi băn khoăn về bản thân mình quá nhiều trong một thời gian dài, tôi nghi ngờ chính tôi khi tôi đọc những cuốn sách xuất bản rầm rộ trong nước mà tôi không thể cảm nhận được đó là dòng chảy văn chương chạm vào ý thức tôi, trái tim tôi. Tôi đã từng đứng nhìn từ xa tất cả những sự ồn ào ấy. Nhiều tác giả họ đã luôn dựa vào lợi thế Việt Nam là một nước chiến tranh và họ nói về hậu chiến, về bi kịch của hậu chiến. Tôi thì luôn tin rằng, chiến tranh có bi kịch của nó, mất mát và máu nhưng con người không thể khóc ròng rã bao năm vì lý do ấy, chúng ta đau khổ không phải vì lý do đó bao trùm lấy không gian sống, con người đau khổ vì chính cái tôi của mình, sự tự do của mình, sự ràng buộc của mình, sự đánh mất mình, sự nghèo nàn, ngu dốt và độc ác nữa…vậy tại sao cứ chỉ là chiến tranh. Và tất nhiên, tôi cần được nghe, được đọc từ những người trong cuộc như các thế hệ cha chú, họ trải qua thời khắc ấy, gian lao ấy, tù tội ấy ra sao…đó cũng là cách tôi muốn hiểu lịch sử. Tôi tìm cho chính mình từ những trang viết, thông tin từ internet nhiều hơn. Tôi ý thức được sự viết lách của mình phù hợp thế nào và ở đâu, tôi lựa chọn gia nhập văn học Việt Nam ở nước ngoài như một sự thử thách với bản thân, tôi phóng thích những tác phẩm tôi đã viết từ nhiều năm trước mà bạn đọc cứ ngỡ tôi vừa viết lúc này đây, tôi phóng thích sự nghi hoặc chính mình để tìm được tiếng nói tự do trong sáng tác. Tôi yêu tiếng Việt như một kẻ nghiện chữ từ ngay lúc nhỏ, tôi muốn viết và chia sẻ những khát vọng của thế hệ chúng tôi bằng tiếng Việt ở nước ngoài để chúng ta hiểu nhau hơn, yêu quý con người cùng nguồn cội của mình nhiều hơn ở khắp nơi trên trái đất này. Tôi vẫn hy vọng, những xung động từ bên ngoài như những dòng chảy xiết, có lúc ngược dòng có lúc sẽ là một hợp lưu uyển chuyển trong tính thống nhất của con người Việt, của dân tộc Việt và cả bi kịch của chính họ. Một đặc điểm quan trọng nữa là văn học Việt ở nước ngoài tiếp cận được nhiều xu hướng tiến bộ và tự do của văn chương nghệ thuật nói chung của nhân loại, tự do trong học thuật và sáng tác, nên với tôi đó là môi trường phù hợp để tôi rèn luyện và học hỏi cho chính bản thân mình. Một cách vô thức, đó như một sự hàn gắn, xoá bỏ đi những ranh giới khác biệt mà mọi người tự phân chia, người này người kia, vùng này vùng nọ, nơi này nơi khác và các câu chuyện của tôi luôn là câu chuyện về con người, tâm lý thay đổi và tâm lý con người dù ở đâu, họ cũng có những trạng thái như thế, họ có thể hiểu chính họ và cắt nghĩa nó, hoặc không bao giờ cắt nghĩa được, thậm chí là những cái ác trong ẩn ức, những kêu gào trong im lặng. Đó cũng là câu chuyện của chính tôi, do chính tôi nhìn và cảm nhận, thấu hiểu. Và với tôi với bất cứ chuyện gì nếu nhận ra cay đắng nhiều hơn, đớn đau nhiều hơn thì hiện tại và thời gian sống ý nghĩa là cách mà tôi lựa chọn cho chính mình, vì khi sống trọn vẹn thì tôi sẽ đủ tỉnh táo lý trí để thấu hiểu lịch sử công bằng và nhân ái. Tôi tin, văn chương cũng hướng tới những giá trị như thế một cách khách quan và rõ ràng.

Câu hỏi nhanh của BBT và cách trả lời dài dòng của tôi có thể khiến cho bạn đọc không hài lòng như điều họ mong muốn, nhưng ở thời điểm này với sự giới hạn của bản thân và nhiều điều còn tiếp tục khám phá, gợi mở để tìm hiểu, nghiên cứu, tôi mạn phép chia sẻ bằng tiếng nói nhỏ nhẹ thành thật của một người mới bước chân vào địa hạt văn chương này.

Trân trọng cảm ơn BBT Da Màu và nhà thơ Lưu Diệu Vân.

bài đã đăng của Như Quỳnh de Prelle


Bài này không có phần bình luận.

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch