Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Ngày 30 tháng Tư, Phỏng vấn Email bài này

Tru Sa: Giấc Mơ Hóa Thạch

0 bình luận ♦ 2.05.2016

Lưu Diệu Vân: Dù muốn dù không, chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng biến cố 30 tháng Tư đã tạo nên những ranh giới vô hình: ranh giới thời gian giữa văn chương trước và sau 1975, cũng như ranh giới không gian trong và ngoài nước. Theo ý riêng của tác giả, biến cố này đã (và đang) đem lại những ràng buộc hay tháo gỡ nào trên nền văn học Việt Nam. Và nếu không có biến cố này, văn phong/đề tài/ý thức trong sáng tác của tác giả sẽ khác với bây giờ không, và nếu có, khác như thế nào?

Chiến tranh Việt Nam nhìn từ hai phía đều đã chấm dứt sau 30/4. Đấy là biến cố, hoặc cụ thể hơn là bước ngoặt quá lớn và không mấy đột ngột (Xét theo tình thế chiến trận lúc bấy giờ, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa giành lợi thế). Tất nhiên, lịch sử thì luôn đột ngột và một chiến thắng dù ở bất cứ quốc gia nào, cũng chỉ giá trị khi đóng cửa chiến tranh để xây dựng hòa bình từ đống tàn tích đổ nát. Nước Đức đã làm được, còn Việt Nam thì không. Ngày cuối cùng trong tháng 4 đã chỉ chấm dứt chiến tranh ở mặt dương, tức là không ai phải ra trận, súng và đạn rời nhau ra. Về mặt âm, cuộc chiến vẫn tiếp tục, vẫn có người chết, những cuộc di dân vẫn kéo dài cho đến tận bây giờ tính chất phân biệt, kỳ thị, ý thức hệ vẫn tồn tại. Hai vĩ tuyến được nối liền, dải chữ S không còn ngăn cách nhưng cánh chim hòa bình vẫn lạc lối, mắc kẹt thâm sâu lòng lịch sử. Biết bao ranh giới vô hình được thiết lập và ngày một sâu thẳm kể sau ngày này.

Về thời gian, trước 1975 hai miền Nam Bắc đi hai con đường đối nghịch hẳn nhau. Nếu miền Bắc trì trệ và chính trị hóa tuyệt đối thì miền Nam phát triển mạnh, tự do và không có dấu hiệu suy thoái dù nền văn học chỉ kéo dài 20 năm (những Võ Phiến, Dương Nghiễm Mậu, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Duyên Anh, Du Tử Lê…là chứng cứ cho một nền văn nghệ tự do) sau 1975 văn học miền Bắc chịu một cú choáng lớn trước kho tàng lớn của miền Nam (văn chương, hội họa, dịch thuật…) Nhà văn Lê Lựu khi vào Sài Gòn (sau 1975) đã nhảy cẫng lên khi vớ được kho sách dịch Sài Gòn, ông sướng điên đọc hết triết đông rồi đến triết tây, nhai đủ loại tiểu thuyết phương tây mà vẫn chưa đã thèm. Thời điểm đấy, văn nghệ sĩ miền Bắc hoàn toàn tỉnh ngộ, hiểu rằng mình đã tiếp tay, tòng phạm cho một cuộc hủy diệt chữ nghĩa quy mô không khác gì thời Tần Thủy Hoàng. Về phía miền Nam, nền văn học đã đổi hướng hoàn toàn, hình thành trào lưu văn học Hải Ngoại mà Trần Vũ là một cá nhân kiệt xuất. Cũng từ cú ngoặt này, văn học miền Bắc chuyển sang phản kháng còn văn học miền Nam tập trung vào chủ đề lưu vong. Linda Lê, nữ nhà văn Pháp gốc Việt không bao giờ viết gì ngoài chủ đề cái viết và cái chết, sợi nối hai đề tài là bầu khí quyển nghẹt thở của sự vô thừa nhận, mất danh tính, lưu vong. Việt Thanh Nguyễn, người vừa đoạt giải Pulitzer cho tiểu thuyết đầu tay (Cảm Tình Đảng) cũng không rời được tính chất vô tổ quốc, hồ như đây là điểm chung nhất của mọi nhà văn Hải Ngoại. Với những gì tôi quan sát, thì nền văn học trong nước đang ngày một suy thoái, chết cứng và không cách nào đỉnh cao như 20 năm văn học miền Nam. Thời gian đã bao lâu rồi mà văn nghệ trong nước vẫn lẹt đẹt, vẫn à uôm, thảm hại chưa từng thấy. Cái chuyển mình trong thời kỳ Đổi Mới chớm nở một hy vọng, tưởng rằng sẽ có một đột phá lớn, ai dè bị dập tắt cho đến bây giờ có cố tìm ra một mẩu lửa cũng còn khó.

Về không gian, ngoài khoảng cách địa lý phải kể đến môi trường sáng tác. Người miền Bắc phải biết ơn miền Nam bởi kho báu quá hậu hĩnh, thứ thuốc giải bùa ma để ai cũng nếm được giọt tự do, hiểu được Văn Minh. Mọi sản phẩm phục vụ cuộc chiến ai cũng đã liệng cả vào lửa, chôn không thèm tang. Di sản miền Nam, họ cùng đón nhận, học lại từ đầu để cố viết lấy đôi dòng tử tế trước lúc chết. Có người làm được, có người không, nhưng ngay cả khi một cá nhân nào đó viết được cái gì đấy giá trị thì cũng chẳng thuận lợi trong việc in ấn. Việc kiểm duyệt, cấp phép là một thách thức. Luôn có một đội ngũ được nuôi chỉ để rình mò những lỗi đáng ngờ trong tác phẩm. Đám này soi từng câu, từng chữ, từng dấu chấm, dấu phẩy. Một bản thảo tâm huyết nếu không bị tùng xẻo tan tành thì cũng vĩnh viễn chỉ là bản thảo. “Nhạy cảm” là một cái cớ hữu hiệu trong mọi thời điểm. Trong khi đấy những đầu sách tầm thường, khả ố và nham nhở lại được xuất bản rất nhanh, thậm chí còn đứng top sách bán chạy và tái bản không biết bao nhiêu lần. Tôi không rành tình hình ngoài nước nhưng có lẽ họ/những người Việt đồng bào mình cũng rất sôi nổi sáng tạo khi có một môi trường tự do vì chẳng có ai gõ cửa mỗi khi bạn viết, chẳng có tiếng còi, tấm thẻ đỏ nào nhắm vào mỗi khi cỗ xe đòi ngược chiều để thỏa thích tung bay, cũng không có nhóm biên tập nào vừa đọc vừa cầm kéo xẻo đi những quý giá gai góc của bạn. Tuy nhiên, vấn đề đối với văn học Hải Ngoại là ngôn ngữ. Bởi việc sống ở nước ngoài, không được va đụng, giao tiếp bằng ngôn ngữ mẹ đẻ nên tiếng Việt trở thành khẩu ngữ phụ. Thế hệ sau thậm chí còn chẳng cần tiếng Việt. Họ bị tây hóa dần và chất Việt có lẽ chỉ ở phần gen nào trội hơn hoặc đứa trẻ đấy được dạy thế nào bởi cha mẹ mình. Nữ văn sĩ Linda Lê mất hoàn toàn tiếng Việt, thậm chí tư duy, phong cách cũng “Pháp” triệt để, chất “Việt” có lẽ chỉ ở cái chữ “Lê” và chủ đề lưu vong trong toàn bộ hệ thống sáng tác. Vấn đề khác vẫn là việc in ấn, bởi ngay cả khi một tác phẩm được in nhưng vẫn gặp khó khăn trong việc “về nước”. Các tác phẩm không thể nhập cảnh Việt Nam. Nhiều tác phẩm trong nước cũng thế, cấp phép, xuất bản ở nước ngoài rồi ngồi chơi ở Amazon. May rằng đây là thời đại máy móc, cổng thông tin kết nối và bạch hóa cả thế giới nên không khó khăn lắm để có thể đọc bất cứ tác phẩm nhạy cảm cường độ cao hay vừa phải nào. Dù thế, đấy vẫn là rào cản quá lớn khi hai tầng văn học Việt trong và ngoài nước khó có cơ hội đối thoại cùng nhau. Nhiều lúc, tôi băn khoăn, hai nền văn học có tạo ra hai thế hệ, hai đất nước Việt Nam không? Vẫn là sự chia đôi địa lý từ vỹ tuyến 17 nhưng một bên đang co ro trong quê hương, bên kia rải khắp năm Châu.

Quan điểm cá nhân

Nếu không có biến cố này, có lẽ tôi sẽ không viết văn. Tôi không quá giỏi tưởng tượng, nhưng nếu buộc phải hư cấu để trả lời câu hỏi này, tôi sẽ phải giả định hai tình huống. Thứ nhất, Ngày 30/4 chẳng có gì xảy ra và Việt Nam vẫn chia hai như Hàn Quốc và Triều Tiên ngày nay. Tôi, hoặc sẽ chết đói, phơi xác ở một xó xỉnh nào đó ngoài Bắc, hoặc sẽ di dân theo gia đình, đúng như ý định bất thành của ông nội tôi. Nếu thuận lợi, gia đình tôi sẽ nhập cư Sài Gòn, việc tôi có viết văn sau đó không lại là chuyện khác. Còn ngược lại, có lẽ gia đình tôi vẫn tiếp tục cuộc di dân vào Nam, không ngoại trừ trường hợp nhà tôi vì sợ đòn sẽ an phận ngoài Bắc và câm điếc cả một đời. Trong tình huống này, tôi sẽ có một tuổi thơ bầm dập hơn cả bây giờ, đói khát và chắc chắn thất học chứ đừng nói viết văn. Tuy nhiên điều đó đã không xảy ra, hiện thực trước mắt là ngày 30/4 chiến tranh kết thúc và con rồng Châu Á chỉ còn là giấc mơ hóa thạch.

Tình huống giả định thứ hai nhằm khớp với câu hỏi rằng nếu không có biến cố này “văn phong/đề tài/ý thức trong sáng tác của tác giả sẽ khác với bây giờ không” nghĩa là tôi đã viết văn. Xin trả lời nhanh rằng, khi ấy còn tùy vào tình hình lịch sử. Nếu tôi được tiếp cận với thông tin dù bất hợp pháp hay hợp pháp, lén lút hay công khai thì văn phong, đề tài, ý thức sẽ không khác với bây giờ. Vẫn là sự nổi điên, ảm đạm, rỗng tuyếch và tính chất không nương náu sẽ được phóng đại bội phần. Điểm khác biệt là những sáng tác của tôi sẽ trung thực, sát với hiện thực hơn, cũng nhiều hy vọng, tin cậy hơn vì Tổ Quốc vẫn toàn vẹn chữ S. Mỗi người viết thường bị chi phối từ tác động môi trường, bao gồm gia đình, xã hội. Môi trường thế nào sẽ nhào ra tư tưởng thế ấy. Miền Bắc nơi tôi sinh sống xưa và nay đều như vậy, luôn suy thoái theo thời gian. Hai cuộc chiến tranh đã xay thịt hết tinh hoa dân tộc, những gì còn lại chỉ là mớ bùng nhùng dở ông dở thằng. Và trong một môi trường đấy, sẽ chỉ nhào ra một tôi-TruSa như bây giờ, vấn đề khác nhau là liệu tôi có gặp được nhà văn Võ Thị Hảo không thôi. Nếu có, tôi sẽ tiếp tục con đường hiện nay. Nếu không, về ý thức viết, văn phong sẽ chậm, lùi nhiều so với bây giờ, còn riêng về mặt tư tưởng, tôi ngờ mình vẫn tin vào lịch sử viết từ Cách Mạng. Tuy nhiên, tin không có nghĩa là tôi sẽ trung thành và coi đấy như tôn giáo của những kẻ vô thần. Ngay từ mẫu giáo tôi đã không đói phiếu bé ngoan, khăn quàng đỏ tôi chỉ coi đấy là vật bắt buộc phải có trên cổ. Vào cấp ba, tôi được ướm ca-vát lên cổ và rất yêu lớp khăn quàng này (Tôi học cấp 3 Dân Lập Nguyễn Bỉnh Khiêm và trường này có quy định học sinh phải đeo ca-vát, đồng phục ngoài áo gió phù hiệu trường, thì là một bộ comlê sọc xanh). Tôi luôn phá phách bởi đấy là nguyên lý sáng tạo của tôi từ lúc chưa từ bỏ giấc mộng ManGaka: Cầm búa và đập. Có hay không có biến cố 30/4, với tôi chỉ là việc mình mất bao lâu để thay đổi như bây giờ. Tác động vào việc viết của tôi không phải lịch sử mà là môi trường sống, con người. Biến cố lịch sử là một thành tố quan trọng, cú tát sấm sét để tôi xóa sổ không nhân nhượng số kiến thức hổ lốn buộc phải nạp vào đầu kể từ khi biết nói tiếng người. Với tôi, lịch sử là cái mặt nhiều lớp và tôi cũng là kẻ đeo mặt nạ. Cái mặt thật nối vào trung tâm tôi là những sáng tác, tuy nhiên tôi có tật hóa trang.

Biến cố 30/4 cho đến giờ phút này vẫn là một rào cản, một hố đen ngăn cách ngay cả khi ý thức hệ cộng sản đã tan rã, biến mất theo cả nghĩa bóng và nghĩa đen. Ngày Liên Xô sụp đổ, Chủ Nghĩa Xã Hội cũng xuống mồ, những gì còn lại chỉ là trò chơi vương quyền giữa các thế lực. Lịch sử vốn là một bàn cờ chính trị, chẳng ai biết mình đang chơi, đang bị chơi hay tất cả chỉ là một con cá ngựa trong ngàn vạn con cá ngựa trong chuồng, mọi nước đi phụ thuộc vào quẻ xúc xắc. Gieo được sáu, anh xuất chuồng và gieo được một, anh có quyền đá hậu. Muốn chữa khỏi vết thương dân tộc, cần phải xóa bỏ ngày này, coi đấy như một ngày bình thường trên lịch/hoặc đừng bao giờ hò reo, tiệc tùng hoang phí ngân sách trong cái ngày hòa bình được chất cao từ triệu triệu xương máu da vàng. Thế hệ tôi đã ngán lắm rồi dù công trình lớn hay pháo hoa.

bài đã đăng của Tru Sa


Bài này không có phần bình luận.

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch