Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Ngày 30 tháng Tư, Phỏng vấn Email bài này

Nguyễn Thị Hoàng Bắc: Vươn Lên Trong Nhiều Hoàn Cảnh

Lưu Diệu Vân: Dù muốn dù không, chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng biến cố 30 tháng Tư đã tạo nên những ranh giới vô hình: ranh giới thời gian giữa văn chương trước và sau 1975, cũng như ranh giới không gian trong và ngoài nước. Theo ý riêng của tác giả, biến cố này đã (và đang) đem lại những ràng buộc hay tháo gỡ nào trên nền văn học Việt Nam. Và nếu không có biến cố này, văn phong/đề tài/ý thức trong sáng tác của tác giả sẽ khác với bây giờ không, và nếu có, khác như thế nào?

Văn chương Việt không có ngày 30/4/1975 tất sẽ không có văn chương lưu vong. Tôi chỉ đề cập đến văn chương thôi, không dám ôm đồm cả văn học. Ở đây chúng ta không tranh cãi ai là lưu vong, ai là chính thống, trong nước hay ngoài nước- như trước đây đã từng dấy lên một cuộc tranh cãi như vậy, với ít nhiều mặc cảm của hai từ lưu vong. Bốn mươi năm trôi qua, đời sống người Việt ở nước ngoài hầu hết đã ổn định, nếu không kể nhiều bộ phận, thành phần, giai cấp xã hội cũ và mới, từ những gia đình gốc ngụy, tầng lớp mới giàu có, tư bản đỏ … từ trong nước vẫn tiếp tục muốn di cư/lưu vong ra nước ngoài sinh sống, thì hai từ lưu vong không còn mang nghĩa gốc là bị bứng ra khỏi gốc, là chạy xấc bấc xang bang ra khỏi quê hương, lìa bỏ quê cha đất tổ, là chạy theo đít ngoại bang để hít chút bơ thừa sữa cặn v.v.

Thoát khỏi những mặc cảm lúc ban đầu như vậy, một dòng văn chương Việt mạnh mẽ thành hình với những đặc trưng, đặc tính, đặc thù của nó mà những nhà nghiên cứu văn học tất phải nhận ra. Nó không giống với văn chương đương đại trong nước, văn chương miền Nam, miền Bắc trước 1975, từ đề tài, văn phong, suy tư phán đoán, thái độ tương tác khi tiếp cận cuộc đời và xã hội, phản ứng, cách giải quyết vấn đề, vẫn biết con người luôn là đề tài muôn thuở nhưng cách suy tư và diễn đạt thì không thể nào muôn thuở được. Dấu mốc cái khác này hiển nhiên là lằn ranh 30 tháng 4, 1975. Dù muốn dù không.

Cuộc di tản, di cư, chạy trốn, vượt biên, vượt biển, hát- ô, ô-đi-bộ, ô-đi-ghe, ô-đê-pê,* xuất khẩu lao động, xuất khẩu cô dâu, nạn nhân buôn người, du sinh, di dân hợp pháp… muôn màu muôn sắc bao nhiêu đó đủ thấy vẻ buồn rực rỡ, vui âu sầu, và đa dạng của văn học Việt lưu vong- chúng ta nói mà không hề mặc cảm như trước đây. Thế giới phẳng với sự bùng nổ thông tin và internet, chính sách mở cửa của chính quyền Việt Nam kể từ năm 1900, cũng góp phần giảm nhẹ mặc cảm nặng nề của hai từ lưu vong đó.

Phải kể thêm yếu tố địa lý, người Việt bỗng nhiên có cơ hội thuận lợi trộn lẫn với văn minh quốc tế, Úc, Mỹ, Anh, Pháp, Nhật, Canada… Trộn lẫn ngôn ngữ, trộn lẫn văn hóa, nếp sống, cách suy nghĩ, phản ứng, ảnh hưởng tương tác giữa người di dân và người bản địa… thậm chí cả y phục, thức ăn… tiêu cực hay tích cực còn phải chờ nhiều thẩm định, nhưng thay đổi thì chắc chắn là có. Cứ nhớ tới cuộc trộn lộn năm 1954 với cuộc di cư hơn 1 triệu người Bắc vào Nam đã thành hình, và ghi lại những dấu ấn trộn lẫn Bắc Nam của ngôn ngữ, nếp sống, sinh hoạt, và từ đó, văn học.

30 tháng 4, với tôi, là một kinh nghiệm kỳ bí. Ở lại (vì không có phương tiện di tản và hoang mang không chắc có nên bỏ nước ra đi hay không), ở lại, với hy vọng một đất nước thôi tan hoang vì chiến tranh máu đổ giữa hai người anh em gà cùng một mẹ, ở lại, với hy vọng nước Việt nam là một, dân tộc Việt nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không thể thay đổi*. Câu nói hay ho ấy đã không thể thành hiện thực như trong sâu xa mong ước của những người Việt còn lương tri. 40 năm đã trôi qua, dân tộc Việt nam chưa thể là một được vì sự trả thù tàn khốc của bên thắng cuộc*, (tôi thích chữ cuộc thay vì thắng trận, đại thắng mùa xuân, bên được, bên thua… của tác giả Huy Đức, cuộc chỉ là cuộc chơicuộc cờ, là thách đấu, đã chơi thì có thắng có thua, có tiền thì đặt tiếp, và hết tiền vì không ai cho vay cho mượn/viện trợ nữa thì rút lui, tháo chạy thì là thua, và vì còn vay mượn được để hốt cờ thì gọi là thắng, chúng ta hai miền đánh bạc bằng máu của mình và theo tiền vay, xin, mượn của hai phe đế quốc Nga-Tàu và Anh-Mỹ-Pháp, hai con bạc anh-em-ruột say máu ngà sát phạt nhau chỉ vì hàng xóm đưa tiền xúi trẻ ăn cứt gà đấy thôi.) Dù sao thì cũng buồn 5 phút vì thân phận nhà nghèo, nhược tiểu. Đã nghèo, nhược tiểu mà luôn bị thử thách, phá đám, hiếp đáp bởi những thằng giàu và ác như vụ tôm cá hiện nay ở Vũng Áng Hà tĩnh Quảng Bình. Hàng chục ngàn tấn tôm cá chết đầy biển mà các anh chị lãnh đạo đảng và nhà nước ta chưa thể công bố do nguyên nhân gì thì chắc là cá đang tự sát vì không vượt biển được trước ngày 30/4 đấy!

Dòng văn chương lưu vong viết bằng tiếng Việt tuổi đời đã hơn 40 năm, sẽ khởi sắc hơn, hay sẽ hao mòn, đứng lại? Và có thể bao gồm trong dòng văn học lưu vong Việt này không, khi suy nghĩ đề cập đến một thế hệ trẻ Việt di dân đang tham gia dòng chính lưu main stream, viết văn bằng ngôn ngữ quốc gia họ sinh sống, và đã đạt những giải thưởng lớn, Đinh Linh, Nguyễn Quý Đức, Lan Cao, Nam Lê, Đỗ Khiêm…và gần đây nhất Nguyễn Thanh Việt với Sympathizer…? Trong ngôi làng thế giới mỗi ngày một mở rộng xuyên biên giới, mỗi công dân trong ngôi làng đều tự trang bị cho mình ít nhất là hai sinh ngữ, thì việc nghĩ đến việc bao gồm những tác giả gốc Việt viết bằng ngôn ngữ khác vào một dòng với văn chương viết bằng tiếng Việt ở nước ngoài là hợp lý hợp tình hay không?

Đại loại, 30 tháng 4 đã tạo ra những suy nghĩ cân nhắc khá mới này… (Trước 30 tháng 4 cũng đã có những tác giả Việt như Nguyễn Tiến Lãng, Phạm Duy Khiêm…sáng tác bằng tiếng Pháp, nhưng tác phẩm không phổ biến và các tác giả không đông đảo như hiện nay). Tôi nêu lên suy nghĩ này vì nghĩ tới những tác phẩm cổ điển giá trị của văn học Việt Nam được sáng tác bằng chữ Hán, ngay trong thời kỳ chúng ta đã có chữ nôm như Ức Trai thi tập của Nguyễn Trãi, Cung Oán Ngâm khúc của Đặng Trần Côn, Cao Chu thần thi tập của Cao Bá Quát…

30 tháng 4 khởi đầu là đau đớn, bi thương, là hận thù, tan tác, giờ đây dường như những dấu ấn ấy đã ngày một phai nhạt để thay thế bằng những hình thành tươi tắn, tích cực và đa dạng hơn, để thấy trong căn cơ mỗi người Việt, mỗi thế hệ Việt một sức chịu đựng, một bản sắc, khả năng thích ứng, và sức mạnh vượt thoát, vươn lên trong nhiều hoàn cảnh rất hoàn cảnh

Vậy thì, cám ơn 30 tháng 4! Cám ơn Lưu Diệu Vân đã gởi câu hỏi. Dù muốn hay không 30 tháng 4 lại về, rõ mồn một như mới ngày hôm qua…

__________

*H.O, ODP, các chương trình di dân chính thức đến Mỹ, từ đó, vượt biển bằng thuyền, bằng đi bộ đều có chữ ô một cách nói diễu vui.

*câu nói lừng danh của Hồ Chí Minh

*tác phẩm của Huy Đức

bài đã đăng của Nguyễn Thị Hoàng Bắc


Bài này không có phần bình luận.

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch