Trang chính » Biên Khảo, Ngày 30 tháng Tư, Phỏng vấn Email bài này

Cung Tích Biền: Lịch Sử Không Có Chữ Nếu

Lưu Diệu Vân: Dù muốn dù không, chúng ta cũng không thể phủ nhận rằng biến cố 30 tháng Tư đã tạo nên những ranh giới vô hình: ranh giới thời gian giữa văn chương trước và sau 1975, cũng như ranh giới không gian trong và ngoài nước. Theo ý riêng của tác giả, biến cố này đã (và đang) đem lại những ràng buộc hay tháo gỡ nào trên nền văn học Việt Nam. Và nếu không có biến cố này, văn phong/đề tài/ý thức trong sáng tác của tác giả sẽ khác với bây giờ không, và nếu có, khác như thế nào?

 

Đúng là biến cố 30 tháng Tư 1975 đã tạo ra những ranh giới Không và Thời để phân mảnh nền văn học Việt Nam. Nhưng “Cái ranh giới vô hình” này không chỉ mới một lần diễn ra trong lịch sử văn học nước nhà. Chỉ một điều đáng lưu tâm là biến cố 30 Tháng Tư, khác trước, vì nó không là một diễn biến có tính thần kế thừa. Mà, là một hố thẳm, đoạn tuyệt quá khứ, là một thảm họa. Nó đào tận gốc, trốc tận ngọn những gì có trước, dù đó là Quốc hồn, Quốc túy, là nền tảng Việt.

Văn học là một dòng chảy, luôn có thể chuyển biến dưới áp lực của chính trị, hoàn cảnh lịch sử, và đáp ứng đòi hỏi của nhu cầu thời đại chính nó. Nền văn học Việt Nam, không chỉ một lần 30 tháng Tư mới “Thay áo đổi tên.”

Xin trình bày rất sơ lược một vài thời kỳ văn học, những điểm khác biệt khi chuyển tiếp.

Qua một nghìn năm Bắc thuộc, hạnh ngộ ban sơ với nền tự chủ, là các triều Ngô, Đinh, Lê. Đến triều Lý [1010-1225] nền Văn học có mặt, sang thời nhà Trần [1225-1400] nó được gia cố. Tiêu biểu, một dòng thơ văn Lý -Trần rực rỡ. Ở đây rõ ràng hai dòng văn học Lý-Trần, đương nhiên rất nhiều khác biệt nhau, nhưng có gắn bó chặt chẽ nhau, có kế thừa rõ nét, trong một hệ thống Tam giáo.

Nền Nho học, tính từ Nhà Lý đến năm có lệnh bãi bỏ [triều Nguyễn] các cuộc thi, dùng Hán tự, cũng đã vừa qua 900 năm. Mặc dù trong sinh hoạt Chữ nghĩa có lúc song hành một hệ sáng tác qua chữ Nôm, kèm một dòng văn chương truyền khẩu, nhưng đại diện chính thống, chủ đạo vẫn là nền văn học chữ Hán. Tại Bắc Kỳ bãi bỏ thi hương vào năm 1915, thi hội 1916. Tại Trung Kỳ bỏ thi hương năm 1918, thi hội 1919. Chữ Hán vẫn còn được tiếp tục dạy trong trường học, nhưng nền Văn học của chữ Tượng hình đành lui vào Dĩ vãng.

Cuộc bái biệt của Thời Cổ Thụ này khá dài lâu, lây lất hàng nhiều thập kỷ, dưới áp lực của nhu cầu minh hóa. Phải là chữ quốc ngữ. Phải là Canh tân. Phải là thoát khỏi cái thói hủ nho, sự bại hoại của những triều đình phong kiến. Phải tiến vào cái thế kỷ Bình minh mà nhân loại đang có.

Nền Quốc học với Quốc ngữ đã mở toang cánh cửa. Không kể đất Nam Kỳ với Gia Định Báo có trước, những Đông Dương Tạp Chí, Nam Phong, Tự Lực Văn Đoàn, Phong trào Thơ Mới, và những rừng chữ nghĩa của hằng hằng sách vở báo chí khác, đã trải dài suốt non một tiền bán thế kỷ XX, tiêu biểu nhất là thời kỳ dòng Thơ Mới và Tự Lực Văn đoàn những năm 30. Một thời đoạn văn học tươi trẻ, nó rất khác lạ, rất Tây, rất trái tai ngược mắt, rất không dung thứ được dưới phần lớn nhãn quan của các nhà Nho thủ cựu. Giữa Mới-Cũ, đã có phê phán, bài xích, hạ bệ, đưa lên ngôi.

Nhưng rõ ràng, giai đoạn/dòng văn học này không đóng sầm cánh cửa với quá khứ. Biết tri ân tổ tiên, cám ơn Cái Cũ. Vẫn khiêm tốn, xem Tản Đà, Phan Khôi là những nhà Tiên phong, người Truyền Nỗi Niềm cho kẻ tới sau.

1945. Bác Hồ về. Văn chương vị nghệ thuật, lẫn văn chương vị nhân-sinh-phi-búa-liềm, tạm ngưng thở một thời gian.

Miền Nam, 1954-1975, nền văn học ấy vẫn là một rộng mở với quá khứ. Bảo tồn tất cả những gì là tài sản cao quý, không cứ lĩnh vực nào của Kẻ Trước để lại. Thậm chí nền văn học ấy [chính quyền] đã cho tự do phổ biến những tác phẩm có giá trị từ thời tiền chiến, mà nay tác giả của nó là những cán bộ thứ thiệt của chính quyền Bắc Việt.

Nhìn chung, mỗi dòng văn học Việt Nam – phần riêng trong các triều đại và các thể chế có tôn trọng quyền tự do sáng tạo – theo chiều dài lịch sử, dù có lúc thế này thế nọ, có đứt quãng phân đoạn, nó vẫn giữ một tinh thần thống nhất, nhân văn, đạo lý, có kẻ trước người sau. Chẳng ai đốt tiệt sách vở có trước, cấm tiệt sự lưu hành, in ấn, đẩy các tác giả không cùng ý thức hệ chính trị với mình về phía kẻ thù. Không ai đưa ai lên thớt, mài dao, tính sổ.

Nếu bảo rằng, “Biến cố 30 Tháng Tư là một biến cố chính trị, toàn triệt đổi trắng thay đen, thân phận của văn học không thể thoát ngoài”; nhận định này cần phải xem lại. Năm 1954, cũng một thay đổi toàn triệt như thế, nhưng thực tế đã hoàn toàn khác. Văn học không là nạn nhân của chính trị. Nó được thoát, được sống riêng đời sống chính nó.

2.

Tôi xin lặp lại câu hỏi của Da Màu “Theo ý riêng của tác giả, biến cố này đã (và đang) đem lại những ràng buộc hay tháo gỡ nào trên nền văn học Việt Nam.”

Ràng buộc? Bao la có. Cả xích xiềng. Nhưng chúng, là bọn xích xiềng, đang nằm trong một Hệ-thống-thép-đúc-khuôn, nạn nhân khó bề Tháo gỡ?

Ở một góc nhìn tổng quát, tôi xin đưa ra một biểu trưng, như một phóng dụ. Cách nói bao đồng này của tôi, đôi phần thiếu nghiêm chỉnh, tôi rất xin lỗi. Như vầy:

Biến cố tháng Tư giống như lúc bà con Miền Nam đang chạy xe ngon trớn thường ngày, bỗng gặp phải một “sự cố.” Một ngã tư chẳng hạn. Hay khắp các nẻo đường Miền Nam, cũng đành.

Đèn đỏ. Các bảng chỉ đường đã đồng loạt được sơn màu đỏ mới toanh, được treo lên chiều qua, với những ký hiệu: “Cấm quẹo trái” lẫn “Cấm quẹo phải”. Rẽ hướng nào, theo đúng ý nguyện của anh, đều gặp phải bảng cấm. Rẽ trái đón đứa con nhỏ lúc tan trường, tạt bên phải để tới thăm mẹ trong bệnh viện, tất thảy anh không có quyền. “Cái tự do quẹo” từ nay không còn.

Sẽ đi tù, nếu không đi thẳng. Đường thẳng phía trước? Một mũi tên Đỏ. Cả xứ sở, nơi chốn quen thân của anh bấy nay, tất cả, đang phải/cần/được cải tạo. “Tiến lên xã hội chủ nghĩa”. Nó đang được đào xới, móc sâu xuống hoặc được nâng cao, san bằng hoặc đắp ụ. Cải tạo mà anh! Cùng khắp là khập khiểng, là dở dang. Là có bể đầu gãy cẳng. Là có thể bỏ xe cuốc bộ, cõng con thơ, dìu mẹ già. Con đường sẽ đầy ngập bùn lầy, hoặc cháy khô bụi đường tùy vào nắng mưa. Chim chóc, cây cối, cũng vạ lây. Có con đường cây cao bóng cả bị cưa ngang ngọn, để giảm thiểu ngã đổ. Có hàng cây trăm năm tuổi thọ bị đào trốc gốc, thay vào là hàng cây “Nhớ Người.”

Lộn xộn dữ thần! Thời kỳ ‘Quá độ” mà anh Tám! Quá độ, có nghĩa là qua đò. Đạo Phật có lục độ, sáu phép để Qua Bờ. Thử ngạn, là bên này con sông, chỗ Bến Mê, bờ bên kia, Bỉ ngạn là Bờ Giác.

Cuộc “quá độ” của người cộng sản chỉ có nhất độ, một trực chỉ. “Chỉ Thẳng tiến, đi tới thôi anh Ba.” Nhưng cuộc “Quá độ” này không gian là không có cây số, về thời gian là không định mức tháng năm. Nó tà tà như bọn nhậu ngồi trong bàn rượu, lúc nào “tới” cũng được.

Cả một bộ phận dân tộc ngà ngà điên, bồng bềnh say, cầm mớ lý tưởng thay mồi nhậu, mù mờ dắt dìu nhau trong bao năm, đến nay, vẫn chưa đi tới được Cái Chỗ, để cùng nhau,“Nhìn rõ, may mắn thấy ra một tương lai có-thể-Có đang ở xa xa.”

Cải tạo, đổi mới, sửa sai, thí điểm, càng ngày càng rối rắm. Phan Khôi đã từng châm biếm trước đây chừng sáu thập niên, thời Nhân văn Giai phẩm:

“Sửa sai, sửa lại sửa lại sửa đi,

sửa thì cứ sửa, sai thì cứ sai”

Tôi năm nay vừa tám mươi tuổi. Tình cờ, cũng thú vị, là con số 30 cộng với 50. Ba mươi năm, sống trẻ thơ của chín năm thuộc Pháp, và tuổi lớn qua hai mươi mốt năm Việt Nam Cộng Hòa. Và 50 năm kia, gồm 9 năm thời kháng chiến vùng Việt Minh, cộng với 41 năm dưới thời toàn trị độc đảng của Cộng sản – 1975 đến nay, 2016. Tôi tạm hiểu niềm mơ ước “Tiến lên” này.

Ràng buộc? Búa tạ, tập thể đập bảng cấm, vài mươi năm, chưa chắc đã có lối ra?

Có biến cố, hay không có nó, thì văn phong/đề tài/ý thức trong sáng tác của một tác giả, ít nhiều vẫn phải khác. Có khi khác đáng ghét, khác kịch liệt. Khác mơ màng. Khác, đến như chính bản thân một người con gái khi chưa biết đàn ông là gì, đến khi là người Mẹ bế ẵm đứa con, rạo rực hiểu ra, cả Vũ trụ trong Bé thơ này.

Tuy nhiên có một Sự Khác, rất dễ nhận diện. Đó là thái độ ứng xử với hiện tình. Kẻ viết tiếp, theo một cách khác, thuận lợi cho sự bình an. Người bẻ bút, đoạn tình chữ nghĩa. Kẻ sống âm thầm, đợi thời cơ.

Khi cầm bút trở lại, bốn bề hung khí, rực mùi động vật, lại thấy ngay: “Trong lọ mực đã có máu.” Không là riêng nghĩa bóng.

Và,

Chính cái “Kết thúc” bất công dành cho số phận Miền Nam, đẩy nỗi đau đớn, thất vọng, thù hận, chia lìa, đến chỗ bao trùm. Thế sự này đã làm cho “Cách viết” nơi mỗi tác giả có phần biến dạng.

“Thân phận của Chữ nghĩa trong những tác phẩm luôn bị gắn liền, bị điều động bởi sự chia lìa, nỗi đau đớn phi lý mà lịch sử đã bày ra cho mỗi con người. Không gì khác, ngoài. Không một hoài mơ nào có thể mọc ra trong cái biển chữ xám màu.”

Nó mất hẳn đi “Cái”, cũng nói về chiến tranh, phận người, tang thương gãy vỡ, nhưng khinh khoái, tinh khôi, xem thường mọi sự nhưng giàu dung thứ, khinh bạt coi nhẹ đời nhưng đậm đà chia xẻ, của một dòng văn chương trước đó, của chính họ, thời Cộng Hòa.

Người cầm bút còn chút lưu tâm, Sau Biến Cố, có đôi lúc, vị nghệ thuật, đã bức thoát ra khỏi cái ám ảnh, có phút giây hướng ngọn bút về một phương bát ngát, nhưng phóng dật nào, ảo diệu nào, nghi ngút mộng tưởng nào, cuối cùng cũng vô tình quy về nỗi căm uất bi lụy, chỗ cận thế thái nhân tình, chỗ riêng mình, Một góc nhà than vãn.

Cái vòng tròn định mệnh này là cùng khắp, dù người cầm bút là kẻ ly hương, hay người mất quê hương ngay trên xứ sở mình đang ngáp thở.

Do vậy, khí chất văn chương, thể lực của văn học, cái linh hồn nó cần nơi trú ngụ, tất thảy gom tụ trong hiện tình, vẫn là “Con tin của nỗi thù hận,” là “Nạn nhân của Chuồng trại chính trị.”

Chúng ta chưa thể có những tác phẩm tầm cỡ nhân loại, do tự mình thu nhỏ mình. Sự Khác này là một bao trùm. Nó như một thảm họa định mệnh. Nó được đẻ ra từ quốc nạn Cộng sản. Không thể chỉ tên một tội phạm quả tang nào khác.

Lịch sử không có chữ Nếu. Nhưng dựa trên lời phỏng vấn của Da Màu, một câu hỏi tôi xin phép đặt ra:

“Nếu không có biến cố 30 tháng Tư, một tai biến gây đột quỵ, người cầm bút [Miền Nam] nói riêng, nền Văn học VN [ Miền Nam] nói chung, có khác đến như thế không?” Thưa rằng, “Không”.

Nó sẽ được vinh hạnh nối dài một nền Văn Học thời Cộng Hòa. Như trước đó nó đã từng có hai mươi mốt năm.

Cũng từng bị một cuộc nội chiến nhồi da xáo thịt, bị bom đạn nát đầy; bị ngoại bang tìm cớ tiến vào phá bỉnh rồi phản bội bỏ đi; từng cưu mang một xã hội luôn tương phùng với thảm họa, chết chóc; từng thượng thừa sống với buồn nôn, phi lý phận người; vân vân và rất muôn nghìn vân vân bất trắc của thời đại…

Nhưng nền Văn học ấy – không loại trừ cả nền hội họa, âm nhạc, đi cùng – là luôn luôn giữ được một thần thái tươi sáng, tinh khôi. Luôn là một thế giới rộng mở, đầy nhân ái, khách quan và giàu mộng tưởng.

Một số lớn Tác phẩm của họ không chỉ có mỗi con đường quanh quẩn. Bi lụy, thù hận. Đem cái riêng tư hẩm hiu này cạnh tranh cái tư riêng đã cạn láng kia. Lấy cái thân phận lưu đày này phỉ báng cái số phận đau thương kia. Văn học Cộng Hòa không tự thu nhỏ, không tự đọa đày chính mình. Nó biết tôn trọng và gìn giữ sự thanh cao và tinh khiết của Chữ nghĩa, của Nỗi lòng.

Một thế hệ sáng tác đã thành danh ngày ấy, cả những người đọc thân tình thuở ấy, nay nếu còn sống, trẻ nhất cũng ngấp nghé tuổi cổ lai hy. Hỏi họ, “Tiếc gì? Thương đâu?” Chắc rằng chẳng ai buồn trả lời. Những hoài vọng hiếm hoi đã ở nơi đống tro tàn. Và, lịch sử đã là như thế.

[Sàigòn, 27 tháng Tư, 2016]

bài đã đăng của Cung Tích Biền


Bài này không có phần bình luận.

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch