Trang chính » Bàn Tròn: Tôn Giáo & Chính Trị, Biên Khảo, Lý Luận, Quan Điểm Email bài này

Đạo Và(o) Đời: Bổ Khuyết và Hồi Đáp Những Góp Ý Trên Da Màu

3 bình luận ♦ 26.04.2016

 

Bài Giảng năm 1987 của Jean-Bertrand Aristide khi còn là Linh mục tranh đấu cho dân nghèo

 

Rất cảm ơn các vị đã góp ý, để cuộc thảo luận ‘Đạo-Đời’ được phong phú, đa dạng hơn. Cũng cảm ơn các vị đã cảm thông cho ‘nghề nghiệp’ của tôi. Các vị nói đúng, tôi chỉ đủ khả năng diễn đạt những gì ở trong tầm hiểu biết của mình. Kinh nghiệm vượt biên ngày xưa dạy tôi rằng: ‘Thuyền nan trên sông, đừng đòi ra biển’. Tôi không hề có tham vọng ‘khuyến dụ’ người khác tin vào điều mình tin, chấp thuận điều mình giải bày. 30 năm trước, tôi đã ngạc nhiên ngỡ ngàng, khi đọc một cuốn sách về Phật Giáo, thấy rõ ràng lời dạy của Đức Phật, có nhiều câu rất giống với lời Thầy Giêsu. Tôi hiểu biết thêm chút ít về đạo Phật, rồi tự nhận định: ‘Thì ra, chân lý chỉ có một, mặc dù, đường tìm về chân lý có nhiều lối ngõ khác nhau.’

Nói ‘chân lý’ thì quá mông lung, xa vời. Nói thực tế, gần gũi hơn thì: Cuộc thảo luận Đạo-Đời của chúng ta, chỉ hướng tới một mục đích duy nhất: Để mang lại lợi ích cho đời sống con người. Cùng quy hướng về một mục đích, nhưng mỗi tác giả tự chọn một lối đi riêng, có đoạn đồng hành, có đoạn tách ra, chia tay rồi lại hội ngộ. Miễn sao, chúng ta không ‘cấu xé’, ‘đấu đá’, đòi phân định đúng/sai, người thắng kẻ thua, gây tổn thương cho nhau, mà đường thì lại dài thêm đăng đẳng. Mong rằng, chúng ta cùng chia sẻ ý kiến, quan điểm, thông tin về lối đi của mình, học hỏi từ lối đi của bằng hữu, trong sự tương kính, trân trọng và biết ơn nhau (một lần nữa, xin cảm thông cho giọng điệu giảng thuyết của tôi).

Trước khi bàn luận về những lời góp ý, xin mời quí độc giả đọc thêm phần bổ khuyết tôi đã gởi cho Da Màu, để hiệu đính lại bài nhận định về ‘Giáo Hội chuyển mùa’. Lúc Da Màu nhận được, cũng là lúc Ban Biên Tập chuẩn bị khởi đăng bài phản hồi của ông Nguyễn Nhân Trí. Bởi thế, theo lời đề nghị của họ, tôi ‘để dành’ phần này tới bây giờ:

Nói về mối liên hệ phức tạp giữa Đạo và Đời, không thể không nhắc đến câu truyện của Jean-Bertrand Aristide. Ông là cựu tổng thống nước Haiti nhỏ bé (nằm ở phía Nam Hoa kỳ, trong vùng biển Carribean, dân số khoảng 2.7 triệu), và cũng là ‘cựu’ linh mục Công Giáo dòng Salesian.

Chào đời năm 1953, trong một gia đình nông dân nghèo khổ, bố mất sớm, khi cậu bé mới được ba tháng. Aristide từng là một học sinh ưu tú của trường (do dòng Salesian điều hành, chuyên lo cho giới trẻ, đặc biệt giới trẻ bất hạnh, nghèo hèn, mồ côi, bụi đời). Năm 1974, sau khi hoàn tất bằng cử nhân ở Haiti, ông lên đường sang Dominican Republic, tu luyện tại Chủng Viện Salesian, rồi tiếp tục học thêm chuyên khoa Triết và Tâm lý tại Haiti, Ý Đại Lợi, Do Thái và Gia nã đại. Nhờ đi du học, ông sử dụng được 8 ngôn ngữ: Tây Ban Nha, Ý, Đức, Do Thái, Bồ Đào Nha, Anh, tiếng địa phương Creole và tiếng Pháp. Năm 1983, Aristide chịu chức linh mục, rồi bắt đầu hoạt động hăng say để giúp đỡ trẻ mồ côi, bụi đời trong những khu vực gai góc, nguy hiểm và nghèo khổ nhất tại thủ đô Port-au-Prince. Ngài dùng tòa giảng để gởi đi những thông điệp chính trị, tố cáo chính quyền quân đội đã đàn áp người dân Haiti trong suốt thế kỷ 20.

Cha Aristide ngày càng nổi tiếng. Số người ủng hộ tăng cao. Các bài giảng cấp tiến hơn, kêu gọi dân chúng đứng lên đòi hỏi nhân quyền. Chính quyền lo sợ, yêu cầu Giáo Hội can thiệp để Aristide ngừng gây rối loạn. Không đạt kết quả, quân đội nhảy vào. Ngày 11 tháng 9 năm 1988, lúc cha Aristide đang dâng lễ, quân đội thẳng tay tấn công vào nhà Chúa. Hơn 10 người chết, 70 người bị thương, nhà thờ thánh John Bosco bị đốt thành tro bụi. Hai tuần sau, Aristide bị khai trừ khỏi dòng, đồng thời, tòa thánh Vatican ra lệnh cho cha phải rời khỏi Haiti.

Thế nhưng, sau cuộc tấn công, dân chúng Haiti lại tôn sùng cha như một thánh nhân, một vị tiên tri xuất hiện để giải thoát họ khỏi sự nghèo đói, bần cùng. Nghe tin Aristide bị trục xuất, hàng chục ngàn người biểu tình, phong tỏa đường dẫn tới phi trường, nhất quyết ngăn chặn các thế lực chính trị thực hiện ý định tống khứ ‘đấng cứu độ’ Haiti. Họ thành công. Aristide ở lại, dù không có một giáo xứ chính thức, nhưng cha vẫn tiếp tục phục vụ dân nghèo, mở trung tâm y tế, trường dạy nghề và nhà tá túc cho trẻ vô gia cư.

Cuối thập niên 1980, quân đội Haiti gây hỗn loạn, vượt ngoài tầm kiểm soát của chính phủ. Lực lượng gìn giữ hòa bình, Liên Hiệp Quốc can thiệp, yêu cầu và trợ giúp cho một cuộc tổng tuyển cử tự do. Thoạt đầu, Aristide từ chối ứng cử, nhưng sau, lại đổi ý, vì sợ nhóm quân đội Tontons lên nắm quyền. Ngày 18 tháng 10 năm 1990, linh mục Aristide đắc cử tổng thống với số phiếu ủng hộ là 68%. Dân chúng kéo ra đường nhảy nhót tưng bừng, cơn ác mộng tưởng chừng đã qua. Riêng phe đối lập là quân đội và giới giàu, lại coi Aristide như một mối đe dọa đáng gờm.

Tổng thống Aristide chính thức điều hành quốc gia từ ngày mùng 7 tháng 2, năm 1991. Ông mạnh dạn cải tổ, lập ra chương trình giáo dục để dân nghèo có cơ hội đến trường, cách chức, hoặc bỏ tù kẻ tham nhũng, đồi bại. Ông còn thành lập một đội quân riêng, qui tụ nhóm băng đảng đường phố, để ‘thanh toán’ những món nợ ân oán với các cựu quan chức chính phủ tiền nhiệm. Hành động ‘ăn miếng trả miếng’, ‘nợ máu phải trả bằng máu’ này, làm khó chịu giới quan sát quốc tế. Phe đối lập vùng lên chống đối, để rồi, chỉ sau 7 tháng nắm quyền, tổng thống Aristide đã bị tướng quân đội là Raoul Cedras lật đổ.

Cơn ác mộng quay đầu trở lại. Bạo lực đáp trả bạo lực. Quân đội tra tấn, tử hình công khai những người trung thành với Aristide. Ông may mắn chạy thoát, tới Venezuela, rồi sang Hoa Kỳ để cầu cứu sự ủng hộ của các nhà lãnh đạo thế giới. Trong vòng 3 năm, Liên Hiệp Quốc và Hoa Kỳ, bằng nhiều biện pháp kinh tế và quân sự, đã gây áp lực lên chính quyền Haiti. Tháng 9, 1994, hơn 20 ngàn quân Hoa Kỳ được biệt phái sang Haiti để đối đầu với chế độ Cedras. Chỉ 1 tháng sau, Aristide được hồi hương, tiếp tục trách vụ tổng thống cho đến hết nhiệm kỳ 5 năm.

Năm 1994, linh mục kiêm tổng thống Aristide tuyên bố từ bỏ thiên chức linh mục. Theo lời ông giải bày, không phải vì ông mất đức tin, nhưng ‘bởi vì, nó (hành động từ bỏ) đã cho tôi một không gian tự do để làm việc’. Năm 1996, ông lập gia đình với Mildred Trouillot, một luật sư trong ban cố vấn của chính quyền Aristide. Sau khi mãn nhiệm kỳ tổng thống, ông tiếp tục tranh đấu cho người dân thấp cổ bé miệng ở Haiti và trên toàn thế giới.

Vì hiến pháp Haiti không cho phép ứng cử liên tiếp hai nhiệm kỳ, nên Réné Préval, cựu thủ tướng trong nội các của Aristide, đã lên cầm quyền.

Tháng 2, 2001, Aristide tái đắc cử tổng thống, với số phiếu ủng hộ lên đến 92%. Tuy nhiên, phe đối lập đã tẩy chay cuộc bầu cử này và tố cáo kết quả gian lận. Tình hình đất nước lúc bấy giờ, còn thê thảm hơn trước rất nhiều: Nạn thất nghiệp cao kỷ lục, giao thông tắc nghẽn, đường phố hư hỏng, dịch vụ y tế và giáo dục thiếu thốn, nạn chuyển vận ma túy hoành hành, Haiti trở thành quốc gia nghèo nhất trên thế giới. Tổng thống Aristide hứa hẹn sẽ tạo thêm việc làm, cung cấp những nhu cầu căn bản cho người dân. Tuy vậy, lực bất tòng tâm. Phe đối lập quậy phá. Xung đột, bạo lực leo thang. Tháng 4, 2003, Liên Hiệp Quốc đặt Haiti vào tình trạng khẩn cấp, 56% dân chúng thiếu ăn, suy dinh dưỡng, và chỉ có 46% được sử dụng nước sạch. Cuối năm 2003, nhiều phe phái trong nước và ngoại quốc (tổ chức Nhân Quyền) khuyến nghị Aristide từ chức. Nội chiến bùng nổ, đất nước chia đôi, phe chính phủ nắm quyền kiểm soát miền Nam, phê nổi dậy ở miền Bắc. Giữa hai lằn đạn, số dân bị chết và bị thương lên đến hàng trăm người. Cuộc thương thảo giữa hai phe bế tắc, vì Aristide không chịu từ chức. Ngày 27, tháng 2, 2004, Bộ Trưởng Ngoại Giao Hoa Kỳ Colin Powell ngỏ ý: ‘Tôi biết Aristide luôn đặt quyền lợi của người dân trong trái tim. Tôi hy vọng ông ta sẽ suy xét cẩn trọng (quyết định từ chức) vì quyền lợi của dân chúng Haiti.’ Ngày 29 tháng 2, 2004, Aristide ký đơn từ chức, rồi bay sang Central African Republic. Tháng 6, 2004, Aristide đến South Africa. Trong cuộc họp báo ngày 31 tháng 5, 2004, Thứ Trưởng bộ Ngoại Giao Nam Phi, Aziz Pahad công bố: ‘Tổng thống Aristide, gia đình và đoàn tùy tùng sẽ ở lại quốc gia này, cho tới khi tình hình Haiti đủ ổn định, để họ có thể trở về’.

Truyện đời ông Aristide đã diễn tả sống động mối liên hệ phức tạp giữa Đạo-Đời. Tuy chỉ là một dẫn chứng, chưa đủ để đưa đến một kết luận khả tín, nhưng chúng ta vẫn có thể rút ra được vài bài học đáng suy gẫm:

a. Sự chọn lựa, tùy theo hoàn cảnh, của một nhân vật nổi tiếng, có thể làm thay đổi số phận của người đó, đồng thời, ảnh hưởng đến cả định mệnh của một quốc gia. Nếu Aristide giữ vững ý định, nhất quyết không ra tranh cử tổng thống, thì số phận của ông và định mệnh Haiti sẽ khác hẳn hiện tại.

b. Địa vị, quyền lực, những đẩy đưa của thời thế…, có thể thay đổi cả bản chất con người. Linh mục Aristide nổi tiếng vì tấm lòng nhân hậu, chuyên giúp đỡ kẻ nghèo khổ, bần hàn, cương quyết chống lại sự bất công trong xã hội, dùng Lời Chúa và lời sự thật để tranh đấu, chứ không bao giờ có ý định dùng bạo lực. Tổng thống Aristide, tuy vẫn cố giữ lý tưởng phục vụ, đứng về phía người dân, nhưng ông đã dùng quân đội, không phải để tự vệ, mà để trả thù, dùng bạo lực để giải quyết vấn đề. Aristide là một linh mục tử tế, nhưng lại là một tổng thống…tồi tệ.

c. Trên phương diện chính trị, đúng y như lời tác giả Đinh Từ Thức đã biện luận: ‘Việc nước và việc đạo cần tách rời nhau.’ Giáo Hội hiện thời, không cho phép bất cứ giáo sĩ nào gia nhập các tổ chức chính trị. Nếu muốn, thì phải chọn một trong hai. Ông Aristide đã mạnh dạn từ bỏ thiên chức linh mục để hoạt động chính trị. Đây là một chọn lựa cá nhân sáng suốt, vì ông không thể ôm đồm cả hai chức vị linh mục và tổng thống trong cùng một lúc.

Điểm c cuối cùng này, rất cần được bổ khuyết, vì nó chính là điểm thiếu sót trong bài nhận định của tôi.

Bởi thế, xin được xác minh lại: Dưới góc nhìn Giáo Hội, thì Đạo và Đời ở trong nhau, hai mà như một, nhưng một vẫn là hai (ý niệm này, theo Kinh Thánh, cũng áp dụng cho mối liên hệ mật thiết giữa vợ-chồng, vì cả hai đã ‘thành một xương một thịt’ (St 2,24), cũng như giữa Giêsu-Giáo Hội, Phu Quân-Hiền Thê). Tương tự, hai giới răn nền tảng: ‘Mến Chúa, và, Yêu Người’ thật ra, cũng chỉ là một. Tuy nhiên, theo góc nhìn xã hội, đặc biệt trên phương diện chính trị, thì ‘việc nước và việc đạo cần tách rời nhau’ như Đinh Từ Thức, Black Raccoon, Nguyễn Hoàng và Nguyễn Nhân Trí đã biện luận (riêng Đinh Phương, theo tôi hiểu, là góc nhìn tổng hợp, nghiêng về lý luận Đạo-Đời gắn bó hơn là tách ra).

Như đã mở đầu, hy vọng rằng, chúng ta cùng đồng thuận với nhau: Mỗi người có một lối đi riêng. Điều quan trọng nhất, là mục đích tối hậu của cuộc thảo luận: Để mang lại lợi ích cho đời sống con người. Qua phần góp ý của các vị, theo tôi thấy, cũng chỉ nhắm tới mục đích này. Lời chia sẻ của tôi, chắc chắn, cũng không muốn đi ra ngoài mục đích ấy.

(Những đoạn chữ nghiêng, xuống hàng, là phần trích dẫn từ bài góp ý của ông Nguyễn Nhân Trí)

Nếu ai hỏi rằng đạo và đời có cần được giữ tách rời nhau không thì tôi xin trả lời là “Rất cần”. Câu trả lời nầy dựa trên ba lý do thực tế sau đây: Thứ nhất, để có thể bảo vệ các quyền tự do căn bản nhất của mọi người… đạo tách rời khỏi đời có nghĩa là các tổ chức tôn giáo không được nắm quyền hành trong chính phủ và chính phủ không can thiệp vào các vấn đề tôn giáo.

Điểm khúc mắc ở đây vẫn là: Mối liên hệ Đạo-Đời, nên gắn bó hay cần tách rời nhau. Tôi e rằng, chúng ta lại bị cuốn hút vào vòng xoáy tranh luận từ ngữ, góc nhìn, thường dẫn đến sự bế tắc, ‘sai một ly đi một dặm’. Cũng may, nhờ đọc bài phản hồi, tôi chợt nghĩ ra một ý niệm khác, hy vọng có thể giúp chúng ta phân biệt rõ ràng hơn:

a. Mối liên hệ Đạo-Đời, đối với Giáo Hội, là mối tương quan giữa đời sống tâm linhthực tại của mỗi người.

b. Mối liên hệ Đạo-Đời, đối với Xã Hội, là mối tương quan giữa tổ chức tôn giáotổ chức chính trị trong đời sống con người.

Ở điểm a, mối liên hệ Đạo-Đời chú trọng đến khía cạnh tâm linh và đời sống thực tại của mỗi người (cá nhân, trong mối tương quan với giáo hội). Ở điểm b, mối liên hệ Đạo-Đời chú trọng vào khía cạnh xã hội: Tôn Giáo và Chính Trị, liên quan đến đời sống của mọi người (cá nhân có đạo, trong mối tương quan với cuộc đời). Có khi, ab buộc phải liên kết. Có lúc, ab cần tách rời nhau khi thảo luận, để tránh làm trí óc chúng ta ‘rối như canh hẹ’, chẳng biết đường nào mà lần.

Câu truyện Aristide, có thể làm sáng tỏ hơn ý niệm này: Linh mục Aristide đã thực thi hai giới răn Mến ChúaYêu Người. Theo lý tưởng phục vụ, ông xả thân giúp đời, đặc biệt chăm lo cho các trẻ em bất hạnh, bị bỏ rơi. Cá nhân ông nối kết đời sống tâm linh và thực tại, sống đạo trong đời, sống đời trong đạo. Toàn dân Haiti nể phục, coi ông như một vị thánh nhân đã đến để giải thoát họ khỏi cảnh nghèo khổ, bần cùng. Rồi thời thế đổi thay, ‘thánh nhân linh mục’ vụt trở thành ‘phàm nhân tổng thống’. Aristide thành công trong vai trò mục tử, nhưng thất bại trong vai trò chính trị. Nói một cách khác, ông đã thành công khi gắn kết Đạo-Đời trong vai trò mục tử, nhưng đã thất bại khi không chịu (hay không biết) tách rời Đạo-Đời trong vai trò tổng thống.

Nếu vậy, câu hỏi được đặt ra: Khi nào thì a (tương quan tâm linh và đời sống thực tại của một người)b (tương quan tôn giáo và chính trị trong đời sống xã hội) buộc phải liên kết, và chính vì thế, đã tạo ra xung đột?

Tôi nhớ đến các bác sĩ Công Giáo (a), làm việc trong bệnh viện có dịch vụ phá thai (b), lúc đó, họ phải hành xử theo lương tâm để chọn lựa: Một, thà kiếm việc chỗ khác. Hai, thỏa thuận trước với bệnh viện để làm việc khác, chứ nhất định không chịu phẫu thuật phá thai (ngoại trừ trường hợp khẩn cấp, có thể nguy hiểm đến tính mạng bệnh nhân). Ba, chấp thuận phẫu thuật phá thai, như mọi bác sĩ làm ở bệnh viện đó. Là người Công Giáo, họ biết luật đạo, là người công dân, họ biết luật đời. Họ chọn cách thứ nhất, hay thứ hai, hoặc thứ ba, chỉ riêng họ mới biết.

Tương tự, nhiều tín hữu Công Giáo làm việc trong các cơ quan chính phủ, đảng phái chính trị, quân đội…, đều bị giằng co giữa luật đạo (giáo hội) và luật đời (xã hội). Mỗi người, tùy theo hoàn cảnh, phải cân nhắc chọn lựa theo tiếng lương tâm mách bảo (Chợt nhớ tới truyện phim xuất sắc ‘A few good men’ do Demi Moore, Tom Cruise, Jack Nicholson thủ vai chính). Nói cho cùng, theo Đức Giáo Hoàng Phanxicô, như ông Nguyễn Nhân Trí đã trích dẫn, thì: ‘Tôi là ai mà (dám) xét đoán?’

Đối với những luật lệ mà xã hội ngày nay chấp nhận (ngừa thai, phá thai, thụ tinh nhân tạo, đồng tính luyến ái…), có vẻ như, không trực tiếp liên quan đến Giáo Hội (vì đây là luật xã hội), theo ý niệm điểm b, cần phải tách rời Đạo-Đời, vậy tại sao tổ chức Giáo Hội lại lên tiếng? Theo tôi, vì hai lý do:

Thứ nhất, Giáo hội có trách nhiệm với tín hữu của mình (1.2 tỷ người), như cha mẹ yêu thương con cái. Chẳng có bậc cha mẹ nào lại dạy bảo các con điều mình tin là sai lầm. Giáo Hội chỉ hướng dẫn tín hữu điều mình tin là đúng đắn. Cho dù, có bị người đời (hay ngay cả các tín hữu) chỉ trích, lên án là cổ hủ, lỗi thời, chủ quan, chậm tiến, Giáo Hội cũng cương quyết bảo vệ quan điểm, dựa theo luật yêu thương của Chúa. (xin được lập lại ý tưởng đã nói trong bài nhận định trước đây: Dạy bảo là trách nhiệm của cha mẹ, nhưng con cái có vâng theo hay không, là quyền lựa chọn của mỗi đứa. Luật đúng đắn rõ ràng, cả xã hội chấp nhận: không giết người, không dối trá mưu lợi…, mà còn vi phạm, huống gì, luật còn đang gây tranh cãi tốt-xấu, đúng-sai.)

Lý do thứ hai, Giáo Hội quan tâm đến toàn thể nhân loại, đến ích lợi trong đời sống tâm linh và thực tại của mỗi con người (điểm a), bởi vậy, Giáo Hội lên tiếng, thúc đẩy, gởi kiến nghị cho các chính phủ xã hội, như mọi tổ chức tôn giáo khác (điểm b). Khác xa với thời quá khứ (sai lầm), Giáo Hội không có quyền lực để áp đặt luật lệ lên bất cứ quốc gia nào. Giáo Hội chỉ hành xử quyền kiến nghị, tự do ngôn luận nằm trong điều khoản thứ nhất của bản tuyên ngôn Nhân Quyền trong hiến pháp Hoa Kỳ. Tất nhiên, kiến nghị có được chấp thuận, hay bị bác bỏ, đều tùy thuộc vào sự lựa chọn của người dân trong mỗi quốc gia.

Nếu nắm vững được ý niệm ab, thì chúng ta không cần phải loay hoay tranh luận về nhận định này:

Tổ chức tôn giáo cần tách rời ra khỏi tổ chức chính trị, không được nắm quyền hành trong chính phủ, để mọi người đều hưởng quyền tự do tín ngưỡng, để giữ được một chính phủ phi-tôn-giáo và để bảo vệ tự do tư tưởng.

Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Nhân Trí có vẻ…lấy làm tiếc, khi nhận xét là:

Dù muốn dù không muốn nhìn nhận, luật pháp Mỹ vẫn chịu ảnh hưởng lớn bởi Thiên Chúa Giáo. Thí dụ, Giáo Hội Công Giáo luôn luôn chủ trương thúc đẩy chính phủ liên bang lẫn tiểu bang trong chính sách Y Tế để cấm cản người dân Mỹ không được ngừa thai hay phá thai. Giáo Hội cũng tích cực chống đối quyền hôn nhân bình đẳng của những người đồng tính luyến ái.

Với góc nhìn, biện luận ‘clear-cut’ rõ ràng, dứt khoát, theo tôi hiểu, ý tác giả là, luật pháp xã hội không nên bị ảnh hưởng bởi bất cứ tôn giáo nào cả!

Trong góc nhìn của riêng tôi, sự ảnh hưởng là điều không thể né tránh. Khi ‘chung sống’ với nhau, hoặc ít nhất là, đồng hành, kết giao với nhau, thì vợ-chồng, bạn-bè, các tôn giáo, sắc tộc, văn hóa, ngôn ngữ đều bị ảnh hưởng lẫn nhau. Dĩ nhiên, ảnh hưởng cả điều tốt đẹp lẫn điều xấu xa. Tôi tự hỏi là, luật pháp Hoa Kỳ, khi chịu ảnh hưởng lớn bởi Thiên Chúa Giáo, đã trở thành một quốc gia như thế nào? Có bao giờ dân chúng nghĩ rằng, các giá trị phổ quát mà Hoa Kỳ được thừa hưởng và đang ‘rao giảng’ cho toàn thế giới noi theo như: Quyền tự do, dân chủ, cách sống văn minh, lòng quảng đại, bác ái, vị tha, gìn giữ môi trường, chăm lo cho thế hệ tương lai…, là nhờ được ảnh hưởng từ những giá trị luân lý, tinh thần của Thiên Chúa Giáo (và những Đạo Giáo khác) hay không? (Dĩ nhiên, Thiên Chúa Giáo không thể…nhận vơ tất cả điều tốt đẹp là từ mình mà ra, chỉ một phần thôi, nhưng chắc chắn là có). Tôi cũng nghĩ đến những quốc gia khác như, Nhật Bản, chịu ảnh hưởng lớn từ Phật Giáo, hiện giờ nước Nhật đang đứng ở vị trí nào trên thế giới? Họ tủi hổ, hay tự hào về truyền thống văn hóa ảnh hưởng từ Đạo Giáo? Còn Trung Quốc, cũng từng chịu ảnh hưởng từ Đạo Giáo, nhưng bây giờ lại do đảng Cộng Sản, chủ trương vô tôn giáo nắm quyền. Đúng, họ mạnh nhất, nhì, ba trên thế giới, nhưng mạnh ở điểm nào? Xét theo những giá trị mà xã hội văn minh đang cổ võ, chúng ta có đồng ý với cách thức Đảng Cộng Sản sử dụng để củng cố quyền lực như thế không? Những người có tự do chọn lựa nơi cư trú, có ai muốn sống ở Trung Quốc hay không? Tôi còn nghĩ xa hơn nữa, khi đọc lời nhận định của ông Nguyễn Nhân Trí:

Cần gìn giữ một nhà cầm quyền phi tôn giáo để bảo đảm mọi người dân được đối xử bình đẳng hơn. Trong toàn Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Hiến Pháp của Hoa Kỳ không hề có chữ “Thượng Đế” hay “Giê-su”, đó là vì lý do trên. Khi chính quyền bị nhuộm màu tôn giáo, sẽ có những chính sách kỳ thị không những trên phương diện tín ngưỡng mà còn về văn hóa, chủng tộc lẫn khuynh hướng tính dục.

Có ba điểm đáng lưu ý trong đoạn này:

Thứ nhất, theo tôi hiểu thì, phi tôn giáo không có nghĩa là vô tôn giáo, mà là, không thiên vị cho một tôn giáo nào cả. Xã hội Hoa Kỳ đa tôn giáo, vì họ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của mọi người dân.

Thứ hai, Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Hiến Pháp của Hoa Kỳ không hề có chữ ‘Thượng Đế’ hay ‘Giêsu’ (lạ một điều, trên tờ giấy bạc thì lại có: ‘In God We Trust’, nghĩ chơi cho vui: Chuyện khác thì không cần, nhưng dính đến tiền thì cần Chúa lắm, vì nó là nguyên nhân gây nên nhiều hệ lụy cho con người). Vì không phải là một sử gia, nên tôi chỉ nêu lên một nghi vấn: Các bậc tiền nhân cùng đóng góp để soạn thảo bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Hiến Pháp, họ có tin đạo hay không? Đạo nào? Có bao giờ, chính vì họ tin đạo, nên hiểu được ý niệm ‘tôn trọng’ mọi người, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và ngôn luận trong xã hội. Bởi vậy, họ đồng ý với nhau là, không nên nhắc đến tên Thượng Đế, vì không thể áp đặt Thiên Chúa của họ để bắt ép toàn dân phải tin theo? Đây chỉ là một dấu hỏi, không có lời giải đáp, nhưng đáng để suy tư.

Thứ ba, khi chính quyền bị nhuộm màu tôn giáo, sẽ có những chính sách kỳ thị…, theo tôi thì, cũng tùy vào mức độ bị nhuộm, và ‘phẩm chất’ nhuộm là loại nào. Nếu bị nhuộm toàn bộ, bằng ‘phẩm chất’ xấu, của một ‘quốc giáo’ độc đoán độc tài, thì chắc chắn, chính quyền sẽ có những chính sách kỳ thị…, như lời tác giả đã kết luận. Tuy nhiên, nếu được nhuộm khéo léo một phần, như một nét nghệ thuật tô điểm, bằng một phẩm chất tốt, thì tấm vải chính quyền sẽ đẹp hơn.

Như đã phân tích, khi tổ chức xã hội và tổ chức tôn giáo đồng hành, không thể tránh né chuyện gây ảnh hưởng cho nhau, nhuộm màu lẫn nhau. Vì thế, dù muốn hay không, các chính sách quốc gia cũng sẽ bị ‘lây nhiễm’. Sẽ có những ảnh hưởng tốt và xấu đan xen, nhưng nếu ‘phẩm chất’ của các loại chủ nghĩa, tôn giáo, tổ chức, văn hoá, ý thức hệ xấu xa, tụt hậu, lỗi thời, không đem lại ích lợi, không làm cho đời sống con người trở nên tốt đẹp hơn, thì sớm muộn gì nó cũng sẽ bị đào thải, như lời ông Đinh Từ Thức đã kết luận. Nếu ‘phẩm chất’ nào còn tồn tại, nghĩa là, nó đã vượt qua được nhiều thử thách của bão tố, nắng mưa, nó có giá trị riêng, và bởi vậy, tại sao chính quyền lại sợ bị nhuộm màu?

Phần thứ hai trong bài phản hồi của ông Nguyễn Nhân Trí, chú trọng vào câu: ‘Tìm ra Thánh Ý trong Lời Chúa’. Tôi xin mạn phép không tranh luận nhiều, bởi vì:

1. Đặc tính của câu này, nhắm tới góc cạnh chuyên môn của Giáo Hội, không mang lại ích lợi chung cho quí độc giả.

2. Mỗi người tự chọn một lối đi, có khi cần kết giao đồng hành, có lúc cần mạnh dạn tách ra. Tự bản chất, câu này liên quan tới Đức Tin, góc nhìn của tác giả dựa vào kiến thức khoa học, lý trí, lý lẽ, lý luận, góc nhìn của tôi dựa vào cảm nhận tâm linh. Hai góc nhìn khác nhau. Tốt nhất thì, ‘agree to disagree’, hãy đồng ý là, chúng ta bất đồng. Như câu danh ngôn thông dụng: ‘Difference doesn’t mean right or wrong. It’s just different’ (khác nhau, không có nghĩa là cái này đúng, cái kia sai, nhưng chỉ là khác nhau). Tôi sẽ mỉm cười, lắc đầu, xin lỗi, nếu có ai chất vấn: ‘Hãy chứng minh cho tôi thấy, Thượng Đế hiện hữu, có thật.’

Vì thế, tôi chỉ hồi đáp lời ‘nhờ cậy’ gián tiếp của ông Nguyễn Nhân Trí:

Một điều mà tôi đã nhiều lần tìm hỏi nhưng chưa ai bao giờ giải đáp thỏa đáng được. Đó là tôi không tìm đâu trong Kinh Thánh một lời răn nào cho phép tín đồ…đọc (Kinh Thánh) dưới nhiều góc cạnh…Biết đâu tác giả, là một linh mục, có thể giúp giùm tôi việc nầy ở đây?

Với kiến thức lịch sử rành mạch về Kinh Thánh như ông, mà còn không tìm thấy, thì chắc chắn, tôi cũng không thể tìm ra. Nhưng tôi tự hỏi: ‘Có cần phải tìm hay không?’

Tôi chỉ biết một điều đơn giản: Thầy Giêsu đã nhiều lần dùng dụ ngôn, nghĩa là, Thầy muốn các môn đệ và người nghe phải suy nghĩ, suy niệm, suy xét Lời Thầy. Có nhiều lần Thầy báo trước tương lai sứ mạng Thập Giá, chén đắng phải uống, đau khổ phải chịu, mà các môn đệ vẫn cứ không hiểu. Họ chỉ hiểu ra, khi quay nhìn lại, lúc mọi chuyện đã hoàn tất. Bởi vậy, Giáo Hội rất cần những người cống hiến đời mình để tìm hiểu Lời Chúa. Chắc ông thừa biết, chú giải Thánh Kinh cũng là một tiến trình nghiên cứu khoa học, vì cần truy tìm nguồn gốc, khảo cổ tỉ mỉ, đối chiếu thời gian, không gian, sự kiện, văn bản… Không những thế, người chú giải cần phải có một đời sống nội tâm sâu sắc, vững mạnh, gần gũi với niềm tin, để suy niệm, lắng nghe lời mặc khải từ thinh không, hoang địa. Kiến thức quan trọng, nhưng không quan trọng bằng đời sống nội tâm. Kiến thức cần, nhưng chưa đủ. Có một nhân vật mà các tín hữu, nhất là tôi, thường xuyên chạy đến nhờ cậy để hỏi xin ý kiến, trước khi làm chuyện gì quan trọng. Danh xưng của nhân vật này, nếu tôi đề nghị, ông nên tìm hiểu để bổ sung cho công trình nghiên cứu về Thiên Chúa Giáo của ông, thì chắc ông sẽ bác bỏ ngay lập tức. Chúng tôi gọi người đó là: Chúa Thánh Thần.

Rất tiếc, tôi cũng không thể giải đáp thỏa đáng cho ông. Nghĩ sao thì viết vậy, mong ông lượng thứ!

Cuối cùng, sau khi đưa ra nhiều dữ kiện chứng minh, nhận định, để phản bác lại câu ‘tìm ra thánh Ý trong lời Chúa’, ông Nguyễn Nhân Trí kết luận: “Thánh Ý” theo tôi thật ra chỉ là “Nhân Ý”.

Nếu xét trên góc độ lý trí, lý lẽ, lý luận, dựa vào cách phân tích, so sánh, tổng hợp…, ‘nói có sách, mách có chứng’, thì rất hợp lý: Mọi kiểu chú giải Thánh Kinh đều là Nhân Ý (vì do chính con người giải thích).

Đó là góc nhìn trên lối đi của tác giả Nguyễn Nhân Trí. Chúng ta vẫn tôn trọng nhau, dù không đồng hành. Độc giả đọc đến đây có thể yên tâm hài lòng. Diễn đàn thảo luận đã khép lại, hạ màn.

Biblical-wisdom_350_210_90

Nhưng…nếu bạn đọc còn chút…lưu luyến, nán lại, hỏi dò: ‘Vậy, góc nhìn trên lối đi của Joseph B. thì sao?’ Thì tôi, như môn đệ bắt chước ‘sư phụ’, sáng tác một dụ ngôn tân thời:

Một nhà khảo cổ sẵn sàng lên đường tìm kho tàng. Ông đã bỏ ra 20 năm nghiên cứu, suy tư, vắt kiệt sức lực, khổ công lắm mới chiếm hữu được tấm bản đồ nơi cất dấu. Mọi thứ đều được chuẩn bị chu đáo: Đoàn tùy tùng, vật dụng, thực phẩm, xe cộ, máy móc…, không thiếu thứ gì. Sau bao ngày tháng gian lao, vượt qua nhiều chướng ngại, thử thách, cuối cùng, cả đoàn hò reo mừng rỡ: ‘Đúng rồi, nó đây rồi!’Sắp được tha hồ vơ vét ngọc ngà châu báu, đời mình sẽ lên hương, giàu to!’ Mọi người đồng ý trao vinh dự cho vị trưởng đoàn, để mở ra cánh cửa duy nhất dẫn vào kho tàng. Nhà khảo cổ hăm hở nhận lời. Ông đi được vài bước, rồi khựng lại, chợt nhận ra rằng, mình không có…chìa khóa.

Chuyện nhỏ! Chỉ cần dùng mìn phá là xong! Thế nhưng, mìn nổ, mặt đất rung chuyển, đất đá văng tứ tung, mà cánh cửa vẫn không xê dịch chút nào. Nhà khảo cổ chưa hề nản chí, ông cử người canh gác cẩn thận, rồi đi về, tốn thêm chục năm nữa, kiếm được chìa khóa. Trở lại, hí hửng đút chìa vào lỗ, rất vừa vặn, xoay một vòng, nhưng cửa vẫn không chịu nhúc nhích. ‘Sao lạ thế kìa?’ Nhà khảo cổ vò đầu bứt tóc: ‘À! Thì ra!’ Mảnh vải bọc chiếc chìa khóa, có chữ viết ngoằn ngoèo. Ông lướt nhìn, nhưng không đọc được thứ ngôn ngữ kỳ quái cổ xưa.

Chuyện nhỏ! Chắc nó chỉ là một câu thần chú để cầu khẩn với vị thần giữ cửa kho tàng, trước khi được phép dùng chìa khóa mở ra. Nhà khảo cổ lại đi về, ông bỏ công truy tìm cổ ngữ đó thêm nhiều năm nữa, nhưng vẫn thất bại. Đến cuối đời, ngồi trong góc tối căn phòng, bàn tay vân vê mảnh vải và chiếc chìa khóa, ông thở dài nuối tiếc, tự nhủ: ‘Mang danh là giáo sư khảo cổ, kiến thức uyên bác, bằng cấp ngập đầu, sử dụng thành thạo cả chục ngôn ngữ, vậy mà, vẫn không thể hiểu được một câu thần chú chỉ có hai ba dòng’.

Ngôn ngữ viết được thì chắc chắn có người đọc được…

Joseph B.

bài đã đăng của Joseph B.


3 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Dòng La San

    Trước 75, tôi ở Thủ Đức. Một quận lỵ nhỏ, thuộc tỉnh Gia Định, cách Sài Gòn 15 vây số. Thủ Đức tuy nhỏ nhưng sinh hoạt xã hội rất phong phú. Thủ Đức có trường kỷ thuật Việt Đức, Trung Học Kiểu Mẫu, các Dòng Tu nổi tiếng của đạo Công Giáo, Chùa Quan Âm, Đình Linh Chiểu Tây (liên hệ với bên ngoại vua Tự Đức), trường Bộ Binh VNCH, Học Viện Cảnh Sát QG. v.v…

    Quý vị nói về Đạo Đời, trong phạm vi đạo TCG thôi, tôi lại có khá nhiều kỷ niệm thời còn bé với chuyện này . Ở Thủ Đức có Dòng Don Bosco, tôi không biết thế nào, chứ cứ mỗi chủ nhật, mấy ông cha (có ông cha người Ý nói tiếng Việt như người Việt) nơi đây hay mở cửa đón khách con … nít đủ mọi thành phần (đa số là nghèo) vào chơi, ăn, xem xi nê . Ông cha người Ý này, gần như con nít nghèo ở Thủ Đức lúc đó đứa nào cũng biết (tôi quên mất tên) ông hay mang tấm bảng nhỏ trước ngực, đứng ngay cửa ngày chủ nhật: ở đây nhận trẻ em từ 7 đến 12 tuổi.
    Thủ Đức cũng có một Dòng Tu kín khác là Dòng Đa Minh. Đúng là kín mít. Chẳng ai biết bên trong là gì. Sau này thì ôi mới rõ đó là dòng tu loại khổ hạnh nhất của đạo Công Giáo. Dòng La San ở Thủ Dức thì chuyên về mở trường dạy học.

    Phải chăng Dòng Don Bosco và Dòng Đa Minh của TCG là hai bề mặt Đạo Đời (lý thuyết và thực hành) dễ nhận ra nhất ?

  • black raccoon viết:

    Giáo Hội Công Giáo luôn luôn chủ trương thúc đẩy chính phủ liên bang lẫn tiểu bang trong chính sách Y Tế để cấm cản người dân Mỹ không được ngừa thai hay phá thai. (bài chủ)

    Ý trên tôi trích trong bài chủ mặc dù không phải là ý của tác giả bài bày. Theo tôi, chuyện này xảy ra trong xã hội Mỹ quá bình thường . Quý vị đừng quên, nhà thờ hay tu viện, nhà chùa v.v… về mặt luật pháp Hoa Kỳ vẫn là những đơn vị, tổ chức hay hiệp hội dân sự, dĩ nhiên họ có tư cách công dân hay pháp nhân chứ. Nếu quý vị thấy GHCG có thể “thúc đẩy” được chính phủ Liên Bang việc này việc nọ thì GH khác hay bất cứ tổ chức dân sự nào khác cũng có thể gởi thơ yêu cầu, kiến nghị với chính phủ như thường. Họ bình đẳng như nhau thôi. Đấy là chưa nói, cái tiến trình “thúc đẩy” đó cũng phải tuân theo luật định. Tự ông TT cũng không thể “chỉ đạo” thay đổi một chính sách hay điều luật của QH chẳng hạn.

  • Nguyễn Nhân Trí viết:

    Thưa linh mục Joseph B, xin cám ơn những lời hồi đáp của ông.

    Tôi sẽ không bàn luận thêm về chuyện “Đạo và Đời” với ông nữa. Tôi đã đưa ra cái nhìn của tôi, và ông cũng đã trình bày quan điểm của ông (2 lần), về vấn đề nầy rồi. Tôi và ông đứng ở 2 bờ sông khác nhau (hay đúng ra là 2 con sông, 2 lục địa, 2 thế giới khác nhau – về mặt tư tưởng) nên không có gì ngạc nhiên khi có nhiều lý luận, và kết luận, khác nhau. Như ông nói, ở đây chúng ta chỉ trình bày cái nhìn của mỗi người và cố gắng tôn trọng sự khác biệt đó. Vì vậy chúng ta không nên/cần phí thời giờ của nhau, và của người đọc nữa.

    Tuy nhiên, tôi xin có vài lời dưới đây về phần “Thánh Ý trong lời Chúa”. Không phải về sự khác biệt giữa quan điểm (vì lý do vừa nói ở trên) mà là về phương cách thảo luận của ông.

    Trước hết, trong bài đầu tiên khi ông khuyên bảo tác giả Đinh Từ Thức không được hiểu Kinh Thánh theo nghĩa đen thì ông hùng hồn đưa ra ý niệm “Thánh Ý trong lời Chúa” với dẫn chứng nào là “Giáo Hội có một chuyên khoa quan trọng để chú giải Kinh Thánh”, nào là “thấy dzậy nhưng không phải dzậy”, v.v. Ông cũng cho biết thêm là tuy ông không phải là chuyên gia nhưng kiến thức về Kinh Thánh của ông “cũng tạm đủ xài”. Rồi ông tiếp tục đem Kinh Thánh, và Giáo Hội, ra mấy lần nữa để hỗ trợ cho những lập luận của ông về ý niệm đó.

    Tức là trong bài đó chính ông đã mang ý niệm “Thánh Ý trong lời Chúa” của Giáo Hội đến độc giả để thuyết phục họ rằng “không nên hiểu Kinh Thánh theo nghĩa đen”.

    Thế mà khi tôi hỏi ông một câu hỏi rất liên quan “Tại sao những câu răn có lợi trong Kinh Thánh thì Giáo Hội dùng nghĩa đen, còn những câu răn thất lợi thì Giáo Hội không dùng nghĩa đen?” thì ông lại tuyên bố rằng “Đặc tính của câu này, nhắm tới góc cạnh chuyên môn của Giáo Hội, không mang lại ích lợi chung cho quí độc giả”!?

    Có nghĩa là khi cần thì ông giải thích sâu rộng về việc “đừng hiểu nghĩa đen mà phải hiểu Thánh Ý” và bảo độc giả nghe theo, nhưng khi gặp một câu hỏi khó trả lời về việc nầy thì ông thối thoát rằng câu hỏi đó “không mang lại ích lợi cho quý độc giả” đâu!

    Phương cách thảo luận nầy của ông cũng giống hệt như phương cách Giáo Hội dùng nghĩa đen cho những lời răn có lợi nhưng đồng thời chủ trương dùng nghĩa bóng để giải thích khác đi những lời răn thất lợi cho họ.

    Rồi khi tôi hỏi ông chỗ nào trong Kinh Thánh cho phép con chiên được tùy ý hiểu nghĩa bóng của lời Chúa thì ông cũng lại tránh né với lập luận rằng “Có cần phải tìm hay không?” Chẳng phải nghề của ông là giảng giải Kinh Thánh cho giáo dân sao? Chẳng phải lương tâm chức nghiệp của ông ít ra đòi hỏi ông phải tìm hiểu rõ ràng về Kinh Thánh sao? Nhất là khi có người vạch chỉ ra cho ông rằng việc ông đang làm (diễn dịch Kinh Thánh theo nghĩa bóng) rất có thể không hề được Kinh Thánh cho phép!

    Ông lại còn nói rằng NNT rành về Kinh Thánh như vậy mà còn không tìm ra thì Joseph B cũng chắc chắn không tìm ra! (Nguyên văn: “Với kiến thức lịch sử rành mạch về Kinh Thánh như ông, mà còn không tìm thấy, thì chắc chắn, tôi cũng không thể tìm ra”). Trong câu nầy tôi không còn thấy sự tự hào về cái kiến thức “cũng tạm đủ xài” về Kinh Thánh của ông đâu nữa cả.

    Tại sao ông không mạnh dạn trả lời là “Không có chỗ nào trong Kinh Thánh cho phép con chiên làm như vậy hết”? (Thật ra thì Kinh Thánh còn nghiêm cấm không được thay đổi một dấu chấm một dấu phết hay suy diễn gì cả.) Hay là ông lo sợ rằng nếu nhìn nhận điều đó thì ông không biết sẽ làm sao để trả lời những câu hỏi kế tiếp rất hiển nhiên từ tôi, từ độc giả, từ giáo dân, và quan trọng hơn hết là từ phần tiềm thức chứa đựng lý trí của chính ông?

    Tại sao ông không dám hiên ngang tuyên bố rằng “Tuy Kinh Thánh không cho phép nhưng tôi vẫn muốn làm điều nầy vì lý do XYZ”?

    Thưa ông Joseph, tôi thông cảm vị thế của ông dẫn đến những câu trả lời rất không thỏa đáng trên của ông. Tôi thông cảm rằng tư duy của ông và tôi không đồng hướng nên không bao giờ, và cũng không cần thiết để gặp nhau. Tôi cũng thông cảm luôn cái quan điểm của ông rằng mặc dù một sự việc gì đó “xét trên góc độ lý trí, lý lẽ, lý luận… thì rất hợp lý” nhưng ông vẫn gạt bỏ nó qua một bên nếu nó không phù hợp với niềm tin của ông. Tôi tôn trọng quyền lựa chọn đó của ông.

    Tuy nhiên, tôi xin ông đừng sử dụng phương cách thảo luận trên nữa. Nó không được chân chính và thành thật lắm. Nó biểu lộ sự tráo trở và né tránh vấn đề. Nó không tôn trọng người thảo luận với ông. Nó không giúp ích cho ông trong việc thuyết phục người khác. Và nó có lẽ cũng không giúp ích gì cho chính ông trong việc đào sâu mở rộng hơn tư duy sẵn có của ông.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch