Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

Gió Mỗi Ngày Một Chiều Thổi- Chương 6: Bí Mật

Cậu Thuần từ tiệm về đến nhà, trong tay thường vẩy vẩy một chùm vải vụn ca-rô, xanh sọc, đôi khi cả vải hoa sặc sỡ làm quà cho chúng tôi. Cậu làm thợ chính cho một tiệm may đồ tây, dưới tay cậu có 4, 5 anh thợ phụ. Cậu ở xa tới, về thuê căn nhà của chú Bảy Tạo, chú Bảy sợ chết khiếp cái chết của chị Chúc Nị ngay trước căn phòng chú, nên đã bỏ phòng dọn về ở chung trong dãy nhà dài của bà chủ Bộc Ðền.

Mỗi lần cậu về tới, tiếng huýt sáo ầm ĩ theo điệu nhạc Rạng Ðông anh nghe chăng cung kèn rạng đông… đang uy linh lừng vang trên sóng…rồi ngưng huýt sáo, và hát tiếp điệp khúc bằng lời do cậu sáng chế, râu chi râu mọc quanh mồm râu xồm…râu chi râu mọc quanh tai râu quai… râu chi là râu quai nón…ô cái râu xồm xồm…ô cái râu xồm xồm…cái râu mọc quanh cái mồm…nghe xôm tụ véo von!

Mỗi lần cậu hứng chí véo von vậy, mẹ thường cau mặt:

"Đã lớn tuổi vậy rồi mà cũng hoài không nên nết!…"

Nhưng bác Bảy Đạo thì bước ra góp ý:

“Chú em lo chi râu với tóc, đấng nam nhi tụi mình cũng không cần ba cái đó, có chức thì cũng như cứt chó, chỉ cần có chỗ đứng, cứng chỗ đó là ngon lành rồi!”

Bác Bảy hoạ hoằn lắm mới say xỉn, và khi cao hứng thì ổng mới góp ý. Bình thường, ông và thằng con trai được khen là những người đứng đắn và cũng là hai người trong xóm nói xe lửa là tào lửa, bảy là bải giống như chị Tùng trước đây, mà khác với nhà Bắc kỳ bây giờ nói tầu hoảbẩy

Một bữa cũng đi nhậu bia về, cao hứng ổng còn giảng cho cả xóm nghe tại sao thằng con ông tên là Long Nhi:

“…Tại tui lại tên là Bải Đạo. Bải Đạo…Bảo Đại…Bảo Đại là zua thì nó là con zua chớ, thì là con rồng mà…là Long Nhi.”

Nhiều người trong xóm khen ổng là người có chữ có nghĩa, dân Sài-gòn, chẳng qua vợ chết sớm buồn ý nên mới phiêu bạt giang hồ tới đây làm thơ ký cho Nhà Đèn. Nhà Đèn là công ty điện lực của tây để lại, phải biết tiếng tây mới xin vô đó làm được.

Lúc này, tôi vẫn chưa có ba, nên cậu Thuần là em họ của mẹ, là hàng xóm, mà cũng là người đàn ông uy tín nhất trong nhà chúng tôi. Hàng xóm dường như cũng nể mặt cậu tôi hơn ông Bảy Đạo, các chị Bộc Đền thì cứ theo hỏi má, ông cậu đẹp trai của tụi nhỏ đâu rồi cô Ba, có chị còn giỡn, thôi cậu Tư cũng lớn rồi, kén chi nữa, cô Ba gả cậu cho tụi em đi, cho tới khi mẹ tôi cau mặt nạt, các chị mới chịu im.

Cậu đi làm rất oai, âu phục tươm tất. Những hôm chủ nhật hay buổi tối đi chơi, cậu diện complet và cà vạt đáo để, trông như các ông lớn trong báo.

Hỏi tôi:

"Cậu giống Bảo Ðại không, Đào?"

Tôi lắc đầu, giật mình: cậu bảnh trai, trẻ, và sang trọng vậy, đâu có lùi xùi, lúi xúi giống như ông Bảy Đạo, sao cậu lại hỏi?

Cậu cũng lắc đầu, cười hô hố, hàm răng trắng bóng:

“Bảo Đại là Bảo Đại đó, không phải ông Bảy đâu!”

Cậu có thời khoá biểu rành mạch, đi làm về, đánh đàn banjo, nghe radio; ngày nghỉ, mặc vét đi tiệc, mặc sọt với áo thun cá sấu kiểu đánh quần vợt đi cắm trại, đi tắm biển, hay đạp xe về nhà vườn hái trái cây.

Cậu ăn cơm tháng ở nhà tôi. Cậu ăn trước với cậu Sung, chúng tôi ăn sau, ở bàn khác, với mẹ. Có mấy hôm cậu Sung đi đâu không về ăn tối, ngồi một mình chắc cậu buồn, ngoắc tôi vô bàn ngồi với cậu, và vừa ăn vừa kể chuyện đời xưa.

Cậu kể đi kể lại đứt khúc, không đầu không đuôi với các tên anh Phát, cô Tư, dì Oanh, Châu, Tín…, tuỳ theo cậu ngồi ăn lâu hay mau. Thường chấm dứt bằng mai mốt kể tiếp khi cậu uống nước và đứng lên. Mai mốt có thể là một tuần hay một tháng, tuỳ khi nào rảnh, có dịp gặp tôi một mình, hay kêu tôi ngồi ăn cơm với cậu. Tôi chán, và chán nhất là cái giọng đều đều kể lể của cậu. Không linh hoạt và vui vẻ như khi cậu huýt sáo, ca hát, đánh đàn. Thiu thiu buồn ngủ và không muốn nghe, nhưng lại giật mình tỉnh dậy tò mò gật đầu mỗi khi cậu dặn:

"Ðừng kể lại chuyện này cho ai nghe, nghen!"

Có hôm hứng lên, cậu cho tôi theo ra biển. Leo lên mỏm đá cao ngất trước biển, cậu nắm tay lôi tôi lên theo, gió mát phần phật thổi tà áo, nắng gắt hoa cả mắt, dưới chân sóng đập đì đùng, cậu thình lình hỏi:

" Cháu thích dì Oanh không?"

Gió thổi bơ phờ tóc cậu, cậu lặng im nhìn ra khơi.

Lát sau, dơ tay đỡ tôi nhảy từ trên mỏm đá xuống, cậu len lách qua các tảng đá trên đường về, im lặng bất thường, khác với mọi khi hay véo von huýt sáo trầm bỗng "Râu chi râu mọc quanh mồm… râu xồm…"

*

Số 10, số 7 …là những con số Tuỵ nhớ về khu phố.

Nên Tụy thình lình về lại một đêm trăng. Cỏ lát tươi phơi sáng chói, lấp lánh như màu nước gươm, trăng mát rực rỡ, Tụy biết là mình về đúng lúc. Khu phố im lìm ngủ, hai dãy nhà cao cẳng không một ánh đèn dầu, đang đóng cửa ngó nhau. Mỗi dãy 5 căn, 5 cây dâu, 10 bậc thang tam cấp bước lên, 10 trụ chân nâng đỡ nhà. Nằm yên trong trí nhớ Tụy mồn một như một bức tranh toàn diện vẽ, căn trống trước là chỗ ở của linh mục kế bên nhà thờ bỏ hoang nằm cuối dãy trái, nhà anh Châu số 3, Tín giựt-gân số 2, và căn đầu bìa là nhà chứa lát.

Leo lên mười bậc cấp nhà cũ của linh mục, Tụy mở cửa tần ngần định vào nhưng rồi lại quay ra, quăng ba lô trước bậc thềm, ngồi phệt xuống. Trăng sáng quắc rồi huyền hoặc chiếu lát xanh ngời ngời. Dựa lưng vào bậc thềm cho đến khi cảm thấy thiu thiu buồn ngủ, Tụy gối đầu lên ba lô nằm ngữa mặt trên thềm đá. Trăng mát sáng và có vẻ lạnh lùng, di chuyển. Mày cũng chỉ là một trái cầu mượn ánh mặt trời mà sáng thôi, làm cao gì được với tao đâu? Tuy biết rõ tỏng của nhau vậy, tao vẫn cho mày làm bạn trăm năm.

Số 10, Tụy lẩm nhẩm nhớ nhung những lần nằm viện, nhưng 10 nghĩa là chỉ gồm có 7 người.

Gia đình ông bà Thẩm ở căn thứ nhất bên phải, cô Tư bán quán ở số 2, số 3 luôn bỏ trống chờ người, hai dì cháu Oanh Thuần ở căn số 4, và số 5 là nhà đan lát. Bên trái như đã kể, số 1, nhà chứa lát, cô Tín ở số 2, anh Châu số 3, số 4, căn nhà cũ của linh mục là căn Tụy đang tạm chiếm. Nhà thờ bỏ hoang thì không có gia đình nào. 10 căn nhà, 5 gia đình, 7 người, không kể Tụy, vì Tụy đi đi về về. Có một thời, vài quân nhân hoặc du kích súng ống đến đóng trong căn nhà thờ bụi bặm, được vài tuần, họ lại bỏ đi biệt tăm. Căn nhà thờ cuối dãy lại trống trơn, vắng, bụi, nhện giăng.

Có tiếng gàu khua loảng xoảng rất vui tai nơi giếng nước sau lưng nhà thờ, Tụy bừng tỉnh.

Như tiếng chuông nhà thờ xưa kia đã đánh thức mọi người? Châu khập khiễng có thói quen dậy sớm xách nước. Anh dội nước ào ào xuống cho Tụy súc miệng, rửa mặt, rồi đưa gàu cho Tụy kê miệng uống nước.

Tụy hỏi một câu:

“Hôm nay hốt, đập, hay đan, anh?”

Rồi sực nhớ tới mớ lát bàng tươi ngời dưới ánh trăng đêm qua, Tụy lại im. Lát nữa mọi người sẽ tề tựu đông đủ ở căn số 5 bên phải, nhà đan lát, vì lát đã đập đã phơi.

Oanh và Thuần là hai dì cháu ruột, nhưng họ yêu nhau. Dì cháu là không yêu nhau được, họ bỏ xứ đến đây ở với nhau. Người cháu dong dỏng cao tháo vát mạnh mẽ, người dì nhỏ thuôn xinh xắn, họ phải là một cặp thật xứng đôi. Họ có vẻ bằng lòng với nhau, chắc nịch, không có sự chọn lựa nào khác trong đời sống dì cháu yêu đương, tình nhân, vợ chồng khá rắc rối. Tự nhiên, họ không hề có con, như một ứng nghiệm với lời đồn đãi lâu nay, khu phố độc đạo cách xa quốc lộ lại nằm áng ngang ngay trước mặt nghĩa địa, người dân sống ở đây sẽ đời đời tuyệt tự vô sinh.

Đôi dì cháu xứng đôi này mắt môi, mặt mũi lúc nào cũng sực nức tình yêu, có lẽ như một mùi nước hoa kỳ cục mà mọi người xung quanh dù vô tâm cách mấy cũng có thể dễ dàng ngửi thấy. Ở đây, không thấy ai ghen tức hay giáo điều này nọ gì với họ.

Người cháu có ánh mắt nhìn dì thường đôi lúc đột nhiên vừa ngạc nhiên, yêu thương, ái ngại, lại vừa có chút kiêu hãnh, liều lĩnh, quyết đoán. Đáp lại, người dì, mi mắt trên dày và đậm nét, thường nhìn lại cháu dịu dàng, khích lệ, xúi giục, và đau đớn, âm thầm. Họ đã từng nhìn nhau như thế bao lâu trước khi được sống, ăn, ngủ với nhau?

Thuần kể về lần quyết định trốn đi của hai dì cháu. Dì Oanh lấy cớ đi thăm một người bà con xa ở miền Trung, Thuần chở dì và va li đồ đạc của dì đến nhà trọ gần ga xe lửa, Thuần quay về. Hôm sau, lúc cả nhà đi vắng, Thuần để thư lại nhắn, “ ba mẹ đừng chờ, con và dì Oanh đã đi luôn…” Thuần biết việc dì Oanh và Thuần bỏ đi sẽ gây tổn thương cho mẹ nhiều nhất. Nhưng thà vậy, Thuần và Oanh không còn biết làm sao. Chuyến xe lửa đổ họ xuống một ga vắng, và tình cờ họ lên chiếc xe lam của đám buôn hàng lát đến đây.

Đột nhiên trái tim Tụy rộn rã mỗi khi Tụy được ngấm ngầm quan sát và bất chợt thoáng được ánh mắt kỳ lạ của hai dì cháu họ nhìn nhau.

Trăng rực rỡ soi trên lát, xuyên qua cửa, chiếu thầm lên màu xanh hoa nhỏ nền đen trên áo bà ba người dì.

Màu xanh, xanh biếc, màu ám ảnh Tụy.

Ông bà Thẩm già trước kia làm thầy thuốc bắc thất bại, theo lời họ kể, rồi bỏ đi làm phu đắp đường xe lửa. Họ trở thành hai người đầu tiên ở lại chiếm lĩnh căn số 1 sau khi nhân viên khu cư xá hỏa xa này rút đi, vì khúc đường sắt ngắn không còn hoạt động. Vạn, con trai ông bà đi làm xa đâu đó 5, 3 tháng mới về thăm cấp dưỡng tiền bạc một lần. Cặp vợ chồng già, chồng đẹp lão, vợ quắt queo xấu xí, lẩm rẩm ra vào săn sóc nhau.

Sống lang bạt nhiều nơi, Tụy mắc chứng nan y. Mỗi lần phải chứng kiến cảnh chồng đánh vợ, cha mẹ hành hạ con trẻ, nhân danh lẽ phải kẻ mạnh tra tấn người yếu, tiếng gào khóc công khai, hay uất ức tuyệt vọng của các nạn nhân yếu đuối vô phương tự vệ thường khiến Tụy co giật chân tay, rồi tự động đánh vào đầu mình cho đến khi ngất xỉu.

Bệnh càng lúc càng nặng, thậm chí đến trận vừa rồi, chỉ cảnh chiếu trên màn ảnh ti vi ở tỉnh đã khiến Tụy lên cơn, mọi người lại chở Tụy vào nhà thương băng bó đầu mặt dập nát, nhừ tử, từ nhà thương thường, y tá có lệnh chuyển Tụy sang nhà thương tâm thần.

Lần nào, khật khừ ra khỏi nhà thương, Tụy lại mò về phố.

Tương tự Tụy, Tín co-giật không chồng, không con, suốt đời chỉ yêu mỗi một người anh rể lái xe lam. Cô mắc bệnh động kinh từ nhỏ, nhỏ hơn khi Tụy bắt đầu bệnh ngất xỉu, người chị cưu mang em khi cha mẹ chết, chị đi lấy chồng cũng đem theo đứa em khật khừ tàn tật.

Một bữa, sau cơn động kinh giật méo mó mồm miệng chân tay, Tín tỉnh táo lại, mò tới gần chị nói, “chị hai, khi nào bỏ anh hai thì cho em lụm.”

Năm đó, Tín 18 tuổi, và vì câu nói đó, vợ chồng anh xe lam phải dọn nhà cho Tín đến ở một mình ở phố lát.

Thỉnh thoảng, người anh rể lái xe lam đi bỏ hàng cho quán cô Tư ghé thăm Tín, người chị gởi cho cái quần cái áo nhưng chắc xấu hổ nên chẳng bao giờ lên ghé thăm em. Anh rể mua cho thức ăn, và vẫn cứ cái câu ái ngại, và hơi chút ngượng ngùng nói với cô Tư, “cái con nhỏ cứ quá khùng!”

Tuỵ không muốn kể anh như một người quá vô tình hay quá đa tình cường điệu. Tuỵ nghĩ nhân vật này cũng tự nhiên, như nhiều người bình thường mọi người có thể gặp đâu đó trên đường, không đủ dữ liệu gần gũi thì không mấy chú ý, nhưng nếu biết rõ hơn, thì cũng có khá nhiều điều gây ngạc nhiên.

Một đêm trăng sáng, xe hỏng máy, anh xe lam sau khi lúi húi sửa xe đang dừng tay nghỉ một lát. Tụy ngồi trước nhà chứa lát ngó ngang qua, thấy anh ngồi hút thuốc trước thềm nhà Tín co-giật, Tín ngồi cạnh, ngây người ngắm sững anh. Hình như anh đang cảm động nên đốt thuốc liên miên. Lát sau anh trở ra, xe đã nổ máy được, và anh chạy vút luôn, không từ giã. Tín lại ngây ngất ngồi một mình.

Những giây phút cảm xúc chân thật không thường có nhiều trong đời, và giáo điều ràng buộc xã hội lại cứ thúc ép mọi người phải quanh co trốn tránh. Thật đáng tiếc, nhưng chẳng mong gì anh sẽ được quên nhanh.

Đêm sâu, trăng vẫn sáng.

Tụy đi bao lâu rồi về, ở bao lâu rồi đi, hàng dâu dại trước mặt nhà, và rừng dâu um tùm sau nghĩa địa vẫn chừng ấy cây, có lẽ chừng ấy trái, thứ trái đỏ bầm, chua khi sống, và ngọt khi phơi khô, sản phẩm địa phương duy nhất trời cho dân phố. Cây lớn lên nhờ mưa nắng, trỗ trái, già đi, rụng hột, lại có cây non nẩy chồi. Dân phố lượm mớ cây già khô chết làm củi để chỗ trống cho đám cây non khờ mọc. Lời nguyền vô sinh coi như không ảnh hưởng gì tới đám cây cối.

Nghĩa địa vẫn chừng ấy hoang phế như đã hoang phế đủ, những nấm mồ lưa thưa vô chủ, có cái đổ sụp thành những nấm đất bèn bẹt cỏ xanh chết lốm đốm vàng, có cái uy nghi sạm nắng đen đủi nhưng vẫn gan góc uy nghi, thời gian, không thấy ai tới chôn người chết thêm, và cũng không ai sửa sang săn sóc gì.

Số 10, lại là những con số, Tụy nói, mọi người coi là số may mắn vì tròn trịa, nhưng số 7 tuy lẻ, theo tôi, thì cũng hay hay…

Mọi người đan bao lát bằng đôi tay đều hơn, bao lớn, bao nhỏ, quai xách chắc hơn, dày hơn, vì kinh nghiệm hơn, lũ gà vịt nuôi chạy tung tăng quanh dẫy chuồng che chắn dưới chân nhà, mùi phân gà vịt nồng nắng bốc, vườn rau mảng lớn mảng nhỏ không đều và xanh ngắt, màu ám ảnh Tụy.

Yên lặng, tình yêu, an dưỡng, lãng mạn, vô sinh.

“Làm mai bà ấy cho ông Châu đi!” ai đó nói mà Tụy quên rồi, cách đây đã gần hơn mươi năm. Nhưng rồi ông Châu vẫn sống già (và sẽ chết già) chìm nổi êm đềm có lẽ trong căn số 3 có treo tấm huy chương bội tinh gì đó giữa nhà, cô Tư vẫn yên lặng đi lại giữa các lọ hũ bằng kiếng đục mờ đựng mớ bánh đậu xanh khô cứng; đám hằm bà lằng kẹo mè, cù là, thuốc đau bụng, nhức đầu; các rỗ tre lớn nhỏ đựng kim chỉ, diêm quẹt; các thùng nhựa chứa mắm muối dầu đường; và có khi có cả cá khô, tôm khô trong mùa mưa gió.

Nghe nói cô chắt chiu buôn bán để gởi tiền về nuôi dưỡng bà mẹ mù dưới quê. Đại lý bỏ hàng là anh xe lam và các khách hàng trên tỉnh theo xe lam xuống mua giỏ lát. Họ đem theo dầu hôi thắp đèn, cá hấp, cá tươi, thịt heo, có khi có cả nước ngọt, nồi nhôm, chén nhựa đổi lấy hàng lát đem về. Chuyến về ngất ngưởng đầy những bao giỏ đệm lát.

Người dì xinh đẹp, tuy diện áo nền đen bông xanh nhỏ li ti, thường trốn trong nhà hơn là ra ngoài trong những ngày giao hàng. Khi người cháu bán hàng, nhận tiền trở về, hai dì cháu lại cùng nhau đứng trước cửa nhà, mắt nheo nheo nhìn hút theo chuyến xe lam cuốn bụi.

Có lần trong đám bạn hàng xuất hiện một cô gái trẻ tóc thề, thế là thảm kịch xảy ra ở căn số 4. Oanh đứng trong nhà nhìn ra thấy đứa cháu chuyện trò và cười với cô gái trẻ hơi lâu, lập tức khi Thuần về, Oanh khóc lóc, nài nỉ, và bắt Thuần phải lập lời thề “bao giờ dì chết đi, cháu mới được trở về thành phố,” Thuần kinh hoảng, nhưng nhìn dì rũ rượi và hỡi ôi, giống hệt mẹ, Thuần điếng hồn máy móc nhắc lại lời thề.

Đêm, Thuần bỏ nhà cầm liềm đi cắt lát, và tối đó không về vì không chịu nỗi cơn ghen của dì. Khuya đó, họ bắt gặp nhau, và yêu nhau trong rừng. Vùi mặt vào da thịt phần bụng mềm mại và ấm áp của dì, Thuần buông tay thả chìm mình xuống lòng biển xanh êm đen vô tận rực rỡ.

Ngày bỏ hàng cũng là ngày rộn rã của Tín. Tín thường chuẩn bị nấu nước cho anh rể, nước mía lau, thứ mía vỏ cứng màu đỏ tía, nấu nước uống rất ngọt. Tín chăm sóc bụi mía lau sau hè âu yếm như mẹ trông con.

Tới bữa nọ nhằm ngày giao hàng, Tín thình lình lên cơn co giật, ngã trong phòng đan lát, bà Thẩm đang cuống quít cố cài một chiếc đũa vào miệng Tín để cô khỏi tự cắn đứt lưỡi, anh xe lam ở đâu thình lình bước vô kêu, “Tín, Tín, anh hai tới đây nè!” vừa kêu vừa vỗ nhẹ nhẹ lên tay Tín, Tín như bừng tỉnh từ giấc mơ hoa, mặt ráo hoảnh như trước đó đã không hề ngất đi vì co giật. Anh xe lam thở phào rồi đứng xớ rớ ngó Tín, Tín khập khà khập khiễng đứng dậy, một tay níu áo anh, một tay quẹt nước mắt nước mũi:

“Anh hai, anh hai, anh không có bỏ em, hả anh hai?”

Tín khóc mùi.

Anh xe lam ngượng ngùng đứng chết trân.

Bà Thẩm bỏ ra ngoài nhìn trời:

“Bữa nay trời nắng dữ!”

Tuỵ không cố gắng giải thích tại sao Tụy vẫn thường bị ám ảnh bởi những con số, bởi các màu xanh lam, và xanh biếc, xanh biển, xanh cây, ngoài cái ám ảnh bị đè nặng dưới trọng lượng tàn phá của bạo lực. Ám ảnh đôi khi có thể ngẫu nhiên, đôi khi có lý do, từ những định mệnh riêng mà mọi người không hề chọn lựa.

Tụy đi đi về về từ thành phố nhưng chẳng ai trong phố hỏi Tụy lấy một câu, chẳng hạn, “ngoài ấy giờ có gì lạ không?” Tụy chắc họ chẳng còn nhớ nhung gì.

Nhưng 10 căn nhà xưa nay không hiểu tại sao lúc nào cũng có một căn bỏ trống, dù Tụy đã chiếm căn nhà hoang của người linh mục cũ. Hai dì cháu vẫn bình thường và có thể sóng gió yêu nhau, cô Tư cặm cụi bán quán, cặm cụi cùng già đi với con Cò của mình, anh Châu tôn thờ tấm huy chương, ông bà Thẩm thuận thảo ở xa con và lặng lẽ, Tín không chồng và chung tình, những kết hợp tình cờ, vô lý và hợp lý, những hạnh phúc có vẻ muốn bình thường trong thách thức, hay bình thường vì vốn bình thường.

Tụy thì vẫn đắm đuối say mê một điều gì mà chính hắn cũng không rõ.

Rừng dâu già đi, cây non lại lớn. Khu phố yên lặng, không già, không trẻ, không tên, lũ gà vịt lau nhau sinh con đẻ trứng, rau xanh cà ớt nở héo theo mùa, đêm không đèn, trăng sáng lên tô vôi mới cho khu phố, và cỏ lát phơi ngoài sân cùng sáng óng lên với trăng.

Về đến đầu phố, lần nào, trái tim Tụy cũng đập mạnh. Đêm. Tụy uống bia thầm trong tối, lòng vô cớ đau buốt, rồi lại sung sướng, ngà ngà, ngất ngây say với các con số 7, 9, 10… những mặt quay đổi vòng vòng trong vòng quay xúc xắc, mắt hoa lên nhưng không gây chóng mặt, những mẫu hình trong ống kính vạn hoa, và tiếng chim đêm, oác lên một tiếng, bay vút qua nghĩa địa.

Truyện dài dòng đến đâu thì cũng phải tạm chấm dứt, nếu là kịch thì màn kéo lại, nếu là phim thì đèn bật sáng, khán giả vui vẻ hay lừ đừ đứng lên trong tiếng ghế bật lào rào theo nhịp điệu. Đời mình chắc sẽ rồi không có nhịp điệu gì đâu, nhưng nếu được vui vẻ kết thúc nơi đây, Tuỵ sẽ vỗ tay rào rào theo những con số.

*

Cậu tôi đột ngột rời nhà rồi, sau đó, nghe mẹ nói với mọi người là cậu Thuần đã đi Sài-gòn lập nghiệp. Tôi hỏi mẹ về câu chuyện phố cao cẳng mà cậu kể, mẹ ngạc nhiên, rồi giật mình:

“Sao biết dì Oanh?”

Giọng mẹ có chút lo âu hơn là sợ sệt:

“Tự tử là chết oan, mấy người đó linh lắm, đừng có mà kêu réo tên bậy bạ.”

Thời sinh viên, đã có lần tôi đi chơi Ðơn Dương với đám bạn, lạc đường, và dừng xe lại hỏi, bất chợt thấy mình đang ở giữa một vùng đồng không mông quạnh, hai khu nhà gỗ cao cẳng song song đâu mặt đối diện, cảm giác lạ lùng như đã thấy khu phố này ở đâu. Tôi như đứng tim, rồi tim đập thình thịch, rồi hối hả chạy tìm để ỉu xìu thất vọng vì không tìm được nghĩa địa, không thấy rừng dâu, và cũng không có ai sống bằng nghề đan lát ở vùng này. Ðây là một khu gia binh lèo tèo cạnh một đồn lính ở cao nguyên giờ đã bỏ hoang.

Thời sinh viên, tôi nối được liên lạc với cậu và lò mò mừng rỡ đến. Nhà trong một khu khá khang trang, lưng quay ra một con rạch. Sân sau là sàn ván bắc dài lấn ra mặt nước, bước chân trên ván nghe lọc cọc hoà tiếng nước chảy leo reo dưới chân.

Cậu đã có vợ và vợ cậu cũng làm thợ may. Hai vợ chồng đang làm chủ một nhà may lớn ở phố Phan đình Phùng.

Nói chuyện bâng quơ một hồi rồi về, cậu hẹn bữa nào ra tiệm may chơi. Tôi nhắc lại, chuyện hồi nhỏ cậu hay nhặt vải vụn về cho tụi cháu tập may áo búp bê, cậu cười, vẫn răng trắng bóng, thật vậy hả, cậu quên rồi. Vợ cậu áo mỏng, tay phồng đỏ buông rũ, quần đen bó chặt, không dính dáng gì với cái áo bông xanh duyên thầm của dì Oanh.

Tôi lại nhắc, hồi cậu bỏ đi, để lại chiếc xe đạp đòn dông, nhờ chiếc xe này mà tụi con mới biết đi xe đạp. Cậu lại cười, răng vẫn trắng bóng lấp lánh.

Vợ cậu, giọng kim cao vút như tiếng huýt sáo xưa kia của cậu, ngạc nhiên:

"Con gái gì mà đi xe dàn ngang?"

Rồi đứng lên.

Cậu dường như ái ngại cũng đứng lên, rồi tôi cũng đứng lên.

Từ giã, chưa kịp kể chuyện bác Thuật bây giờ tay mặt bị tê rồi, bác không còn làm thợ thêu được nữa. Bác Thuật là anh họ xa của cậu Sung, bạn thợ may của cậu Thuần. Cậu Thuần bỏ đi rồi thì vợ chồng bác Thuật đến thuê tiếp căn phòng nhỏ đó. Bác mở một tiệm thêu ở đường lớn mặt tiền, chuyên thêu các tấm liễn đối và áo dài, áo ngắn cho những khách giàu Tây, Tàu, và vài khách Việt. Bác là tay thêu rồng phượng lừng danh thưở ấy.

Cậu Sung thường diễu sau lưng bác:

"Ông Thuật là các mệ thiệt chuyên thêu áo cho các mệ giả đó!"

Vì tên bác là Vĩnh Thuật, trong dòng tộc, bác thuộc vào vai anh của vua Bảo Đại, tên huý là Vĩnh Thuỵ.

Những trưa hè trong lúc mọi người im lìm say ngủ, tôi đứng chăm chú sát bên khung thêu của bác, hai bác cháu im lặng. Bác đều tay chính xác từng mũi kim tỉ mỉ, tôi thì nín thở dõi theo hình dáng con rồng đầu đen, mình đỏ vàng rực rỡ đang dần dần hình thành uốn lượn trên nền vải sa-tanh xanh bóng loáng. Tôi hụt thở, mắt nhìn không chớp mắt theo rồng. Biết đâu, thình lình nó vụt cánh bay lên, tôi sợ không bắt kịp nó.

Tôi hỏi:

"Bác, bác có thấy rồng không?"

Bác điềm đạm:

"Thấy chớ! Không thấy làm răng thêu?"

Sau đó vài tuần, tôi khoe với bác:

"Con cũng thấy rồng rồi!"

Bác vẫn điềm đạm:

"Ở mô?"

"Hồi tối, khi con ngủ."

Bác ừ.

Ngoài rồng, thỉnh thoảng, chúng tôi thường trao đổi tin tức về thằng con ông cai trường tôi.

Bác hỏi:

"Con ông cai bữa ni vẫn đi học bằng xích-lô chớ?"

Tôi kể lể:

“Ồ hôm nay ghê lắm, nó mặc nguyên một bộ đồ tây trắng, quần soọc trắng, lại đội nón kê-pi trắng nữa, bác thấy oai không? Ngày nào ông cai cũng xách cặp cho nó, đưa nó ra tận xích-lô, cho nó đi học truờng tây chớ không phải trường Nam Tiểu Học lèo xèo đâu.”

Bác lại ừ, chậm rãi và chăm chú thêu.

"Bữa nay, con nghe ông cai kêu nó bằng tên tây, An-Be gì đó, nó hết tên là thằng Bé rồi."

Ông cai trường tôi bé nhỏ loắt choắt, thằng Bé chỉ khoảng mười tuổi mà nó đã cao hơn ông một cái đầu. Ông răng đen, gầy quắt queo, da mặt tái, tụi bạn học tôi nói, Bé là con tây lai bị mẹ nó bỏ, ông cai xin về nuôi. Nhưng có đứa cãi lại, “nó là con ruột ổng, tụi mày không thấy răng nó dài giống răng của ổng sao?”

Cậu Thuần quên không hỏi nên tôi không thuật cho cậu nghe câu chuyện ly kỳ sau này của thằng Bé. Khi nó học trường tây và đổi thành tên Albert, nó được một cha cố tây bảo lãnh qua tây du học, rồi ở lại luôn bên bển cho tới lớn. Ông cai già nghèo và tằn tiện quá nên sau này mắc bệnh lao rồi chết một mình trong nhà thương thí.

Ông cai tên Tỵ, chắc là vì tuổi tỵ, thấp nhỏ, gầy gò, loắt choắt, mặt mũi xanh tái, thường lăng xăng xách cặp hộ tống thằng con cao lớn, trắng trẻo ngổi dựa ngữa tréo cẳng oai phong lẫm liệt trên xích-lô. Những hôm trời nắng sớm, ông Tỵ quát tháo luôn miệng bác xích-lô, bắt bác phải dương mui che kín nắng cho thằng Bé.

Nhưng tôi chợt nhớ ra, bí mật giữa tôi và cậu Thuần là chuyện phố, giữa bác Thuật và tôi mới có bí mật là chuyện thấy rồng và chuyện An-Be con ông cai Tỵ.

Trời đang nắng bỗng mây đen thình lình ào ạt kéo về bao vây. Trời Sài-gòn vẫn vậy, sáng nắng chiều mưa. Tiếng con rạch chảy rao rao và rác rến trôi dưới sàn ván sau nhà cậu Thuần bỗng lách cách lên nghe càng lúc càng rõ hơn, to hơn. Cái sàn ván dường như bập bềnh say rượu muốn trôi đi.

Tôi ra khỏi cửa một lát thì trời đổ mưa. Một chiếc xe đạp vượt qua mặt, người trên xe áo mưa trùm kín mít, không rõ già hay trẻ nhưng giọng hát vang xa lảnh lót, bà ngô đình nhu bóp cu ngô tổng thống, ngô tổng thống, ngô tổng thống kêu đau, bà ngô đình nhu bóp cu ngô tổng thống, xin thượng đế ban phước lành cho ng…ư…ờ…i…ng…ư…ờ…i…

Ðó là mánh khoé của dân hát nhạc tục, hét to lên khi sấm rền, thật đã. Bài hát cấm ấm ức và ngon như những trái cấm. Khi mất việc và đi làm rẫy, tôi cũng đạp xe băng qua khu rừng rẫy dài hun hút, cơn mưa rừng thịnh nộ toan xé rách chiếc áo mưa cũ đã tơi tả của tôi, tôi hứng chí hét nhà nước ơi, ăn khoai mì chán quá, từ giải phóng vô đây ta ăn cơm độn dài dài, từ giải phóng vô đây ta ăn cơm độn bằng khoai…khoai…theo điệu nhạc bài tổ quốc ơi, ta yêu người mãi mãi.

Tổ Quốc, và khoai mì, và một thời lâu dài ám ảnh.

Và, nỗi ấm ức vì chưa hỏi được cậu Thuần là dì Oanh vẫn còn đâu đó hay đã mất như lời mẹ nói, và Tuỵ, cô Tư, Tín…một thời với dãy phố hư hư thật thật kia mà tôi lơ mơ nhiều lần nghe cậu kể, giờ nó ở đâu?

Ấm ức này cũng không đến nỗi phải hét to vào mặt mưa, mà có lẽ như vậy sẽ đỡ khổ hơn nhiều lắm, hon là cứ như một nỗi buồn ở lại với mình mãi mãi.

_______________

*bản nhạc Rạng Đông, của Hùng Lân

bài đã đăng của Nguyễn Thị Hoàng Bắc


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch