Trang chính » Biên Khảo, Lý Luận, Quan Điểm, Tôn Giáo Email bài này

Đạo vào Đời: Nhận Định về bài Giáo Hội Chuyển Mùa của Tác giả Đinh Từ Thức (phần 2)

0 bình luận ♦ 15.04.2016

 

divine power and human authority

Đức Giáo Hoàng Boniface  VIII công bố giáo chỉ Unam Sanctam vào năm 1302 “khẳng định mọi tạo vật phải theo Đức Giáo Hoàng La Mã”

Song hành, kết giao với thời đại, có rất nhiều vấn đề ‘thuộc về thế gian’ mà giáo hội ‘xía vào’ chỉ bởi vì, Giáo Hội thay quyền Thiên Chúa như hình ảnh của người Cha, để giáo huấn, khuyên nhủ người con trần thế. Dĩ nhiên, y hệt như mối liên hệ cha mẹ-con cái ở đời này, có nhiều điều cha mẹ dậy bảo sẽ làm con cái bực tức, phiền hà. Chúng sẽ chỉ trích cha mẹ giáo điều, cổ hủ, cố chấp, lỗi thời trong những chuyện như phá thai, đồng tính…Chúng sẽ chất vấn cha mẹ: Tại sao? Nếu cha mẹ lên tiếng, thì cũng giống như Chúa Giêsu bị chất vấn trước kia, trả lời kiểu nào cũng…chết. Vậy thì, Giáo Hội cha mẹ cần phải làm sao bây giờ?

a. Trước hết, xin nhấn mạnh một điều, mặc dù, Giáo Hội tin là, có Chúa Thánh Thần luôn linh ứng, nhưng vẫn có yếu tố sai lầm trong bản ngã con người. Đó là lý do, trải qua nhiều triều đại giáo hoàng, mỗi Đức Thánh Cha vẫn có thể sai lầm trong những quyết định của riêng mình (tôi không nói đến ý niệm ‘Bất khả ngộ’ của Đức Giáo Hoàng khi công bố tín điều). Tuy vậy, nếu là một Giáo Hoàng chân chính (chứ không phải ngụy), thì ít nhất, trước khi đưa ra một nhận định, ngài sẽ cầu nguyện và vâng lời tuyệt đối theo chỉ dẫn của lương tâm. Không có một đứa con nào hoàn hảo, cũng như không có một bậc phụ huynh nào hoàn hảo (ngoại trừ Thiên Chúa).

b. Vì hành xử theo lương tâm, với sự linh ứng của Chúa Thánh Thần và của ban cố vấn, nếu Đức Giáo Hoàng nghĩ là đúng đắn, Ngài sẽ tuân theo, nghĩ là sai lầm, Ngài sẽ cương quyết bảo vệ lẽ phải (có thể chủ quan) của Ngài. Hiện giờ, xin nhấn mạnh, cho đến bây giờ (tương lai chưa biết), Giáo Hội, đứng đầu là Đức Giáo Hoàng, vẫn tin là, những vấn đề của thời đại, chẳng hạn như chuyện ngừa thai, phá thai, thụ tinh nhân tạo, đồng tính… đi ngược lại, hoặc, đối nghịch với Luật Chúa, bởi vậy, Giáo Hội sẽ bảo vệ lẽ phải (của mình) đến cùng, chứ nhất định không chịu chiều theo ý muốn của những đứa con. Cho dù, con cái, người đời đã đưa ra rất nhiều quan điểm, xét theo khía cạnh thực tế, tưởng như đúng đắn, cần thiết phải sửa đổi và tạo áp lực ép buộc cha mẹ Giáo Hội phải…đầu hàng. Giáo hội, như Chúa Giêsu, không bao giờ chịu đầu hàng vì bị áp lực (giống như nước Mỹ nhất quyết không chịu đầu hàng bọn khủng bố?).

c. Câu hỏi nhức nhối: Giáo Hội dựa vào đâu để phán quyết rằng, những vấn đề nóng bỏng bị cấm đoán, là đối nghịch với Luật Chúa? Nếu trả lời ngắn gọn thì, Giáo Hội dựa vào Tông Truyền (lời giảng dậy của các tông đồ, được Chúa trao sứ mệnh), Lời Chúa (Thánh Kinh), Lương tâm (luôn tiếp tục trau dồi), lời cầu xin Thánh Thần (soi sáng, hướng dẫn) và sự hiểu biết (kiến thức chuyên môn trong mọi lãnh vực được cập nhật hóa). Câu trả lời này, nảy sinh một thắc mắc khác: Giáo Hội chỉ chuyên lo việc đạo nghĩa, thời gian đâu nữa, mà cập nhật những kiến thức khoa học? Không theo kịp, không tiến, nghĩa là lùi. Không biết rõ, sao phán quyết được?

Thắc mắc này là điểm then chốt, khi tác giả phê bình luật ngăn cấm ngừa thai nhân tạo của Hội Thánh:

Ngay từ khi còn trẻ ở tuổi 40, Giám Mục Karol Wojtyla (sau là Giáo Hoàng John Paul II) đã viết một cuốn sách về “Tình yêu và Trách nhiệm” (Love & Responsibility), qua đó, Ngài khẳng định tình yêu đích thực phải nhằm mục tiêu sáng tạo, là tạo ra đứa con. Yêu đương chỉ để thoả mãn thôi thúc của dục vọng là không phải tình yêu đích thực. Ngừa thai nhân tạo là hạ thấp nhân phẩm phụ nữ, là biến phụ nữ thành phương tiện để thoả mãn đòi hỏi của nam giới… Một người bạn phái nữ chí thân của ngài, Tiến sĩ Giáo Sư triết Anna-Teresa Tymieniecka nhận xét Ngài là một người rất ngây thơ về phương diện tình dục…“Tôi thật ngạc nhiên khi đọc cuốn Tình yêu và Trách nhiệm. Tôi nghĩ rõ ràng là ngài không biết ngài đang nói về cái gì. Làm thế nào ngài có thể viết những chuyện như thế? Câu trả lời là ngài không có kinh nghiệm về chuyện ấy”.

Love and Responsibility

Từ dẫn chứng này, tác giả biện luận:

Không cần biết rõ về tình dục để được phong thánh, nhưng ở cương vị Giáo Hoàng, có thể ban hành chỉ thị hướng dẫn hay cấm cản những việc liên hệ tới tình dục, mà không biết rõ về lãnh vực này, là điều vô cùng hệ trọng, vì có liên hệ tới hạnh phúc hay đau khổ của hàng tỉ người…

Đọc biện luận trên, tôi nhớ tới một câu truyện: Ở bục giảng, ông cha hùng hổ, hăm dọa, ngăn cấm con chiên làm chuyện phòng the mà ngừa thai nhân tạo (sử dụng thuốc hoặc bao cao su), đứa nào không nghe, Chúa phạt nhãn tiền. Ở dưới, một anh thanh niên cao ráo đẹp trai đứng dậy đáp lễ: ‘Thưa Cha, con hổng hiểu cha đang nói gì, con mê túc cầu, nên chỉ biết là: Đứa nào hổng biết đá bóng, thì đừng có bày đặt…làm luật đá banh.’

Thật chí lý!

Chợt nhớ tới bản thân: Ngoài cái ‘nghề’ linh mục…bạc bẽo, cô độc, có khi, còn bị thiên hạ né tránh, khinh thường ở Phương Tây, tôi làm thêm việc ‘Family Counsellor, Tư vấn gia đình’ (dạo này kinh tế khó khăn?). Nhiều lúc giảng thuyết sùi bọt mép, khô cả họng, cho các bậc phụ huynh Việt Nam, họ kết luận một câu…tàn nhẫn: ‘Ông Cha hổng có vợ con, biết gì mà nói!’

Thì nín luôn chứ sao bi giờ! Tối tăm mặt mũi, vừa tức, vừa buồn, tôi than thở với Peter, chuyên gia giám sát tôi (supervisor). Ông giải thích: ‘Joe trả lời kiểu nào cũng…thua thôi. Nếu Joe có gia đình, thì sẽ rơi vào một trong hai trường hợp này: Thứ nhất, con cái Joe ngoan ngoãn, họ sẽ bảo: ‘Joe lucky, may mắn, nhưng có con ngoan thì hổng hiểu nổi cái đám con trời đánh, thánh đâm của tui đâu! Biết gì mà nói!’ Thứ hai, nếu con cái Joe hư hỏng. Họ sẽ bảo: ‘Con mình còn dạy hổng nổi mà bày đặt dạy con người khác. Biết gì mà nói!’ Rồi Peter giảng tiếp: ‘Đồng ý là, nếu có trải nghiệm cá nhân, thì mình sẽ dễ dàng truyền đạt, chia sẻ và cảm thông hơn với người trong cuộc. Tuy vậy, không bắt buộc phải có trải nghiệm bản thân, thì mới giúp người khác được! Chẳng hạn như, các bác sĩ, không bắt buộc phải bị lao phổi, đau tim, mới chữa trị được cho người lao phổi, đau tim. Các nam chuyên gia cũng từng giải phẫu cho nhiều nữ bệnh nhân. Họ có biết..quỉ gì về cơ thể phụ nữ đâu! Cũng vậy thôi, không bắt buộc phải có con, thì mới truyền đạt được cách giáo huấn. Joe không có con (dĩ nhiên rồi, ‘nghề’ linh mục không có chuyện ‘cha truyền con nối’), nhưng Joe phải học hỏi, học tập, học hành. Joe thâu thập kiến thức từ sách vở, không phải chỉ là lý thuyết, nhưng còn là sự tổng hợp hàng triệu kinh nghiệm của các gia đình trên khắp thế giới, với nhiều nền văn hoá và trong nhiều thế hệ nối tiếp nhau. Khi đi thực tập, chính Joe sẽ gặp gỡ mọi người, Joe giúp họ, nhưng họ cũng sẽ chia sẻ với Joe về những khó khăn, thử thách khi sống đời vợ chồng và nuôi dạy con cái. Nhờ vậy, mức độ cảm thông của Joe dành cho họ sẽ tăng dần. Lâu năm, nghề dạy nghề, Joe sẽ đúc kết tất cả những kho kiến thức đó lại, đem ra áp dụng, để ngày càng thành thạo hơn. Bởi vậy, go head, just do it! Stop worrying, đừng lo nữa, cứ làm tới luôn đi!’ Rồi Peter kết luận một câu ‘tím cả chiều hoang biền biệt’: Người muốn nghe, thì họ sẽ lắng nghe học hỏi, không cần biết Joe là ai. Người không muốn nghe, thì dù Joe là chuyên gia dày dạn kinh nghiệm, vợ con đùm đề, họ cũng…đếch thèm nghe đâu!’ (tôi chỉ ‘phỏng dịch’ lời Peter. Nguyên ngữ tiếng Anh còn nặng hơn cả chữ…đếch!)

Cũng…thật chí lý!

Hy vọng quí độc giả có thể tự tìm ra câu trả lời cho dấu hỏi: ‘Không có trải nghiệm cá nhân, sao lại dạy bảo người khác?’ Tôi chỉ xin bổ túc thêm một chút: Trong Giáo Hội, cũng có nhiều chuyên gia ở mọi lãnh vực, ngay cả khoa học. Họ là những giáo hữu và giáo sĩ. Họ sẽ cố vấn cho người lãnh đạo, đặc biệt cho Đức Giáo Hoàng. Khi cần thiết, ngài sẽ nhờ họ trợ giúp ý kiến, trước khi quyết định điều gì thuận theo, hoặc đối nghịch với Luật yêu thương của Chúa.

d. Riêng tôi, mặc dù là linh mục, nhưng không có nghĩa là, tôi đồng ý hoàn toàn với mọi quan niệm của Giáo Hội về những vấn đề đang gây tranh cãi hiện giờ. Thí dụ như:

– Cá nhân tôi ủng hộ chuyện phụ nữ làm linh mục, vì theo sự hiểu biếtlương tâm của tôi, ngày xa xưa, Chúa Giêsu đã có nhiều môn đệ là phụ nữ (Truyền thống chỉ chọn nam giới trong chức vị linh mục, có lẽ phát xuất từ quan niệm trọng nam khinh nữ thời bấy giờ).

Khi được hỏi về vấn đề phụ nữ làm linh mục, Ngài (ĐGH Phanxicô) nói “Giáo Hội đã lên tiếng về chuyện này và nói không”, và thêm “Cánh cửa này đã đóng rồi”.

Dạ vâng, cửa đã đóng, nhưng đã gọi là cửa, thì nhiệm vụ của nó không phải chỉ là đóng, mà còn là mở. Bao giờ mới mở thì chưa ai rõ. Có thể là vì, dạo này thời tiết thất thường, gió chướng mù trời, nên cửa cần đóng lại. Mai mốt biết đâu, thuận lợi hơn, cửa sẽ mở rộng để đón nắng gió chuyển mùa? (2016, là Năm Thánh ngoại thường Lòng Thương xót Chúa, đích thân Giáo Hoàng Phanxicô đã mở cửa Thánh tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô, sau 16 năm đóng chặt.)

Cũng là một điều rất lý thú khi quí độc giả biết được rằng: Chàng thanh niên Giêsu nổi tiếng ‘ga lăng’ (galant) không ai sánh bằng, Ngài đi trước thời đại cả mấy ngàn năm trong cách đối xử với phái nữ: Trẻ thơ, bà góa, đĩ điếm, tội nhân, bạn bè, môn đệ, cứ phái nữ là được ‘chàng’ lắng nghe, ân cần dịu dàng, lễ độ, cảm thông, vỗ về. Đám môn đệ con trai phạm lỗi, chàng thẳng thừng khiển trách, còn con gái thì chàng…lịch thiệp, mềm mỏng, ưu ái khỏi chê! Có phải trách thì cũng nhẹ nhàng hết mực. Bạn nào không tin, xin mời đọc Tân Ước biết liền (ở điểm này, phải thừa nhận, Giáo Hội học hỏi gương Thầy Giêsu chậm như rùa bò, đến bây giờ vẫn lẹt đẹt chưa tới đâu!)

– Cá nhân tôi cũng nghiêng về quan niệm cho phép linh mục được lập gia đình, vì Chúa Giêsu không hề đòi buộc linh mục phải sống độc thân. Chuyện ngăn cấm linh mục không được có vợ chỉ mới xảy ra từ thế kỷ thứ 12 (Công Đồng Lateran II, 1139) chứ còn trước đó, linh mục vẫn được phép lấy vợ. Lập luận của tác giả ‘Linh mục có vợ thì không còn đủ thời gian lo việc Chúa’ tuy rất thực tế nhưng thiếu vững chắc, vì các giáo phái Thiên Chúa khác như Tin Lành, Anh Giáo, mục sư vẫn được lập gia đình và Giáo Hội của họ vẫn phát triển ngon ơ. Nếu một mục sư, vì có vợ con, nên chỉ lo việc Chúa được bán thời, so với linh mục độc thân toàn thời, thì Giáo Hội chỉ cần đào tạo thêm số lượng gấp đôi cũng được thôi. Chưa kể là, Giáo Hội luôn khuyến khích các tín hữu đóng góp công sức và tài năng để phụ giúp xứ đạo. (Dĩ nhiên, nếu giáo sĩ có gia đình, thì những thách thức của đời sống vợ chồng, ai cũng phải đối mặt như nhau: Chuyện ghen tuông, ngoại tình, chán ghét, lạnh lùng, thờ ơ…May ra thì, nhờ gần Chúa hơn, đôi vợ chồng giáo sĩ sẽ bớt xích mích, không đến nỗi muốn…làm thịt nhau).

– Dù cá nhân tôi có ý kiến bất đồng, nhưng vì đang sống trong thời đại này, khi Giáo Hội không cho phép, nên tôi vẫn ngoan ngoãn vâng lời, như vâng lời Cha Mẹ, cho dù, tôi không đồng ý với các ngài (cũng may là tôi tin Đạo, chứ không tin…Đảng, bởi vì, chỉ riêng chuyện dám nêu ý kiến bất đồng như thế, tôi có thể bị Đảng đấu tố, ngồi tù như chơi). Sẽ có bạn đọc thắc mắc: Dù là phận con cái, nhưng nếu thấy cha mẹ không hợp lý, thì mình vẫn cần lên tiếng chứ? Chẳng lẽ lại để cho ổng bả dùng quyền lực bắt ép con cái, rồi muốn làm gì thì làm hay sao? Dạ thưa, có lên tiếng chứ! Không phải chỉ một bóng lẻ loi, nhưng chắc chắn là có giáo dân và giáo sĩ cũng đồng quan niệm với tôi. Bởi thế, trong nội bộ, qua những kỳ đại hội, công hội, hội nghị, mật nghị… các chuyên gia trong lãnh vực liên quan, vẫn tiếp tục ngồi xuống tranh cãi, thảo luận về những đề tài nóng bỏng của thời đại. Tôi không phải là chuyên gia, nên không đủ khả năng gia nhập ‘phái đoàn’ đi ‘thương thuyết’ với cha mẹ. Tôi đặt niềm tin nơi họ, và phó thác vào sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Còn hiện tại, tôi thảnh thơi vâng lời, chấp nhận tuân phục vì tin rằng: Gia đình mình, Giáo Hội mình, dù chưa hoàn thiện, nhưng lúc nào cũng khiêm tốn học hỏi, để ngày càng trở nên hoàn thiện hơn.

e. Cũng giống như cha mẹ từng khuyên bảo các con, có đứa vâng lời, có đứa phản kháng. Những vấn đề như ngừa thai, phá thai, có người tuân theo, có người thì… ‘xả láng, sáng về sớm’. Chuyện bình thường. Nhiều luật lệ cha mẹ dạy rõ ràng: Đừng giết người, đừng ngoại tình, đừng ích kỷ, tham lam…Đó là những điều luật tốt đẹp ai cũng phải công nhận, thế nhưng, người đời, con cái vẫn vi phạm tỉnh bơ. Đúng đắn mà còn vi phạm, huống gì luật còn đang tranh cãi. Thánh Phaolô đã thừa nhận bản ngã yếu hèn của mình: ‘Sự lành không ở trong huyết nhục tôi… Sự dữ lúc nào cũng kề bên…Điều thiện tôi muốn thì tôi không làm, còn điều ác tôi không muốn, thì tôi lại làm’ (Rm 7, 18-25). Trong phần tuyên hứa Đức Tin, linh mục hỏi: Anh chị em có từ bỏ ma quỉ (và những quyến rũ bất chính của nó) không? Giáo dân sẽ ‘hùng hồn’ đáp lại: (Thưa rằng) Từ bỏ. Nhưng khối người cố ý cà..cà lăm: (Thưa rằng) từ..từ bỏ (từ từ thôi! Dễ gì bỏ liền!)

f. Điều quan trọng nhất là, mỗi người cần hành xử theo lương tâm mách bảo (xin lưu ý: Lương tâm cũng cần phải được học hỏi, trải nghiệm, trau dồi, thực hành để ngày càng hoàn thiện, chứ nếu không, lương tâm vẫn có thể bị chai đá, mù lòa: Nói dối riết thành quen, lương tâm cắn riết cũng mòn răng, không còn hơi sức đâu mà nhắc nhở, khuyên can mãi). Mỗi người, tùy theo lương tâm, sự trưởng thành, suy xét của riêng mình, để phán đoán và nhận định những lời giáo huấn của mẹ cha. Tuân phục hoặc bác bỏ là quyết định cá nhân. Nếu làm việc gì, mà thấy lương tâm cắn rứt, thì biết là việc đó…có vấn đề, nếu thấy lương tâm yên ổn, thì việc đó…OK. (OK với riêng cá nhân đó thôi, chứ chưa chắc OK với người khác).

g. Xin nói thêm là, mặc dù giáo luật đã giải thích rõ ràng những yếu tố cấu thành tội phạm, nhưng còn có một hướng dẫn dành riêng cho giáo sĩ, gọi là ‘pastoral care’ (chăm sóc mục vụ). Với hướng dẫn này, các linh mục sẽ hành xử luật yêu thương của Chúa tùy theo mỗi trường hợp. Chẳng hạn như, một cô vợ đến tòa giải tội phàn nàn là, đức ông chồng của cô quá sung sức, muốn lên giường hằng ngày, cô chịu hết nổi. Nếu không dùng bao cao su, thì sinh ra đám con nhiều quá, giáo dục, chăm lo tối tăm mặt mũi (đang khi lửa tắt cơm sôi, lợn kêu, con khóc chồng đòi tòm tem). Vị linh mục, tuy không thể công khai gật đầu, cho phép cô ‘cứ việc’ ngừa thai nhân tạo, nhưng có thể chia sẻ là: Tiết chế tình dục cũng là một nhân đức, giúp cho chúng ta học cách kiềm giữ, đặt giới hạn, kiểm soát những đam mê nguy hiểm trong đời sống, không buông thả, chiều theo thú tính dục vọng. Tuy nhiên, vì chồng chị không có ở đây để tôi khuyên nhủ, bởi thế, chị hãy hành xử theo lương tâm, và hãy ra đi bình an. Cô vợ ra về, tự cô sẽ đắn đo biện luận, rồi có thể sẽ chọn cách ngừa thai nhân tạo, nghĩa là trái với luật đạo, nhưng ít ra, cô đỡ bị áy náy, lo âu. Thiên Chúa, hay Cha Mẹ, sẽ cảm thông tha thứ cho nỗi khó khăn của con cái mình. Dĩ nhiên, đây là ‘bí mật toà giải tội’, cô vợ không được quyền tiết lộ, vì vị linh mục chỉ giải quyết cho riêng trường hợp của cô mà thôi. (Điều cần nhớ là: Giáo Luật được thiết lập, với chủ đích để phục vụ con người, chứ không phải, để trói buộc, cầm tù con người.)

h. Cũng cần thiết để vắn tắt đôi dòng về giáo luật. Có luật phổ quát toàn cầu, đồng thời, cũng có luật địa phương (dưới quyền tự trị của Đức Tổng Giám Mục trong mỗi địa phận). Luật phổ quát toàn cầu áp dụng cho mọi tín hữu Công Giáo, còn luật địa phương thì tùy theo sự qui định của Đức Tổng trong giáo phận mà tín hữu cư ngụ (thường là những điều lệ không quá nghiêm trọng). Tác giả đã trưng dẫn hai hình ảnh đối chọi nhau giữa hai vị Giáo Hoàng vào thứ năm Tuần Thánh. Vị thứ nhất, Giáo Hoàng Benedict XVI, đứng rửa chân cho các đấng bậc, vị thứ hai, Giáo Hoàng Phanxicô quì rửa chân, rồi hôn chân các tù nhân, di dân, nam nữ, tôn giáo khác biệt. Không có luật phổ quát qui định phải rửa chân cho tầng lớp nào cả! Bởi vậy, cứ tùy theo quan niệm riêng mà hành xử: Rửa chân cho ‘quan’ trắng, hay cho dân đen? Trong cùng một quốc gia, có nhà thờ cho phép phái nữ giúp lễ và làm thừa tác viên thánh thể, nhưng nhà thờ khác thì lại…cấm chỉ! Có nơi Đức Tổng ‘khuyến cáo’ nhiều điều, nhưng linh mục chánh xứ cứ lờ tít đi. Chẳng sao, chẳng ai nói gì! (Ngoại trừ, nếu Đức Tổng vẫn chưa gột rửa được bụi trần, ngài sẽ khó chịu, có ấn tượng xấu, ghét bỏ hoặc sẽ ‘đì’những ‘đứa’ chẳng coi lời mình ra gì!)

i. Nhân tiện chuyện này, xin nói đến hình ảnh đàn cừu mà tác giả đã sử dụng:

Nếu chỉ muốn có loài cừu, hà tất Chúa mất công tạo ra loài người và cho nó bộ óc thông minh hơn loài cừu. Chúa ban cho bộ óc người, mà chỉ xử dụng nó như bộ óc cừu, là làm hư một công trình sáng tạo của Chúa. Vận hành nó đúng theo khả năng Chúa đã tạo ra, chẳng lẽ là do quỷ Satan xui khiến?’

shepherd-sheep

Mục tử và đàn cừu

Đàn chiên (cừu) và vị mục tử là hình ảnh cảm động nhất, biểu lộ nồng nàn tình yêu của Thiên Chúa đối với con người. Trước hết, nó là một dụ ngôn (như ngụ ngôn), cần được dẫn giải để hiểu đúng ý nghĩa. Thứ hai, bối cảnh của câu truyện là: Chúa thấy dân chúng giống như đàn chiên không có người chăn dắt, bơ vơ, lạc lõng, Ngài chạnh lòng thương, rồi mời gọi các môn đệ trở thành người chăn dắt họ. Ngài còn tự ví mình là mục tử, sẵn sàng chết cho đàn chiên, đích thân đi tìm con chiên lạc…(Ga 10,11-18; Lc 15,1-7). Là dụ ngôn, nên Chúa chỉ ví dân chúng giống như đàn cừu mà thôi. Ngài không hề có ý định sáng tạo con người đàn cừu để tha hồ sai khiến, bảo sao làm vậy. Dạ đúng, đã có thời, các vị lãnh đạo mong muốn giáo dân chỉ là chiên cừu khù khờ cho dễ bề cai trị (câu này nghe quen quen…hình như Đảng cũng muốn thế thì phải! Nhưng mà, Đạo và Đảng khác nhau một trời một vực, mục tử Đạo sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì chiên, còn mục tử Đảng sẵn sàng hy sinh mạng sống chiên vì mình. Thời chiến thì thí mạng cừu, thời bình thì làm thịt cừu ăn nhậu). Lời Cha xứ là Lời Chúa, Ý Cha là Ý Trời. 30 năm trước, tôi hồi hộp chờ ‘sự vụ lệnh’ (ngôn ngữ nhà Đạo gọi là: Bài Sai) của ‘bề trên’ để lên đường đến một nơi không hề biết trước, y như cô dâu sắp về nhà chồng mà chưa biết mặt chú rể, trong nhờ đục chịu. Thân ‘bề dưới’ chúng tôi chỉ biết cúi đầu vâng dạ, không được quyền hỏi han lung tung. Đúng là cừu. Đám bạn cùng lớp cứ kháo nhau: Độc là ‘Bài Sai’, chẳng thấy ‘Bài Đúng’ đâu cả! Cái thời đó đã qua rồi! (Chỉ còn sót lại ở những nơi phép vua thua lệ làng như Việt Nam). Hiện giờ, ngay cả linh mục, giáo dân (khi suy nghĩ, hành xử theo lương tâm) cũng có quyền bất đồng ý kiến với Giáo Hội về một số vấn đề. Tuy vậy, bất đồng riêng tư chứ không phải công khai phản kháng. Nếu vì bất đồng, mà tôi hô hào biểu tình phản đối, lôi kéo, thuyết phục, dạy bảo người khác phải tin theo mình, thì lúc bấy giờ, các đấng bậc chịu trách nhiệm sẽ bắt buộc phải tiến hành từng bước: Liên lạc trực tiếp, tạo cơ hội hòa giải, cảnh cáo, tạm ngưng hoặc cấm thi hành chức vụ… Đương nhiên, Giáo Hội, cũng giống như mọi thể chế chính trị, rất e dè với những rối loạn, xáo trộn nội bộ, có thể gây hoang mang cho mọi người. Nhưng khác với một số tổ chức chính trị, Giáo Hội không dùng bạo lực đàn áp, không dùng biện pháp bịt miệng, trù dập. Giáo Hội sẽ tiếp nhận ý kiến phản hồi, nhưng cả hai phía cần hành xử theo một trình tự cởi mở và ôn hòa. Như đã nói, Giáo Hội không đầu hàng trước áp lực, cho dù, áp lực của đám đông. Không phải đám đông lúc nào cũng đúng (Chúa Giêsu bị kết án oan ức, cũng vì đám đông). Giáo Hội chỉ qui phục dưới một áp lực duy nhất: Luật yêu thương của Chúa.

Kể ra như thế, để chúng ta hiểu rằng, Giáo Hội thời nay sẵn sàng lắng nghe, đối thoại với quan điểm khác biệt, khiêm tốn học hỏi, miễn sao (theo nhận định chủ quan) nó không đi ngược lại với Luật Chúa. Như vậy, Giáo Hội muốn hướng dẫn, chia sẻ với con người, chứ không phải muốn cai trị, dẫn dắt con cừu như trước kia. 30 năm sau, Bài Sai tôi nhận đã trở thành Bài Đúng, vì bề trên sẵn lòng đối thoại, thương thảo, lượng định giữa ước muốn cá nhân và nhu cầu cộng đoàn, trước khi quyết định gởi tôi về nơi phục vụ mới.

Tiện đây, cũng nói luôn đến chuyện đối thoại của Giáo Hội với các tôn giáo bạn, mà tác giả đã đề cập đến, bắt đầu từ triều đại Giáo Hoàng Phaolo VI, kéo dài đến hiện tại. Điều này thật sự là một cuộc cách mạng chuyển mùa, vì trước Công Đồng Vatican II, Giáo Hội tự cho mình là ‘Con Trời, Thiên Tử, Thế Thiên Hành Đạo’, nắm giữ bí quyết cứu độ, ai tin Ta thì sống, ai nghịch Ta thì chết, mất linh hồn, sa hỏa ngục đời đời. Hiện giờ, Giáo Hội hiểu là, chân lý chỉ có một, Ông Trời, Ngọc Hoàng, Thượng Đế hay Thiên Chúa, tuy khác ở cách gọi nhưng cũng chỉ có một, mặc dù, đường tìm về chân lý thì có nhiều lối ngõ, qua nhiều cách thế khác nhau. Sau gần 20 thế kỷ, cuối cùng, Giáo Hội mới thừa nhận rằng: Các tôn giáo chân chính đều là anh chị em một nhà. Dĩ nhiên, Giáo Hội, như các tôn giáo chân chính, có niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa (Thượng Đế) của riêng mình. Đối với Công Giáo, là Thiên Chúa Ba Ngôi, Chúa Cha, Chúa con Giêsu, và Chúa Thánh Thần, nhưng tất cả anh chị em một nhà vẫn có thể cùng nhau bàn luận, cùng học hỏi để tiến về một chân lý, một sự thật tất yếu không thể chối bỏ: Sự hiện hữu của một Đấng Tối Cao, Toàn Năng, Toàn Thiện.

Xin trở lại với mối liên hệ Đạo-Đời. Ai cũng biết là, khi chung sống, người ta sẽ bị ảnh hưởng, lây nhiễm lẫn nhau, bởi vậy, Đạo đã từng bị Đời…quyến rũ (giữ đạo hoài chán quá (so boring)! Nhào dzô tội mới…dzui!(have fun). Augustine, một trong những vị thánh nổi tiếng nhất của Giáo Hội, thời trai trẻ là một ‘playboy’ đúng nghĩa, khét tiếng phóng đãng chơi bời (có cả con riêng). Sau này, khi ‘chuyển mùa’ trở về với Chúa, chàng viết nhật ký ‘Thú Tội’ (confession), trong đó có câu: ‘Lạy Chúa, hãy ban cho con đức khiết tịnh (trong sạch), nhưng xin đừng…vội.’ (để con hưởng thụ thú vui nhục dục trước đã). Lời nguyện này chứng tỏ rằng, ngay cả các vị thánh, cũng luôn bị giằng co, níu kéo khi cố gắng giữ Đạo trong cõi trần ngập đầy thách thức, chỉ chực bẻ gẫy mọi nỗ lực sống đời thiện lương (ngôn ngữ nhà Đạo gọi là: Ma quỉ cám dỗ)

Không ai có thể phủ nhận được, rất nhiều bằng cớ xác thực mà tác giả đã dày công sưu tầm:

Giáo Hoàng, chẳng những được coi ngang Hoàng Đế, mà còn trở thành “Siêu Hoàng Đế”, vua của các Hoàng Tử và Hoàng Đế…

Từ thời Constantine, việc nước đã nhập chung với việc đạo, rồi quyền bính giữa đạo và đời gắn bó với nhau. Sự lạm dụng quyền bính của Giáo Hoàng đã lên tới cao độ, tạo tì vết trong lịch sử Giáo Hội, mang nhiều tiếng xấu khiến các Giáo Hoàng ngày nay vẫn còn phải xin lỗi…

Đáng nói hơn nữa, mặc dầu theo Phúc Âm, Chúa đã cấm việc xử dụng vũ khí, “kẻ nào dùng gươm sẽ chết vì gươm” (Mt 26, 52; Mc 14, 43-50; Lc 22, 47-53; Ga 18, 3-11), Giáo Hoàng Urban II (1088-1099), đã khởi sự cuộc Thánh Chiến Thứ Nhất (First Crusade – 1096), coi bạo lực là việc làm thiêng liêng để bảo vệ nước Chúa; quân sĩ đeo Thánh Giá, được gọi là “Thập Tự quân”…

Năm 1963, đang khi đất nước trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng, Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục nâng lễ Ngân Khánh của mình ngang tầm quốc lễ, để Chủ Tịch Quốc Hội Trương Vĩnh Lễ làm trưởng ban tổ chức, cử hành lưu động khắp Trung Nam. Có người bênh vực: “Đức Tổng làm vậy để lấy tiền giúp Địa Phận, cho Đại Học Đà Lạt, đâu phải cho cá nhân Ngài”. Cho việc riêng hay cho việc chung, cũng là mù quáng chạy theo tiền tài.

(Trong bài, tác giả có nói đến sự xung đột giữa ‘Thần Quyền và Thế Quyền’, cá nhân tôi không đủ kiến thức về lịch sử Giáo Hội, nên không dám lạm bàn sâu hơn. Mong rằng, các bạn đọc giáo sĩ, giáo dân nào hiểu biết chuyên môn hơn, sẽ đóng góp ý kiến cho diễn đàn. Chân thành cảm ơn).

Dạ thưa đúng, khi Đạo-Đời chung đụng, nhiều lúc, Đời thắng Đạo thua, Đạo đầu hàng trước những đam mê rất…Đời. Xét theo khía cạnh tiêu cực, thì Giáo Hội, dù có Chúa Thánh Thần hỗ trợ, nhưng vẫn do con người điều hành, mà con người thì vốn yếu đuối sai lầm. Chẳng có gì lạ, nếu họ bị tiêm nhiễm ‘bụi trần’, bị rơi vào những mê lộ bất chính, sống ngược lại với tinh thần Phúc Âm. Họ bị lẫn lộn giữa Lời Chúa và lời mình, họ dùng quyền lực để bắt người khác phục vụ, thay vì là đầy tớ phục vụ (Đức Giáo Hoàng, vẫn thường tự nhận: Tôi là đầy tớ của các đầy tớ). Họ lầm tưởng rằng mình đang làm việc để vinh quang Chúa, nhưng thật ra, họ đang làm việc để vinh quang danh họ.

Tương tự, vì Giáo Hội ngày càng lớn mạnh, nên bắt buộc phải thiết lập một hệ thống quản trị, có luật lệ rõ ràng, giúp mọi giáo dân dễ dàng sống đạo, theo một tiến trình qui củ, trật tự, chứ không thể mạnh ai nấy dạy, mạnh ai nấy làm, vô tổ chức, như một đạo quân ô hợp. Đền Thánh Phêrô được xây dựng, như một trung tâm đầu não của thể chế Giáo Hội. Tuy nhiên, cũng chính vì thế, như tác giả đã nêu rõ, tổ chức giáo hội lại nảy sinh nhiều vấn nạn về đất đai, tài sản, địa vị, quyền lực, sắc dục, lệ mua quan bán chức, lễ phục sang trọng, triều thiên ba tầng, cung điện cao sang, tiện nghi vật chất (một trong những lý do Giáo Hội chính thức ngăn cấm linh mục lấy vợ là vì, các đức ông chồng giáo sĩ tham lam thâu tóm tiền bạc để dành cho vợ con).

Sự lẫn lộn, nhập nhằng giữa Đạo-Đời đã từng xảy ra trong quá khứ, vẫn còn trong hiện tại và chắc chắn, vẫn kéo dài đến tương lai. Chính vì vậy, Giáo Hội luôn cảnh tỉnh, giáo huấn, cầu nguyện, tĩnh tâm, nhìn lại, ăn năn, thống hối, can đảm sửa đổi, để giảm thiểu tối đa những mối nguy hại có thể làm suy yếu đức tin, đồng thời, luôn sáng suốt trở về với nguồn cội Lời Chúa, luôn tự xét bản thân để phân định rạch ròi: Lời nói, thái độ, hành vi của tôi, là theo Chúa hay theo ai? Bài giảng của tôi, là lời tôi hay lời Chúa? Tôi nhân danh Chúa để giết người hay cứu người? Vì sống đạo giữa đời, với sự bất toàn, nên lời cầu xin hằng ngày của mọi tín hữu vẫn là: ‘Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ.’ Còn nói theo ngôn ngữ bình dân ở Việt Nam: Yếu thì đừng ra gió. Đương nhiên phải cầu nguyện rồi, vì họ đang sống giữa dân gian và thế gian, dân (thì) gian mà thế (cũng) gian. Vì hòa nhập, gần gũi thường xuyên với đời, mỗi tín hữu cần biết được giới hạn của mình, cần hiểu được bản ngã yếu hèn: Khi tôi yếu là lúc tôi mạnh…Thế nên, tôi rất vui mừng vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong tôi (2 Cor 12, 9-10). Hiểu biết yếu đuối của chính mình, để cậy nhờ vào sức mạnh của Chúa, mời gọi Ngài đồng hành với tôi. Không có Ngài, tôi sẽ ngã gục (for sure! Man).

Tuy nhiên, xét theo khía cạnh tích cực, thì Lời Chúa, qua giáo huấn của Giáo Hội, cũng tạo nên những ảnh hưởng tốt đẹp cho xã hội. Nhiều giá trị tinh thần, luân lý ‘nhân bản’ mà mọi người đều công nhận hiện giờ ở thế giới văn minh, đã được thừa hưởng từ ‘Thiên bản’: Cách sống vị tha, bác ái, hiền hòa, khoan dung, lịch sự, tôn trọng lẫn nhau, ngay cả quan niệm dân chủ, độc lập, tự do chọn lựa…đều có thể phát xuất từ Lời Chúa (ít hoặc nhiều, nhưng chắc chắn không phải là tất cả. Công Giáo chỉ mới được hơn 20 thế kỷ, trong khi các tôn giáo bạn đã có trước cả chục ngàn năm). Điều này chỉ có thể đạt được, nhờ mối liên hệ mật thiết giữa Đạo và Đời. ‘Hai đứa’ không chia rẽ, mà cùng song hành. Nếu Đạo và Đời tách biệt nhau, ‘mind your own business’, thì cuộc đời sẽ ra sao? Còn Giáo Hội sẽ đi đâu, về đâu?

Tâm lý tách rời Đạo-Đời này, tiếc thay, cũng hằn sâu trong tâm khảm của nhiều giáo dân. Họ ý thức rõ ràng, mình có đạo và mình đang ở đời. Nhưng trong vô thức, họ lại tách rời hai lối sống: Đạo trong nhà thờ, và Đời ở bên ngoài. Bởi thế, khi bước vô Thánh Đường, họ sốt sắng dâng lễ, cầu nguyện, tôn thờ Thiên Chúa, nhưng lúc vừa bước ra khỏi Thánh Đường, họ lại ‘trở mặt’ ngay lập tức. Môi miệng vừa đọc kinh chân thành, vụt trở nên dối trá leo lẻo. Bàn tay vừa nâng niu dâng lễ vật, bỗng tát thẳng vào mặt vợ con. Tâm hồn vừa lẩm bẩm cầu khẩn Thiên Chúa làm ơn tha thứ cho mình, chưa dứt lời thì đã vội dặn lòng ‘thù này ta quyết trả’, phải làm cho ‘con mẹ’ dám nói xấu ‘tao’ tiêu đời mới hả dạ, an tâm. Chưa hiểu được Thánh Ý: Hãy là nhân chứng tình yêu Cha giữa đời, chưa hiểu được nguyên tắc: Đạo trong Đời, Đời Trong Đạo, Mến Chúa (Đạo), Yêu Người (Đời), hai mà như một, một mà là hai, chưa thực hành được điều này, thì đừng trách tại sao, người ta lại mỉa mai phê phán: Đúng là đồ giả hình! ‘I like your Christ, but I do not like your Christians, your Christians are so unlike your Christ’ (Tôi thích Chúa Kitô của bạn, nhưng tôi không thích giáo dân Kitô, (vì) họ quá khác với Chúa Kitô (Mahatma Gandhi).

Trở về với cấu trúc tiểu luận trong ‘Giáo Hội chuyển mùa’, có một số kết bài (hậu đề) mang tính xác định rõ ràng, làm tôi phân vân, ngần ngại khi muốn đồng ý với tác giả, chẳng hạn như:

Tất cả những thay đổi ngoạn mục của hai đời Giáo Hoàng John XXIII và Paul VI trong 20 năm đều đứng lại trong gần 40 năm dưới hai đời Giáo Hoàng John Paul II và Benedict XVI. Không phải hai Giáo Hoàng trước đã thay đổi đủ rồi, các Giáo Hoàng sau không cần thay đổi thêm nữa, mà vì người sau đã chận lại đà tiến của Giáo Hội….

Đối với nhãn quan thế giới bên ngoài, thì kết luận của tác giả có thể chính xác, nhưng vì nằm trong nội bộ, nên tôi thấy được một số những thay đổi nghiêm trọng. Xin đưa ra một dẫn chứng cụ thể: Vấn nạn ấu dâm của giới tu sĩ trong giáo hội Úc đã bùng nổ từ lâu, và hậu quả vẫn đang còn âm ỉ, dằng dai, tuy nhiên, tất cả những cáo buộc đều nhắm vào khoảng thời gian từ thập niên 80 trở về trước, chứ chưa hề có một cáo buộc nào từ thập niên 90 cho đến giờ. Lý do là vì, tại giáo phận Melbourne (ở nơi khác thì tôi không biết), Đức Tổng Giám Mục George Pell (hiện giờ là Hồng Y, làm việc tại Vatican), từ đầu thập niên 90, đã đi tiên phong trong việc giao phó trách nhiệm cho một tổ chức độc lập gồm các chuyên gia để điều tra sâu rộng về vấn nạn này, đồng thời, hoạch định một phương thức đối phó. Kết quả là, chương trình Towards Healing ra đời, với chủ đích hỗ trợ cho các nạn nhân về mọi mặt: Tinh thần, tâm lý, tâm linh và đền bù vật chất. Còn kẻ lỗi phạm thì chịu nhận hậu quả theo pháp luật hiện hành (đã qua rồi, cái thời bao che, dối trá để bảo vệ thanh danh Giáo Hội). Cùng lúc đó, ngài rà soát lại, thay đổi chương trình đào luyện tu sĩ một cách quân bình hơn, chú trọng đến mọi giai đoạn, từ khi thâu nhận tu sinh, cho đến khi chịu chức. Nhờ vậy, trong 30 năm, ít ra là tại Melbourne, chưa có một tu sĩ nào bị tố cáo vì vấn nạn ấu dâm. Các tu sĩ bị tố cáo, đều là những người thuộc thế hệ ‘lão thành’ vấp phạm trước thập niên 90. Thế nên, cho dù Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị ‘có vẻ như’ bảo thủ, làm chậm tiến trình thay đổi, nhưng trong triều đại của Ngài, rải rác ở phạm vi địa phương, Giáo Hội đã thức tỉnh, mạnh dạn nhìn nhận lỗi phạm của mình. Vấn nạn này là một vết nhơ khó lòng gột rửa trên lễ phục Hội Thánh. Nhưng đây cũng là dịp may để Giáo Hội biết chân thật hơn, khiêm nhường hơn, như vị cha chung Phanxicô đã cúi mình hôn bàn chân đen đủi người đời, để lễ phục lấm lem trở nên tinh sạch trước mặt Chúa.

Tóm lại, tôi sẽ dễ dàng chấp nhận, nếu phần kết luận này mang tính nghi vấn, giả định: Có lẽ? Hình như? Phải chăng người sau đã chận lại đà tiến của Giáo Hội? Hơn là thể xác định hàm ý khả tín, gần như rõ ràng không cần bàn cãi gì thêm: Người sau đã chận lại đà tiến của Giáo Hội!

Tiếp theo, là một chú sâu nhỏ trong kết luận của phần thứ nhất:

Linh hồn Francis thoát xác năm 1226. Là tinh thần, linh hồn không bị đông lạnh hay bốc hơi, vẫn còn nguyên vẹn những đức tính khó khăn, khiêm nhường, yêu người, yêu vật, chu du khắp nơi trong gần mười thế kỷ, đã nhập vào một Giám Mục có lối sống gần với mình, coi thường địa vị và của cải, ở chung cư, đi xe buýt, từng xin về hưu khi được 75 tuổi ở tận Nam bán cầu, trở thành Giáo Hoàng Francis, nối ngôi Benedict XVI, cố đem Giáo Hội trở lại với tinh thần Phúc Âm.

Lối ví von này nghe hấp dẫn, dễ thương, nhưng người đọc có thể ngộ nhận là, Giáo Hội cũng chủ trương thuyết luân hồi, linh hồn siêu thoát, chu du rồi lại nhập vào một thân xác khác. Đúng ra, Giáo Lý dạy rằng, đời sống ở trần gian chỉ có một mà thôi. Sau đời sống này, linh hồn sẽ trở về nhà Cha, vĩnh viễn. Mỗi con người đều duy nhất, chỉ có một, chưa bao giờ xuất hiện trong quá khứ, cũng như, không bao giờ được lập lại trong hiện tại và tương lai.

Lại thêm một chú sâu, khi tác giả ví von so sánh giữa ‘khói Satan’ và ‘thế lực thù địch’.

Thật lạ lùng, một người có đầu óc tiến bộ, và từng dấn thân theo chiều hướng thay đổi của vị tiền nhiệm là John XXIII như Giáo Hoàng Paul VI đã tỏ ra thiếu bình tĩnh trước những phản ứng không thuận lợi phát sinh từ sự thay đổi. Lạ lùng nữa, Giáo Hội Công Giáo là sức mạnh chống Cộng hàng đầu, nhưng về phương diện đối phó với những nguồn dư luận chống đối, nhà lãnh đạo Giáo Hội và lãnh đạo Đảng có thái độ giống nhau. Giáo Hội cho là bị ma quỷ (Satan) quấy phá, trong khi Đảng đổ tội cho “thế lực thù địch”.

So sánh này…bất công, vì: Hình ảnh Satan là biểu tượng căn bản của những gì thuộc về sự xấu xa, tiềm ẩn trong con người (tham lam, tham quyền, tham vọng…), hoặc thuộc về quyền lực của bóng tối (điều huyền bí chưa thể giải thích trọn vẹn). Khi dùng biểu tượng này, Đức Giáo Hoàng không hề có ý đổ tội hoàn toàn cho Satan, rồi không chịu tự vấn lương tâm, không thấy cái đà trong mắt mình, phủi tay trách nhiệm. Tôi suy đoán là, Đức Giáo Hoàng muốn cảnh cáo, nhắc nhở Giáo Hội cẩn trọng, sáng suốt ‘tiên trách kỷ, hậu trách nhân’. Đang khi đó, Đảng Cộng Sản Việt Nam, đổ tội cho ‘thế lực thù địch’ để bao che cho những sai lầm, tội lỗi mà chính họ đã gây nên đối với dân tộc, đồng bào, theo kiểu ‘cả vú lấp miệng em’. Họ huyênh hoang, tự mãn, cho rằng đảng ta lúc nào cũng đúng, chỉ tại thế lực thù địch quấy phá mà thôi. Tôi không tin là, Giáo Hội mang não trạng này, khi Đức Giáo Hoàng nói đến khói Satan đang bao phủ Đền Thánh.

Tưởng đã sạch cả mùa Thu, nào ngờ trong phần kết luận bài viết Giáo hội chuyển mùa, vẫn còn:

Qua diễn từ đọc trước các giám mục tham dự Đại hội Thế giới về Gia đình (World Meeting of Families) nhân chuyến thăm Hoa Kỳ vào tháng Chín 2015, Giáo Hoàng Francis nói: “Tín hữu Thiên Chúa Giáo không được miễn trừ trước các thay đổi trong thời đại của mình. Cho dẫu thế giới thực thể này có vô vàn những vấn nạn và tiềm năng, nó vẫn chính là nơi chúng ta đang phải sống, phải giữ niềm tin và tuyên xưng đức tin" (2). Không được miễn trừ trước các thay đổi của thời đại, nghĩa là Giáo Hội cũng phải thay đổi cho hợp thời. Không thay đổi kịp, sẽ lâm vào tình trạng lạc hậu, trước khi bị đào thải.

Dạ thưa đúng, Giáo Hội, cũng giống như các thể chế chính trị ở đời, vẫn theo tiến trình tự nhiên của đất trời, mùa này nối tiếp mùa kia. Vẫn phải đối phó với vấn nạn tranh giành địa vị, quyền lực, bè phái, khác biệt quan niệm, bảo thủ, cấp tiến trong nội bộ. Nếu không chịu thay đổi, sẽ rơi vào tình trạng lạc hậu, và có thể bị đào thải (như lịch sử loài người đã chứng minh). Thế nhưng, Giáo Hội cũng có điểm khác với các thể chế chính trị xã hội (chắc chắn phải khác, vì nếu giống y hệt, thì Giáo Hội không đáng để hơn một tỷ người đặt trọn niềm tin). Điểm khác biệt là, Giáo Hội thuộc về Thiên Chúa, về đời sống tâm linh mà con người luôn khao khát hướng tới. Đơn giản là vì, con người thuộc về Thiên Chúa, nên con người luôn hướng đến Thiên Chúa, cho dù, đang sống ở thế giới vật chất cuộc đời (Anh em sống ở thế gian, nhưng không thuộc về thế gian (Ga 15, 18-21). Chính vì thế, Giáo Hội luôn được Chúa Thánh Thần hướng dẫn và soi sáng. Chính Chúa Thánh Thần sẽ dùng những con người (bất toàn) để dẫn lối cho toàn thể nhân loại ra đi, truy tìm nguồn cội của chính mình, nghĩa là, trở về với Thiên Chúa: ‘Lạy Chúa, Ngài tạo dựng con, bởi vậy, linh hồn con cứ mãi khắc khoải không yên, cho tới khi, con được nghỉ yên trong Chúa’ (Thánh Augustine). Ước muốn tâm linh, hướng thiện, từ bẩm sinh, đã hiện hữu trong con người, bất kể họ có tôn giáo, hay tự nhận mình vô tôn giáo. Không phải thế, thì tại sao lại có câu: Sinh Ký Tử Qui, sống gởi thác về? Về đâu vậy ta?

Cuộc hành trình vẫn tiếp diễn, Giáo Hội vẫn thăng trầm, Xuân Hạ Thu Đông, nhưng Giáo Hội không bao giờ bị đào thải, nhờ Chúa Thánh Thần. Theo đức tin, nếu một người, sau khi cầu nguyện chân thành và phó thác tuyệt đối vào Chúa, thì dù quyết định của người đó có sai lầm (vì sự bất toàn), Chúa cũng dư sức lèo lái sai lầm đó trở về đường ngay, mang lại lợi ích cho con cái dấu yêu của Ngài.

Tín hữu Thiên Chúa Giáo không được miễn trừ trước các thay đổi trong thời đại của mình… Nghĩa là Giáo Hội cũng phải thay đổi cho hợp thời.

Không được miễn trừ trước các thay đổi của thời đại, theo tôi hiểu là, không bảo thủ, xây hàng rào, đóng cửa, niêm phong, nội bất xuất ngoại bất nhập, mà phải nhìn thấy những dấu chỉ của thời đại, để tự xét mình, cầu nguyện, thay đổi những gì cần thay đổi, cũng như, cương quyết gìn giữ những giá trị vĩnh cửu, chân lý, sự thật theo luật yêu thương của Chúa, chứ không phải là thay đổi cho hợp thời. Nếu giáo hội chiều theo xã hội, Đạo chiều theo Đời, thì rất đúng, sẽ có ngày Giáo Hội cũng bị đào thải, bởi vì, Giáo Hội đã đánh mất căn tính của mình, đã từ bỏ sứ vụ rao giảng tin mừng theo lời dạy của Chúa Giêsu.

Tuy đã bắt được vài con sâu ở cành lá, nhưng tôi không thể làm thân cây ‘Giáo Hội chuyển mùa’ giảm bớt sức thuyết phục và cuốn hút tự nhiên, nhờ văn phong lôi cuốn, công phu nghiên cứu tìm tòi, lối lập luận sắc bén, ý thức tôn trọng sự thật, kèm thêm chút châm biếm, hóm hỉnh, những dấu ấn tiêu biểu tạo nên sự nghiệp và thanh danh Đinh Từ Thức. Người đời thường có khuynh hướng chú tâm bắt sâu, mà quên đi cả một trời xuân rực rỡ sắc hồng trên chùm hoa Anh Đào đang phất phơ trước gió. Bạn đọc có thể tưởng rằng, tôi phản hồi, nghĩa là tôi phản…đối, phản bác. Dạ thưa không! Tôi chỉ muốn góp ý, bổ sung, nhặt ra những con sâu bướm, để sâu chuyển mình thành bướm, để cánh bướm tung tăng vườn đào, báo hiệu mùa Xuân đã về. Tôi mần mò nhặt sâu con, sâu mẹ, nhưng ‘Giáo Hội chuyển mùa’ đã thẳng thắn vạch trần ‘con sâu chúa’ từ lâu đục khoét thân thể Giáo Hội. Đạo-Đời song hành, để cùng hỗ trợ, cùng kiểm soát, để cùng nhau thăng tiến. Đạo-Đời không phải là đối thủ, một mất một còn, kẻ thắng người thua, nhưng là bằng hữu của nhau. Trong vườn xuân ngập nắng, mỗi người một việc, tưới bón, vun trồng để Anh Đào trổ nụ hy vọng. Niềm hy vọng chính là điểm tương đồng giao thoa giữa ‘Giáo Hội chuyển mùa’ và bài hồi đáp. ‘Giáo Hội chuyển mùa’ được viết dưới nhãn quan của nhà bình luận (hoặc một giáo dân), còn bài phản hồi thì chia sẻ trong cách nhìn của một linh mục. Hai bài không đối nghịch, bên bênh, bên chống, mà là sánh đôi, cùng nương tựa bên nhau trên cuộc hành trình tìm kiếm sự thật.

Không cần phải nhắc lại những gì tác giả đã viết rất đầy đủ về đương kim Giáo Hoàng Phanxicô, sự xuất hiện của Ngài đã làm bừng sáng tương lai của mùa Xuân Giáo Hội. Ngài là con én đầu đàn, chúng tôi xoải cánh bay theo. ‘Con người thời nay, sẵn sàng lắng nghe những chứng nhân hơn là các thầy dạy. Nếu họ chịu nghe thầy dạy, thì bởi vì, thày dạy là nhân chứng’ (Phaolô VI). Con én Phanxicô đã tuân lời huấn dụ, khi lãnh nhận chức Phó Tế xưa kia: ‘Hãy tin những gì con đọc, hãy giảng những gì con tin và hãy thực hành những gì con giảng.’

Câu kết của bài viết, làm tôi vừa thích vừa sợ:

Nếu Giáo Hội không thay đổi kịp, sẽ lâm vào tình trạng lạc hậu, trước khi bị đào thải (chấm hết).

Tôi thích, vì đó là lời cảnh cáo thực tế mà Giáo Hội cần mở tai lắng nghe, để biết trân trọng gìn giữ những gì mình còn đang sở hữu, đồng thời, biết mở mắt nhận ra những gì mình đang mất đi. Mất gì? Còn gì? Tại sao vẫn còn, tại sao lại mất? Không chịu nghe, không chịu thấy, coi chừng Giáo Hội cũng sẽ mất luôn những gì mình đang có. Mùa Xuân đất trời được ba tháng, Mùa Xuân Giáo Hội được bao lâu? Tôi thích tác giả dùng hình ảnh ‘người con xa (đang) tìm về nguồn (nhà)’ để nói về Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Một cánh én có thể báo hiệu mùa Xuân sắp tới, thế nhưng, cánh én đơn độc không làm nổi một mùa xuân. Ngài sẽ mệt mỏi và có thể quị ngã, như Thầy Giêsu, dưới sức nặng của Thánh Giá. Ngài có thể không đứng dậy nổi, nếu không có ai lau mặt, không có ai phụ giúp Ngài chia sớt gánh nặng thánh giá Đạo-Đời. Ai là người lau mặt, ai là người phụ giúp Phanxicô?

Nếu Giáo Hội không thay đổi kịp, sẽ lâm vào tình trạng lạc hậu, trước khi bị đào thải.

Tôi sợ, hay nói đúng hơn là, tôi rùng mình, hoảng hốt, toát mồ hôi lạnh. Ba chữ ‘bị đào thải’ cứ như một điệp khúc lải nhải trong tâm trí. Đúng là Đinh Từ Thức, lời ông như ngọn giáo xuyên thấu trái tim, như nhát búa bổ vào đầu. Ở đoạn trước, tôi phê bình ông bất công, khi so sánh giữa Đạo và Đảng, bây giờ ngẫm nghĩ, tôi lại thấy ông có lý. Nếu Đạo cũng tự mãn, giáo điều như Đảng, nếu Đạo cứ bảo thủ cố chấp, đàn áp ‘thế lực thù địch’, giữ nguyên trạng như Đảng, thì kết cuộc chắc chắn sẽ như nhau: Bị đào thải.

Thoạt đầu, khi đọc vội vã, tôi đã góp ý với tác giả, nên viết thêm vài dòng cho đoạn kết như sau:

Nếu giáo hội không thay đổi kịp, sẽ lâm vào tình trạng lạc hậu, trước khi bị đào thải…(cần thêm vào) Kết luận như thế, là theo cách suy diễn thông thường, áp dụng cho mọi thể chế chính trị ở cuộc đời. Tuy nhiên, nói đến một định chế tôn giáo, thì Giáo Hội có bị đào thải hay không, chỉ có…Trời mới biết.

Bây giờ, tôi…đổi ý. Sau ba ngày đêm vật lộn với nỗi day dứt, dằn vặt vì ‘Giáo Hội chuyển mùa’, tôi bỗng tỉnh ngộ: ‘À! Thì ra thế!’ Tôi đã quá non nớt, hấp tấp, tưởng mình tài giỏi, ‘lên lớp, dạy đời’ tiền bối, khi đòi hỏi đoạn kết phải bóng bẩy, dịu dàng hơn. Không! Non Sông dễ đổi, bản tính khó dời. Để thay đổi một định kiến, quan niệm, thói hư, tật xấu, mà dùng lời khuyên bảo mềm mỏng, nhẹ nhàng thì chẳng ăn thua gì! Phải quả quyết, mạnh bạo như bão tố đại dương, phải kinh hoàng, gầm thét như sấm sét bầu trời, phải đau đớn như mũi dao chọc thẳng vào châu thân ứa máu. Như thế, may ra, mới làm người thức tỉnh, suy tư, trước khi bắt đầu tiến bước trên hành trình thay đổi đời mình. Không! Đừng vẩn vơ, vớ vẩn: Giáo Hội có bị đào thải hay không, chỉ có Trời mới biết, mà phải như sét đánh ngang tai: Nếu Giáo Hội không thay đổi kịp, sẽ lâm vào tình trạng lạc hậu, trước khi bị đào thải. Chấm hết. Ai có tai để nghe, thì hãy nghe (Mc 4,23).

Điệp khúc ‘bị đào thải’ vẫn còn vang vọng. Tôi dừng tay, thở dài, ngước mắt, thì thầm cầu nguyện: ‘Lạy Chúa, con đinh ninh rằng, Giáo Hội không thể bị đào thải, vì Chúa Thánh Thần luôn ở kề bên. Thế nhưng, trong đời sống hiện tại, ‘thầy dạy’ thì đầy‘nhân chứng’ thì vơi. Bảo sao con không lo lắng cho tương lai Hội Thánh? Đã bao năm rồi, con ‘dạy’ nhiều mà ‘chứng’ ít. Hãy kéo con lên từ vực sâu lối mòn. Giúp con sáng suốt, hăng say làm chứng nhân hơn là thầy dạy. Cánh én dẫn đầu Phanxicô đã can đảm mang Đạo vào Đời. Xin cho con đủ sức mạnh nhập đàn, sát cánh, kề vai. Cảm ơn Ngài, tất cả của đời con!’

Ba ngày nay, trời Thu âm u, gió mưa mịt mù. Bỗng dưng, một vạt nắng tạt qua cửa sổ, căn phòng vụt bừng sáng, ấm áp lạ thường.

(Thay lời cảm ơn, xin được gởi đến tác giả Đinh Từ Thức, một hạt giống hy vọng vừa nảy mầm. Ước mong rằng, những tín hữu Công Giáo, sau khi đọc cả hai bài, sẽ cùng đồng thuận với cảm xúc này)

Dường như là…(Không! Không đúng, xin nói lại)…Chắc chắn là, thời tiết chuyển mùa, Giáo Hội chuyển mùa, và lòng tôi cũng đang chuyển mùa!

Joseph B.

bài đã đăng của Joseph B.


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch