Trang chính » Biên Khảo, Lý Luận, Quan Điểm, Tôn Giáo Email bài này

Đạo vào Đời: Nhận Định về Bài Giáo Hội Chuyển Mùa của Tác giả Đinh Từ Thức (phần 1)

2 bình luận ♦ 14.04.2016

 

Carlton_Gardens_601x395

Carlton Gardens, Melbourne, Victoria (Australia)

Tôi đọc ‘Giáo Hội chuyển mùa’ khi thành phố Melbourne, Úc Đại Lợi, nơi tôi sống, đang vào mùa Thu. Buổi sáng, trời hiu hắt, se lạnh, nhiệt độ chừng 18C/66F, vậy mà, chỉ vài giờ sau, thời tiết lại oi bức kỳ lạ (31C/88F). Chỉ kỳ lạ, nếu bạn là dân du lịch ghé thăm, chứ còn đối với dân địa phương thì là chuyện nhỏ xíu. Melbourne đã từng bị thiên hạ mệnh danh là thành phố một ngày có bốn mùa. Đang nắng chang chang, bỗng mưa ào xuống, đang nóng hừng hực, bỗng lạnh thấu xương. Chuyển mùa là khoảng thời gian ‘trái gió, trở trời’, dễ làm ta nhiễm bệnh, bực mình. Thế nhưng, ‘Giáo Hội chuyển mùa’, qua văn phong của ông Đinh Từ Thức, lại đem đến một niềm hy vọng, lạc quan cho các tín hữu Công Giáo nói riêng, và trong một giới hạn, cho nhân loại nói chung. Có thể vì, Công Giáo là một tôn giáo mạnh nhất nhì trên địa cầu, (chưa kể các giáo phái cùng chung nguồn gốc Đạo Thiên Chúa, chỉ riêng Công Giáo là 1.2 tỷ người, thống kê năm 2013). Một cái hắt xì của cả tỷ người, động đất sẽ tới cấp độ nào? Một thay đổi nhỏ từ Vatican, sẽ khuấy động biết bao nỗi buồn, vui?

Câu hỏi căn bản mà bất cứ tác giả nào, trước khi viết, đều phải tự vấn là: Tôi viết cho ai? Ai là độc giả của tôi? Ông Đinh Từ Thức gởi bài cho Da Màu, nghĩa là viết cho mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo…. Như thế, khi phản hồi, tôi cũng cần phải sáng suốt dặn lòng: ‘Mình viết cho mọi người, chứ không phải cho riêng các tín hữu Công Giáo, mặc dù, mình là một linh mục’. Biết thế, nhưng nói bao giờ cũng dễ hơn làm, sức người có hạn, lực bất tòng tâm, nếu quí độc giả ‘chẳng may’ khám phá ra cái giọng điệu giảng đạo, thì đó là tại tôi ‘lỡ lời’ méo mó nghề nghiệp, chứ không hề ‘âm mưu’ lợi dụng, làm ‘hoen ố’ chủ trương của diễn đàn Da Màu. Cũng xin được xác minh: Những gì tôi viết là ý kiến cá nhân, không phải là tiếng nói chính thức của Giáo Hội. Dẫn nhập đã đủ, bây giờ, tôi xin được bước vào mùa thu, dạo quanh đường phố ‘Giáo Hội chuyển mùa’ để ‘nhặt lá tìm sâu’:

Trước hết, ý niệm ‘chuyển mùa’ rất sống động, gần gũi và thú vị. Nó diễn tả những đổi thay tự nhiên của đất trời, đồng thời, cũng nói lên những thăng trầm trong lịch sử của mọi thể chế chính trị và tôn giáo.

(Tất cả những đoạn chữ nghiêng, nhỏ hơn và xuống hàng, đều là phần trích dẫn từ bài viết ‘Giáo hội chuyển mùa’)

Nếu mùa Xuân của Giáo Hội xây dựng trên Phúc Âm là lời dậy của Đức Giêsu vào Thế Kỷ thứ 1, mùa Hạ từ thời Constanstine ở Thế Kỷ thứ 4 mở Nước Chúa bằng binh đao, mùa Thu từ Thế Kỷ 19 thoả hiệp với thế quyền để sống còn, thì Giáo Hội đang trong thời kỳ chuyển từ Thu sang Đông, bắt đầu từ khi Giáo Hoàng John XXIII lên ngôi vào tháng 10, 1958.

Tôi đồng ý với tác giả là: Giáo hội hiện thời đang ở giai đoạn chuyển mùa, tuy nhiên, cũng xin góp thêm ý kiến, liên quan đến tựa đề này:

a. Nếu gồm tóm cả hai ngàn năm lịch sử của Giáo Hội Công Giáo, bắt đầu từ mùa Xuân, rồi tới Hạ, Thu, Đông và bây giờ, dưới sự lãnh đạo của Đức Giáo Hoàng Phanxicô, là giai đoạn chuyển tiếp sắp sửa về Xuân, thì có vẻ khái quát, tựa như ‘đơn giản hóa’ tiến trình đổi thay phức tạp của Giáo Hội. Lịch sử Giáo Hội, thật ra, đã tái diễn rất nhiều niên kỷ, thường xuyên chuyển mùa, có khi tuần tự nối tiếp nhau, có khi nhảy nhót lung tung, Xuân, Thu, Đông Hạ…tùy theo hoàn cảnh, tình thế và người đứng đầu vào mỗi giai đoạn.

b. Hoàng Đế tân tòng Constantine (qua đời vào năm 337) dành cho Giáo Hội nhiều ưu đãi. Giáo hữu được miễn dịch, phục vụ tôn giáo cũng được kể như phục vụ tổ quốc. Giáo Hội được cấp đất, cấp tiền xây những nhà thờ đồ sộ, làm chứng cho sự phát triển của tôn giáo, và sự thịnh vượng của triều đại. Đền Thánh Phê Rô đầu tiên được xây cất thời kỳ này…Đây cũng có thể coi như thời kỳ chuyển mùa đầu tiên, từ mùa Xuân của Giáo Hội theo Phúc Âm, sang mùa Hạ của Giáo Hội Đế Chế hoá, xa rời Phúc Âm, phát triển và tổ chức như một đế quốc.Trong hơn mười thế kỷ, Phúc Âm vẫn được rao giảng, nhưng không được thể hiện hoàn toàn đúng trên thực tế….

(Cả mười thế kỷ cơ à? Mới đọc vài trang của ‘Giáo Hội chuyển mùa’, tự ái dồn cục, tôi đã muốn…nổi sùng! Tác giả..cứ thong thả trình bày, mà mặt tôi cứ thong thả tím ngắt! Bình tĩnh lại Joe ơi!)

Theo ý này thì, sau thế kỷ thứ Ba, hết mùa Xuân, Giáo Hội đã loay hoay, quanh quẩn trong những mùa ‘không đẹp’, mãi đến gần đây, từ khi Giáo Hoàng Gioan XXIII khởi xướng Công Đồng Vatican II, nhất là từ lúc Đức Giáo Hoàng Phanxicô xuất hiện, thì như một cánh én báo hiệu, thiên hạ mới thấy Giáo Hội ‘hé lộ’ mùa Xuân. Thật ra, trước kia, Giáo Hội cũng đã từng ‘nở hoa’, cho dù, có thể chỉ là những đóa phù dung sớm nở tối tàn. Tôi không đủ khả năng và thời giờ để nghiên cứu, nên chỉ đương cử một thí dụ: Có thời kỳ, các dòng tu nở rộ hoa trái (thế kỷ 19, gần 200 dòng tu nam nữ được giáo quyền chính thức cho phép sáng lập). Tầm ảnh hưởng của nó vẫn còn mạnh mẽ và hiệu quả cho tới ngày nay. Chẳng hạn như, dòng Salesian of Don Bosco, do một linh mục người Ý, tên là John Bosco sáng lập, chuyên phục vụ giới trẻ, nhất là các trẻ em nghèo hèn, bất hạnh, bụi đời. Linh mục Bosco đã khởi xướng phương pháp Dự Phòng (khoảng 260 năm trước đây, 1857) như một hệ thống giáo dục, mà cho đến hiện giờ, nó vẫn mới mẻ, hợp thời, vẫn tiếp tục được nghiên cứu để áp dụng rộng rãi khắp bốn bể năm châu. Phương pháp này nổi tiếng chỉ bởi vì, nó đặt căn bản trên sự tôn trọng nhân phẩm của con người. Giáo dục bằng cách hiện diện, quan tâm, chăm sóc, thân thiện, vui đùa, làm gương, mời gọi sự cộng tác của giới trẻ, thay vì hù dọa, ép buộc, ra lệnh, nghiêm trị, đòi hỏi phải tuyệt đối vâng lời. Tôi là một học sinh của dòng từ đầu thập niên 1970 ở Việt Nam. Các tu sĩ Don Bosco, không bao giờ được phép trừng phạt trẻ em bằng roi đòn, trong khi lúc đó, xã hội, hầu như trên toàn thế giới, vẫn ‘cho phép’ hoặc ít ra là ‘làm ngơ’ cho quí thầy cô dùng hình phạt roi đòn với học sinh (đây là điểm hiếm hoi, chứng tỏ rằng, không phải lúc nào Giáo Hội cũng lẽo đẽo đi sau thời đại, vì có khi, Giáo Hội đã vượt trước thời đại trên một vài phương diện). Đối với tôi, thời kỳ nở rộ các dòng tu, đa sắc thái, nhiều phương cách phục vụ tha nhân, cũng có thể được gọi là một mùa Xuân đáng ghi nhớ.

Mặc dầu vậy, như tác giả đã kết luận, phải công nhận rằng, Công Đồng Vatican II là dấu mốc quan trọng nhất trong lịch sử, khi các nhà lãnh đạo Giáo Hội đã khiêm tốn nhận ra sự thụt lùi, chậm tiến của chính mình, để tìm cách thích nghi, hòa nhập với thời đại mới.

Hồng Y Jorge Bergoglio (trước khi trở thành Đức Giáo Hoàng Phanxicô) đã nói về phúc âm hoá, là lý do tồn tại của Giáo Hội. Theo Ngài, Giáo Hội phải tự lột xác, ra khỏi vỏ bọc của mình để đến với tầng lớp ngoại vi, những người thuộc thành phần tội lỗi, đau khổ, chịu bất công, thiếu hiểu biết, thiếu đức tin, nghèo khó dưới mọi hình thức. Ngài chỉ trích một Giáo Hội chỉ biết có mình, tự ái, làm nẩy sinh những tư tưởng thế tục xấu xa và sống để ca tụng lẫn nhau

(Trời đất ơi! Tới giờ mới biết! Hổng phải tác giả, mà chính Đức Giáo Hoàng đã vạch trần lòng tự ái đang làm băng hoại Giáo Hội. Thành thật xin lỗi tác giả. Tục ngữ có câu: ‘Trẻ người non dạ’, tuổi tôi đã già, sao dạ vẫn non?)

Thật ra, không phải bây giờ Giáo Hội mới nghĩ đến chuyện trở về nguồn, phúc âm hóa, nhưng giáo hội luôn ở trong tiến trình cải tổ và canh tân. Dĩ nhiên, canh tân không có nghĩa là thay đổi nền tảng Phúc Âm, nhưng là tái dẫn giải, đào sâu hơn, tìm hiểu cặn kẽ, trở về nguồn cội để thực thi tin mừng. Trên hành trình dương thế, sau mỗi chặng đường, Giáo Hội dừng chân, nhìn lại, suy niệm, bàn thảo, tranh luận, quyết định trước khi tiếp tục lên đường (trong lịch sử, trước khi có Công Đồng Vatican II, thì Giáo hội đã triệu tập nhiều Công Đồng khác, để đối phó với những vấn đề nổi bật trong xã hội thời bấy giờ). Hằng năm, mỗi tu sĩ đều phải dành thời gian, ít nhất là một tuần, rồi mỗi thập niên, trung bình là ba tháng, để tĩnh tâm, suy nghĩ về cuộc đời mình, thống hối, sửa đổi lỗi lầm, học hỏi, tu nghiệp thêm, trước khi trở lại đời phục vụ. Đồng ý là, như tác giả phân tích, có những giai đoạn đen tối, Hiền Thê Giáo Hội đã đi quá xa và quá lâu, mà chưa chịu về nhà, nên ‘nàng’ quên lãng, lơ là với trách vụ thi hành những di ngôn của Phu Quân Giêsu. Bởi thế, Giáo Hội đã vướng mắc nhiều sai lầm nghiêm trọng trong quá khứ. Tuy nhiên, trong hai ngàn năm tình nghĩa vợ chồng giữa Hội Thánh và Chúa Giêsu, ước muốn trở về với ‘chàng’ thì lúc nào cũng đau đáu trong tim.

Đó chỉ là hai ‘sâu con’ tôi bắt được đầu tiên trong cành lá ‘Giáo Hội chuyển mùa’. Còn ‘sâu mẹ’ nằm ở thân cây: Trong bài, tác giả đã viết vài tiểu luận, theo một cấu trúc căn bản: Mở bài (tiền đề), thân bài (trung đề) và kết bài (hậu đề). Phần mở bài là một ý tưởng cần làm sáng tỏ, một dấu hỏi. Đến phần thân bài, tác giả đưa ra nhiều dẫn chứng (gần như) hiển nhiên, xác thực, để chứng minh, rồi cuối cùng, phần kết bài, dựa vào những bằng cớ đã được trình bày, tác giả khẳng định chắc chắn, ý tưởng lúc này đã được sáng tỏ. Từ ý tưởng này, tác giả có thể đưa ra một lập luận cá nhân khác.

Khỏi cần phải khen tặng dài dòng, những độc giả theo dõi các bài viết của Đinh Từ Thức trong suốt 60 năm qua, sẽ nhận thấy là, ông nổi tiếng vì sự chân chính, tôn trọng sự thật, khách quan, không thiên vị bè phái, hành xử đúng với lương tâm, chức nghiệp của một nhà bình luận. Những dẫn chứng ông đưa ra có sức thuyết phục rất cao. Bởi vậy, lập luận của ông dễ dàng được độc giả chấp nhận. Ông viết khá ít, vì mỗi bài của ông cần rất nhiều tài liệu tham khảo, cần vắt kiệt đầu óc suy tư, cần thời gian nghiền ngẫm, cần chọn lọc từ ngữ chính xác và cần sự can đảm để đối phó với dư luận khắt khe, phê bình. Chính vì thế, khi đọc lối suy luận hợp lý, sắc bén và châm chọc của ông, người ngay thẳng thì ưa thích, còn kẻ gian tà thì, vừa sợ vừa đau.

Tôi vừa thích, mà cũng vừa…e ngại. Tôi e ngại, bởi nếu 10% số lượng bạn đọc chấp nhận mọi lập luận của ‘Giáo Hội chuyển mùa’ thì Hội Thánh sẽ bị…thiệt thòi, khi độc giả chưa được tiếp cận những thông tin, góc cạnh khác để có cái nhìn tổng thể hơn. Đây là lý do, mặc dù chỉ là kẻ hậu sinh, chưa hề dám nhận định góp ý công khai với ai bao giờ, nhưng tôi lại ‘cả gan’ phản hồi cho ‘tiền bối’ Đinh Từ Thức. Lúc đầu, tôi chỉ vội vàng email trình bày riêng với ông, nhưng chính ông đã khuyến khích, đề nghị tôi hiệu đính để đăng bài phản hồi này. Ông còn dặn dò cẩn thận, phải đăng trọn vẹn, kể cả những phần bất đồng ý kiến (bản nháp tôi gởi, chỉ toàn là những điểm bất đồng gay gắt. Nếu tự đặt mình vào vị thế của tác giả, đọc xong, chắc tôi tức ói máu). Tôi khâm phục sự khiêm tốn, tôn trọng quan điểm khác biệt, và thiện chí học hỏi của ông, nên tôi mới mạo muội ‘tới luôn bác tài’.

Xin trở về với cấu trúc tiểu luận, phần quan trọng nhất là thân bài (trung đề), nếu những dẫn chứng đủ sức thuyết phục thì phần kết bài sẽ thuận buồm xuôi gió, đầu xuôi đuôi lọt. Có vài tiểu luận, nhưng tôi chỉ đưa ra một tiểu luận quan trọng nhất trong ‘Giáo Hội chuyển mùa’:

1. Mở bài (tiền đề): Đạo và Đời cần tách biệt hay cần liên kết với nhau? Tác giả viết: Theo tinh thần phúc âm, việc nước và việc đạo tách rời nhau.

2. Thân bài (trung đề): Rất nhiều dẫn chứng được trình bày rõ ràng, nghiêng về lập luận Đạo cần tách biệt ra khỏi Đời.

3. Kết bài (hậu đề): Như thế thì, Giáo Hội hãy nên lo chuyện Đạo, còn chuyện Đời để cho xã hội lo. Càng dính dáng tới nhau, càng làm khổ nhau.

Mấu chốt của tiểu luận này, nằm ở những dẫn chứng trong phần thân bài. Tác giả đã đưa ra nhiều trích dẫn Kinh Thánh, nổi bật nhất là hai câu: Một, khi quan Philatô hạch hỏi, Chúa Giêsu trả lời: ‘Nước của tôi không thuộc thế gian này’ (Ga 18,38). Hai, đám thủ lãnh Do Thái gài bẫy để tìm cớ bắt Ngài, nên đã hỏi: ‘Có được phép nộp thuế cho Caesar hay không?’, Chúa Giêsu cầm một đồng cắc có in hình Caesar rồi hỏi lại: ‘Đồng tiền này của ai?’, họ trả lời: ‘Của Caesar’. Thế rồi, Chúa kết luận ‘một câu xanh rờn’, không chê vào đâu được: ‘Cái gì của Caesar thì trả lại cho Caesar, của Thiên Chúa thì trả lại cho Thiên Chúa (Mt 22,15-21). Nhờ câu trả lời xuất sắc này, Ngài (tạm thời) thoát nạn.

Trước khi phân tích hai câu căn bản đó, xin chia sẻ với quí độc giả thêm một chút: Trong Giáo Hội, có một chuyên khoa quan trọng, mà mọi giáo sĩ bắt buộc phải học, đó là môn: Chú giải Kinh Thánh. Nếu chỉ đọc Kinh Thánh như một cuốn truyện, chúng ta sẽ tốn khoảng một tuần, nhưng để chú giải Kinh Thánh, chúng ta tốn một đời. Không phải chỉ là một đời người, mà là nhiều thế hệ đời người. Trải qua hai ngàn năm, hàng triệu triệu giáo sĩ và giáo dân đã cống hiến đời mình chỉ để học hỏi, nghiên cứu, đào sâu từng chữ, từng câu trong Kinh Thánh với một mục đích duy nhất: Tìm ra Thánh Ý từ Lời Chúa. Nếu đã coi Kinh Thánh là cuốn cẩm nang vào đời duy nhất của Giáo Hội, thì cuộc hành trình tìm hiểu Thánh Ý vẫn tiếp diễn đến vạn đại thiên thu.

Trong tiểu luận, phần thân bài, tuy tác giả đã dẫn chứng nhiều câu Kinh Thánh, nhưng ông chỉ giải thích dưới góc cạnh nghĩa đen, giản dị, dễ nghe và dễ nhớ (chẳng có gì lạ, Đinh Từ Thức không phải là chuyên gia chú giải Thánh Kinh, ngay cả các vị Tiến Sĩ trong Giáo Hội, vẫn thường cãi nhau ỏm tỏi về ý nghĩa của một câu nói Phúc Âm. Chính tôi cũng không phải chuyên gia, kiến thức Thánh Kinh chỉ tạm đủ xài). Sau phần dẫn giải Kinh Thánh đơn sơ, minh bạch là phần lập luận vững chắc, chặt chẽ của tác giả. Nhờ thế, độc giả sẽ dễ dàng chấp nhận phần kết bài, vì nó hợp lý, dễ nhớ, dễ nghe, nhưng chính vì thế, nó cũng dễ bị…hiểu lầm. Như vậy, nếu cách chú giải Kinh Thánh khác đi, sẽ kéo theo một lập luận khác, kết luận khác và người đọc cũng sẽ hiểu khác. Dài dòng một chút, chỉ để dẫn tới điều căn bản này: Nhiều câu Kinh Thánh, nói theo ngôn ngữ bình dị miền Nam thì, ‘thấy dzậy mà hổng phải dzậy’.

Trên bàn ăn, đứa con đột nhiên gắp lia lịa những món ngon vào bát, chưa kịp mời ai, vô phép, vô tắc. Bà mẹ, dân Hà Nội chính gốc, phán một câu: ‘Ơ kìa, cái thằng này…hay nhỉ!’ Đứa con nghe nói thế, liền đáp lại: ‘Thank you!’ Nó ngây thơ cho rằng: Mẹ nói nó hay, nghĩa là nó…hay thật! Làm sao nó hiểu được, mẹ nói hay, nghĩa là hành vi như thế…không hay chút nào?

Một đứa khác, đang nghịch chuỗi ngọc trai đắt giá của mẹ, mẹ nó hét lên: Tại sao lại dám nghịch chuỗi ngọc của người ta? Đứa con ngẩn ngơ hỏi: ‘Ủa! Cái này của người ta, chứ không phải của mình hở?’ Làm sao nó hiểu được, người ta mình, mình cũng là người ta?

Anh chàng ngỏ lời cầu hôn với nàng: ‘Em có nhận lời lấy anh không?’ Cô nàng bẽn lẽn, cúi mặt, đôi mắt chớp chớp, ngúng nguẩy, ngập ngừng đáp lại: ‘Em…em … hổng chịu đâu!’ Nếu anh chàng chỉ nghe, chỉ hiểu một cách đơn sơ: Em hổng chịu nghĩa là em hổng nhận lời, rồi quay lưng buồn rầu bỏ đi, thì anh này đúng là một…thằng ngu.

OBHLegalSize

Từ ba dẫn chứng kể trên, chúng ta thấy là, ngay cả ngôn ngữ đời thường cũng có nhiều lắt léo, lạ lùng, huống gì ngôn ngữ Thánh Kinh? Thế nhưng, chính sự lắt léo, lạ lùng đó, lại làm cho ngôn ngữ xã hội thêm phong phú, ý nhị và thi vị, chứ còn cứ thẳng tuột kiểu Mỹ ‘No means No’ thì chán phèo (nói bình dân hơn thì là, chán..bỏ mẹ!) Phải tầm cỡ Việt Nam, mới đùa cợt được với chữ nghĩa như thế này: Nói ‘Lòng Phật’ thì thấy ‘Từ Bi Hỉ Xả’, mà ‘Phật lòng’ thì coi chừng ‘máu đổ, lệ rơi’. Nói ‘Ý Phật’ thì muốn vâng lời, nhưng ‘Phật ý’ thì lại muốn…văng tục (xin lỗi Đức Phật, con không hiểu tại sao, tiếng Việt lại như thế). Cũng vậy, ngôn ngữ Thánh Kinh, cần được đọc dưới nhiều góc cạnh: Đen, Bóng, Hẹp, Rộng. Tất nhiên, không phải câu nào cũng phức tạp, rắc rối. Có câu chỉ cần đọc sao hiểu vậy, thấy sao là đúng thế (nghĩa đen) nhưng nhiều câu khác, rất cần truy tìm về nguồn gốc Thánh Kinh tiếng Hy Lạp, Do Thái, xem xét bối cảnh lịch sử, văn hóa…rồi cần suy niệm, cầu nguyện mới hy vọng hiểu được ý nghĩa đích thực sâu thẳm của Lời Chúa.

Xin trở về với tiểu luận: Việc nước và việc Đạo cần tách rời nhau, với hai câu trích dẫn Kinh Thánh. Xét theo góc độ hẹp và thuần túy nghĩa đen, thì câu ‘nước tôi không thuộc về thế gian này’ hàm ý là, có hai quốc gia khác biệt: Thiên Quốc và Nhân Quốc, hay Đạo quốc và Đời quốc. Nhưng xét rộng hơn, theo cách chú giải chủ quan của tôi thì: Nhân Quốc thuộc về Thiên Quốc, hay Đời Quốc thuộc về Đạo Quốc. Theo niềm tin Kitô giáo, Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ, bao gồm rất nhiều hành tinh, một trong số đó là quả địa cầu nhỏ bé của chúng ta. Nghĩa là, cả vũ trụ, cho đến hiện giờ, khoa học chỉ biết được cái hạt cát địa cầu, có con người cư ngụ. Thế nhưng trong tương lai, nếu khoa học khám phá thêm những hành tinh khác có sự sống, thì tất cả cũng đều thuộc về một Thiên Quốc mà thôi. Với cách giải thích này, chúng ta tạm kết luận là: Đạo và Đời không tách rời nhau, trong Đạo có Đời, trong Đời có Đạo. Đúng ra, nếu con người có thể tự sống còn, tự gánh vác cuộc đời mình, tự lực cánh sinh, tự tìm được bình an và hạnh phúc, thì Chúa chẳng cần phải vào đời làm gì (như Cha Mẹ không cần phải can thiệp vào đời sống của các con, nếu chúng đã trưởng thành tự lập), nhưng chính vì thấy đời đang loay hoay bế tắc, không tìm ra đường (đạo), Chúa Giêsu mới phải xuống trần gian cứu nhân độ thế, để hướng dẫn con người tìm đến chính đạo, hay nói rõ hơn là, dẫn đưa họ trở về với nguồn cội bình an và hạnh phúc, nơi con người xứng đáng được thừa hưởng ở vườn địa đàng, như thưở ban đầu tạo thiên lập địa.

rubens render unto caesar

Peter Paul Rubens, Hãy Trả Lại Cho Caesar (Render Unto Caesar) (1577-1640)

Câu thứ hai về đồng tiền Caesar: Đây là một cạm bẫy được khôn khéo giăng ra, mà đám thủ lãnh Do Thái muốn Chúa Giêsu rơi vào, vì Ngài trả lời kiểu nào cũng…chết. Không nộp thuế cho Caesar thì chống lại với luật pháp đế quốc La Mã (đang thống trị đất Do Thái thời đó), mà cứ nộp thuế thì mang tội ‘thông đồng’ ‘đầu hàng’ đế quốc, nghĩa là ‘phản bội’ lại dân tộc Do Thái. Chúa Giêsu đã rất thông minh khi trả lời: Cái gì thuộc về Caesar thì trả lại cho Caesar, cái gì thuộc về Thiên Chúa, thì trả lại cho Thiên Chúa. Xét theo nghĩa tổng thể thì, Chúa muốn nói là: Tất cả những gì thuộc về Luật yêu thương của Chúa, thì trả lại cho Chúa, còn những gì thuộc về Luật con người (xã hội) thì trả lại cho con người. Đó là lý do, một người phạm tội sát nhân, Chúa có thể tha thứ, nhưng kẻ sát nhân vẫn phải chịu hình phạt của luật pháp. Sống trong xã hội, con người phải giữ luật đời: Nghĩa vụ đóng thuế. Sống với đức tin, con người phải giữ giáo luật: Tham dự thánh lễ. Đôi khi, luật đạo và luật đời đối chọi nhau, lúc đó, vừa là công dân vừa là tín hữu, mỗi người phải tùy theo hoàn cảnh mà chọn lựa. Chuyện cỏn con như, công ty bắt đi làm ngày chủ nhật, nếu không sẽ bị đuổi việc, giáo luật cũng chẳng khắt khe đến độ bắt giáo dân phải chọn đi lễ, lỡ may bị đuổi việc thì cũng đừng lo, vì mọi sự đã có Chúa lo!? Trong trường hợp này, giáo luật khuyến khích giáo dân thực hành đức tin vào một dịp khác (thứ bảy, hoặc khi có cơ hội). Nếu sự đối chọi lên tới đỉnh điểm căng thẳng, chẳng hạn như, theo Vua thì sống mà theo Chúa thì chết, lúc đó, như lịch sử đã minh chứng, thời kỳ cấm đạo ở Việt Nam (thế kỷ thứ 17-19), đã có hơn một trăm ngàn thánh tử đạo thà chết còn hơn bỏ đạo.

Tóm gọn lại, tất cả những gì xấu xa (trong luật đời, hay ngay cả luật đạo), đối nghịch với luật yêu thương của Thiên Chúa, thì trả về vị trí của nó, đừng khư khư nắm giữ. Còn những gì tốt đẹp thuận với luật yêu thương (đời cũng như đạo), thì hãy tuân theo, vì nó thuộc về Thiên Chúa.

Câu hỏi được đặt ra: ‘Như vậy thì, những gì ở đời, là nguyên nhân của sự xấu, đều phải xa lánh, từ bỏ hết hay sao? Chẳng hạn như: Quyền lực, địa vị, danh vọng, tiền tài, sắc dục, vật chất, khoa học…’ Dạ thưa không phải! Người Công giáo tin là: ‘Mọi sự do Chúa ban’. Tự bản chất, những thứ này vô tội, nó chỉ trở thành vô số tội, khi chủ nhân của nó sử dụng sai mục đích. Nó vừa là nguyên nhân của sự ác, nhưng cũng vừa là nguyên nhân của sự thiện. Nếu biết sử dụng quyền lực, địa vị, tiền bạc, tài năng…theo Luật yêu thương của Chúa, thì đó là sự thiện, ngược lại, nếu dùng những thứ đó để phục vụ cho bất cứ điều gì, khác với luật yêu thương, thì là sự ác, cần phải dứt khoát loại bỏ. Phát minh khoa học có thể cứu người, nhưng cũng có thể giết người. Quyền lực, vừa có thể để phục vụ, nhưng vừa có thể để được phục vụ (tệ hại hơn, để đàn áp, hiếp đáp tha nhân). Sắc đẹp để đời chiêm ngưỡng, trầm trồ, đồng thời, chính đời cũng vùi dập nó thảm thương. Mạng thông tin toàn cầu internet, vừa có thể liên kết mọi người, xích lại gần nhau, vừa có thể xé nát tình thân, người càng xa nhau. Vì tiền bạc, người đời đâm chém, hung bạo tranh dành, nhưng cũng chính tiền bạc, đã đem lại cơm no áo ấm. Thực tế là, cả đời lẫn đạo, đều sử dụng những phương tiện đó. Đời, cũng như đạo, đều dùng chúng, khi đúng đắn, lúc sai lầm, khi mang thiện, lúc gây ác.

camelneedle

Trong bài, tác giả đã trích dẫn một câu Kinh Thánh rất quen thuộc: ‘Người giàu vào nước thiên đàng còn khó hơn lạc đà chui qua lỗ kim’ (Mt 19, 23-26; Lc 18, 24-27). Bối cảnh của câu nói như sau: Một thanh niên đến hỏi: ‘Tôi phải làm gì để được vào thiên đàng’. Chúa khuyên anh hãy giữ luật đạo. Chàng tự hào đáp: ‘Tưởng gì khó khăn, chứ mấy thứ đó, ngay từ nhỏ, tôi đã tuân giữ rồi!’ Chúa nhìn anh thương cảm, đáp lại: ‘Chỉ còn một điều anh chưa làm, đó là, hãy về, bán toàn bộ gia sản, bố thí cho người nghèo, rồi lại đây theo Ta.’ Anh chàng nghe xong, buồn rầu bỏ đi, vì nhà anh rất giàu. Thế rồi, Thầy Giêsu quay lại, khuyên dạy môn đệ: ‘Người giàu vào nước thiên đàng còn khó hơn lạc đà chui qua lỗ kim’. Các môn đệ kinh ngạc hỏi: ‘Khó thế thì ai mà vào được?’ Chúa trả lời: ‘Loài người thì không làm được, nhưng Thiên Chúa thì làm được mọi sự.’ (Mc 10, 17-30)

Như vậy, vấn đề ở đây, không phải là vì sự giàu sang (nó hoàn toàn vô tội), mà là vì: Chàng thanh niên đã nuối tiếc níu kéo sự giàu sang (mầm mống gây nên vô số tội). Anh khó vào nước Thiên Đàng (nghĩa là: Anh khó lòng tìm được niềm vui và sự bình an) nếu anh tiếp tục bám vào sự giàu có, như cứu cánh của đời mình. Tự bản thân con người khó làm được (vì sự yếu đuối, bất toàn), chỉ có Chúa mới làm được (bởi thế, con người cần theo Ngài, cần được ban sức mạnh, cần Ngài chỉ đường đến cõi sống trường sinh).

Từ cách dẫn giải trên, sẽ đưa tới một kết luận…động trời: Không chỉ người giàu, mà ai cũng thế, đều khó tìm được niềm vui và sự bình an, nếu cứ bám víu vào tiền bạc (kể cả những thứ khác) phù phiếm, phù du ở đời. (Kẻ nghèo, lắm khi, còn khó hơn người giàu, vì: ‘tật tôi túng thiếu thèm tiền tiêu?’) Do đó, đừng vội…ganh tị mỉa mai: ‘Giàu sang cho lắm vào, đừng hòng lên Thiên Đàng’, và cũng đừng tự hào: ‘Tao nghèo, nên tao dễ vào hơn!’ Người giàu tột bực Bill Gates, khi rộng lượng hiến tặng tài sản cho thế hệ mai sau với lòng thiện tâm, sẽ cảm nhận được hạnh phúc Thiên Đàng dưới thế. Người nghèo phung phí tiền bạc vì đam mê cá độ, trác táng chơi bời, sẽ lãnh nhận hậu quả chật vật, đói khổ ở địa ngục trần gian. Giáo dân giàu vì làm ăn chân chính, sẽ lên thiên đàng trước những giáo sĩ nghèo mà thèm khát, tham lam của cải thế gian. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói:Không ai nghèo đến độ, không có gì để cho đi’. Xin bổ túc thêm, ‘Không ai giàu đến độ, không thể vào nước Thiên Đàng.’ Miễn sao, họ biết cách sử dụng những gì họ đang thừa hưởng, theo luật yêu thương của Chúa.

Trong nhiều giai đoạn đen tối trước đây, Giáo Hội, đúng y như tác giả đã nhận xét:

Ham mê tiền của cũng là một thứ nô lệ tai hại như nô lệ ma quỷ…Trong hàng chục thế kỷ, Giáo Hội đã rất giầu có. Của nổi của chìm mỗi địa phận ít “đại gia” nào sánh bằng, và người giầu đã từng có địa vị đặc biệt trong lịch sử Giáo Hội.… Thời Giáo Hoàng Gregory I (590-604), người đứng đầu Giáo Hội kiêm cả việc trị nước; tự mình thương thảo về hiệp ước, chọn tướng lãnh và trả lương cho binh sĩ…

Cả 1000 năm lạm dụng quyền bính và ham mê tiền của, đến bây giờ, nếu không chịu chuyển mùa, thì thay vì đem con người đến gần Thiên Chúa hơn, Giáo Hội lại đẩy con người xa rời Thiên Chúa (chẳng có gì khó hiểu, khi chính mình đã xa Thiên Chúa, thì làm sao giúp người khác đến gần Chúa được?).

Một câu hỏi khác: Vậy con người thuộc về ai? Dạ thưa, thuộc về Thiên Chúa, chính Ngài đã tạo dựng nên muôn loài. Nhưng mà, nếu Chúa tạo dựng, thì tại sao trong bản ngã con người, lại có thiện có ác? Đúng, phần thiện thuộc về Chúa, phần ác thuộc về…ma quỷ. Đừng dại dột đi theo, kẻo chết oan ráng chịu!

(Viết đến đây, tôi giật mình, vì ‘giọng điệu’ giảng đạo đã lòi ra. Tôi cần ‘chấn chỉnh’ lại)

Phải thừa nhận, câu hỏi về nguồn gốc sự ác vẫn còn là một nỗi nhức nhối khôn nguôi của các nhà Thần học, Triết gia, vì nói cho cùng, chưa ai có thể đưa ra một lời giải thích nào khả dĩ trọn vẹn, về mầm mống của sự ác tiềm ẩn trong con người. Theo Kinh Thánh, thì nó phát xuất từ sự chọn lựa sai lầm của ông tổ Adong và bà tổ Evà. Trong vườn địa đàng, ‘nàng’ õng ẹo dụ ‘chàng’ sơi trái cấm, để được hiểu biết mọi sự như Thiên Chúa (St 2, 16-17; 3, 1-7), chàng mềm lòng gật đầu, thế là, đi đoong cả hai đứa, đời nếm mùi vất vả, gian truân. Tưởng biết thêm thứ gì an nhàn, sung sướng, ai dè lại biết khổ đau, hận thù (chẳng phải bây giờ, mà từ nguyên thủy, quí ông đã dễ bị quí bà dụ dỗ. Nhất là quí bà vừa…khoả thân vừa dụ như Evà, thì …khó lòng chạy thoát).

Cùng một dấu hỏi liên quan đến Đạo và Đời, tác giả lập luận:

Nếu Nước của Đức Giêsu là Nước Trời, “không thuộc chốn này”, tại sao Giáo Hội của Người can thiệp quá sâu đậm vào sinh hoạt trần thế của loài người, từ khi thụ thai đến khi nằm sâu dưới lòng đất?….Như vậy, rõ ràng trên Nước Trời không có chuyện hôn nhân, vợ chồng. Đó là chuyện của cõi thế, do luật pháp thế gian quy định. Giáo Hội áp đặt thêm luật lệ nghiêm ngặt về hôn nhân, về thụ thai, về sự chết… Phải chăng là một sự lạm dụng quyền bính, trái tinh thần Phúc Âm? Nếu chỉ lo những gì có liên hệ tới “Nước Trời”, còn những gì thuộc về xã hội trần thế như kết hôn, sinh con… hãy để cho cõi thế lo, Giáo Hội sẽ nhẹ gánh hơn nhiều, và cuộc sống con người cũng thảnh thơi hơn.

Lập luận này rất hợp lý, cứ dính dáng đến đời, gây phiền phức cho cả đời lẫn đạo, chẳng thà dứt khoát chia tay: ‘Anh đường anh, tôi đường tôi, tình nghĩa đôi ta chỉ thế thôi?’ (Hồ Dzếnh). Vấn đề là, tuy Giáo Hội có thể ‘nhẹ gánh’ hơn, nhưng giáo hội sẽ xa rời cõi thế, thiếu thực tế, vô tích sự. Cõi Trời, Thiên Đàng sẽ trở thành một sự hoang tưởng, một nơi chốn thần tiên, để con người níu kéo hy vọng, giúp họ chịu đựng nỗi khổ đau hiện tại, ‘nín thở qua cầu’, mong đợi được ban thưởng đời sau, tựa như trẻ thơ mòn mỏi trông chờ ông già Noel mỗi độ giáng sinh về. Lúc đó, phải chăng tôn giáo đã trở thành ‘thuốc phiện’ ru ngủ con người, như ông tổ Cộng Sản đã phê bình? Chúa Giêsu nói: ‘Ta đến, để các con được sống, và sống dồi dào’ (Ga 10, 7). Câu này có nghĩa: Sống dồi dào ở đời này, và cả đời sau. Ngài đến, để gánh tội trần gian, chịu đau khổ thay cho nhân loại, để đời vơi bớt khổ đau, nếu con người biết đi theo đường Ngài chỉ dậy. Tiếc là, nhiều tín hữu Công Giáo hiện giờ, vẫn sống đạo bằng quan niệm: Hãy cứ chịu đựng đau khổ đi, hãy cứ đọc kinh, hy sinh, hãm mình thật nhiều, kiếm thánh giá nào nằng nặng mà vác, để đủ công nghiệp (tiền) mua vé lên thiên đàng. Đây là một quan niệm ngây thơ mà không…đơn sơ (biết tính toán, để dành tiền mua nước Trời thì đơn sơ gì nữa?) Chúa muốn con người, đừng tiếp tục gây thêm đau khổ cho mình và cho người khác (tự bản chất, cuộc đời đã có đủ nỗi khổ đau mà ai cũng phải gánh chịu: Thiên tai, nhân tai, bệnh tật, sự mất mát, chia tan, sự chết, đặc biệt là, đau khổ lớn nhất của quí cô: Nhan sắc bị tàn phai) hãy sống thế nào để đem lại niềm vui cho nhau ngay ở đời này. Hãy sống dồi dào, tận hưởng dồi dào hoa trái của tình yêu, tình gia đình, tình bằng hữu, lòng bác ái, vị tha ngay ở đời này. Còn đời sau thì, hãy tin tưởng, phó thác vào lòng từ bi, thương xót của Ngài. Đứa con dù tội lỗi, thì người Cha, người Mẹ cũng sẵn lòng tha thứ tất cả, để được ôm con vào lòng. Hiền Thê Giáo Hội, đã được Phu Quân Giêsu dặn dò, phải xả thân rao giảng tin mừng cho muôn dân. (nhớ là tin mừng, chứ không phải đi gieo tin buồn, tin xấu, tin vịt, tin…tức mình). Ngài đã đến và đã ra đi, nhưng tấm gương tình yêu còn để lại. Nếu ai tự nhận là môn đệ, thì hãy trở nên nhân chứng, sứ giả của Ngài, để thiên hạ, khi thấy sứ giả là thấy chính Ngài: ‘Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là Chúa sống trong tôi’ (Gal 2, 20). Thế thì, làm sao Giáo Hội có thể xây thành đắp lũy, cấm cung, chỉ muốn ‘nhẹ gánh’ ‘rảnh nợ’ chăm lo cho riêng giáo dân Đạo mình, còn cái đám cứng lòng tin ngoài kia thì, mặc kệ tụi nó, sống chết mặc bay?

Còn những gì thuộc về xã hội trần thế như kết hôn, sinh con…hãy để cho cõi thế lo, Giáo Hội sẽ nhẹ gánh hơn nhiều, và cuộc sống con người cũng thảnh thơi hơn.

Khó lòng bác bỏ được lập luận này, vì nhiều tín hữu đã từng than thở: ‘Giữ đạo mệt quá, thà không có đạo, khoẻ biết chừng nào?’ Tuy vậy, có chắc là, khi Giáo Hội không can dự, thì cuộc sống con người sẽ thảnh thơi hơn? Hay là con người sẽ mãi đắm chìm, ngụp lặn trong những vấn đề vô cùng hệ trọng của đời sống mà không tìm được lối thoát? Thiếu sự chỉ dẫn của tâm linh, ai dám bảo đảm rằng, chúng ta sẽ sống đúng nghĩa là những con người? Một thí dụ điển hình: Có người chất vấn: Ông Môisen cho phép rẫy vợ (li dị). Chúa Giêsu trả lời: Tại vì các ngươi lòng dạ chai đá, nên ông Môisen đành phải chấp nhận thôi. Chứ từ thưở ban đầu, không phải như vậy (từ thưở ban đầu tạo dựng, Chúa đã muốn hôn nhân chung thủy chỉ một vợ, một chồng) (Mt 19, 3-12). Tưởng tượng rằng, nếu Chúa chiều theo lòng dạ chai đá của con người, thì quan niệm ‘năm thê bảy thiếp’ bây giờ sẽ gây nên những hệ lụy kinh khủng đến mức độ nào? Nếu Chúa không ‘xía vào’ chuyện đời, thì Chúa đến trần gian làm gì? Vẫn theo lời Kinh Thánh: Ta đến, không phải để phá bỏ lề luật, nhưng để kiện toàn (Mt 5, 17-18), lề luật Môisen chiều theo lòng dạ chai đá sẽ bị hủy bỏ, để lề luật được kiện toàn, tóm gọn chỉ còn: Mến Chúa, và, yêu người. Những luật nào khác với luật yêu thương này, thì…vứt ngay vào xọt rác!

Xin mượn hình ảnh gia đình để tóm gọn lại phần này: Nếu xem mối liên hệ giữa Thiên Chúa và con người giống như mối liên hệ Cha-Con thì, không phải chuyện của cha khác với chuyện của con, nên đừng xía vào chuyện của nhau, nhưng, chuyện của con chính là chuyện của cha và chuyện của cha cũng là chuyện của con. Trong Kinh Thánh, phần Cựu Ước, có rất nhiều dẫn chứng về sự gần gũi mật thiết giữa Thiên Chúa và Dân Ngài. Việc của con là việc của Cha. Đứa nào..cà chớn, hiếp đáp con, Cha sẽ can thiệp để bảo vệ con, cho tụi nó biết mặt (như câu truyện Thiên Chúa cứu dân Ngài thoát khỏi vòng nô lệ ở Ai Cập (sách Xuất Hành). Còn trong Tân Ước, Chúa Giêsu, vì cảm thông, thương xót cho những nỗi bất hạnh, đau khổ của con người, nên Ngài đã ra tay chữa lành kẻ phong cùi, cứu sống đứa con goá phụ cho dù nó đã chết, nuôi ăn hàng vạn người bằng phép lạ hóa bánh ra nhiều, cứu thoát người phụ nữ ngoại tình khỏi bị ném đá theo luật …. Cũng tiếc, vì tác giả đã trích dẫn nhiều câu Kinh Thánh, nhưng lại bỏ quên những mẩu truyện tuyệt vời đó, nhất là, những mẩu truyện này rất trong sáng, đơn thuần, đọc sao hiểu vậy, khỏi cần chú giải dài dòng. Tôi hiểu lắm, đơn giản là vì, ‘Giáo Hội chuyển mùa’ không phải của…linh mục Đinh Từ Thức.

Đến đây, có lẽ đã đủ để kết luận rằng: Như Phụ-Tử không thể tách rời nhau, chuyện Đạo-Đời cũng không thể tách rời nhau: ‘Ngươi là con Ta, hôm nay, Ta đã trở thành Cha của con’ (Acts 13, 33). Giới răn của Chúa chỉ có hai điều: Mến Chúa (Đạo) và yêu Người (Đời). Mình với Ta tuy hai mà một, Ta với Mình tuy một mà hai. Yêu người là yêu Chúa, nói yêu Chúa thì phải yêu Người. Ghét người là ghét Chúa. Ghét Chúa thì…bó tay!

bài đã đăng của Joseph B.


2 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Trải qua hai ngàn năm, hàng triệu triệu giáo sĩ và giáo dân đã cống hiến đời mình chỉ để học hỏi, nghiên cứu, đào sâu từng chữ, từng câu trong Kinh Thánh với một mục đích duy nhất: Tìm ra Thánh Ý từ Lời Chúa. (Bài chủ)

    Tôi chẳng phải là tín đồ Thiên Chúa Giáo. Nhưng tôi kính trọng niềm tin của mọi Tôn Giáo (Religion). Riêng TCG, tôi rất thích tư cách “kẻ sĩ hay trí thức” nơi những linh mục. Chữ kẻ sĩ hay trí thức ở đây tôi đọc được trong một tác phẩm của một tác giả đạo Công Giáo viết. Tức là tư cách thận trọng, nghiêm trang khi chấp bút hoặc khi phát biểu. Sự thận trọng và nghiêm trang đượm một chút tín ngưỡng và có tính cách tự giác. Kẻ sĩ Nho phong hành xử cẩn thận ngay cả lúc ngồi một mình trong phòng (thận kỳ độc) vì họ tin vào Thiên Mệnh và Quỷ Thần 2 bên giai giác. Trí thức cũng vậy, chỉ có niềm tin vào chân lý, lẽ phải tối thượng (Cường bất quá Lý), mới khiến họ có cái hùng tâm uy vũ bất năng khuất.

    Trở lại vấn đề. Thú thật, tôi chưa đọc bài của tác giả Đinh Từ Thức trước. Nhưng qua bài này, tôi lại đồng ý với quan điểm: “Theo tinh thần phúc âm, việc nước và việc đạo tách rời nhau.” của ông ĐTT. Quan điểm này, dĩ nhiên nếu “đào sâu” thì cũng không biết bao nhiêu là lý luận có thể “phản biện” lại dễ dàng. Tuy nhiên, ít ra quan điểm đó rõ ràng, có sự quy chiếu, có ý nghĩa và mục đích.

    Theo tôi, trong xã hội, chẳng có lĩnh vực nào khả dĩ thống soái dẫn dắt được toàn diện cả. Tôn giáo chăm lo mối từ tâm(tình yêu thương) và sự sáng suốt (trái với u muội). Nghệ thuật tô điểm vẻ đẹp. Văn hoá cho con người không gian sống gần gũi và tươi vui hơn. Chính trị sau rốt là đào tạo được những công bộc (phục vụ công chúng) lương hảo. Quân sự phải đề cao, nung đúc chí dũng cảm bảo vệ sơn hà. Kinh tế sẽ nằm trong tay người làm việc được an cư lạc nghiêp. v.v…

    Cho nên, ông ĐTT là nhà báo viết khảo luận. Hết. Thưa Linh Mục Joseph B, cũng không có gì cần phải “e ngại”. Quan điểm mà. Chính nhờ nhiều quan điểm khác nhau (cởi mở, tự do) thì vấn đề mới phong phú và rộng rãi hơn phải không ?

  • Nguyễn Hoàng viết:

    Trên tinh thần trao đổi, tôi xin trích lại kết luận của bài viết:

    “Đến đây, có lẽ đã đủ để kết luận rằng: Như Phụ-Tử không thể tách rời nhau, chuyện Đạo-Đời cũng không thể tách rời nhau: ‘Ngươi là con Ta, hôm nay, Ta đã trở thành Cha của con’ (Acts 13, 33). Giới răn của Chúa chỉ có hai điều: Mến Chúa (Đạo) và yêu Người (Đời). Mình với Ta tuy hai mà một, Ta với Mình tuy một mà hai. Yêu người là yêu Chúa, nói yêu Chúa thì phải yêu Người. Ghét người là ghét Chúa. Ghét Chúa thì … bó tay!”

    và góp một nhắc nhở, về mặt ngôn ngữ.

    1. Không nên bỏ ngoặc đơn ở chỗ ‘Chúa (Đạo)’. Trên mặt ngôn ngữ nó có nghĩa ‘Chúa’ và ‘Đạo’ là hai từ giao hoán được.

    2. Cũng thế, ‘Người(Đời)’. Nó có nghĩa ‘Người’ và ‘Đời’ là hai từ giao hoán được.

    Tất cả bốn từ trên đều có vị thế riêng biệt, độc lập của nó. Trên mặt ngôn từ xin thêm là không từ nào cao hơn, mạnh hơn từ nào. Không từ nào lấn át từ nào. Không từ nào bao trùm lên từ nào.

    Không tách bạch như vậy thì lý luận dễ rơi vào chỗ ngụy biện, ngụy ngôn, hay chí ít là thiếu rõ ràng.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch