Trang chính » Học Thuật, Lịch Sử Email bài này

Sơ Thảo: Bài Sử Khác Cho Việt Nam* – Chương 11

Học thuật – lịch sử

Tạ Chí Đại Trường

CHƯƠNG XI:

CHẾ ĐỘ LƯỠNG ĐẦU LÊ TRỊNH Ở ĐÔNG KINH

Dấu hiệu lưỡng đầu từ những ngày Tây Việt…

Ít ra thì cuộc tranh chiến Đông Việt Tây Việt trong thế kỉ XVI lại chứng tỏ một lần nữa về tình trạng bất lực của một chính quyền tập trung ở Đông Kinh, không đủ khả năng để đàn áp các thế lực cát cứ địa phương. Điều này còn thấy rõ thêm trong những tranh chấp dai dẳng về sau tuy rằng các sử quan vẫn đặt Lê ở địa vị chính thống, và điều khẳng định càng có cơ sở hơn khi Tây Việt chiếm được Kinh đô từ 1593 trở đi. Tinh thần tôn quân được củng cố bằng lí thuyết và hiện thực từ Lê Thánh Tông, đến lúc này đã làm nòng cốt cho ý tưởng tập trung, tuy phải thêm một thế lực là Trịnh, nhưng cũng không làm suy suyển gì vì dòng họ này đã kết hợp được lí tưởng và thực lực để dẫn đến thành công. Tuy nhiên sự xung đột khi yếu đi ở bình diện lãnh thổ thì lại chui vào bên trong cơ cấu cầm quyền trung ương. Lê cần đến Trịnh để có quyền bính nhưng Trịnh cũng phải cần Lê như một danh nghĩa nắm chính quyền. Nghĩa là xung đột Trịnh Lê đã có ngay từ thời gian đầu tiên để rồi tồn tại dai dẳng suốt cả cuộc sống của hai dòng tông tộc, như một sinh vật chính trị dị dạng hai đầu của lịch sử.

Khác với Trần Cảo ngày trước (1427) bị bốc khỏi vùng gốc trung châu nên không có một thế lực nào, họ Lê Lam Sơn thời Trung hưng có đủ tự tín một phần ngay trên đất tổ tiên họ lập nghiệp nên từ thời gian còn trên đất Thanh Hoá đã tỏ ra không chịu thụ động trong toan tính nắm lại quyền hành. Chúng ta không thấy điều đó nơi ông vua đầu tiên (Trang Tông) có vẻ vì vào thời gian đó vẫn còn có sự tranh chấp khẳng định quyền hành của các tập họp phù trợ, nhất là Trịnh Nguyễn, và vì bản thân lập lờ của vua không xác định được tính chính thống cho rõ ràng, nhưng đối với dòng vua mang dáng kế tục như Anh Tông (làm vua 1557-1572) có liên hệ đến Lê Lợi thì thấy nổi lên dấu vết hoạt động tích cực hơn. Trong tranh chấp Trịnh Cối Trịnh Tùng dẫn đến loạt tấn công của Mạc, sử ghi ông vua đã “tự mình làm đô tướng, thống đốc đại quân ra đường giữa…” để chống quân địch. Nhưng với hành động như thế thì vua cũng chỉ là một viên tướng cầm một cánh quân. Cho nên khi phải giành quyền với Trịnh Tùng thì Anh Tông phải nhờ cậy một viên tướng khác, lại không có liên hệ tông tộc ở địa phương: Lê Cập Đệ – đó lại là điềm thua thấy rõ trước “tổng tư lệnh” họ Trịnh trong vùng. Anh Tông gả con cho vua Lào là âm mưu kết hợp với thế lực bên ngoài giữa hai nước nhưng hẳn cũng là nhắm làm tăng thêm uy thế của phe Lê.

Trong lúc cái thế chính nghĩa tôn quân còn nằm ở lí thuyết thì các quan văn lại bị lép vế trước các võ quan. Văn chức được tuyển chọn trong các kì thi bất thường, các Chế khoa: 1554, 1565, 1677 chưa đủ là một tập họp áp lực như những người đồng đạo ở phe Mạc. Năm 1572, Nguyễn Bính lập ra một loạt thần tích lấn cả trên vùng Đông Việt chưa chiếm được, nối kết ít nhiều các thần linh rải rác với ông Hùng Vương mới được tạo dựng thành Quốc tổ gần một trăm năm trước, như một cố sức giành chính nghĩa cho phe mình. Tuy nhiên, hệ thống Hùng Vương lúc này còn mỏng quá, Nguyễn Bỉnh chỉ nặn ra được tên hai ông vua cho nên ở xứ Nghệ, trên cửa Cờn, ông Quốc tổ vẫn còn lạc loài với thứ hạng XIII lẩn khuất theo thần cá voi, thần Po Ryiak. Hệ thống thần tích mới đó, về phía nội bộ, có vẻ như một cố gắng của tập họp văn chức muốn chứng tỏ vai trò của mình trong việc quy tụ quyền lực tinh thần về Lê nhưng kết quả hẳn không có giá trị quyết định trong việc giành quyền trên đất Thanh Hoá cho nên tên “Phúc Lớn” / Hồng Phúc của niên hiệu mới vừa đổi đã không ngăn được Trịnh Tùng giết Anh Tông.

Thế lưỡng đầu trong tình hình củng cố quyền bính Trung hưng

Về đến Đông Kinh trong tình hình chiến thắng chông chênh, phe Tây Việt vẫn phải giữ nguyên thế tôn phò trên đất cũ mới chiếm được. Tuy sau đó nhiều lần, mỗi khi có biến loạn là họ Trịnh lại rút về Thanh Hoá nhưng trong lễ cáo tế trời đất nhắm vào Đông Kinh, Trịnh Tùng vẫn phải kêu cầu đến “Thái Tổ Cao Hoàng Đế” chứng giám cho việc “khôi phục cõi đất của triều Lê.” Việc rước vua Lê từ Thanh Hoá ra nhận công tích khôi phục với đủ lễ nhạc dành cho một vị thiên tử trước thần dân, có thêm sự hiện diện của một phe liên minh, của Vũ Đức Cung phía tây bắc, là chứng thực cho một nền nếp chính thống mà cả họ Trịnh cũng không thể tranh cãi. Tuy nhiên thực tế quyền bính nằm trong tay ai đã rõ. Vua Lê còn giữ chút quyền tượng trưng nhỏ nhoi như “mật cầu đảo trong cung” khi hạn hán (hai lần 1597, 1598) nhưng qua năm sau nữa thì vua phải có chúa đi theo mới tác động đến thần linh! Chỉ vì đến lúc này, Trịnh Tùng đã ép vua phong vương, lập phủ Chúa, đặt chức Tham tụng đứng đầu quan lại để làm việc dưới tay, và ra oai giết thêm một ông vua thứ hai nữa (1619) cho thấy quyền uy của mình. Vua Lê chỉ hưởng lộc 1000 xã với 5000 lính túc trực hộ vệ trong nội điện, 7 thớt voi và 20 thuyền rồng. Sử quan Nguyễn bênh vực chính thống cho Lê, phải than thở giùm: “Vua chỉ chỉnh chện mặc áo long bào, cầm hốt ngọc nhận lễ triều yết mà thôi.” Thật ra thì danh vị “vua” cũng còn một chút uy thế hời hợt để cho một vài ông quan đương thời lúc đầu còn làm sớ dâng vua (1618) tâu bày tình trạng đất nước, không biết rằng vua xem tờ tâu rồi “lưu lại trong cung”! Các sắc phong chúa do vua ban, đem tuyên cáo với quốc dân cũng có chút tác dụng níu giữ ngôi vị cho vua. Tuy nhiên ngay từ tình trạng còn danh vị hão lúc đầu đó cũng khiến xảy ra sự tranh quyền ở cấp dưới để quan triều thấy phải tỏ rõ quyền lực chính là nơi đâu nên tâu với Trịnh Tùng về “những kẻ gian ra vào nội điện xúi giục làm càn… cho chức danh trái lẽ… thuế khóa cho người ra dân thu tranh…” Về sau vẫn có người liều lĩnh bênh vực, can ngăn chúa Trịnh lấn quyền mà may mắn không phải phơi xác như trường hợp ông tiến sĩ đi theo Lê Duy Mật.

Rồi cũng như mọi chuyện khác, phản ứng không thành đạt trong thực tế thì lại chui lòn vào phần khuất lấp, ở cõi thiêng, chỉ duy trong trường hợp này thì người của Lê lại về giấu mặt dưới dạng tác quái của một thần linh nữ, giống như để bù đắp cho sự nhục nhã mà người trần thế phải chịu đựng. Đó là trường hợp người con gái tên Giáng Tiên, con một người dòng vua Lê, được lập tự trên đất Nam Định nhưng lại phát triển đền thờ ở Thanh Hoá, đền Sòng ngày nay – giống như một xác định trở về cố hương. Có thể coi đây mới là đền chính vì bản gia phả bằng đồng của ông nhà giàu kia đã chôn dưới đền Sòng, được phát hiện lại năm 1939. Sự tranh chấp ở trần thế từng thấy trong nghiệp truân chuyên vào thời kì đầu tiên của thần Liễu Hạnh này. Năm 1623 (tái?) thành lập gia phả cũng có ý nghĩa: Đó là dưới thời Lê Thần Tông, ông vua bị Trịnh ép uổng nhục nhã, phải thăng giáng trồi sụt mà vẫn cắn răng cầu sống – chắc đây cũng là duyên cớ khiến ông điên loạn để người ta ghép với ông cùng niên hiệu họ Lí xưa ở chùa Thầy. Gia phả đó kéo tiền thân của thần nữ lên đến đầu đời Lê, như nói thay cho sự xuyên suốt của người cha ở cõi thế. Thành thử “trận chiến” Trịnh Lê lại chuyển qua sự tranh chấp mang dạng tín ngưỡng: Đền Sòng từng bị phá dưới đời Cảnh Trị (1663-1671) nhưng phải xây cất lại vì thần ra oai bằng tai dịch, và cuối cùng thần đã đạt chiến thắng thay cho người khi đi theo quân đội Tây Sơn ra Đông Kinh chiếm đền của ông Lã Thuần Dương, ngự trị ngay chính trên đàn Nam Giao!

Tình trạng lấn lướt của Trịnh không phải chỉ bị cản trở vì một tinh thần tôn quân không lấy gì làm mạnh mẽ lắm mà còn chính vì sự rối loạn giành quyền ngay bên trong họ Trịnh, cũng gay gắt không kém. Trịnh Tùng lấn quyền anh mở đầu cho việc Trịnh Xuân cũng làm việc tương tự đối với Trịnh Tráng, và có lẽ vì hồi tưởng hành động của mình mà khi Xuân chủ mưu ám sát hụt Tùng (1619), Tùng giết ông vua con-rể lại chỉ giam Xuân vào ngục rồi thả ra cho cùng Trịnh Tráng đánh Mạc, dẹp các toán loạn quân khác. Mãi đến lần cướp quyền thứ hai, bốn năm sau, Xuân mới bị giết, lần này bởi các nhân vật đang giành giật, trong đó ngoài Trịnh Tráng còn có Trịnh Đỗ, em Tùng. Sự tranh giành về sau, quá nhiều, là giữa Trịnh Tạc với Trịnh Lịch, Trịnh Sầm (1645), Trịnh Căn và Trịnh Toàn (1657), Căn giết Trịnh Luân, Trịnh Phất (1704), Trịnh Sâm giết Trịnh Lệ (1767) để tiếp theo là việc cuối đời giữa Trịnh Khải và Trịnh Cán… Muốn tìm cách khuếch trương dòng họ, Trịnh cũng ban họ mình cho những người thân cận để làm vây cánh nhưng kết quả thất bại khá nhiều: Trịnh Lãm là tên khác của Hoàng Nhân Dũng, Đào Quang Huy là con của công thần Đào Quang Nhiêu, mang tên Trịnh Kì vẫn bị giết (1673). Có những người được mang họ Trịnh nhưng vẫn xuất hiện với họ cũ trong sử sách.

Không đủ thế lực bên ngoài, Trịnh chăm chú vào nội cung của mình, cho quyền nội giám rất lớn. Nội giám giữ vai trò chi thu huyết mạch, kiểm tra tài chính ngoại biên khiến quan triều như Lê Quý Đôn phải phụ hoạ, khiến ngay đến thế tử Trịnh Khải muốn làm đảo chính cũng phải vay tiền ông quan bị thiến! Nội giám đứng tên đầu trong các cuộc tranh chấp ngoại giao khiến gây phản ứng của quan triều còn giữ sĩ diện như trong trường hợp tiếp nhận tù binh Mạc của nhà Thanh trao trả (1683). Nội giám giữ chức trấn thủ, cầm quân chinh phạt, có người thất bại như Hoàng Công Kì, có người lưu danh như Hoàng Ngũ Phúc. Chưa đủ, Trịnh Giang với ba, bốn trăm nội giám dưới tay đã đăt cả một giám ban ngang hàng với văn, võ ban. Ấy thế mà ngay trong nhóm thân thuộc này cũng vẫn nảy sinh nội phản. Hoàng Nhân Dũng được ban tên Trịnh Lãm, từng cầm quân ra biên giới định lấn chiếm trên phần đất của nhà Minh tàn tạ, thế mà không tránh khỏi chết (1652) vì “nuôi giấu người có yêu thuật để xướng loạn.” Trịnh tung người cùng họ nắm giữ các chức quyền địa phương rồi lại xoá bỏ chỉ vì sợ có đảo chính, thế mà vẫn có những chuyện đảo chính cung đình như trường hợp Trịnh Doanh thay Trịnh Giang trong mối xung đột giữa ngoại thích và hoạn quan.

Chút danh nghĩa phù Lê thật là mỏng manh thế mà Trịnh lại không vứt bỏ được vì Trịnh vẫn còn mang căn cơ thiểu số của mình quá nhiều. Sự tranh giành quyền bính bên trong họ có khi mang dáng dấp viện cầu đến “yêu thuật… phù thuỷ” như trường hợp Trịnh Bách (1587), rồi Hoàng Nhân Dũng / Trịnh Lãm (1652), là những chứng cớ. Tuy không cho phép người dưới lợi dụng thế giới ma thuật nhưng một bia năm 1650 lại cho biết chúa Trịnh trọng dụng Bà đồng Nguyễn Thị Ngọc Vịnh, đã phong tước Bá, tước Hầu và do đó cấp đến hàng trăm mẫu ruộng cho bà này. Gia phả nhà họ Đặng cho biết Trịnh Căn từ vị thế một người bị ruồng bỏ đã được lên ngôi chúa, lấn đoạt những những nhân vật tôn thất khác là nhờ người họ Đặng sử dụng đồng bóng mà thuyết phục được Trịnh Cương. Việc sử dụng lớp nội giám họ Hoàng còn dáng thiểu số có vẻ Nùng hay Tày Thái bên rìa trung châu lại là một bằng cớ khác. Lí do của việc thiên ái này có lẽ dây dưa từ thời xưa, lúc dòng họ Trịnh Kiểm có đến vài đời thông gia với người họ Hoàng, một họ thường thấy của tập họp Thái Nùng mà một người anh em cô cậu của Kiểm (Hoàng Đình Ái) là công thần khai quốc của Lê Trung hưng. Có những “thuật sĩ” tâu với Trịnh Tùng về việc có mưa gạo, mưa vàng gây phản ứng với nho sĩ trung châu thấy có dịp bài bác “dị đoan.”

Thời gian một vài vị chúa đầu cai trị đất Đông Kinh cho thấy rõ họ rất lúng túng, mà nổi bật là sự đối phó với tàn tích nhà Mạc, với các liên minh xưa như chúa Bầu, chúa Nguyễn, cả với những cuộc nổi dậy của bất cứ ai có tham vọng làm chủ một vùng đất thời bấy giờ. Họ Mạc đã chịu thua rời bỏ vị trí Đông Kinh nhưng mỗi lần có một nhân vật của họ nổi lên – mà những người này thì khá nhiều, là sử quan Lê cũng vẫn phải chép, đại khái, “quân có đến 7 vạn người” (Mạc Kinh Chỉ), “nhiều người còn giữ hai lòng… dựng cờ hưởng ứng theo giặc.” Quân nổi dậy thấy cả ở những vùng hậu phương, hay gần đó, của Trịnh Lê. Tướng lĩnh, văn thần Mạc chống đối chỉ vì như họ cáo tố với vua Minh: “Quân (gọi là của) nhà Lê, chính là họ Trịnh tranh cường, không phải là quân trung hưng của con cháu nhà Lê.” Thế là Trịnh phải đem vua Lê vất vả mang vàng bạc lên biên giới để quan Minh khám xét, mà rốt lại chỉ được phong làm An Nam Đô thống sứ như với nhà Mạc. Cho nên Mạc Kính Cung bị thua chạy (1598) còn nhờ được thế lực nhà Minh để trở về giữ đất Thái Nguyên, Cao Bằng. Trong tình thế sống leo lắt nhờ cậy bên ngoài như vậy mà khi có biến loạn giành quyền ở Đông Kinh năm 1623, Mạc Kính Khoan đem quân xuống trung châu, đóng ở Gia Lâm, thì người “hùa theo hưởng ứng có đến hàng vạn.” Rồi họ Mạc và con cháu vẫn trấn giữ Cao Bằng, có lúc làm ngăn trở cuộc chinh Nam của Trịnh. Họ xây thành, cai trị dân chúng đến 1668 bị thua vẫn dựa thế nhà Thanh để trở về… Giai đoạn cầm quyền lâu dài gần 80 năm của họ Mạc ở Cao Bằng tuy không được kể trong chính sử nhưng đã biến một vùng đông bắc thành có dáng sinh hoạt gần với trung châu như còn thấy đến gần đây.

Sự gượng dậy trong tàn tạ của các phần tử nhà Mạc cũng xảy ra đồng thời với một cựu liên minh khác chứng tỏ Trịnh phải chật vật như thế nào để ổn định vùng mới chiếm được. Đó là trường hợp họ Vũ có trung tâm hoạt động trên vùng nay là Yên Báy nhưng với thế lực lỏng lẻo thời Mạc, Lê Trung hưng thì có thể nói là ảnh hưởng đến phần lớn vùng tây bắc. Gốc tích lưu manh của người khởi nghiệp làm chủ được một vùng đất lạ thật cũng xứng đáng với thời loạn li nhưng nơi chiếm lĩnh với các mỏ quý lúc này đang được người Hoa khai thác đúng là đã đem lại sự giàu có – và do đó, tăng thêm quyền lực cho các ông chúa Bầu này. Như đã thấy, họ là một cánh liên minh phía tây của Trịnh chống Mạc nhưng không hẳn tuỳ thuộc vào Tây Việt. Cho nên vào lúc chiếm Đông Kinh 1593, Vũ Đức Cung tuy được sử quan cho là “về kinh thú tội, quy phục triều đình… đến cửa dinh lạy chào” nhưng 3000 quân của ông với vàng bạc châu báu cung cấp chính là góp phần phù trợ vào chiến cuộc. Vớí lực lượng đó và với nhận định từ thực tế trước mắt, Vũ Đức Cung thấy rõ thế yếu của mình nên đã rút về căn cứ Thu Vật / Đại Đồng, không gặp cản trở nào phía Trịnh – chắc Tùng cũng muốn tống khứ đi một lực lượng nguy hiểm nằm bên cạnh mình. Chỉ năm sau là họ đã chống Trịnh, phải chịu thua mà không mất căn cứ trước sự liên kết của Trịnh với lực lượng Nguyễn Hoàng mới. Nhưng nhóm liên minh mới của Đông Kinh cũng không được bền dai. Nguyễn Hoàng thấy rõ khi được lệnh mang kim sách (của vua Lê) phong cho ông anh rể tước Vương, còn cha mình thì chỉ được tước Công! Cho nên năm 1599 khi Trịnh Tùng được phong Bình An Vương thì Vũ Đức Cung cũng xưng là Long Bình Vương, còn Nguyễn Hoàng thì tính chuyện năm sau bỏ về Nam.

Cái thế phân chia quyền lực trông chừng nhau như thế đã ảnh hưởng đến sự tồn tại của các lực lượng nắm quyền trên đất Việt đến quá nửa thế kỉ XVII. Họ sống yên ổn trong khu vực riêng nên sử Việt (của Trịnh Lê) đã bỏ lơ vùng chúa Bầu một thời gian dài, đến năm 1669 mới nhắc đến người kế nghiệp đương thời là Vũ Công Đức bị thủ hạ lấn lướt, giết đi, để Trịnh có cớ can thiệp lấy lại đất đai cho trung ương, phong tước cho người con, Vũ Công Tuấn, mà giữ ở Kinh như giam lỏng. Tên người thủ hạ kia, Ma Vân Trường, và các người liên hệ tiếp theo trong giao tiếp ở biên giới, chứng tỏ tập đoàn họ Vũ từ trung châu, lúc này phải chịu thất thế trước các lực lượng chính thống địa phương. Và điều này làm nổi lên vấn đề biên giới Việt Trung.

Nhà Mạc yếu thế trước sự đe doạ trừng phạt của nhà Minh nên phải cắt một phần đất khiến cho các sử gia về sau, phụ hoạ với sử quan Lê mang tinh thần chính thống, tìm cách chê trách tàn tệ. Nhưng việc mất đất không phải chỉ có dưới đời Mạc. Vũ Công Tuấn từ Đông Kinh trốn về đất cũ (1672) khuấy động, xưng Tiểu Giao Cương Vương (“vua vùng Giao Chỉ Nhỏ”) để xác định chủ nhân vùng đất của cha ông. Thương nhân W. Dampier đến năm 1688 còn nghe nói có vương quốc “Bao” / “Bao tan” (Bầu Tuấn) ở về phía tây bắc “tỉnh Bắc” mà không biết rằng Công Tuấn đã yếu thế, không đủ lực lượng tranh chấp với cả dân địa phương nên phải trốn qua bên kia biên giới. Lúc bấy giờ mới thấy nổi lên vấn đề cương vực: Trịnh thấy đất Việt mất 3 châu/động ở Tuyên Quang, Hưng Hoá, muốn đòi lại, không được. Tất nhiên là nhà Thanh muốn giữ đất, không trả nhưng vấn đề cũng vướng vào một chút pháp lí.

Trong thời gian về sau, qua các cuộc tranh cãi đất đai, có lúc quan địa phương, triều đình Thanh phải chịu trả đất chiếm như trường hợp vạch sông Đỗ Chú, mỏ đồng Tụ Long… có vấn đề còn lại đến ngày nay. Tuy nhiên, vấn đề biên giới Trung Việt lại mang thêm tính co dãn tuỳ thuộc vào các thủ lãnh tộc người địa phương, họ thiên về bên nào thì bên ấy đắc thế như trường hợp tranh chấp có lẫn âm mưu và sự đổi thay của tình thế về một phần đất châu Tư Lăng của Lạng Sơn (1689). Trong trường hợp ba châu ở Tuyên Quang Hưng Hoá, rõ ràng là vì sự ngáng trở của nhà họ Vũ, họ Mạc – và qua thế kỉ XVIII là sự hùng cứ của Hoàng Công Chất, khiến cho quyền bính Trịnh không đủ uy thế lan xa để thổ ti Khai Hoá (chính quyền địa phương thuộc tỉnh Vân Nam) sáp nhập vào đất họ từ lâu, qua cả sự đổi dời triều đại từ Minh đến Thanh nên khó tranh cãi. Chính Trịnh khi muốn bắt Vũ Công Tuấn cũng phải hối lộ thổ ti biên giới mới thành công, do đó, họ không có uy lực để kèm với danh nghĩa mà đòi lại đất. Sử quan Nguyễn khi bình luận về việc này, đã có đủ thời gian nhìn lại nguyên cớ để nhận ra rằng: “Từ Trung hưng về sau, giường mối vua tôi không rõ rệt, thế nước ngày một suy yếu dần, một dải đất ở thượng du phó mặc cho bọn phiên thần nối đời coi giữ, hoặc chúng đem đất công bán riêng cho người nước ngoài, hoặc chúng cùng người nước ngoài xâm cướp lẫn của nhau… tình tệ này không phải mới xảy ra mà chất chứa đã từ lâu lắm (cho nên) số đất bị mất không phải chỉ ba động ở Vị Xuyên mà thôi đâu.” Nói cách khác, sự suy yếu của Đại Việt từ thế kỉ XVI đã khiến cho các thủ lĩnh vùng biên giới xoay hướng đầu phục về phía Bắc, trao phần khá lớn đất đai vào tay người Trung Quốc. Nhóm dân Việt/Kinh trên ba đảo ở Quảng Tây ngày nay đã trở thành dân ngụ cư, sở dĩ còn giữ tính Việt mấy trăm năm chỉ nhờ ở vị trí cô lập, tách biệt mà thôi.

Tình trạng tranh chấp dùng dằng cả hơn nhiều thế kỉ với sự yếu thế ngay đối với phe thắng trận cũng gây ảnh hưởng đến tính chất ngoại giao Trung Việt mà phần lấn lướt của một bên và phần co rút của bên khác cứ hiện rõ theo thời gian. Không còn nữa, thời kì Lê Hoàn nhắn nhủ đe dọa biên thần Tống, khoe khoang của cải, dinh thự với sứ Tống, dắt sứ đi câu cá – như với ông khách tham quan xứ lạ. Không còn nữa, thời kì quân Lí vượt biên tàn phá đất Tống. Lại cả không còn nữa thời kì vua quan Trần tranh luận không chịu lạy chiếu Mông Cổ, và đã qua thời kì quân Trần hùng hổ chống Nguyên, tuy tan tành đất nước nhưng thắng trận. Trong thế yếu, Mạc Đăng Dung tuy không hẳn “trói mình, xưng tội ở ải Nam Quan” như các ngoại sử phù Lê tô vẽ nhưng đúng là đã nhún mình cống tượng vàng, cắt đất, ngóng chờ chức Quốc vương mà chỉ được thành Đô thống sứ cho con cháu. Lê trên đất Thanh Hoá xa cũng len lỏi chịu tra vặn chấp nhận, đến lúc toàn thắng lại cũng phải chịu vác thân đi cho người ta khám, chịu cống người vàng, phẩm vật vàng bạc, tưởng là khoe kì vật trong xứ, thật ra lại bị chê, bảo đưa vàng bạc nguyên chất cho tiện hơn (1716)! Không còn thác cớ ngã ngựa đau chân để khỏi lạy chiếu Thiên tử mà sứ giả không có ý kiến gì, bây giờ vua quan Việt chỉ còn tranh luận phải lạy như thế nào mà thôi (1719).

Sự lấn lướt có thể nằm ngay trong sự tăng cường tính chất quyền bính chuyên chế ở Trung Hoa do việc quân Mông Cổ mang tinh thần của chính sách ngoại trị áp dụng trên đất Trung Nguyên, và rồi được Minh thu nhận, tiếp tục đem ra ứng phó với các phiên thuộc. Nhưng đằng khác như đã nói, thật ngược đời, sự quỵ luỵ của phiên thần lại không phải chỉ bởi mối đe dọa của quân lực mà còn là từ sự thuần thục trong lối tiếp nhận văn hoá Trung Nguyên. Đặt mình vào trong văn chương kinh sách, Nguyễn Trãi trầm bổng nghênh ngang trong Cáo bình Ngô nhưng lại rền rĩ hạ mình trong các Biểu cầu phong, chấp nhận ra lời trong tiềm thức về sự “nội thuộc” khi nói về thời bị trị (giống Ngô Thì Sĩ ở thế kỉ XVIII,) và Ngô Sĩ Liên thì cho rằng chỉ có Thiên tử (Trung Quốc) mới đủ tư cách làm lễ tế Giao. Lê Thánh Tông còn cứng rắn với tư thế quyền uy thực sự ở địa phương của mình nhưng với các ông “thiên tử” về sau cần phải đi cầu luỵ người ngoài thì loại văn chương tụng tán học được lại có dịp cho các văn thần dưới tay tô chuốc – loại văn chương, có khuất lấp một lúc trong tình thế khác nhưng vẫn thấm đậm tính “truyền thống” như đã thấy trong loại tụng ca gần đây mà nổi bật là bài thơ ca ngợi Xít-ta-lin. Và từ lối mòn kinh sách đó đã khiến hình thành tự nhiên một “tâm thức phiên thuộc” không còn gây thắc mắc. Từ đây, cách đối phó của Đại Việt với Trung Quốc chỉ là sự luồn lách tình thế mang tính cơ hội, thể hiện ngay trong cuộc sống nhẫn nhục hàng ngày của dân chúng: “một câu nhịn là chín câu lành,” còn sự tự chủ thì theo cách nhẫn nhịn “lạt mềm buộc chặt” được coi là khôn ngoan trong ứng xử phải có, cũng đã từ cuộc sống thôn xóm bình thường vươn lên tầm mức quốc gia. Có sự huênh hoang tự kỉ để lấy tinh thần cho sự chống đối sống còn, cho ước vọng bù đắp dằn nén nhưng đồng thời cũng có sự tự ti khúm núm không che giấu khi trực diện trên trường ngoại giao như sẽ chứng tỏ qua các văn từ dài dòng sau cuộc chiến 1789.

Cuộc sống hai mặt trên phương diện ngoại giao đó lại sẽ xuất hiện trong cách đối phó với dân nước. Vua, tôi trong thế cầu luỵ bên ngoài mang tên tuổi khác, còn với dân chúng lại có tên tuổi khác, như một bộ mặt mới, không vướng víu gì với cái thế nhục nhã kia nên đầy đủ tự tin để làm chúa tể, làm người trên trước không có đối kháng. Và do thế, thái độ ứng xử “nịnh trên, nạt dưới” hàng ngày cũng có phần là chuyển biến từ cung cách ngoại giao kia lan toả ra. Các lệnh cách li người ngoại quốc, cấm đoán, trừng trị kẻ giao thiệp với người nước ngoài, ngăn chặn không cho ra khỏi nước thấy trong các văn bản Lê sơ, Trung hưng lẫn lộn, là để giữ người dân trong vòng quyền bính mỏng manh mà người cầm quyền biết là rất dễ dàng mất đi khi dân chúng biết đến một khung trời khác. Sự phức tạp chỉ xảy ra khi “khung trời khác” kia lại không đến từ phương Bắc.

Vấn đề riêng biệt với phương Nam

Tuy ở vào thế bấp bênh về danh nghĩa như đã thấy nhưng dần dà rồi Trịnh cũng thanh toán được các lực lượng chống đối cũ trước khi phải đối phó với tình thế phát sinh nội bộ từ các lực lượng quấy đảo mới. Thế mà họ lại chứng tỏ hoàn toàn bất lực với một thế lực ở phía nam, vốn lại cũng cùng xuất phát như họ. Tất nhiên sự hình thành của một lực lượng cát cứ mới ở phía nam có dáng tiến dần đến độc lập như đã thấy, là do khả năng và ý chí của những người cầm quyền tại đấy phát triển theo với thời gian nhưng ưu thế khởi đầu của họ là do tính cách bên lề của vùng đất Thuận Quảng trong cuộc tranh chiến chiếm vùng Đông Kinh mà danh hiệu “trung hưng” dành cho sự đắc thắng đã chứng tỏ hướng lưu tâm của những người trong cuộc không phải là ở phía nam. Trịnh Kiểm đẩy Nguyễn Hoàng trấn đất Thuận Hoá hẳn cũng biết không phải để giải quyết một mâu thuẫn cá nhân hay gia đình mà là thanh toán vấn đề xung đột của hai tập hợp, vừa mang tính địa phương vừa mang tính tông tộc cùng nhắm phù trợ một nghiệp đế vượt qua hồi suy vong. Cho nên Nguyễn Hoàng đã bị gạt ra bên lề thì dễ dàng đi vào chỗ ngoài tai mắt của trung ương.

Ở đây, như sau này Đào Duy Từ còn nhắc, Nguyễn Hoàng vẫn phải chịu sự dòm ngó của phái viên Lê Trịnh như Mai Cầu, Mai Chân, Tổng binh và Hiến sát sứ Thuận Hoá, nhưng cách thức làm việc qua loa của Hiến sát sứ Nguyễn Tạo (1586) được cử đến nơi mà không dám kiểm tra gì cả chứng tỏ Nguyễn Hoàng đã nắm vững tình thế địa phương. Vấn đề then chốt lúc này, ở đây không phải là lo lắng về quyền hành của những ông quan nhút nhát từ triều đình phái đến từng bị lấn hiếp trước thế lực của các thổ hào, những người nộp thóc được phong quan tước, chuyên việc thu thuế ở địa phương. Những người này thấy ra sự hiện diện của một thế lực mới có thể đe dọa đến quyền lợi của họ. Dương Văn An đã ghi chuyện kẻ ác làng Phò Lê “giết vợ Thái bộc, cưỡng gian con gái (quan),” chuyện bọn làm loạn ở Bồ Điền “đem dân trong hạt đánh đuổi quan Đô ti..,” chuyện. “gian tế làng Thế Lại tham tiền thưởng mà bắt quan Hiến ti..,” toàn là “dân” mà lấn lướt được các quan trấn thủ! Cho nên Nguyễn Hoàng phải lo dẹp những cường hào như thế, như đã từng phá tan được nhóm người chỉ mang tính cách gia đình mà lại đủ quân lực đánh ép cả hai đầu bắc nam vào trại Ái Tử của ông (1571).

Thực tế gần như toàn quyền quản trị vùng đất mới đó đã làm thay đổi con người được tạo dựng từ quê cũ. Tuy ra đi đã 33 tuổi nhưng dấu vết ảnh hưởng của người cậu bảo trợ (theo thói tục dòng mẹ) được sử quan xác nhận từ lúc nhỏ vẫn còn đeo đẳng ông lúc đi trấn nhậm. Và không phải chỉ trong truyền thuyết, vai trò trên trước của ông cậu còn chứng tỏ nơi bức tượng đồng Nguyễn Ư Dĩ lưu giữ ở làng Trà Liên, trên vùng Ái Tử trong lúc ông chúa mở nghiệp thì mất cả tên trên đường phố, trường học! Thế giới mới của Nguyễn Hoàng mở rộng hơn với những khu vực giao tiếp với bên ngoài như trường hợp thi hành mĩ nhân kế, sử dụng người thiếp họ Ngô của chợ Thế Lại (Huế nay) với nhà cửa chen chúc, giao thông tiện lợi, buôn bán sang cả, sinh hoạt nhộn nhịp được Dương Văn An tả rất kĩ. Ở một nơi như thế thì hẳn phải bị chê có “thói tục sông Giang, sông Hán” nhưng đó cũng là những hành động không ràng buộc, vượt ngoài khuôn khổ bình thường của một nơi “thu hút bán buôn, đón khách giàu sang.” Với tình hình đó mà từ năm 1585 Nguyễn Phúc Nguyên, con chúa, đã phải đánh dẹp giặc biển bên ngoài cửa Việt.

Phần đất gần phía nam đèo Hải Vân không phải chỉ là nơi làm đà bước tới xa hơn cho họ Nguyễn (Phú Yên 1611, Khánh Hoà 1653) mà trong một thời gian rất lâu, còn là hậu cứ về kinh tế tài chính và cả về văn hoá của họ nữa. Đất Quảng Nam của nhiều thế hệ kinh đô Chàm đã được Nguyễn Hoàng tới thăm sau khi từ Đông Kinh trở về, rồi đặt trấn dinh nơi này, xây kho tàng chứa lương thực, chuẩn bị cho bước đường tiếp với sự nghiệp người con thứ, may mắn còn sót lại khi những người anh phải chôn vùi thân xác hoặc nép mình khuất lấp trên đất Trịnh vì tình thế luân lạc của cha. Cái mới bên ngoài đó không làm mất sự chìm lắng bên trong của thói tục bản thổ nên rõ ràng là trong hành động, Nguyễn Hoàng đã thấy phải kêu cầu đến thần linh địa phương. Bà Chúa Xứ mặc áo xanh / áo đỏ quần xanh, giúp ông chống giặc, vọng tưởng tư thế chân chúa ở đất lạ nên lo xây chùa, chuyển đổi tâm lí ghét sư sãi xưa. Một ông Thiên Vương mới thay thế cho hình ảnh một deva-raja trong quá khứ với tập họp người năng động hơn trong tình thế phát triển dồn dập của thế giới. Như mọi trường hợp đương nhiên đều trở thành bình thường, Nguyễn Hoàng không ý thức được sự quý giá của tính chất độc lập đó cho đến khi trở lại Đông Kinh năm 1593, phải chịu đựng 8 năm dưới quyền sai phái của kẻ khác, thấy công trung hưng nghiệp đế của cha mình lại đứng sau người nối tiếp – vào hàng cháu, để ông nhận ra rằng tương lai của ông không phải ở đất Bắc nữa. Cho nên chuyến về Nam năm 1600 là thời điểm của một ông quan trấn thủ trở thành kẻ mở đường cho một triều đại Việt Nam.

Trịnh đã không dẹp được họ Mạc, họ Vũ thì cũng không muốn gây rối với phương Nam. Trịnh Tùng chỉ gởi thư an ủi vớt vát, chịu nhận người con và cháu Nguyễn Hoàng ở lại dưới tay mình, nhận làm thông gia với ông cậu đó cho yên một bề. Nhưng đám văn nhân được tuyển qua các kì thi Hội, kể cả nhóm quay đầu từ Mạc, thấy có dịp để lên tiếng chen vào chính sự, phù trợ họ Trịnh, liền nhắc nhở Chúa mở rộng quyền uy (1610): “Thái Nguyên, Lạng Sơn, Thuận Hoá, Quảng Nam vốn là bờ cõi của Tiên vương… nếu không xử trí, sợ thành mối lo sau này.” Đúng là quan văn nên chỉ thấy “tướng (Trịnh) đông như mây vần… ngựa uống thì nước sông cạn, mài dao thì đá núi lở…” nhưng Trịnh Tùng nắm thực tế, thấy rõ là chỉ đủ khả năng hướng về phía bắc mà thôi. Bên trong, như lời tâu 1612: “Kẻ thừa hành… coi một huyện thì làm khổ dân một huyện, coi một xã thì làm khổ dân một xã… trong nước con trai không có áo, con gái không có váy…” Cho nên chuyện chinh Nam lại phải đợi qua thời gian kềm hãm được một chừng mực các lực lượng chống đối khác, khi thấy dấu hiệu rạn nứt từ phía Nguyễn để phát sinh những cuộc điều quân dè dặt. Và rồi cũng như những chuyện khác thường thấy ở đời, chiến tranh thúc đẩy chiến tranh cho đến khi nhận ra không thể tiếp tục được nữa, hai bên mới chịu dừng tay.

Khởi đầu, Nguyễn cũng như Trịnh, tuy cầm đầu một vùng lãnh thổ mà ý thức tranh chấp nhỏ bé trong gia đình đã không theo kịp tình thế lớn rộng. Nguyễn Phúc Nguyên nối nghiệp cha, không ngăn được hai người em thông đồng với phương Bắc. Ở đây chắc cũng có bàn tay của Ngọc Tú (chết 1631), cô em làm vợ Trịnh Tráng. Sau này thấy bà ta xin lãnh về Bắc các cháu con những người em phản nghịch – và có lúc bà cũng có thông tin kín với chức quyền Nam. Những thế hệ tiếp sau vẫn có người trong họ chúa giành ngôi, không nề hà cả việc liên minh với Trịnh như một cách nhìn thân thuộc về phía khác. Cho nên mối liên hệ thân tộc có lúc được cả những nhân vật của hai họ coi như vượt trên cả tính cách thù nghịch phe phái. Con và cháu Nguyễn Hoàng sau thời gian thử thách, được tham dự triều chính Trịnh (1631) và cũng khiến các quan kinh sợ như ai!

Cuộc chuyển quân năm 1620 của Trịnh đến sát biên giới không nhận được nội ứng nhưng là khởi đầu cho cuộc chiến 1627 có vua Lê được Trịnh Tráng mang theo lấy chính nghĩa. Trịnh phải rút quân nhưng cuộc chiến đã khiến cho Nguyễn thấy phải lo đề phòng gắt gao hơn. Năm 1630 họ cho quân chiếm vùng Nam Bố Chính, lấy sông Gianh làm biên giới thiên nhiên để đẩy khu vực phòng vệ xa thêm về phía bắc. Bên trong, họ theo lời Đào Duy Từ (1572-1634, giúp Nguyễn 1627) xây luỹ Trường Dục 1630 từ nguồn đến biển Nhật Lệ, và xây một loạt luỹ tiếp theo (luỹ Trường Sa 1633 phụ thêm phía biển, lũy An Náu 1661, luỹ Trấn Ninh 1662), các luỹ có cái dài hơn mười cây số, liên hoàn làm thế chận đứng quân địch từ ngoài cõi. Trận chiến 1634 lại cũng có nguyên cớ nội ứng khích động từ trong họ Nguyễn, lần này là Nguyễn Phúc Anh. Và chắc cũng do Trịnh Tráng “hỏi việc phiên trấn” từ Vũ Chân, Hiến sát sứ Thuận Hoá trốn về Bắc năm 1631. Chưa kể trường hợp Tống Phúc Thông, cha Tống Thị, thấy con rể chết, tan mộng làm cha vợ Chúa, nôn nóng không kịp thấy con gái quyến rũ ông chúa tiếp theo nên vội bỏ trốn về Bắc (1632). Hai lần tấn công tiếp 1643, 1648 (có Tống Thị trong vương phủ Nguyễn xúi giục) không giúp được Trịnh chiếm lại Nam Bố Chính mà lại còn bị Nguyễn phản công, bắt 3000 tù binh sử dụng vào việc khai thác vùng đất chiếm được, tạo thêm của cải và cả nhân lực cho các trận chiến sau. Thế là có chiến dịch 1655 đưa quân Nguyễn đánh chiếm 7 huyện phía nam sông Lam.

Có vẻ như Trịnh vào giai đoạn các Chúa đầu đã không mang cải cách gì mới cho đất Bắc. Họ có sẵn nền tảng cai trị từ Lê Thánh Tông mà Mạc cũng không rời bỏ nên có đà để tiếp tục chống đỡ cho chính quyền trong tình thế mới. Bản tâu 1612 cho Trịnh Tùng về việc quan lại hà khắc, vẫn nói đến 13 đạo thừa tuyên. Ông vua Lê ngồi đó tuy thất thế nhưng vẫn được phong An Nam Quốc vương (Minh 1646, Thanh 1667) để giữ nền tảng cũ. Hệ thống quan lại địa phương của Mạc chỉ cần trở-cờ là thành quan thời Trung hưng miễn là không rủi ro đi theo các cuộc hưng khởi bất thường của chúa cũ. Họ sẽ yên tâm trong chức vụ cho đến năm 1660, lúc buộc lập sổ lí lịch cho các quan nhưng đến năm này thì đã qua một, hai thế hệ khác rồi. Sử quan Nguyễn tuy ở vào thế đối địch nhưng nhận xét cũng không xa sự thật: “Sở dĩ họ Trịnh còn có thể cai trị được nước là nhờ các sĩ phu vui lòng giúp đỡ đấy thôi…” Thói quen phục vụ lâu ngày trở thành nề nếp khiến lại nảy sinh những hiện tượng có vẻ bất thường đến lạ lùng: Đặng Chất (1622-1683), sau khi làm Tham trấn Cao Bằng, về Kinh (1677) coi cơ Tả Khuông đã vay 2000 quan để sắm khí giới, đến lúc chết đi, con cháu phải trả 3, 4 năm mới dứt nợ! Lúc này không còn là thời kì có lãnh địa riêng như Lí, Trần nữa, và tất nhiên là việc bỏ tiền túi ra làm việc cho Chúa cũng có thể vì nhắm vào lợi ích riêng như trường hợp ở thế kỉ sau, Phạm Đình Trọng thù Nguyễn Hữu Cầu, Hoàng Ngũ Phúc nghe lời xúi của thương nhân Thanh, nhưng sự đầu tư vô vọng như của Đặng Chất đã tỏ rõ một tinh thần phục vụ vì người trên đến mức độ bất thường.

Tuy nhiên hệ thống quan chức ấy cũng không có thực tài nhiều, có khi họ phải luồn lách chọn lựa trong tình thế lưỡng đầu giữa tiếng khen chê khó tránh. Vũ Duy Chí (1604-1678), là chân lại thuộc mà lên đến Tể tướng nhờ dựa thế làm tay chân chúa Trịnh (Tạc) để giữ quyền bính nhưng lại hơi nghiêng một chút về Lê để được tiếng khen về danh giáo, trung với Lê! Kiến thức trường ốc không nhiều, thêm với ý thức nịnh bợ từ quan niệm bùa chú nên có người chuyển các biến cố lạ thành lời tán tụng: thấy mưa đen (chắc là từ bụi than đá,) mưa cát vàng liền lên tiếng về mưa gạo, mưa vàng! Chỉ thấy những nguyên tắc bình trị cổ điển được nhắc đi nhắc lại theo kiểu đánh tiếng hiện diện với Chúa, với đời. Có thay đổi thì hình như lại theo hướng dễ dãi hơn: Năm 1664, Phạm Công Trứ đề nghị làm sổ bộ mới, theo kiểu làm một lần, “sinh không tính, chết không trừ” mà mãi đến năm năm sau, năm 1669 mới xong! – Ông Tham tụng này có con thăng chức bị triều đình bác, thế mà Trịnh Tạc bênh, hạ một lúc bốn ông Thượng thư, ba ông Ngự sử, hèn gì ông ta chẳng viết sử đặt thêm một mục Trịnh chúa dài dòng phía dưới vua Lê. Và hành động tâu xin (1666) tuyên dương 13 người tử tiết chống đối Mạc khi xưa, vừa có tác dụng phô trương danh giáo với Lê mà cũng là thực tế ủng hộ “chính nghĩa” cho Trịnh của ông. Tuy nhiên dù phải ở thế chống đỡ nhiều phía, họ Trịnh nương vào danh nghĩa nhà Lê cũng cai trị được một vùng sung túc, đông dân để thành sức mạnh chính trong vùng. Trịnh Tráng nhân dịp sứ Minh sang (1630) đã dàn bày thuyền ghe, voi ngựa để khoe binh lực, lại nhân lúc Minh suy yếu vừa mua chuộc vừa đem quân ra biên giới lấn chiếm (1647). Tuy gặp sự cản trở của quân Thanh nhưng hẳn cũng có tác dụng trong việc lấy được chức phong An Nam Phó quốc vương (1651) của vua quan nhà Minh thấy 160 000 quân Việt dàn ra, theo chứng cớ của thương nhân Marini hiện diện ở Đàng Ngoài lúc ấy.

Khung trời khác Trung Hoa trong chiến tranh

Sự xung đột Trịnh Nguyễn lại đậm màu máu lửa vì thời đại trọng thương của Âu Châu đã lan đến phương Đông thêm với những lực lượng mới. Như đã nói, việc buôn bán của Bồ, đặt căn cứ ở Macao mua chuộc từ quan lại Trung Quốc (1563), giúp Nguyễn trang bị súng ống, cho nên trên luỹ Trường Dục “mỗi trượng đặt một khẩu súng quá sơn (phá sơn? máy bắn đá?), cách ba bốn trượng lập một pháo đài, đặt một khẩu súng lớn / đại bác” thuộc đội Pháo tượng trông coi. Người Bồ còn vướng một ít vào tinh thần chiến tranh tôn giáo của châu Âu nên dấu vết của họ thường là xuất hiện theo với vai trò của các giáo sĩ, trong trường hợp này là giáo sĩ dòng Tên – được nhắc nhiều qua các nghiên cứu ngày nay. Chính một giáo sĩ dòng Tên, Cristophoro Borri đã ở Đàng Trong từ 1618-1622 và để lại một tập kí sự đầu tiên về xứ này trong đó ông đề nghị cả việc hoạch định chống đối người Hà Lan. Giáo đoàn dòng Tên cũng thành lập ở Đàng Trong (1615) trước Đàng Ngoài (1626) mà nhân vật danh tiếng Alexandre de Rhodes, người đã dựa vào những công trình của người trước, dùng mẫu tự La Tinh để phiên âm tiếng Việt, còn để lại một quyển Lịch sử Đàng Ngoài (1651), quyển từ điển Việt Bồ La (1651) đầu tiên về thứ chữ mới này, đặt căn cứ điển chế cho những tiếp nối về sau. Còn người bản xứ cải giáo đương thời thì có người đã nắm vững lối chữ này trong những bản văn dài hơi, như của Igesico Văn Tín (thư 12-9-1659,) Bento Thiện (thư 25-12-1659 và tập sách về lịch sử nước Việt).

Người Hà Lan đến sau, tất nhiên phải cạnh tranh với người Bồ, nhưng họ tổ chức có quy củ to lớn hơn theo với sự thành lập Công ti Đông Ấn Hà Lan (VOC, 1602). Họ mở thương điếm ở Hội An 1636, rồi tiếp theo mở ở Phố Hiến (Hải Dương) 1637. Đúng ra thì họ vẫn có những giao tiếp ngay với chúa Nguyễn (chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan) như văn thư của Công ti các năm 1633, 1636 còn giữ lại nhưng vì những mâu thuẫn với thương nhân Bồ mà họ phải xung đột lớn với Nguyễn, cùng lúc với sự mời gọi hứa hẹn của Trịnh. Thư Trịnh Tráng gửi cho Toàn quyền Batavia (1637) kêu gọi Hà Lan giúp tàu thuyền, binh lính, súng ống đánh chiếm Đàng Trong để chia xẻ quyền lợi nơi đó. Hà Lan cũng nhạn có xung đột với Đàng Trong vì mất tàu, vì người bị cầm tù vào các năm 1641-43. Họ không phối hợp được với quân Trịnh trong chiến dịch 1643 nên Trịnh phải lui quân, và Hà Lan thì phải thảm bại trước thuỷ quân của Thế tử Nguyễn Phúc Tần. Nói chung, lực lượng quân Trịnh tất nhiên là hùng hậu hơn Nguyễn vì có cả một vùng đông dân, sung túc như Ch. Borri cũng nhận ra nhưng họ phải đi đánh xa trong lúc còn nhiều vấn đề nội bộ, biên giới phía bắc chưa giải quyết xong như đã nói.

Sự hiện diện của người Âu tuy ít nhưng cũng hé mở cho các chúa thấy một chân trời khác với khung cảnh kinh sách quen thuộc của Thiên triều phương Bắc. Không có gì ghi lại rõ rệt nhưng cứ thấy thái độ vồ vập của các chúa, của các quan triều trước các tạng phẩm mà nhà buôn, giáo sĩ dâng nạp thì ta cũng hiểu được sự thích thú của họ với những ước vọng lớn mở ra trước mắt. Trịnh Tráng không có gì xuất sắc trong nội trị nhưng với các tặng phẩm bao hàm tính chất so sánh như của Alex. de Rhodes đưa đến (đồng hồ quả lắc, đồng hồ cát, sách khoa học chữ Hán) sao chúng không có tác dụng thêm trong việc đòi hỏi nhà Minh trên hồi tàn cục phải nhận ông chúa làm Phó Quốc vương? Ông đã từng cho các linh mục cùng cỡi ngựa coi thi Hội (1631), và con ông, Trịnh Tạc, nhận linh mục dòng Tên Felix Morelli làm con nuôi, ban tên Phúc Chân (1647), đến lúc bài đạo cũng cố giữ hai linh mục ở Thăng Long, cho vào chúc Tết (1660). Lê Thần Tông “ham của lạ” cũng nhân dịp đó chấp nhận một cung phi là người Hà Lan. Quan lại Trịnh Lê tất nhiên thu được lợi lộc vật chất từ những biếu xén đòi hỏi ở thương nhân ngoại quốc nhưng W. Dampier thì lại cho thấy một dấu vết ưa thích hướng thượng khác từ sự giao tiếp này. Tuy kiêu căng, hách dịch nhưng các nhà quyền quý trong nước cũng thích gả con gái cho lái buôn và sĩ quan ngoại quốc để được sinh con trắng hơn, “trắng da” là điểm quý trọng lúc bấy giờ. Tuy nhiên đó chỉ là mới khởi đầu nên không vượt được sức nặng của truyền thống. Nguyễn Phúc Nguyên thấy buôn bán có lời, định đích thân tham gia để giành độc quyền đó cho nhà chúa liền bị Đào Duy Từ can ngăn – ông công thần từng bị bạc đãi vì thành kiến xướng ca gán cho, nay lên cầm quyền lại vướng phải thành kiến cũ về sự coi thường thương nhân! Ảnh hưởng nặng của Nho Giáo đó khiến chúa Nguyễn không được như các vua Xiêm, và Đàng Trong – rồi Việt Nam sau này, có thể đã mất cơ hội tiếp nhận hoà bình văn minh phương Tây, tránh được những đổ vỡ lớn lao như đã thấy.

Những du kí của người Âu viết về Đàng Trong, Đàng Ngoài đương thời, ngày nay thường được sử gia vồ vập bởi vì có những ghi chép từ những người thấy cái gì cũng lạ, cũng mới, những ghi chép khá đáng tin từ những người quen thói quan sát tỉ mỉ, đã ghi nhận nhiều về cuộc sống người dân vốn là những điều không thường thấy trong quan sử cũ. Tuy nhiên cũng nên dè chừng ở những nhận xét hời hợt có vẻ như cốt lấy lòng người bản xứ để tự nâng mình lên, những nhận xét quá đà đi đến khoác lác mà không hay… . Cho nên không đáng tin lắm về lời khen “rừng vàng biển bạc” của Đại Việt, tuy rõ ràng vẫn thường nghe nói đến nguồn hương liệu (trầm hương, quế), tằm tơ, đường cát… Đối kháng lại, có những nhận xét dễ chạm đến lòng tự tôn dân tộc của người thời nay – ngay cả đối với học giả, trí thức. Có thể thấy một chừng mực sự thật ở những bản báo cáo, tường trình của các nhà buôn, các giáo sĩ chuyển lên cấp trên của họ vì sự chân xác cần có cho lợi nhuận, cho lợi thế truyền đạo

Qua nguồn tin ngoại quốc thì dù vượt được khỏi những hạch xách của vua quan, các nguyên liệu bản xứ vẫn không đủ cho các chuyến hàng thường xuyên, cả trong cách thức buôn bán trên khu vực hẹp: Commerce d’Inde en Inde của họ. Và điều này mới là quan trọng: Người Âu vẫn phải mua bán với dân bản xứ qua những người “bản xứ” cao cấp hơn như người Hoa, người Nhật. Hội An là một ví dụ rõ rệt: Ch. Borri thấy có hai thành phố, một của người Hoa, một của người Nhật “mỗi phố có một khu vực riêng, có quan cai trị riêng và sống theo tập tục riêng.” Dấu vết đó, dù phai nhạt trong chuyển đổi, vẫn còn lại đến ngày nay, làm căn cứ cho một phố cổ của Việt Nam được ghi vào danh sách Di sản văn hoá thế giới. Người Nhật đã va chạm với thế tử Nguyễn Phúc Nguyên trong trận chiến 1585, dẫn đến các thư giao thiệp với Nguyễn Hoàng (1601, 1603, 1605) báo cho chúa biết về các thuyền Nhật mang lệnh được phép đi buôn (Châu Ấn thuyền.) Phía bắc, Trịnh Tráng quy định nơi cư trú của dân thuyền buôn Phúc Kiến, nhưng đồng thời ra lệnh bảo vệ việc làm ăn của những người này (1649), và nổi bật nhất là sự kiện những vùng khai thác kim loại nằm trong tay các lãnh tụ thiểu số, dân Minh, Thanh, có khi đến gây biến loạn.

Dù sao thì chiến tranh càng lúc càng khốc liệt cũng vì tổ chức của mỗi bên càng vững vàng theo với đà gia tăng khả năng của vũ khí mới thu thập được. Chiến thắng bắt tù binh Trịnh năm 1648 đã khiến Nguyễn bạo dạn tấn công ra ngoài biên giới. Họ đã có người cầm đầu là Nguyễn Phúc Tần (sinh 1620, ngôi chúa 1648) từng đánh thắng thuỷ binh Hà Lan ngoài cửa Eo (1643), thắng Trịnh trong trận 1648. Hai tướng lãnh chủ chốt là Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến (rể Đào Duy Từ), lớp người mới xuất thân từ đầu chiến tranh đến đây đã thấy đủ tự tín để mong gây sự nghiệp lớn. Sử quan Trịnh Lê cũng nhận Trịnh thua to trong trận chinh Nam 1655, và bị phản công: “Quân giặc bức sát, các quân thua chạy, vứt bỏ hết các thứ quân nhu khí giới.” Trịnh Tạc trừng trị tướng bại trận, điều động thay đổi người cầm đầu cùng họ, từ Trịnh Trượng qua Trịnh Toàn rồi Trịnh Căn (cháu Trịnh Tráng), người mà tính chất âm mưu giành quyền từ nội cung ra đến chiến trường đã khiến Toàn bị hạ ngục chết và việc điều hành quân Trịnh cũng bị khủng hoảng theo. Người bất mãn trong vùng Trịnh – không phải chỉ ở Hải Dương phía biển tiện liên lạc mà cả trên vùng Mạc Cao Bằng. Đặc biệt Phạm Hữu Lễ của vùng Sơn Tây cách trở, không những hưởng ứng mà còn cho người đến tận quân trung Nguyễn bày vẽ kế sách khiến chúa Hiền không ngớt lời ca tụng, coi như cuộc tiến chiếm Đông Kinh đã trông thấy thành công trước mắt dù rằng mới đứng chân trên bảy huyện ở Nghệ An. Trong thời gian này (khoảng 1650) Nguyễn còn thu phục được Joan da Cruz, một nhân vật Bồ lai Ấn, trở thành “người độc nhất đúc đại bác cho Chúa” (lời LM. Chevreuil cùng thời). Ông ta cùng với gia đình đã mở lò đúc đồng ở nơi mà ngày nay gọi là Phường Đúc, cho đến khi chết (1682) để người con kế nghiệp, và do đó đây là đại bác thực thụ chứ không phải những khẩu phá-sơn, máy bắn đá năm 1631 nữa. Về phía Đông Kinh, người Âu có mặt ở đấy cũng đã ghi nhận tính cách quẫn bách của chúa Trịnh trong việc đối phó với tình hình suy sụp quân sự nơi biên giới phía nam. Giữa lúc tranh chiến thì có lệnh duyệt tuyển quân lính (1658). Rồi cũng trong năm đó, triều đình cho phép người có tiền nạp lên thì được phong chức mà sử quan cũng không giấu diếm rằng đó là để chống đỡ cho tình hình tiền của hao hụt vì chiến tranh.

Tuy nhiên khả năng của Nguyễn vẫn là có hạn. Họ phải lấy nguồn lực tại chỗ để cung cấp quân nhu, nhân lực thế là gặp bất mãn của dân đất mới. Quân tướng đầu hàng thất vọng rục rịch quay giáo, gây khó khăn cho tiến trình tranh chiến dẫn đến các nhận định tình hình khác nhau của tướng tá, nhất là với hai nhân vật chủ chốt ở chiến trường là Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Hữu Dật. Quân Nguyễn đành phải rút về vị trí cũ, bỏ mộng tưởng tiến chiếm Đông Kinh thay thế chúa Trịnh mà lại còn phải chống đỡ cuộc tấn công tiếp theo năm 1661-1662.

Thời gian dài mười năm sau đủ cho Trịnh củng cố thực lực. Tuy còn những dây dưa lặt vặt nhưng họ đã đánh chiếm Cao Bằng của Mạc, thực sự cai trị vùng Thái Nguyên, bắt Vũ Công Tuấn về Kinh giam lỏng với tước hờ Khoan Quận công. Quyền hành tập trung hơn vào tay chúa Trịnh. Chưa lên ngôi chúa mà Trịnh Tạc đã được phong tước Vương. Thay thế Trịnh Tráng (1657), Tạc “được phép” chầu vua không phải lạy mà ngồi ghế cạnh vua, tự cắt đặt đầy đủ thượng thư các Bộ và xếp cận thần (Phạm Công Trứ) làm Tham tụng (1664). Phép Bình lệ tuy biếng nhác nhưng gọn nhẹ của Phạm Công Trứ đã hoàn thành năm 1669, cung cấp nhân lực mới và đầy đủ cho Trịnh. Thế là Trịnh Tạc mở cuộc tiến công lớn năm 1672.

Tính chất quyết liệt thấy rõ ngay ở lời hịch không còn nương nhẹ, nhắc chuyện xưa “ngầm mưu phản trắc… đốt phá sứ quán, mưu cướp sắc thư… (là) giống ác… nói năng hỗn xược…” và lời hứa hẹn “thắng lợi trọn vẹn, giết hết bọn phản nghịch mới thôi.” Số quân 10 vạn, nói tăng lên 16 vạn, Nguyễn cũng tổng động viên, nói phao 26 vạn. Nguyễn Hữu Tiến (1602-1666) đã chết nhưng Nguyễn Hữu Dât vẫn còn. Trận chiến giành giật ác liệt quanh luỹ Trấn Ninh ở địa đầu, mới đắp năm 1662. Chi tiết chiến trận chứng tỏ có vũ khí mới được Trịnh đem ra sử dụng. Sử quan Nguyễn ghi việc Trịnh “thả diều giấy nhân gió mà phóng hoả, hoặc bắn đạn lửa” thì cũng chẳng có gì lạ hơn nhưng Nguyễn Khoa Chiêm (Nam triều công nghiệp diễn chí) cho thấy Trịnh có đạn nổ mảnh (“một mẹ năm con” của Lịch triều tạp kí) – không hẳn là đạn như ngày nay nhưng chắc cũng là một hình thức nổ mảnh nào đó, khiến có người chết rất nhiều. Tập binh pháp Hổ trướng khu/xu cơ của Đào Duy Từ cho thấy không phải chỉ có loại tư tưởng chiến thuật chiến lược kiểu Tôn Tử mà còn bàn cả đến cách thức chế tạo đạn dược nữa.

Kết cục Trịnh cũng phải rút lui, sử quan họ không nói gì thêm nhưng tác động gây mất tinh thần của chiến trận thấy thật rõ về phía Nguyễn: Viên nguyên soái hơn hai mươi tuổi, Nguyễn Phúc Hiệp “dẹp giạc trở về, tuyệt hẳn không cho đàn bà con gái yết kiến, dựng am nhỏ thờ Phật… bàn đạo, thuyết pháp để tự vui.” Ông chết lúc mới 22 tuồi (1675) nhưng Nguyễn Hữu Dât già hơn nhiều (sinh 1604), sau khi chết (1681) được xưng tụng Bồ tát, hẳn cũng không khỏi là chịu ảnh hưởng từ những tàn sát ông chứng kiến nơi chiến trường.

Thế lưỡng đầu và cơ sở hạ tầng Trịnh Lê

Đã nói, một phần vì tôn chỉ phù Lê bắt buộc, một phần vì tầng lớp trí thức Nho gia được đào tạo không thể nghĩ ra được điều gì khác hơn nên việc sắp xếp cai trị trên đất Đông Kinh chiếm được, khi lộ diện trên văn từ thì thấy chỉ là lặp lại các chủ trương đời Lê sơ. Các cuộc duyệt tuyển cần người cho chiến tranh tuy không nói ra nhưng hẳn là theo thói quen từ thời Hồng Đức. Sự bám víu không cần phải e dè như trong lệnh 1638, người ta nói rõ là “theo quy chế đời Cảnh Thống thứ 6” (1503). Trong ý nghĩa này thì các chủ trương đưa ra lại chứng tỏ rằng tình trạng thực tại đã tệ hại hơn nên phải mượn “phép tắc thời bình” trước kia làm tiêu chuẩn. Có thêm gì mới thì cũng là căn cứ trên cơ sở cũ như lệnh lập thuế đinh năm 1625 là dựa vào sự phân loại các hạng dân năm 1470.

Thật ra thì như tất cả kết quả từ những cuộc chiến thắng khác, vị trí của những người cầm quân phải ở hàng đầu, cho nên vùng lãnh thổ của Trịnh chiếm được không phải là Đạo như trước kia mà là Trấn. Có 6 Ngoại trấn, và 4 Nội trấn (Sơn Nam, Sơn Tây, Kinh Bắc, Hải Dương) được Trịnh Tráng phong cho các em coi giữ. Hai trấn Thanh Nghệ là đặc quyền riêng của nhà chúa nấp sau Lê: vùng Thang mộc ấp với quân lính tuyển riêng, được tin cẩn, ưu đãi – Ưu binh. Chính cái hệ thống cai trị nửa vời đủ mọi chiều hướng như thế đã tạo ra một thế phát triển phồn tạp trên phần đất cơ sở hạ tầng của Trịnh Lê.

Điều quan trọng khác đối với người thời nay là chứng liệu lịch sử thời Trung hưng đã được lưu giữ tương đối nhiều hơn trước để chúng ta hiểu sâu hơn vào thời đại, tuy vẫn còn quá nhiều thắc mắc không giải thích được. Ít ra thì các lệ, lệnh lưu truyền đã cho thấy tính chất cai trị mang tính Gia đình Lớn đã có truyền thống từ lâu, và đến lúc này vẫn còn được bám sát khai thác. Vào dịp sinh nhật, giỗ chạp… của vua, chúa thì dân chúng (qua xã nạp lên huyện) phải cung đốn theo tiêu chuẩn tiền bạc rành rẽ với cấp bậc lớn nhỏ. Mỗi năm hai kì, lễ Thường tiên / Nếm trước là dấu hiệu lưu lại của ông chủ đất hưởng lộc cây trái đầu tiên: “trái chiếng” (chính). Cả nội cung, triều đình cũng hưởng theo đó với tên các lễ mà bây giờ không còn thích nghĩa được: lễ Biểu bài, Cẩn tiến, lễ Dựng bài gỗ… Ấy thế mà người ta còn nói rằng phải quy định cho có phép tắc chứ trước đó (1660) thì quan thu tiền vô tội vạ, nói tốt là “tuỳ hỉ,” gọi là lễ Biểu tâm! Quan nhậm chức có lễ Tạ ơn (Chúa), không nạp là phạm tội “bất kính,” chức vụ phải thu hồi. Về lại Kinh thì nạp tiền Lễ đài “đảm lễ,” nhận việc / nhận ấn cũng có lễ nạp, chi phí đó hẳn là lấy từ dân chúng vì quan đến nhiệm sở thì cấp dưới phải nạp lễ mừng. Có lễ Phụng lệnh Báo bẩm phải nộp bò, tổ chức thi hương cũng nạp tiền, chưa kể tiền cho lễ tế thần kì trong vùng, trong làng xã… Phan Huy Chú còn ghi nhiều bằng chứng hơn. Lê Quý Đôn vào Đàng Trong kêu rêu về việc chức quyền ở đấy bóc lột dân quá mức mà không nhìn lại xứ sở của ông.

Với tình trạng như thế dễ dẫn đến thắc mắc: Dân chúng lấy đâu ra tiền để nạp lên trên? Tiếng kêu than thì có lúc cũng vọng lên triều đình qua các ông quan lấy kinh sách ra đưa lời dạy dỗ người cầm đầu, chỉ trích thói nhũng nhiễu của người thừa hành mà không thấy khủng hoảng là ở ngay tổ chức, chế độ. Người ta chỉ có thể đưa ra biện pháp răn đe, trừng trị các trường hợp lộ liễu mà thôi. Và cũng có thể thi hành những biện pháp thoả hợp ngầm nhận với nhau. Triều đình không đủ khả năng thu thuế như ý muốn vì dân trốn lánh “oán than” nên đăt hạng ngạch cho cao rồi chỉ lấy bảy phần mười gọi là “để tỏ lòng thương dân” (1625), đến lúc khó thu hơn, lại chỉ lấy một nửa (1645)! Và lâu lâu lại có màn tha thuế, tha truy thu khi biết chắc không thể thu được. Thuế thu ít vì ruộng công bị dân ẩn lậu nhưng lại ra lệnh cấm tố cáo (1688), đó hẳn cũng là một biện pháp thư giãn cho dân có phần sở hữu cụ thể mà nạp thuế, cung ứng quan dịch. Làng xã “tự tìm nguồn thu nhập” được nên có thể mua lại tiền hát cửa đình vốn là của giáo phường được thu nơi biểu diễn (1664). Lê Quý Đôn đã thuật lại một trường hợp xảy ra trong kì kiểm kê ruộng đất năm 1667 chứng tỏ lối sống tinh ranh ở làng xã thoả hợp với tình trạng quan quyền đã đưa lại quyền lợi ở cơ sở hành chính thấp nhất này như thế nào: Một ông quan nhạn tiền hối lộ của làng mà không biết, cho đến khi được ý tứ nhắc đến trong buổi họp công khai!

Tất cả cho thấy chừng mực khả năng cai trị của người cầm quyền Trịnh Lê, và do đó, dù với tham vọng quản lí sâu sát, họ cũng phải nhường lại một phần quyền hạn cho lớp người lãnh đạo làng xã. Làng xã đã có tổ chức hoàn chỉnh hơn với tính cách một triều đình nhỏ ở địa phương. Đình làng có dấu vết xây cất cụ thể của một đơn vị từ thời Mạc, đến đây đã là trụ sở làng tuy vẫn còn vài dấu hiệu lạc loài như trường hợp đình Thưởng Xuân của xã Lương Xá, Bắc Ninh làm nơi hội họp, bàn việc công (1700) nhưng, như cái tên chỉ rõ, nó còn là chốn để “nghỉ ngơi, ngắm cảnh,” không có dáng giữ vị trí tôn kính của nơi ông thành hoàng ngự trị. Đình xã Mạn Đê (Hải Dương) lúc sửa chữa, nghĩa là mãi đến lúc làm mới, làm lớn ra vẫn còn là một đền thờ thần linh (bia 1677.) Thế rồi thật là quá muộn, xã Bình Lương (Thái Bình) nhà nhà giàu sang mà chưa có đình làm nơi hội họp, phải chung tiền xây cất (bia 1710.) Tuy nhiên thông thường thì đình làng lúc này đã có vị trí khẳng định trong sinh hoạt làng xã. Tháng 7âl. 1663, khi ban bố 47 điều giáo hoá, triều đình đã có nơi để phổ biến đến tận từng người dân: “Các nha môn Thừa Hiến, các xứ và phủ, châu, huyện đều phải sao thành một bản treo ở nơi coi việc và chuyển gởi tới các xã sở thuộc, mỗi xã đều viết ra bảng treo ở đình, cho các quan viên, giám sinh, sinh đồ, xã trưởng cứ đến ngày có việc làng thì hội họp đàn ông, đàn bà, người già, người trẻ đến giảng giải, hiểu thị…”

Thứ bực chức vụ cùng quyền lợi của các viên chức trong làng đã thấy thành hình rõ rệt (xác nhận về “ngôi hương ẩm” 1647.) Có khoán ước quy định chi phí, lệ biếu quan viên, hội tư văn, thật rành rẽ (bia 1656,) xác định quyền hạn xã thật rộng đến mức khá lạ lùng: Bia 1656 của xã Bình Vọng (Hà Tây) tự cho phép có quyền xử tử những ai lấn chiếm ruộng đất đã phân phối xong! Bằng chứng đó có vẻ cho thấy tính chất lộng quyền của làng xã trong biến loạn mà nổi bật nhất là vụ xã Đa Giá Thượng (Ninh Bình) chận bắt, cướp của giết người suốt trong 20 năm (1594), và bằng chứng từ Phạm Đình Hổ trong thế kỉ XVIII (cho đến 1800) về tình trạng một làng trong huyện Đường An của ông, hàng năm đã chận bắt người, giết để tế thần và cùng hưởng “lộc” thần thánh – vùng Hải Dương đó cũng là nơi của loạn lạc lâu dài. Tuy nhiên cái ảo tưởng về quyền lực lẻ tẻ ở cơ sở đó sẽ mất đi khi ta nhìn ra các bằng cớ về áp lực từ trung ương xuống buộc làng phải thi hành những nhiệm vụ không dễ dàng thực hiện tí nào. Vấn đề sưu thuế là chuyện thường tình. Điều đáng thấy là trách nhiệm tập thể được triều đình buộc vào tròng làng xã – một nguyên tắc cai trị căn bản có hiệu quả đến nỗi người Pháp sau này lúc mới đến cũng bắt chước theo. Kẻ làm loạn là dân làng, triều đình phạt xã, khi quan tróc nã tội phạm làng phải cung ứng cơm rượu hàng trăm mâm, và nạp tiền, khiến làng phải bắt con cháu phạm nhân nộp bù (lệnh chỉ 1655.) Lệnh phạt tập thể có khi rất nặng đến ngạc nhiên: Một người phạm tội, anh em không có tiền trả, làng bị phạt thay đến 800 quan (bia 1663,) trong khi việc dựng đình mới vào khoảng thời gian gần đó (1670) tuy có kể thêm vật dụng nhưng số tiền chỉ lên đến 160 quan!

Tình trạng “tự quản,” tự tìm thu nhập trong thế chịu đựng như vậy khiến làng xã phát triển một sinh hoạt thành nếp nổi bật trong thế kỉ XVII: lập hậu. Nhà nghiên cứu ngày nay (Phạm Thị Thuỳ Vinh 2006) sục sạo trong các thác bản, thấy bia hậu chiếm đến hơn một nửa trong số lượng bia của thế kỉ XVII, XVIII. Tuy tác giả đã căn cứ vào đó mà quả quyết rằng: “Lệ lập hậu chỉ có từ thế kỉ XVII trở đi” nhưng chứng dẫn từ các nguồn khác cho thấy dấu hiệu khởi đầu nổi bật là từ những nhu cầu, tính toán của tư nhân tận thời Lê sơ. Chỉ đến thời gian sau này chúng mới trở nên phồn tạp đến mức trở nên thường tình. Có trường hợp lập hậu nổi danh nhất nhưng khuất lấp vì nhân vật được thờ cúng lại vượt quá giá trị ban đầu của một hồn ma để trở thành bậc thần thánh thiêng liêng. Đó là việc lập hậu vì tuyệt tự của nhà hào phú họ Lê làng Vân Cát, huyện Thiên Bản (Nam Định), có kèm theo người con gái yểu tướng, không hiểu vì các nguyên nhân nào đã được đưa đẩy lên thành quái thần (Liễu Hạnh), càng lúc càng vươn xa tầm quyền lực siêu nhiên khiến bản giao ước được ghi lại trên các tấm thẻ đồng và được viên Huấn đạo địa phương Nguyễn Quốc Trinh phóng bút (1623); tập “Ngọc sách” đó được tìm thấy năm 1939 nơi vùng trú sở thứ hai của thần ở đền Sòng Thanh Hoá.

Người ta lập hậu để lấy tiền nạp phạt quan trên, lập hậu để xây dựng đình chùa, để làm việc công ích… Làng “mời” người có tiền của đến lập hậu, không chỉ là công dân trong làng mà là người ngoài, người ở tầng lớp trên vốn đã thâu tóm ruộng đất qua chức phận, quyền lực: Thái giám, cung tần… Thái giám nhiều quyền uy, nhiều về số lượng trong đời Lê Trịnh, cung tần cũng nhiều hơn đời trước vì đất nước có vua lẫn chúa, dưới ý thức hệ mới lại không thể trông coi ruộng đất như thời Lí Trần. Những người này phải lo lắng cho “đời sau” của mình, hơn cả những người thường khác trong ý định lập hậu: Thái giám vốn không thể có con, cung tần vò võ côi cút cũng không hơn gì thái giám. Chưa kể rằng thời thế mới đã đem lại một tôn giáo khác gợi sự an bình cho đời sau, cõi khác: Quan lớn chịu cải giáo trước khi chết, phi tần cao cấp có bà Madalena thứ phi của Trịnh Tùng, giống như bà Maria (1625), vợ thứ Nguyễn Hoàng ở Thuận Hoá. Vô vàn cớ để lập hậu (thần hay Phật) đã làm đậm thêm nếp sinh hoạt nối kết thực tế trần tục với cõi vô hình. Chính từ khả năng tự túc thờ cúng này mà sinh hoạt điện phủ đã vượt lên trên khuôn viên gia đình, làng xóm, địa phương, được khởi sắc thêm với các ông thần nho phát sinh từ sự rối loạn của chế độ lưỡng đầu Trịnh Lê, đến độ tách rời riêng thành một “đạo”: đạo Nội. Các ông quan bị thất sủng đó, len vào hệ thống điện phủ, không những làm đối trọng cho tính chất nữ nơi này mà có khi còn trên đà lấn lướt nữa. Cho nên có thể nói là đến lúc này, qua sự phối hợp trên đất trung châu, tập họp Mường Thái Lam Sơn đã đem đến cho đất Việt một hệ thống văn hoá tương đối chặt chịa, xuyên suốt: Một triều đại có tông phả cho vua, cho nước mang tính lí trí của truyền thống tổ chức xã hội Nho Giáo, một phức hợp tín ngưỡng Phật Đạo, đậm đặc hơn về phía quần chúng bên dưới với các Mẫu thể hiện cho dạng nữ của rừng núi, đồng biển nhưng ngược lên trên thì đầy dạng nam tính, từ hình trạng của Đức Thánh Trần mang tính lịch sử cụ thể, lôi theo các ông vua Hùng nhạt nhoà chen chúc với các ông Thiên sư, Thượng sư không phải vật vờ ngoài đất trời mà đóng chốt hẳn vào trong các đền/điện, và đang có đà bành trướng mạnh mẽ.

Sinh hoạt trí thức của làng xã nổi bật trong sự phát triển chữ nôm khiến triều đình phải lưu ý cảnh cáo trong bản giáo hoá 1663: “…các truyện quốc ngữ và thi ca đầy những lời dâm đãng thì không được khắc bản in ra làm tổn thương phong hoá.” Tất nhiên chữ nôm phát triển cũng có nguyên cớ là do bởi thời loạn lạc, việc củng cố chính quyền nằm trong tay quan võ, những người đi vào quan trường không cần nhiều “chữ” (Hán) nhưng “quốc ngữ” cũng phải dựa vào chữ Hán mới thành hình. Qua thi cử, chữ Hán đã đi đến tận làng xã, và như đã thấy, không phải ai cũng thành đạt trong trường ốc, lớp người thất bại này sẽ đem về xóm làng một hình thức chữ cố định cho các truyện kể, văn thơ vốn chỉ là truyền miệng lâu nay. Có quần chúng có tiền của riêng, loại văn thơ này được phổ biến rộng, duy chỉ vì nguồn gốc cảm hứng không phải từ trong khuôn khổ chính thức nên gây lo ngại cho triều đình khiến cho có lẹnh răn đe như ta đã thấy. Ấy thế mà lệnh dù qua lời khuyên, dù bằng văn bản như về sau vẫn không ngăn được sự phát triển của nó, một phần vì cái thế giằng co ngay trên thành phần tột đỉnh của quyền lực đã khiến buông thả một phần cho bên dưới. Vả lại nhìn kĩ thì đó chỉ là lệnh cấm một bộ phận chứ không phải là toàn thể văn nôm, bởi vì văn thơ nôm đã xuất hiện dài hơi, và ngay các chúa Trịnh cũng làm thơ nôm.

Rõ ràng nhìn chung thì thế kỉ XVII đã tạo dựng căn bản cho một xã hội Việt Nam truyền thống ở cấp bậc cơ sở, giống với ngày nay hơn là với các thế kỉ về trước của nó.

bài đã đăng của Tạ Chí Đại Trường


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)