Trang chính » Sáng Tác, Truyện vừa Email bài này

Gió Mỗi Ngày Một Chiều Thổi- Chương 1: Madeleine

 

Cứ nghĩ về các chị là tôi thấy vui buồn lẫn lộn, nhưng lạ, lại thấy êm êm. Có thể mấy chị chẳng thích tôi nói gì về mấy chị đâu, cái chuỗi thời gian có thể là buồn tủi, có thể là không hay ho gì, cũng có thể bây giờ nếu còn sống, mấy chị cũng đã suýt soát cái tuổi gần đất xa trời với mẹ, mẹ tám mươi sáu, ở cái tuổi này, nói gì hay hay dở về họ cũng chả ăn thua.

Căn phòng hồi đó gọi là nhà chúng tôi, bề ngang năm, bề dài bảy mét, nhà chúng tôi, mẹ và bốn con, chạy loạn từ Ðà lạt xuống thành phố này. Bà mẹ trẻ, (trời!) chỉ xấp xỉ ba mươi, chị em chúng tôi lóc nhóc từ bảy đến đứa út nhất một tuổi. Bác Hồng Nhật, cậy cục nhờ mãi chú Thiện (gầy, hàm răng ố vàng khấp khểnh,) viên chức nhỏ của tỉnh đường Nhatrang, dù gì cũng là viên chức chinh phủ, đã đứng ra ký giấy mướn căn phòng của chính phủ, rồi trao lại cho mẹ con tôi. Cũng là đồng bào mình giúp đỡ lẫn nhau, cho người có chồng đi tù vì chống Pháp, chú nghe lời bác Hồng Nhật thở dài nói vậy.

Tối tối, đội quân patrouille Pháp mặc đồng phục cứt ngựa, giày ống trắng, dây nịt da trắng, nón nồi trắng, súng tiểu liên tuốt trần đen ngòm đi tuần tiễu, họ thường quát hơn là nói, những tiếng quát lạ tai thình lình đột ngột bật vang lên trong đêm tối nghẽn, giới nghiêm, không có lấy một tiếng chó sũa ở cái thành phố vốn vắng vẻ rờn rợn lưa thưa, nay bắt đầu sống lại một chút theo lớp người tản cư đang lục tục trở về .

Một vài đêm, một tiếng nổ lớn đâu đó bùng lên, và sáng mai trên đường đi học, tôi nghe người lớn thì thào, đêm qua, mấy ổng về núp trong các thùng tô-nô sắt (thùng đục thủng bao chung quanh các cây con mới trồng hai bên lề đường Graffeuil, phố chính) mấy ổng đã nhảy ra ném lựu đạn, tôi mơ hồ cố hiểu. Mấy ổng, họ là những người cùng một phe với ba tôi, và ba hãy còn sống đâu đó chứ không chết như trong giấy khai sinh đi học của chúng tôi?

Đêm khác, đám lính tuần xông thẳng vào nhà, giở giường lục chiếu để lùng xét Việt Minh, mẹ và em bé út ngủ trên giường kê bên cửa sổ, và đám ba chị em tôi chen chúc trong đi-văng gỗ kê sát góc phòng, bừng tỉnh dậy ngái ngủ, ngơ ngác.

Ở căn nhà đó, tôi sáu tuổi, bắt đầu đi học với một bản thế vì khai sinh nói dối là cha đã chết.

Kỷ niệm về ba, khi chưa đến tuổi đi học, khi ba còn ở tù và chưa bị trục xuất ra chiến khu, đôi ba tháng một lần, cả gia đình đi ra mé biển thăm ba vào những kỳ ba được xuất lao đi làm tạp dịch: lượm rác, nhổ cỏ, dọn dẹp bãi biển, với một đám các bạn đồng tù, do một anh lính canh dẫn đi. Mẹ bắt được tin, nấu một nồi chè thật lớn, và tất cả đám con nít rộn rịp bận bịu tung tăng như ngày hội, ngày duy nhất trong mấy tháng dài buồn, lê thê và trơ trọi, chúng tôi được mặc áo quần đẹp, được ngồi xích lô ra biển với mẹ, và với một nồi chè đậu ván đặc, đường đen, vàng ươm và thơm ngát dưới chân.

Tôi lãnh trách nhiệm (lon ton) chạy tới gần anh lính, mẹ nhắc, nhớ khoanh tay, rồi đưa bằng hai tay gói thuốc lá thơm cho ảnh, rồi tất cả đám tù có ba tôi ở đó xúm quanh nói vào, coi như may quá, hôm nào người lính nhận gói thuốc thơm, là bọn bạn tù đuợc xúm xít ngồi quanh nồi chè đậu của mẹ đãi ngay trên bãi biển.

Chúng tôi vây quanh ba, ba ôm đứa này, vuốt tóc hôn đứa kia, nhìn mẹ tôi nói gì đó, rồi lại ngó lơ ra. Mẹ nói chúng tôi buông ba ra để ba đi ăn chè, nhưng ba tôi lắc đầu, giữ chúng tôi lại. Cứ như hồi ba còn ở nhà, mỗi sáng thức dậy, chúng tôi chen lấn nhau nhảy lên giường ba, giành nhau ôm đầu, ôm cổ, xới đầu tóc ba rối bù lên, ba cũng mặc kệ, vì ba hiền hơn mẹ, chúng tôi thích ba hơn.

Mặt mẹ vẫn phảng phất nụ cười, dù bị anh lính quát và xua đi, ít khi tôi thấy mẹ cười. Tôi thấy mẹ mình thật gan dạ, thật can đảm, chả biết tại sao.

Nhưng cũng có những hôm, mẹ và chúng tôi kêu xích lô chạy vòng vòng dọc đường biển vẫn không thấy bóng dáng ba và đám bạn tù đâu, mẹ rầu rầu chở nồi chè về. Chiều tối hôm đó, mẹ không ăn, ngổi nhìn chúng tôi ăn chè trừ cơm.

Chúng tôi ở tạm nhà bác Hiên trước khi dọn đến ở gần mấy chị. Các chị đông, nếu ráng nhớ, tôi nghĩ cũng có thể các chị ở chung như thế có thể đến sáu bảy chục người. Nếu kể luôn cả những người làm việc ở đó như chú Bảy Tạo làm thơ ký đánh máy, ông Bảy Tân làm kế toán, anh Tấn phát lương, các bà Marie, cô Tám, cô Tư Monique mắt giả làm quản lý, chị Chín Lùn…số người dưới quyền của bà chủ Madeleine có đến gần cả trăm, hình như vậy.

Bà chủ Madeleine, không cao không lùn, nước da đen bóng lạ lùng, đen hơn bất cứ một người nào tôi đã gặp xung quanh lúc đó. Hiếm khi tôi được thấy rõ mặt, hay nghe bà nói gì, thỉnh thoảng chỉ thấy, hoặc nghe bà nói từ xa, giọng lơ lớ khó nghe. Mái tóc đen dài, loăn xoăn, thường thả xuôi theo vai hơn là kẹp lên, hai màu vàng và đỏ là áo quần thường mặc của bà, váy vàng dài, áo ngắn tay đỏ rực rỡ, và rất nhiều vòng vàng, bông tai, dây chuyền, vòng tay bằng vàng y, vàng rực chói chang dưới nắng, tương phản với màu da đồng đen bóng của bà.

Mẹ và hầu hết các người hàng xóm trong khu nhà gồm sáu căn của khu chúng tôi thường tỏ vẻ kính trọng đặc biệt, mỗi khi bà có việc đi ngang, mọi người đều cất tiếng chào:

"…Chào bà chủ! …Chào bà chủ!"

Bà chỉ hơi nhếch miệng bí mật cười, khẽ gật đầu. Ði ngang các dãy dây cột hai bên khu nhà để phơi quần áo, dù có hay không có quần áo đang phơi trên dây, bà cũng lấy tay thận trọng che đỉnh đầu.

Các chị có dịp run rẩy xì xào:

"Bà chủ nuôi ngãi linh lắm, không để đồ dơ bẩn vướng qua đầu được."

Các chị thường ngồi lê thoải mái ở nhà chúng tôi những giờ rỗi việc, thường là ban sáng. Nhưng các chị không chỉ thường ngồi chơi suông. Chị thì nhờ mẹ viết cho cái thư gởi về gia đình, gởi cho má, gởi cho em, và mượn địa chỉ nhà tôi để nhận thư trả lời. Tất nhiên là các chị trả thù lao cho mẹ, có lẽ không tệ, vì tôi thường thấy các chị có rất nhiều tiền. Có những hôm chắc là ngày lãnh lương, các chị móc trong áo coóc-xê ra rớt vải từng cục tiền vo nhỏ, lung tung.

Có hôm tôi vơ vẩn đứng gần, có chị ngần ngừ nhìn tôi rồi vất đồng bạc kên ra bàn kêu cái kẻng, kêu:

"Em nhỏ, cho mày cắc bạc nè!"

Mẹ có nguyên tắc căn dặn bất di bât dịch nhiều lần là không được nhận bất cứ tiền của ai cho chớ không riêng gì của mấy chị, tôi lặng yên trố mắt đứng nhìn.

Mẹ ngồi cạnh bình tĩnh nói:

"Tui không cho tụi nhỏ lấy tiền của ai đâu, mấy cô cất lại đi!"

Và quắc mắt nhìn tôi:

"Ra chỗ khác chơi!"

Hoặc:

"Ði làm bài đi!"

Tôi ngồi xa xa gần gần mấy chị, vừa học bài vừa nhìn trộm, hoặc hóng chuyện từ xa. Nhìn ngắm tự do, hóng chuyện tự do, và nhà chật, tôi thường chỉ ngồi cách các chị trong vòng một, hai mét, chuyện gì tôi cũng thấy được, cũng nghe được, nhưng như một giao ước bất thành văn giữa mẹ và các chị, tôi không hề được chen vô nói với các chị, và ngược lại, các chị chỉ nhìn chúng tôi mà không thấy nói gì. Tôi thấy tôi rất muốn gần gũi với các chị khi các chị trìu mến chăm chú nhìn tôi, nhưng có thể vì sợ nét mặt quá nghiêm trang của mẹ nên các chị cứ xa xa gần gần…

Một bữa, chị Chín đến nhà. Các chị gọi mẹ tôi là cô Ba, và mẹ dặn chúng tôi kêu các chị bằng chị, bất kể tuổi tác lớn nhỏ. Đối thoại của tôi chỉ vỏn vẹn là để trả lời những câu hỏi tương tự như má có nhà hông em, về nói má lát chiều chị Sương ghé lại, bữa nay chị không học ngày mai học tiếp…Hôm đó, chị Chín Lùn đứng nhìn tôi tập viết, Chín bỗng nẩy ý nói với mẹ xin học đọc với mẹ, và sau đó, có thể xin học viết luôn, để có thể tự đọc và tự viết thư cho mẹ chị.

Chín Lùn chỉ cao nhỉnh hơn tầm tôi một chút, năm đó tôi tám tuổi, chắc tại vậy nên chị vui vẻ để mọi người gọi là Chín Lùn vì chị đã là người lớn, sao chỉ cao bằng đứa bé tám tuổi? Những lần sau, mỗi lần rảnh, chị thường trực qua nhà tôi ê a: a, bê, xê, dê, đê. Chị hay quên và luôn miệng hỏi tôi nhắc cho chị đọc, e, gê, hắc… rồi sao nữa em nhỏ?

Mấy chị gọi chị Chín là cô Chín, cô Chín đi đến đâu là loảng xoảng tiếng chìa khoá vang đến đó. Chị không phải là gái, chị giữ chức giữ chìa khoá cho hơn hai chục phòng làm việc của gái.

Một hôm, chị Chín ngẩn người nhìn tôi cầm quyển Tập Ðọc Vui lớn tiếng ê a đánh vần, hết dòng này qua dòng khác, chị ngạc nhiên lắng nghe, và các chị khác cùng ở đó cũng cùng nghe. Những lần sau, lần nào tôi thỉnh thoảng tập đọc, với một chút tự hào và hãnh diện, mẹ tôi cho phép các chị ngồi vây quanh nghe tôi tập đọc. Quan Carnot về thăm trường, Mai ăn khỏi trả tiền…Tôi thích những giờ tập đọc chung tình cờ như vậy hơn là những giờ làm toán hai cọng hai là bốn lặng lẽ chán ngán, buồn ngủ, một mình. Mẹ lắc đầu, con nhỏ này rồi sẽ tào lao vì không chịu giỏi tính toán.

Tôi cũng có khá nhiều dịp tình cờ trông thấy các chị từ đằng xa. Trước xóm, cây bàng cổ thụ toả bóng mát rộng, và gió lồng lộng, nhờ các chị, gốc bàng bỗng biến thành một khu chợ nho nhỏ bán đủ các thức ăn vặt, và ăn sáng, trưa, chiều, tối. Những món đắt tiền xa xỉ đối với tôi hồi đó như hột vịt lộn luộc nóng ăn với muối tiêu rau răm, chè xu xa trong suốt, hột lựu đỏ, chan nước cốt dừa trắng muốt, chế thêm nước đường vàng, ngày nào cũng có chị ăn. Các chị ăn bún, ăn phở, ăn cháo lòng ở các gánh bán dạo, bà Tú đặt gánh rồi lót đòn gánh ghé ngồi lâu dưới gốc bàng, các chị ngồi lổm ngổm thấp cao, và thoải mái trên đám ghế gỗ lùn lúp xúp xung quanh. Hoặc ngồi chồm hỗm bên hàng chuối chiên, khoai lang chiên, bắp nướng, dường như chỉ để tán chuyện với người bán hàng hơn là ăn các món quà vặt thường dành cho bọn con nít thỉnh thoảng có tiền ăn quà này như chúng tôi.

Có hôm các chị mặc váy dài, áo ngắn hở bụng, phấn son đỏ loét, có khi chỉ mặc bộ bia-ra-ma bông rằn ri xanh đỏ, mặt mày tiều tuỵ, môi thâm hốc hác.

Tôi đứng xa xa, những khi phải ẵm em thì không được chơi trò gì với bạn, ngắm chừng coi các chị đỡ buồn.

Buổi chiều trước chạng vạng khi đường phố gần sáng đèn, nhà việc dập dìu lính tây, xe jeep nhà binh, các chị dập dìu son phấn ra vào, đèn đuốc sáng choang, nhạc tây chộn rộn từ mấy cái máy hát quay tít. Các chị đứng ưỡn ngực trước cửa nhà việc hút thuốc tây phì phèo, phà khói, nói tiếng tây với lính tây đội mũ nhọn ca-lô hay nón nồi tròn đít bằng chen chúc đứa ra đứa vào. Moả già ba cô nết, moả săng phú toa, ắt tăng xông, toa pạc lê quà, họ nói tiếng tây với nhau, tôi nghe hoài nên nhớ, dù không hiểu. Sáng ra, nhà việc lại vắng teo đóng cửa, trưa, mặt trời lên cao và cây bàng toả bóng, gió mát leo reo thổi tới, các chị lại bơ phờ, hoặc diêm dúa túa ra ăn quà vặt dưới gốc bàng.

Các chị mua bán làm ăn giao dịch có khi rất thân mật nhỏ nhẹ với vài người, có khi với các người khác, các chị chửi thề đụ má đụ mẹ liên miên. Không bao giờ tôi chào hỏi các chị, và cũng vậy, các chị không bao giờ chào hỏi bọn tôi, dù tôi biết rõ tên từng chị, có khi biết cả chuyện gia đình của mấy chị, qua mấy lần chị nhận được thư gởi qua điạ chỉ nhà tôi, má tôi nhắn, và chị vội vã qua, vừa quẹt nước mắt thút thít vừa nghe má tôi đọc thư. Ðọc năm bảy lần chán, má tôi không đọc nữa, chị lại rình chờ giờ má tôi đi chợ, hớt hải ngoắc tôi ra, đọc lại cho chị nghe. Thư đã cũ, vậy mà tôi càng ráng đọc to sợ chị không nghe được, chị lại càng khóc rống lên to hơn.

Chín học hoài cũng không biết đọc nên cứ tiếp tục trả tiền nhờ má tôi viết thư.

Tôi tình cờ ngồi học bài kế bên hóng chuyện chị Lệ kể về chuyện bà chủ. Em đang ở quê đi mót củi gánh về làng, đang đi dọc trên quốc lộ, bà chủ ngồi xe ríp với ba thằng tây, hai thằng rượt bắt hai chị em gánh củi, nhét giẻ miệng trói lại, vất vô thùng xe, chở về. Bà chủ cho thằng tây hiếp liền hai chị em rồi cấp giấy chứng nhận cho hai đứa tụi em làm gái.

Chị Lệ cũng muốn nhờ mẹ tôi viết thơ về cho má chị vì chắc tới giờ má chị cũng chẳng biết chị đang ở đâu.

"Nhưng em không đi học, không biết chữ nên cũng không biết chắc viết làm sao, tên làng xã em là Kỳ Lam, Kỳ Sơn giống gì đó. Xóm tên Xóm Củi. Con bạn bị bắt một lần sau đó họ đem nó đi đâu, hồi nào, em cũng không hay."

Chị chép miệng thở dài,

“ Bà chủ muốn kêu tây bắt ai mà chẳng được…”

Mặt mẹ thoáng khác đi.

Mẹ nói, chắc chị người vùng núi gần Qui nhơn, tại nghe giọng chị vậy, nhưng địa chỉ không biết thì làm sao gởi thư.

Chị Tùng đẹp nhất đám, mẹ nói chị này nói giọng miền nam rất nhỏ nhẹ, còn tại sao chị hay buồn, hay khóc, và nước da trắng xanh vì bệnh hay không thì tôi không biết. Chị trả tiền nhờ mẹ tôi thêu một đôi chim sẻ màu hồng đậu trên một nhành bông xanh trên chiếc khăn tay để tặng anh Tấn phát lương. Anh Tấn, cháu họ xa của bà chủ, anh nói anh ở vùng quê bị Việt Minh chiếm, và bị họ bắt hụt mấy lần, anh chạy thoát được vô đây làm việc giữ sổ sách phát lương cho bà chủ.

Tôi nghe chuyện, băn khoăn, không ai nói, nhưng tôi mơ hồ biết ba tôi đang theo Việt Minh ở đâu đó, dù ai hỏi thì nói cha chết, nhưng những khi một mình với mẹ, mẹ buột miệng nói, thế nào rồi ba cũng về, nhưng tụi con nhớ đừng nói với ai. Việt Minh có tốt không? Mấy ổng trốn trong thùng ươm cây để liệng lựu đạn, cũng mấy ổng rượt bắt anh Tấn nên anh Tấn sợ bỏ trốn ra thành phố. Mấy khi cao hứng anh Tấn lớn tiếng ngâm nga “bao giờ kháng chiến thành công, cụ Hồ ra lịnh một ông mười bà” là nghĩa gì?

Không ai trả lời tôi mấy câu hỏi đó, và tôi cũng mơ hồ tự biết là không nên hỏi. Nhưng trái tim vẫn đập mạnh mỗi khi hóng hớt những chuyện này.

Anh Tấn là bồ chị Tùng? Chị hay buồn hay khóc và thỉnh thoảng buổi tối, trong góc sân le lói ánh đèn giữa xóm tôi và nhà việc của các chị mà mọi người gọi là Nhà Bộc Ðền, tôi tình cờ nín thở thấy anh Tấn ngồi gần chị, ôm, vuốt ve chị, và hai người nói gì đó nho nhỏ, và chị thì cúi mặt, lấy tay quẹt nước mắt rớt ròng ròng.

Nhà Bộc Ðền, dãy nhà bên cạnh xóm tôi, là một cái tên êm đềm dễ nhớ và khó quên lúc tuổi nhỏ. Ở đó, có mấy chị có thể dữ tợn với mấy người bán hàng khác nhưng hiền hậu và thật thà đối với má tôi và chúng tôi. Bọn con nít không có quan hệ với mấy chị, mấy chị cũng không biết chúng tôi tên gì, cứ gọi gộp chung một đám là con cô Ba.

Có lần tôi chơi đạp lon, từ chỗ núp lao ra xí lon nhanh quá, lỡ húc vô bụng một người đi đường, ông này bậm trợn giận dữ chụp tôi lại, và giơ tay định tát. Chị Lệ đứng gần đó ngó thấy, hét ra:

"Ê ê, ỷ lớn tính đánh con nít hả?"

Ông bậm trợn trợn mắt nhìn thấy chị, thả tay tôi ra rồi quay mặt nhổ nước bọt đánh phẹt xuống đất, bỏ đi.

Chị bỗng dữ tợn lên, bỏ dép chạy chân không rượt theo người đàn ông, miệng chửi vói:

"Dám ăn thua đủ với tao không? Làm đĩ rồi, không sợ thằng điếm thúi nào đâu?"

Một buổi tối, chị Chín đem đến cho nhà tôi một trái mít thật to, chị nhìn lướt qua tôi, rồi nói chậm rãi:

"…Mua cho cái con nhỏ đọc chuyện!"

Chị trả công những giờ tập đọc không công của tôi.

Chúng tôi ăn mít chín thơm lừng, ăn cả hột mít luộc sau khi đã lùi tro, hột mít lùi tro ăn no té địt, giữa khi tôi đang sang sảng đọc chuyện, dạo này tôi đã thạo nên có thể đọc một hơi suốt một chuyện dài, đang đọc, tôi đánh đùng một cái thối om, các chị bịt mũi lăn ra cười nghiêng ngã, tôi thì đỏ mặt tía tai mấy ngày sau không dám ló mặt ra, khi các chị tới tụ họp chờ nghe tôi đọc chuyện tiếp.

Bộc Ðền, ở đó, có bà chủ kỳ bí mà các chị và cả má tôi và nhiều người hàng xóm nữa đều rất nể sợ. Còn tôi thì chưa bao giờ có dịp và cũng chưa lần nào dám nói chuyện gì với bà.

Tôi hay nói về các chị như là gộp chung một gói, các chị, các chị, nhưng nghe mấy chị ghiền coi bói nói với nhau, không có chỉ tay ai giống với ai hết nghen, mấy chị khác nhiệt liệt gục gặc đầu, thì như ông Bảy Tân nói, đã vô đây rồi thì đừng hòng có trốn ra, mấy người đã lăn tay đóng dấu với Sở Mật thám rồi, không có vân tay người nào giống với người nào đâu.

bài đã đăng của Nguyễn Thị Hoàng Bắc


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch