Trang chính » Phỏng vấn, Xuân Bính Thân: Đối Thoại Email bài này

Phỏng vấn Xuân Bính Thân – Trịnh Cung

1 bình luận ♦ 12.02.2016

 

TrinhCung-pvXBT

Sinh 1939 tại Nha Trang, từng là thành viên của Hội Họa sĩ Trẻ Miền Nam giai đoạn 1966-1973, Trịnh Cung còn gắn bó với văn chương. Sau thi phẩm Cuối Cùng Cho Một Tình Yêu, tạm cư tại California.
Trịnh Cung viết nhiều tiểu luận về mỹ học và hội họa.

Tác phẩm đã xuất bản:

Echo of The Land
Hội họa Việt Nam và những vấn đề xoay quanh (tiểu luận)

 

Trần Vũ: Marc Lévy viết trong Ngày Đầu tiên (Le Premier Jour): “Có những ngày thắp sáng bằng những khoảnh khắc ân sủng. Một mùi hương làm linh hồn bạn tươi vui, một tia mặt trời lướt qua khung cửa, tiếng động của trận mưa rào khi còn trong chăn gối, những vỉa hè phủ tuyết hay sự xuất hiện của mùa Xuân làm nẩy những nụ mầm.” Tôi muốn biết khoảng khắc thắp sáng của một họa sĩ, là anh, trong thập niên 60 khi anh còn là một họa sĩ trẻ. Bên cạnh ánh sáng thường là những vũng tối, Tết Nguyên đán của tù cải tạo Trịnh Cung ra sao sau 75, anh còn kỷ niệm nào?

Trịnh Cung: Những vẻ đẹp khác nhau tùy theo đường đi của thời gian mà Marc Lévy đã nhận ra bằng ánh sáng của một tâm hồn đang yêu đời và cuộc đời mà ông ấy đang trải qua lúc đó phải rất an lành. Thời hoạ sĩ trẻ của tôi không được như vậy. Thời của thế hệ chúng tôi, cuộc đời những người vừa lớn lên ở bên này sông Thạch Hãn, vĩ tuyến 17, sau hiệp định Genève, ánh sáng và bóng tối thường lẫn lộn, chợt sáng chợt tối. Có những cái chết về giữa cuộc vui nơi thành thị và người lính trẻ cũng thường mang theo cây đàn và chai rượu ra chiến tuyến.

Tuổi trẻ tôi không có nhiều những ngày thắp sáng như Marc Lévy dã có, ông thật may mắn, nhưng chúng tôi cũng có những may mắn từ cái thứ ánh sáng chợt bừng chợt tắt của riêng đất nước tôi. Tôi ra trường mỹ thuật năm 22 tuổi, năm 24 đã mặc áo lính, từ đó đối với tôi ngày và những vẻ đẹp 7 màu của nó đã hoá xám xịt, màu của chiến tranh. Gần như tôi có rất ít những cảm giác của vẻ đẹp thơ mộng, yêu kiều, ngược lại là những bi quan và thất vọng về cuộc sống nên hội hoạ của tôi thường mang vẻ u buồn, ảm đạm từ màu cho đến hình tượng. Các bức tranh tôi được biết đến như Mùa Thu Tuổi Nhỏ (1961), Trên Vùng An Nghỉ (1963), Đứa Trẻ Du Ca (1969) và Cuộc đầu Hàng Của Gia Đình Tôi (1974) là những ví dụ như thế. Không biết tôi đã tự đánh mất những ngày thắp sáng bằng những khoảnh khắc ân sủng hay một mùi hương… hay tôi được sinh ra đã là như thế? Dẫu sao, những gì đã xẩy ra cho tôi đến ngày hôm nay đều là ân sủng. Tôi đã được Thượng Đế casting một vai như thế theo kịch bản của Ngài và đã dẫn dắt tôi làm tròn vai diễn của mình, ít ra là cho đến ngày hôm nay.

Về vùng bóng tối từ khi tôi đi tù "cải tạo"?

Chỉ 3 năm thôi. Hay chính xác là 2 năm 11 tháng 9 ngày. Đó là bóng tối chung cho những người Miền Nam Tự Do. Như thế là thật ít so với anh em khác, những người đã phải chịu đến 10-15 năm tù đầy ở những nơi rừng thiêng nước độc. Nhưng kỳ lạ thay, dù mùa xuân thật sự đã chết đối với chúng tôi như câu thơ của anh Tạ Ký, một bạn tù ở trại Xuân Lộc đã viết:

Có bầy én về
Không phải để báo tin xuân
Vì anh biết mùa xuân đã chết
Có bầy én về tìm ruồi trên giây thép
Chuỗi hạt huyền vỡ tan

Chính cái hoàn cảnh sống không còn mùa xuân như thế, những con người như chúng tôi, không mong đợi một điều gì tốt đẹp ở ngày mai, thời gian là lưỡi hái lơ lửng trên số phận, mùa xuân là đóm lửa trên miệng thuốc lào, mùa xuân là cú ngã úp mặt xuống cạnh bếp lửa buổi sáng tinh sương trước giờ đi vác nứa, vác củi hoặc đi cuốc. Tôi đã không còn hy vọng gặp lại vợ con vì chẳng có bình minh nào ở chân trời lúc này chỉ thấy mây trăng quấn vành khăn tang mỗi buổi mai trên ngọn núi Bà Đen ở Trảng Lớn-Tây Ninh hay mưa sa buồn thảm xuống ngọn Chứa Chang ở Long Khánh vào mùa mưa miền Nam.

Ở đây thôi ở đây đành
Sáng ra núi ngóng, chiều mênh mông chờ

(Trong “Ở Đây Thôi Ở Đây Đành,” Trịnh Cung)

Suốt thời gian một năm ở Xuân Lộc-Long Khánh, tôi không được thăm nuôi vì vợ tôi không có tiền để đi thăm nuôi, nên tôi được anh em tù cho ăn theo, tôi nhớ Lê Đình Điểu, Nguyễn Mai Chửng, những món quà Tết như cà phê, bánh kẹo, đường, thịt kho ruốc, do các bà vợ mang đến.

Quà 3 ký

Em cột giây rất kỹ
Như sơi tơ tình
Em cột chặt đời anh
Em giờ chạy cơm từng bữa
Đâu kịp ngồi tô lại chút son
Ôi má hồng xưa nay đã hóp
Vì chưng lỗi nhịp một cung đàn

“Quà 3 ký,” thơ trong tù của Tạ Ký)

Và nếu thật sự có một mùa xuân trong trại tù, một cái xuân khủng khiếp ở Xuân Lộc năm 1977, "xuân" đến không phải vào đêm giao thừa mà vào khoảng 5 giờ chiều bằng những tiếng nổ của đạn pháo, những thằng tù chúng tôi reo lên: "Tới rồi, tới rồi!!!". Chỉ vài giây sau, cả đám chạy tán loạn, tìm chỗ núp. Tôi ở gần suối, dãy nhà gia binh của sư đoàn 18 bỏ lại, mạnh ai nấy núp, tôi nhặt miếng ván nhỏ cầm che đầu, trên là mái tôn, vách gạch 10 phân. Tôi ngồi giữa 2 bạn tù, anh bạn bên trái tôi trúng một quả 155 ly không nổ, đầu đạn xuyên đứt đùi trái. Nửa giờ sau, trại tôi bỗng trở thành bãi chiến trường, bom bay đạn lạc, tôi không nhớ được bao nhiêu bạn bị thương và chết, chỉ nhớ Liêm. Chiều hôm đó, Liêm đang chơi mạc chược với Lê Đình Điểu (bộ cờ này do tôi và Lê Đình Điểu làm từ gỗ thùng đạn để giải trí vào những lúc nghỉ sau cơm chiều hay ngày nghỉ lao động),… thì tới phiên đi nuôi heo, Liêm đứng lên, xách thùng cám heo đi về phía cầu sửa xe, nơi có chuồng heo thì một loạt tiếng nổ xảy ra và sau đó Liêm nằm chết dưới chân cầu sửa xe.

Và, tôi may mắn sống sót để năm sau được thả về từ trại Hóc Môn vào tháng 5, 1978.

 

Trần Vũ thực hiện áp Tết 2016
Bản giấy in lần đầu trên đặc san Xuân Bính Thân của tuần san Trẻ Dallas

bài đã đăng của Trần Vũ


1 bình luận »

  • Nguyễn Nhân Trí viết:

    Có bầy én về
    Không phải để báo tin xuân
    Vì anh biết mùa xuân đã chết
    Có bầy én về tìm ruồi trên giây thép
    Chuỗi hạt huyền vỡ tan (TK)

    Tôi có hân hạnh được học môn Kim Văn với thầy Tạ Ký (Petrus Ký – 1970). Một giáo sư phóng khoáng (“chịu chơi”), một thi sĩ tài ba (tôi vẫn nhớ tập thơ “Sầu Ở Lại” của thầy). Nghe nói thầy qua đời năm 1979 vì bệnh vướng phải từ những trại tù “cải tạo”. Đáng tiếc.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch