Trang chính » Học Thuật, Lịch Sử Email bài này

Sơ Thảo: Bài Sử Khác Cho Việt Nam* – Chương 10

CHƯƠNG X:

CUỘC PHÂN TRANH ĐÔNG VIỆT và TÂY VIỆT

Sự khủng hoảng danh vị gốc rễ của bản thân Lê tộc trong tình hình phát triển của Đại Việt

Hiến Tông lên ngôi tuy nói rõ là theo đường lối của ông cha quyền uy nhưng cũng thoáng thấy những dấu hiệu khủng hoảng của thời đại. Trước nhất là ông thấy sự sa đọa trong tập họp gần gũi gốc gác của dòng họ, một tập họp quan chức song hành với hệ thống tuyển chọn khoa mục, được đặt rải rác từ trong ra ngoài để bảo vệ vương tộc. Hệ thống quản lĩnh, thủ lĩnh đó, như đã nói, càng lúc càng mờ nhạt danh vị, càng rối loạn hư nát. Chiếu chọn chức thủ lĩnh một năm sau khi lên ngôi (1498) đã có nhận xét: “Nay những người ở chức (thủ lĩnh) ấy… hùa nhau làm trò nhơ nhuốc, mặt dày nịnh bợ, quỳ gối chui lòn, nuôi chứa lòng gian, gây mối tệ hại không sao kể xiết…” Tình trạng đó không xảy ra cho chỉ một bộ phận cai trị mà lan khắp “quan viên quân sắc trong ngoài cả nước” như lời thống trách trong tờ chiếu tiếp theo: “Việc quân việc nước không lúc nào hư hỏng bằng lúc này.” Nhưng điều này thì lại là định mệnh chung cho các vương triều phương Đông mà Lê noi theo. Mỗi một triều đại khi hưng thịnh theo một ông vua xuất sắc thì cũng suy tàn theo với những người kế nghiệp an hưởng trên sự thịnh vượng kia. Lẽ tất nhiên có thể tìm hiểu ở các nguyên cớ sâu xa hơn nhưng với tính chất tập trung quyền bính vào một tông tộc như đã thấy thì trách nhiệm của dòng họ cầm quyền, của người đứng đầu dòng họ cũng không thể là ít.

Dù rằng ngày nay có người cố tìm dấu vết thương nghiệp trong đời Lê sơ nhưng rõ ràng là ngoài các chứng cớ thành lập chợ búa, đã không thấy những hoạt động ngoại thương ảnh hưởng đến triều đại mà lại còn thêm các hành động hạn chế ngay từ trên triều đình. Các quan sứ đi Bắc gồng gánh buôn bán lúc về bị bêu xấu công khai tuy sau đó hình như có thể tiếp tục, theo cách “hối lộ” vật quý cho vua như trường hợp sứ thần mua cho Nghi Dân (1459/1460), Quách Hữu Nghiêm mua áo long cổn (1502) – hẳn là cho Hiến Tông, ứng hợp với một điều trong chương Vi chế của Quốc/Lê triều hình luật! Thánh Tông mới lên ngôi đã có lệnh khuyến khích làm ruộng, ngăn cấm không được “bỏ gốc theo ngọn, kiếm chuyện buôn bán làm trò du thủ du thực” khiến nhà nước không thể kiểm soát người được. Có thể đó là do lối nhìn hẹp hòi từ nguồn gốc rừng núi của tập họp Lê và phe nhóm quen lối trao đổi hàng hoá ở khu vực nhỏ, thấy tức tối trước món lợi lộc liên quốc gia của đám sứ thần vốn là người trung châu (họ Trần nhiều rõ rệt) đưa về. Và biện minh cho thái độ phủ nhận đó lại là mớ tư tưởng nho gia chống đối việc “bỏ gốc (nông) theo ngọn (thương)” như đã thấy trên. Đồng thời cũng là do sự thần phục Minh đã ảnh hưởng đến tình trạng co rút của đất nước trong lúc các tập đoàn phương Tây chưa bén mảng đến vùng đất này. Thế là cuộc sống vẫn gói trọn trong vòng nông nghiệp và buôn bán nhỏ mà dấu hiệu xây cất chợ lại là một minh chứng. Và khủng hoảng nếu có xảy ra tất nhiên là ở tương quan giữa dân số và số lượng đất đai khai thác nuôi sống họ.

Vấn đề dân số Đại Việt / Việt Nam là một trong những ngõ bí của các nhà nghiên cứu nhiều tham vọng. Chúng ta có những con số ở Địa dư chí của Nguyễn Trãi nhưng không thể giải thích được những bất hợp lí của chúng. Li Tana trong một luận án nổi tiếng của bà đã tìm cách giải quyết theo tình hình tưởng có thể được, cho từ thế kỉ XV đến thế kỉ XVIII. Đỗ Quang Chính lúng túng với các con số ở thế kỉ XVII của Đàng Ngoài đành chỉ có thể kết luận gọn: “dân đông” mà thôi. Nguyễn Đình Đầu muốn tìm những con số liên tục nhưng cũng chỉ là giả định để lấp chỗ trống nên vẫn không có tính thuyết phục. Vấn đề khó khăn hẳn không phải chỉ là sự kiểm kê thiếu sót mà là do mức độ quyền lực thực thi sự kiểm kê trên một diện tích nào đó. Các triều đình bản xứ thì chỉ đủ sức kiểm kê trong vùng đồng bằng với một số vùng ngoại biên chịu thần phục mà thôi, còn triều đình nhà Minh chẳng hạn thì coi là chiếm cả cựu thuộc địa Giao Châu cũ với tất cả lực lượng viễn chinh hùng hậu nên mới có con số ngợp người do sử quan ta ghi lại: 3 129 500 hộ, nghĩa là khoảng giữa 9 388 500 và 6 259 000 đinh, lại cũng có nghĩa là dân số trai gái trẻ già lớn bé lên đến trên dưới mươi lăm triệu người! (Các con số của Nguyễn Trãi cũng vướng vào vấn nạn tương tự.) Con số của Li Tana nhỏ hơn nhiều: 1 861 750 người dân vào năm 1417, tính toán dựa theo căn bản thống kê đơn vị hành chính cơ sở đương thời. Tất nhiên Li Tana còn thêm những con số của xứ Thuận Hoá và những người Chăm, người Thượng nhưng điều này thì lại thuộc lãnh vực khác. Có thể qua cuộc chiến được tả là “thây chất như núi,” hay trải qua “dịch bệnh, người chết gối lên nhau,” dân số Đại Việt đầu thế kỉ XV phải tụt xuống thảm hại nhưng không đến nỗi phải như thế. Cho nên vấn đề rốt lại vẫn là phải nén nhìn vào những đường nét chung để thấy tiến trình biến động sinh hoạt của đám đông dân chúng vô danh đã ảnh hưởng đến sự hưng vong của các triều đại như thế nào.

Chúng ta đã thấy những con số dân cư Đại Việt đưa ra có vẻ là thật cao nhưng tình hình sự kiện lại cho thấy còn nhiều vùng chưa khai thác để các chủ nhân mới có thể chen vào được mà thành lập lãnh địa cho riêng mình, nghĩa là vẫn có một số dân không đi vào sổ sách chung. Lí từ Hoa Lư vào Thăng Long còn thấy đất trống để bắt tù binh Chàm về kinh doanh những vùng rộng lớn, ảnh hưởng đến sự lớn mạnh cũng như suy sụp của triều đại như ta từng điểm qua. Trần cũng khai khẩn các vùng đất bồi để cung ứng cho sự phồn tạp của dòng họ sang cả của mình. Chúng ta không rõ lúc nào thì Trần thấy các đê ven sông lúc đầu mang tính cách an ninh chính trị cho dòng họ kia, lại trở thành nguồn cung ứng lợi tức nông nghiệp đem đến thịnh vượng cho đất nước dưới tay mình. Có vẻ nếu có một chính sách quốc gia như thế thì nó cũng chỉ xuất hiện dần dần trong thời yên bình của thế kỉ XIV với những bấp bênh điều hành đã gây nên những lần đói kém, tác động một phần vào cuộc nổi dậy của các nô tì. Chính sách đê điều chuyên chú cho nông nghiệp chỉ thấy rõ rệt nhất dưới đời Lê Thánh Tông với lệnh năm 1475 đặt đồng thời hai chức Khuyến nông và Hà đê. Rõ ràng là đến thời điểm này triều đình mới thấy việc trông coi đê điều có liên hệ thiết thân đến công cuộc canh tác.

Không cần bằng vào những con số rõ rệt ta cũng tưởng tượng ra được sự phát triển dân số trong ba mươi năm cai trị của Thánh Tông. Dân số tăng chứng tỏ trong các lệnh chia nhỏ các làng lớn để dễ cai trị. Lệnh cho mở chợ mới năm 1477 cũng xác nhận : “Sinh dân các huyện, châu, xã ở các xứ trong nước mỗi ngày một đông…” Theo Li Tana thì năm 1490 số dân lên đến 4 372 500 người, gần hai lần rưỡi thời thuộc Minh cũng do bà tính ra. Dân số tăng đủ cho ông vua lập được một đạo quân lớn chinh Nam mở rộng đất, lấn lướt tập đoàn Thái phía tây làm nên một cường quốc khu vực. Lại cũng như các triều trước, vẫn còn đất hoang cho ông khai thác mà không động đến những lãnh địa cũ lúc bây giờ tuy không còn lãnh chúa nhưng đã thuộc về các chủ đất tư hay đã ban cho các công thần để lấy vây cánh giữ gìn quyền lực. Chính sách đồn điền của ông đưa ra từ năm 1481 phần lớn lại cũng là khai thác ở vùng đất bồi phía hạ du, một chương trình khai thác mang tính cách quốc sách thay cho cách làm lẻ tẻ của Trần Quốc Kiệt cuối thế kỉ XIV, hay dây dưa trong dấu vết các năm 1462, 1467 ở vùng phía nam đất nước. Nhưng nhìn ở một khía cạnh khác thì chính sách đồn điền của Lê Thánh Tông lại cũng là một dấu hiệu của tình trạng “đói đất,” dư dân. Và dân chúng trong hoàn cảnh bức thiết của mình đã phải tự giải quyết, cưỡng lại mong muốn của triều đình sao cho có nhiều dân làm sai dịch, đi lính… Họ tự hạn chế sinh đẻ bằng cách phá thai, sản sinh ra thêm một lớp “chuyên viên điều hoà dân số.” Không phải chỉ năm 1484 mà đã có lệnh từ trước, cấm “loại đàn bà tàn nhẫn muốn ít con cái… dùng kế cho sẩy thai…” Và dù có lệnh (chương Đạo tặc, Quốc triều hình luật), “tệ trước vẫn càng tăng…”

Sự phát triển của hệ thống cai trị cũng đem lại tình trạng tham nhũng của tầng lớp thư lại mới. Với các triều đại trước, làm quan triều đình có khi là để lấy hư danh chứ tổn phí sinh hoạt là lấy từ của riêng như trong trường hợp đã nhận xét về tầng lớp ta gọi là hào sĩ với các tên nổi bật: Lê Văn Thịnh, Mạc Hiển Tích, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Sĩ Cố… dù đã có một chừng mực tính toán lương bổng cho hệ thống quan chức còn nhỏ của Trần (1244). Nhưng với đời Lê mà thời Thánh Tông là đỉnh cao, thì làm quan ăn lương! Mà quan thì càng lúc càng đông theo chế độ tập ấm, theo đà lấy từ khoa cử. Lương lấy từ hộ dân như trường hợp Đô đốc Tây đạo Trần Lựu hưởng 50 hộ dân (chuyện năm 1456). Ngay đến các chức phận nhỏ hơn đang làm việc quan, khi được hưởng quyền lợi từ phép quân điền, họ cũng không thể tự cày cấy được, có nghĩa là cũng “ăn lương” từ đất ruộng.

Con đường khoa cử mở ra hướng đi đến danh vọng, quyền lực cho một số người không có căn bản thần thế gia đình, có thể không giàu lắm. Người lạc quan thời nay thì tán tụng tinh thần “dân chủ” trong cách chọn lựa nhân tài đó nhưng Lê Quý Đôn đã từng phê phán lối học dành cho thi cử làm lấn át tinh thần thực học cần thiết cho việc quản lí đất nước. Ảnh hưởng lâu dài đến ngày nay là lối văn trau chuốt đệm thêm một chút dáng vẻ “trí thức” đó đã thành một ý thức kiêu hãnh ngầm cho một lớp người đem ra phục vụ những người cầm quyền vốn không cần nhiều đến kiến thức cho lắm. Đương thời, về mặt thực tế, nó cũng làm tăng mối hoạ tham nhũng trong quan trường. Hiến Tông cho rằng “quan trường nhũng lạm” là vì sự ù lì của hệ thống nhưng đó chỉ là nhìn vào tính chất kiểm tra, phát hiện mà không tính đến sự liên hệ xã hội của nó. Người thi đỗ không hẳn đã làm quan ngay, có người chết đi vẫn chưa được bổ dụng khiến triều đình cho các con được tập ấm để gọi là an ủi (1504). Lương Thế Vinh đô tiến sĩ năm 1463, len lách hặc tội người này người nọ, cả gan lần lên đến cả ngự sử để được vua chú ý thế mà 4 năm sau được đề nghị giữ chức tri huyện nhỏ nhoi lại bị gạch tên và bị chê là học hành không tiến bộ! Quan chức lãnh lương không đủ cho sinh hoạt, chưa kể là đủ cho tham vọng “bù đắp” công lao học hành, luồn lách. Hoàng triều quan chế năm 1471 cho thấy tình trạng phình to quan chức khiến nhà nước phải giải quyết bằng cách hạ thấp bổng lộc: “Quy chế trước kia, đặt quan phần nhiều lấy quan to tước cao. Chế độ ngày nay, đặt quan đều là lương ít trật thấp. Số quan đặt ra so với trước tăng lên rất nhiều, nhưng tiền lương chi tiêu so với xưa cũng vẫn thế…” Thánh Tông không thấy rõ là đã giải quyết được cho tính toán riêng mình nhưng quan chức nhận lương ít thì phải lo xoay sở, cũng cho riêng mình! Những kẻ không biết xoay sở thì nghèo cực như trường hợp Nguyễn Trực, đỗ khoa thi hội đầu tiên 1442, thuộc viện Hàn lâm của Thánh Tông, lúc chết chỉ có mấy sào ruộng của vợ!

Lại cũng vẫn do sự phát triển của cung cách lựa người bằng khoa cử mà số người kém may mắn bị loại ra rất nhiều. Sau khi điều chỉnh từ các chứng cớ của Toàn thư, sách Phan Huy Chú, bia Văn miếu Hà Nội, ta thấy các con số lấy đỗ về sau càng tụt nhiều so với người dự thi: 33 đỗ / 450 thí sinh năm 1442, 44/1400 (1463), 27/1100 (1466), 55/5000 có hơn (1475), 43/5700 (1514 hay 1516)… Cho dù phải quay về quê cũ, những người thiếu may mắn cũng không thể trở lại tình trạng sinh hoạt như mọi người cày cuốc khác. Họ trở nên người “có học,” làm một tầng lớp trí thức hương thôn, được miễn hay giảm thuế, chen vào lập những quy định hương ước cho làng xã, đem tham vọng trị nước đã thất bại tập tành cai trị một khu vực nhỏ bé, cuối cùng gặp dịp trở thành cường hào, hay một thành phần của tập họp cường hào, một chừng mực nào đó là hình ảnh những lãnh chúa, hào sĩ xưa, ít quyền lực nhưng nhiều toan tính mưu đồ hơn, ngầm chứa tính cát cứ cho làng xã để đợi dịp là tập họp liên minh quấy đảo triều đình.

Trước tất cả những sôi sục xã hội chờ đợi thời cơ như thế, triều đình Lê trên cao chưa thấy ra thì đã gặp sự tan rã ở chính bản thân tộc đoàn. Hiến Tông (1461-1504) có ông cha giữ ngôi quá lâu nên lúc cầm quyền thì đã lớn tuổi, hấp tấp hưởng thụ để chỉ làm vua có bảy năm. Ông vua tiếp theo lại quá trẻ, chưa kịp qua năm đã chết. Và tiếp theo là những ông vua Quỷ (Uy Mục 1486-1509), vua Lợn (Tương Dực 1493-1516) đầy tai tiếng trong sử sách phe nhóm nhưng bản thân cũng không thoát khỏi những o ép của hoàn cảnh trong một triều đại suy tàn.

Nhóm Lê Hoàng đế đã dần dần chuyển dịch tâm tưởng về đất Đông Kinh ngự trị, xa dần quê gốc Lam Kinh mà không ngờ tới, cho đến khi có khích động mạnh gây chọn lựa dứt khoát như trường hợp Uy Mục. Từ người kế nghiệp Hiến Tông đã có mẹ là dân trung châu. Và thế lực ngoại thích dù bị thách đố vì đám nho gia đem nguyên tắc trị nước của kinh điển ra để dè bỉu, cáo giác đề phòng họ, thế lực đó vẫn tiếp tục có mặt vững vàng phía sau các ông vua. Sử thần của Thánh Tông núp bóng phe cầm quyền mới, chê “Thái hậu Nguyễn thị là gà mái gáy sớm… vua đàn bà mắt quáng… bọn họ ngoại lòng tham, khoác lác hoành hành khắp chốn…” Tuy nhiên cả với Thánh Tông, sử quan trong lời khen ông vua đầy quyền uy đó, cũng chen vào câu: “(Vua) dùng họ mẹ làm việc duyệt xét…” Lời nói không sai vì chính họ Ngô, phía mẹ vua, được ưu đãi, từng được ban cấp đất ruộng rộng rãi đến mức nhà nghiên cứu ngày nay (Trương Hữu Quýnh 1982) còn thấy nổi bật với lời khoe khoang “tự điền hơn vạn mẫu, (thu hoạch) vài trăm vạn đấu thóc.” Cho nên không lấy làm lạ là Thánh Tông lại thấy quan lại nịnh bợ phía nhà vợ đến phải thốt nặng lời chê một cận thần “liếm trôn trĩ” của Nguyễn Đức Trung (ông ngoại Hiến Tông sau này.)

Sự tranh chấp trong các triều trước là giữa các phe phái Lam Sơn trên vùng đất họ mới ngự trị. Thời kì đâm rễ ở Đông Kinh còn có Thánh Tông cầm trịch, cho đến các vua cháu yếu ớt thì sự tranh chấp nằm trong thời điểm gốc Lam Kinh đã phai lạt, lại dễ trở thành cuộc tranh chấp khu vực Đông Kinh và Lam Kinh, rồi từ đó lan rộng phức tạp hơn. Vấn đề bắt đầu là ở nội cung. Tổ chức vương quyền nhắm vào việc bảo vệ gia đình cầm quyền tối cao đưa đến sự cô lâp của chính họ, và điều này lại nổi bật theo với đà tập trung quyền lực như các điều lệ nghiêm khắc, chi tiết, ghi thành văn bản trong bộ hình luật triều Lê. Sự cô lập đó khiến ông vua có lúc trở thành người tuỳ thuộc vào lớp hoạn quan và phụ nữ cung đình. Hoạn quan Lê không có tư thế quyền bính tỏ rõ ra bên ngoài như trong đời Lí, với một ít khuất lấp trong đời Trần, bây giờ lại vẫn còn giữ vị trí tích cực dù ta chỉ được nghe sử quan ghi thoáng qua trong trường hợp Lê Tương Dực.

Uy Mục lên làm vua trong tình hình phe trung châu ở nội cung mạnh lên, ủng hộ cả ông hoàng tử vốn là con của một người hầu trong cung hoàng hậu của Thánh Tông, được ông Hoàng thái tử (sau là Hiến Tông) để mắt tới – người tì thiếp này của đất Kinh Bắc từng phải bán mình trên đất Kinh thành trước khi bị lây vạ mà trôi dạt vào cung. Rõ ràng gốc gác đó không làm hãnh diện cho người lên nắm quyền tối cao mà những lời đàm tiếu thế nào cũng lọt vào tai. Thêm nữa, có vẻ ông có thân hình xấu xí, mặt mày dữ tợn nên mang tên “Vua Quỷ,” được gán cho là từ lời thơ của viên sứ thần Minh năm 1507. Cho nên phản ứng đầu tiên là giết bà ngoại ghẻ đất Lam Kinh, do đó gây thù với dòng họ Nguyễn Gia Miêu. Thù lan rộng liên can đến các đại thần từng giúp người kế nghiệp Hiến Tông mà không để Uy Mục lên ngôi sớm hơn! Để bám vào tình thế mới vững chắc hơn, vua kết hôn nhân với người gốc họ Trần cũ, rồi khi người chị mất đã lấy luôn người em. Thế là họ Trần trung châu khuất lấp bấy lâu, nay có cơ nổi dậy gây lũng đoạn. Uy Mục bây giờ đã có ba thế lực địa phương ủng hộ: quê mẹ nuôi, quê mẹ ruột, quê vợ – tất nhiên với quyền uy mới nên càng dễ lạm dụng hơn. Thế đối đầu Đông Kinh Lam Kinh thành hình khi Giản Tu Công Oanh/Dinh, một người có mẹ đất Thanh thoát được sự ruồng bắt của Uy Mục, liên kết với Nguyễn Văn Lang đất Gia Miêu.

Uy Mục xua đuổi ngưòi tông thất và công thần về Thanh Hoá nhưng với sự nhập nhoà danh vị gốc rễ thì thật cũng khó phân biệt người họ vua, con cháu công thần nào là ở vị trí nào, Đông Kinh hay Lam Kinh? Chỉ có một nhóm người riêng biệt nổi bật là nhóm tù binh Chàm. Với sử quan thì họ thật khuất lấp – cũng như lớp tù binh thời Lí dù phải đợi đến hơn hai trăm rưởi năm mới tan biến – nhưng số lượng của thời mới cũng thật không ít. Bí Cai bị Nhân Tông bắt làm tù binh năm 1446 đến hơn hai năm sau còn được cho vào cung mặc lại áo mão vua Chiêm để cùng dự yến tiệc. Thánh Tông đem về Đại Việt hơn ba vạn tù binh trong trận 1471, ban cấp cho các công thần. Phía nam thì còn dấu vết đến gần đây để cho quan chức Pháp nhận ra (họ Chế ở Nghệ An), hay dấu trên bia là gom vào làng Kim Ổ (vùng Bàu Ô, Cửa Lò hiện nay) của Nguyễn Xí – tên đất mang dấu vết Chàm rõ rệt theo cách nhìn của đương thời cho Chiêm Thành là ở phía tây Đại Việt, thuộc hành “kim”. Ở Kinh thành là viện Châu Lâm, nơi Thánh Tông ra lệnh thường xuyên kiểm tra con cháu tù binh, có người như con Trà Toại (kế nghiệp Trà Toàn) đến ba mươi năm sau còn ôm tro cha trốn được về nước. Họ thu hút người bản xứ, lạ một điều là ở thân phận tù nô mà lại có thể kết hôn, không những với dân thường mà cả trên cấp bực cao trong xã hội. Nhóm người trong cung, tất cả hẳn từng đến chiêm bái chùa Bà Đanh của dòng tộc họ xây dựng nên trên đất tù hãm. Tù nô đi theo con cháu công thần bị xua đuổi như Chế Mạn giúp Nguyễn Văn Lang, là một mối lo ngại lớn cho Uy Mục. Cho nên có lệnh giết hết những người Chiêm từ ngoài đến bên trong cung, cùng khu trừ ảnh hưởng sinh hoạt thần bí của họ trên đất Kinh thành.

Phe Lam Kinh thắng, Tương Dực lên ngôi nhưng đô thành vẫn ở Đông Kinh thì phe địa phương vẫn giữ ưu thế. Tương Dực vẫn chuộng chiến lợi phẩm là vợ vua trước – chắc vì thế mới bị công kích là Vua Lợn. Và tình thế càng phức tạp hơn khiến tình hình phe phía thật rối loạn. Tương Dực có lúc là tù nhân lỏng của một nhóm nội giám khi mới vừa thắng thế, lên ngôi không lâu. Những người phù trợ vua đã có dáng mở đầu cho tình hình Trịnh ức hiếp Lê hay cho sự xung đột của hai họ Trịnh Nguyễn sau này.

Họ Trần trở lại với những cuộc nổi dậy của Trần Tuân (1511) và Trần Công Ninh, Trần Cảo (1516). Trần Tuân tuy bị giết khi tiến quân ép sát kinh thành nhưng sự kiện nổi dậy để lại về sau thì to lớn hơn là cuộc bại vong. Người ta gán cho ông là đã đúc một đồng tiền: Trần công tân bảo, dấu hiệu của vương quyền – sự gán ghép này đáng lẽ dành cho Trần Công Ninh thì sít sao hơn. Và sau này một dòng họ phù nghiệp Lê Trung hưng, họ Đặng thông gia với họ Trịnh làm chúa, đã chính thức ghép họ mình vào với ông Trần thua trận này để lấy danh nghĩa thuộc dòng từng làm hoàng đế trung châu. Còn Trần Cảo không những xưng đế, đúc tiền, chiếm được kinh thành tuy không lâu nhưng có con cũng tiếp tục có niên hiệu, đúc tiền và được sử quan rõ rệt ghép vào với họ Trần hoàng đế cũ qua việc nhắc nhở tên Trần Cảo từng bị Lê Lợi giết nay (đầu thai) trở về trả mối hận cũ của người trung châu. Bởi vì xung đột Trần Lê còn thấy nhiều thế kỉ sau trong câu chuyện ông thần Ngọc Tháp thông gia với miền xuôi của họ Trần, giành giật gỗ đem về xây đền Hùng, nơi thờ tổ của vua Lê, trở thành tổ của Đại Việt (rồi Việt Nam.) Trần Cảo của thế kỉ XVI nổi lên từ ông từ giữ đình của trang Dưỡng Chân, lấy thế lực tiền của từ chùa Quỳnh Lâm, ngôi chùa cưng trọng của nhà Trần, từng có hàng nghìn mẫu ruộng, điền nô, có quan đến trông coi, và đặc biệt lại có người điền nô giàu đủ để làm thông gia với ông quan! Trần Cảo không thực hiện được lời sấm “phương Đông có vượng khí thiên tử ” nhưng một người cùng khu vực, không vướng víu như Cảo để phải gán ghép dòng dõi với cả Trần lẫn Lê, cứ tự mình đem sức mạnh lật đổ Lê, lập triều mới: Mạc Đăng Dung.

Vượng khí thiên tử phía đông và thế hệ Lam Sơn thứ hai phía tây

Các giáo trình lịch sử Việt Nam bây giờ vẫn cho là “sử cũ” gọi cuộc phân tranh Lê Trịnh và Mạc là cuộc phân tranh Nam triều và Bắc triều. Có vẻ “sử cũ” nói ở đây là quyển Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim mà tên khởi đầu là An Nam sử lược (1920), trong bản tóm tắt so sánh đã có đề mục: “Nam triều và Bắc triều” cho hai vùng Trịnh Lê và Mạc. Thật ra quyển sử chính thức, Đại Việt sử kí toàn thư, không hề có sự phân loại như trên. Sử quan vẫn coi nhà Mạc là “nhuận triều” như nhà Hồ về trước. Còn đương thời, nếu theo dõi cách định hướng thì thấy trong một thời gian dài người ta vẫn coi phần đất phía nam vùng Thăng Long là ở phía tây. Chiêm Thành ở phía tây Đại Việt. Tây Đô/Kinh so với Đông Đô/Kinh. Hải Tây đạo đầu Lê là vùng Thanh Nghệ. Cho nên khi có phân liệt thì có tách biệt đông và tây như Phan Huy Chú viết trong phần Dư địa chí: “Đến thời Mạc… [t]ừ phủ Trường Yên trở ra phía ngoài gọi là Đông Việt, trở vào phía trong gọi là Tây Việt. Từ Trung hưng trở về sau cũng gọi theo thế…” Đã có bia mộ của những viên chức, thân thuộc đương thời phát hiện ở Thanh Hoá, ghi là: “Tây Việt nhập nội Tư mã…”, “Tây Việt Quốc thái Phu nhân…” Trong trận Nguyễn Quyện của Mạc (1576) tung hoành đánh giết tướng Trịnh Lê đã có lời khen: “Các tướng vùng Giang Đông (phía đông sông Hồng) đều tự cho mình không sánh bằng.” Và khi Trịnh Kiểm cho Nguyễn Hoàng vào trấn Thuận Hoá (1558) thì chiếu vua Lê ghi nhiệm vụ: “để chống giặc phía đông,” nghĩa là đề phòng quân Mạc như ta thấy bằng cớ hiện diện của họ trong quyển Ô Châu cận lục là sách của Dương Văn An, một ông nghè triều Mạc, sách có niên điểm thực hiện: 1555.

Trong những năm cuối đời Lê sơ, các ông vua đều nằm trong tay giành giật của các tướng, nổi bật là hai gia đình Trịnh, Nguyễn mà cuối cùng nhân vật then chốt cần phù trợ này lọt vào tay một nhân vật mới nổi: Mạc Đăng Dung. Gọi “mới” là nói về khung cảnh đương thời chứ họ Mạc thì đã hiện diện từ lâu trên vùng trung châu như ta đã thấy. Li Tana cho biết vua cuối cùng của họ Mạc khi cầu cứu vua Thanh đã kể lể rằng dòng họ mình có gốc Trung Quốc, ở Trà Hương, huyện Đông Quan, Quảng Đông. Có thể hiểu rằng đó là một cớ bám víu để mong được giúp đỡ thôi. Những nhóm người vùng biển lênh đênh qua lại biên giới, khi đến những vùng trên đất Việt thường mang tên quê hương cũ đặt trên đất mới, như Trà Hương từng thấy là quê hương của sứ quân Phạm Bạch Hổ thế kỉ X, từng có tên trong chiến tranh Trần-Nguyên, là căn cứ của cuộc nổi dậy Ngô Bệ 1344, và cũng là đất Kim Thành của họ Mạc. Những người đó đã có ý thức riêng biệt phương nam như chứng cớ ở nhóm ngư dân lạc loài từ đầu thế kỉ XVI (1511) trên ba đảo vùng Quảng Tây kề cận Việt Nam, họ vẫn tự nhận là Việt, còn dân bản xứ thì vẫn gọi họ là người “An Nam.” Thật khó có bằng cớ nào khác để kiểm chứng thêm nhưng sử quan đã đưa ra phả hệ dòng họ Mạc Đăng Dung liên tục qua nhiều thế hệ, theo những đường đất di chuyển từ Mạc Đỉnh Chi của Trần đến nhân vật Minh thuộc, và còn cái bia 1470 của Mạc Ngọc Ỷ, có cha mang tước Vương, quê gốc làng Cổ Trai cũng như Mạc Đăng Dung, thì thật cũng nên tin rằng dòng họ Mạc đã cắm rễ lâu đời trên phần đất sát biển này vậy.

Giữa những biến động tranh chấp quyền hành thì các quan võ nổi bật là phải cho nên Uy Mục đã chọn lực sĩ Đăng Dung làm chỉ huy sứ trong toán bảo vệ mình. Xuất thân nghề đánh cá của ông vua đầu đời cũng giống như các nhân vật khác dưới quyền rồi sẽ đóng vai trò lớn trong đảo lộn, như Lê Bá Li xoay chiều biến đổi có cơ làm lệch một triều đại, thế mà vốn gốc là đem thân “ở nhờ” – gia phả họ Đặng không muốn nói là “làm đầy tớ.” Như Phạm Quỳnh “có vợ buôn rau,” như Đặng Huấn lại cũng chỉ có cha là người “ở rể,” bản thân nghèo khó núp dưới trướng của quan quyền, “không có gì nổi tiếng” trước khi làm lính đô vật của Mạc. Từ vị trí mới đó, ông làm rể nhà Bá Li, chuyển theo họ về Tây Việt kết thông gia với họ Trịnh, kéo dài một dòng vinh hiển trong nhiều trăm năm – địa vị đó khiến Phan Huy Chú hùa theo lời thế tục, miễn cưỡng đưa vào sách của ông dù đã thú nhận rằng công tích Đặng Huấn còn thua những người khác. Nhưng rõ ràng là Mạc Đăng Dung không đơn độc trong sự thăng tiến của mình như ta tưởng khi thấy sử quan chỉ nhắc nhở thoáng qua lúc khởi đầu, để dành chuyên chú nhiều hơn vào hành đọng của các tập đoàn quyền lực cũ của Lê. Vùng đất xuất thân của Mạc đã khích động ông từ/sư Trần Cảo tiến chiếm kinh đô. Có điều nhân vật cũ không thể khuấy động tình thế mới được. Một người họ Trần khác, Trần Chân, từng được ca ngợi “Có một người họ Trần làm vua thiên hạ… trị nước yên dân,” rốt lại cũng không thoát khỏi thảm tử cũng vì dấu vết tông tộc cũ đã khiến cho mẹ Tương Dực (họ Trịnh) phải xen vào, như lời phê phán về sau: “Mẫu hậu gian phi gây hoạ.” Tiếng đồn từ 1511 của “các hào kiệt và thuật sĩ bảo rằng phương đông có khí sắc thiên tử” chỉ được sử quan giật mình, biết đúng là nhắm vào Mạc Đăng Dung khi tình thế đã rõ ràng, khi ông đã phế vua (1522), với điềm lạ xuất hiện: “Phương đông có khí vàng đỏ, sắc vàng lan ra phủ khắp trời.”

Sử quan không cho ta biết tình hình cụ thể nào đã đưa đến những lời đồn đoán kia. Tất nhiên các ông quan văn hay chữ tốt đang chăm chú vào phê phán các ông vua, không thể nào thấy ra được một mối mâu thuẫn không tuỳ thuộc vào đạo đức, là việc xây cất đền đài, cung điện vẫn cứ tiếp tục trong biến loạn dù rằng điều đó đã khiến dẫn đến sự sụp đổ quyền bính. Hịch văn và sử kí chống Uy Mục có những lời chê trách “xây cung thất to, làm vườn hoa rộng,” đi đến giận dữ mạt sát: “Xây phủ đệ thì rừng núi các xứ Thái Nguyên, Tuyên Quang không còn cây để lấp nguồn dục vọng…” Thế mà đến lúc Tương Dực lên ngôi lại vẫn thích “làm nhiều công trình thổ mộc, đắp thành rộng mấy ngàn trượng… sai thợ vẽ kiểu làm thuyền chiến… đào hồ… du ngoạn… hết năm này đến năm khác, liên miên không dứt.” Chỉ có thể hiểu là đất nước trong thời hưng thịnh của thế kỉ trước đã tiến đến chỗ đủ khả năng về nhân lực, kĩ thuật để “làm điện lớn hơn trăm nóc.” Trình độ kĩ thuật cao đương thời còn chứng cớ liên tục nơi các đồng tiền của các ông vua nối nghiệp yểu tướng, ngắn ngủi mà dạng hình sản phẩm thì vẫn sắc sảo như đồng Hồng Đức của ông vua tài danh trước đó. Thật tiếc cho người thợ tài hoa Vũ Như Tô sinh không hợp thời nên Cửu Trùng Đài đã không toả bóng, rốt cục thân xác bị ném giữa chợ cho “quan dân… nhổ nước bọt” như sử quan đã ghi chép một cách hả hê. Vùng đất đồn điền của Thánh Tông khai khẩn phía biển chắc đã đem lại một phần tài lực cho việc xây cất mà sự vơ vét ở đó sẽ gây nên những phản ứng vọng vào triều chính. Dân chúng, tập họp quyền thế địa phương tất vọng về ngôi sao đang lên của địa phương như rốt cục sử quan cũng nhận ra: “Lòng người đều hướng theo.” Và nhà Mạc khởi đầu: 1527.

Trong lúc Đông Việt chọn nhân vật mới với khó khăn cũ còn tràn đầy thì Tây Việt lại đi tìm cách hồi phục cho một thế hệ Lam Sơn khác. Nền trung hưng của Lê thường được gán công khởi đầu cho ông tổ nhà Nguyễn: Nguyễn Kim (1468-1545). Quê gốc của một người mở đầu triều đại đã được gọi tưng lên là Quý Hương / Bái Trang – như đất Bái của ông đình trưởng mở đầu nhà Hán xa xưa và xa xôi, nhưng chính tên Gia Miêu có âm hưởng dòng giống quyền quý cũng vẫn che lấp một thời bình thường cũ. Thông thường ta gặp những xác nhận cho Nguyễn Kim là con Nguyễn Hoằng Dụ, kéo lên đến Nguyễn Đức Trung, cha vợ Thánh Tông. Bấy nhiêu đó chưa đủ gây tự tín cho một dòng họ từng làm vua, và vì cũng từng kéo dài một thời gian chịu luồn cúi ngoại quốc khiến sử gia theo thời tha hồ mắng chửi cho nên con cháu họ Nguyễn ngày nay lại lập gia phả lôi lên đến ông Nguyễn Trãi, Nguyễn Bặc, tưởng rằng có thể đeo đuổi bù đắp bằng cách bám vào các nhân vật lịch sử gọi là danh tiếng, xa xưa!

Thật ra ngay sử quan Lê cũng không chắc chắn về liên hệ cha con giữa Nguyễn Kim và Nguyễn Hoằng Dụ. Hoằng Dụ đã biến mất trong tranh chấp ở trung châu từ khi thua cả đám đàn em của Trần Chân (1518). Hai người được gán ghép chỉ liên hệ với nhau bằng cái tên Gia Miêu Ngoại trang mang tính cải cách về sau như đã nói mà thôi. Trừng Quốc công Dụ được sử quan Nguyễn cho là cha Nguyễn Kim chỉ giống ông Nguyễn Hoằng Dụ ở cái tên, còn thì cũng đã xuất hiện trong việc phù trợ Tương Dực, được phong đến Trừng Quốc công chứ không phải như ông Nguyễn Hoằng Dụ của Toàn thư chỉ đến tước (An Hoà) hầu. Sử quan Nguyễn không phân vân chút nào về liên hệ cha con vì họ đã ghi ở Cương mục tên Nguyễn Hoằng Dụ một cách bình thường, xa lạ chứ không dành niềm tôn kính cho ông nếu như ông là tổ của họ Nguyễn.

Hãy chỉ nên nhìn vào cái mả của Nguyễn Kim mà suy xét về thời đại, về con người mở đầu cơ nghiệp trung hưng này. Cái mả của ông tổ một dòng họ vinh hiển tột cùng mà cho đến nay chỉ được đánh dấu bằng mấy tấm đá giữa rừng sâu, dưới chân núi Thiên Tôn, vì ngay cả khi con cháu lên làm vua cũng không tìm ra đích xác nơi chôn cất, chỉ dựa vào nơi đó làm điểm cúng tế, gọi trang trọng là Phương Cơ / Nền Vuông. Không hẳn là người ta đã không chăm chút khi ông chết, bởi vì ông là Huân Tĩnh Công của một tập thể muốn khôi phục triều đại – đã đi đến thành công, và tang lễ cũng được ghi rõ: “Vua… sai người rước về Bái Trang, huyện Tống Sơn để hậu táng.” Việc mất dấu vết chỉ được hiểu là đương thời người ta đã theo một táng thức khác ngày nay, dưới cái tên tốt đẹp là “thiên táng,” nói nôm na là bỏ mặc ngoài rừng! Chắc là cũng có một thứ bậc chăm sóc cho lối “bỏ mặc” đó theo với những người có địa vị khác nhau trong khu vực nhưng thiên táng thì đúng là tục chung của đương thời. Có thể hiểu chữ thiên táng theo nghĩa “vứt xác ngoài rừng” cho chim muông rúc rỉa, như trường hợp ông tổ của họ Ngô đầy tớ Lê Lợi – sau là thông gia, cha vợ Thánh Tông. Có thể hiểu thiên táng theo cách “bỏ mả” Nguyễn Kim khiến cho trong Hoàng tộc Nguyễn lưu truyền – và được ghi vào lịch sử triều đại, câu chuyện về thời gian đưa đám trời nổi cơn dông, mọi người chạy tán loạn, lúc trở về không thấy xác đâu nữa ngoài khu rừng cây cối mịt mù! Giá trị tôn quý chỉ còn lại trong truyền thuyết về miệng rồng mở ra rồi khép chặt nuốt trọn quan tài mà thôi. Thế rồi đến mả bà vợ ông công thần trung hưng này cũng mất dấu tích, và sử quan cũng đành chỉ ghi: “Đời truyền là táng chung vào lăng (Nguyễn Kim).” Gia phả họ Đặng cho thấy ông nội Đăng Huấn được “thiên táng” như Nguyễn Kim vậy. Rồi cũng với một chừng mực tương tự, gia phả nhà họ Phan Văn/Huy – Hà Tĩnh, không ghi gì khác hơn nhiều về một ông tổ của họ.

Khung cảnh xã hội đó hợp với tính chất của những người cầm đầu khác của phong trào phục hưng. Những người họ Trịnh khác từ Đông Kinh trở về Thanh Hoá thì hoặc tuyệt tích như Trịnh Tuy hoặc chỉ là nhân vật hạng thứ. Nổi bật lên là một người không dính dấp gì đến các nhân vật Trịnh sang cả trước kia: Trịnh Kiểm (1503-1570), rõ ràng là có cuộc sống hoang dã mà vẫn được ông tướng cầm đầu gả con gái cho. Chính tông tộc họ Trịnh không giấu diếm về hành tung của ông tổ mình, chỉ có nhà nho về sau vì muốn khoả lấp cho hợp với giá trị hệ thống quyền bính, đã chuyển chuyện ăn trộm ngựa (trên rừng) của Trịnh Kiểm thành chuyện ăn cắp gà (dưới đồng) nuôi mẹ, bao che một hành động xấu bình thường bằng một lí tưởng cao cả: vì chữ hiếu! Rồi cũng qua nhân vật như Trịnh Kiểm, lại thấy xuất hiện những tập họp người khuất lấp khác như các người bạn thiết thân gốc Chàm đã chia xẻ gian nguy với ông, những người này hẳn là thuộc tập họp tù binh của trăm năm trước. Gia phả họ Đặng cho biết Trịnh Kiểm có một bà vợ họ Trương (Trương Thị Ngọc Lãnh), con gái “tù trưởng” Sùng Quận Công (vẫn không có tên.) Nhưng đáng lưu ý là họ Trịnh này được sử ghi có liên hệ thông gia nhiều đời liên tiếp với họ Hoàng mà một nhân vật nổi danh thời Trung hưng là Hoàng Đình Ái, chứng tỏ nhóm Lào Việt hoá họ Trịnh này còn vướng víu thêm chút liên hệ với các tộc Thái khác trong vùng. Và cũng có thể hiểu được chuyện một thế hệ sau, Trịnh Tùng kết thông gia với Đặng Huấn, một người có dáng gốc Tày Nùng mà danh vọng về sau khiến con cháu tìm cách ghép gia phả với họ Trần, chép sự kiện từ Toàn thư, lấn ngược lên đến nhóm Trần-làm-vua, đến ông Trần Hưng Đạo, danh vọng dòng họ càng lúc càng cao sang không gì phá đổ nổi nhờ ông Đặng Tiến Đông hợp tác với Tây Sơn, dựa vào sự đổi thay triều đại để “đổi mới” gia phả có ông bạn Ngô Thì Nhậm tán thưởng theo. Một nhân vật đi theo hầu cận Lê Ninh, gọi lạm là “trung quan,” sau này cũng từng cầm quân, được trang trọng nhắc khi chết, thế mà chỉ có tên là Đinh Công, “ông họ Đinh,” một ông chủ mường nào đó!

Người được đưa lên hàng đầu cho cuộc trung hưng cũng không phải họ Lê chính thống. Sứ giả được cử đi phân trần với quan nhà Minh, bị vặn vẹo thì mỗi người nói mỗi khác, trừ một điều rõ rệt là có một ông Lê Ninh nào đó đang ở trong rừng núi Thanh Hoá hay trên xứ Lào xa xôi. Sứ giả phải dối trá vì hành động theo phe phía không nói làm gì, đến cả người ngày nay vẫn cứ dễ dàng tin rằng Lê Ninh, người được đưa ra làm chủ cho công cuộc trùng hưng, chính là con Chiêu Tông, ông vua chính thức bị Mạc Đăng Dung giết chết, chấm dứt cơ nghiệp của Lê. Người ta không thấy rằng Chiêu Tông sinh năm 1506 còn Lê Ninh / Trang Tông sinh năm 1515, nghĩa là vào lúc Chiêu Tông chỉ mới 9 tuổi! Truyền thuyết còn lại về sau là ông Lê Ninh nghèo khó, vay mượn tứ tung, mang tên Chúa Chổm, và danh xưng đó được dùng để chỉ những người có nợ khắp nơi. Chúng ta bây giờ cũng không biết vì sao có sự lựa chọn một người như thế nhưng cũng có thể hiểu là trong biến loạn, người ta cần một danh nghĩa – nói như trong Truyện Tàu khi một nhóm người nổi dậy chộp được một anh hoàng phái: “Quân ta có tên rồi!” Còn giá như có chọn lầm thì quyền lực và thời gian cũng sẽ tạo được nội dung cho danh nghĩa thiếu sót kia như đã được lịch sử chứng thực.

Nhóm Lê Trung hưng này chưa ra khỏi Tây Việt thì tuyệt tự (1556), người ta lại thay thế bằng một dòng khác có vẻ chính thống hơn. Người ta tìm được cháu 4 đời ông Lê Trừ, anh của Lê Lợi, để đặt lên ngôi nhưng vấn đề hoài nghi lại cũng phải đặt ra như trước tuy là ít xác quyết hơn. Lê Lợi sinh năm 1385, anh ông hẳn phải lớn hơn vài ba tuổi thế mà ông cháu Lê Bang (Anh Tông) lại sinh năm 1531, cách nhau đến 150 năm thật khó coi là thuộc đời thứ tư cho được. Vả lại, trên đất Lam Sơn chật chội, đến “công chúa cũng không có đất cắm dùi” như Lê Thánh Tông đã than thì cháu ông hoàng đế kia hẳn cũng không sống sang trọng gì hơn ông Chúa Chổm kia, và cũng không lấy làm lạ là em ông vua mới lại giở trò trộm cắp, giết người!

Nhưng dù sao thì thế hệ Lam Sơn thứ hai cũng xuất hiện để cho sử quan khỏi lúng túng khi coi họ Mạc là nguỵ triều mà vẫn phải chép vào sử vì không biết làm sao bù chỗ trống chính quyền của những năm 1527-1540. Phe Phù Lê không phải không có người tích cực hơn Nguyễn Kim. Lê Quý Đôn có ghi thêm ba người họ Trịnh “tôi cũ” cùng lập vua Lê với Nguyễn Kim. Hãy tưởng tượng hai người họ Trịnh, Trịnh Duy Liêu và Trịnh Viên, trèo đèo lặn suối hướng về phía nam, đi nhờ thuyền biển Chiêm Thành, hai năm sau mới tới Yên Kinh thì đủ rõ lòng nhiệt thành của họ như thế nào. Nguyễn Kim được lợi thế là chọn được một địa điểm xa khuất, mượn vùng đất Sầm Nứa từng bị Thánh Tông lấn lướt, hẳn còn trống trải quyền lực cụ thể của vua Lào Sạ Đẩu – P’ot’isarat, nên từ đó ông mới có cơ sở vững vàng. Nhưng bên trong vùng Thanh Nghệ vẫn có những nhóm chống đối Mạc độc lập khác, trong đó có thêm những nhóm họ Trịnh, không phải là không giúp ích gì được vào buổi đầu của Lê Trung hưng. Vì thế ta thấy sử quan lúng túng phải gán chính nghĩa lãnh đạo cho Nguyễn Kim trong lần đầu đánh chiếm Nghệ An (1540), Thanh Hoá (1542) thế mà vua ở Tây Đô lại còn sai Trịnh Công Năng mời Nguyễn Kim “còn ở Aí Lao,” về (1543). Công khởi đầu đó có phần là của ông này, người chỉ ít lâu sau đã “làm phản,” bị đánh giết chỉ vì phải chịu ép mình dưới lực lượng của Sầm Nứa kéo về. Hai người đi cầu Minh đều cùng họ Trịnh không phải là điều ngẫu nhiên. Và Nguyễn Kim chọn con rể họ Trịnh hẳn không phải là không có lí do – lí do đi tìm vây cánh ở những nhóm thân tộc gốc Thái Lào trong vùng.

Tranh chiến trong thế chênh vênh quyền lực

Họ Mạc kéo dài được 66 năm (1527-1593), cai trị Đại Việt theo những co dãn của tình thế chiến tranh. Tuy nhiên khi bỏ chạy khỏi kinh đô, nhờ thế lực triều đình phương Bắc họ còn tiếp tục cai trị vùng đất Cao Bằng ở biên giới đến năm 1677, nghĩa là vẫn tiếp tục chen vào cuộc tranh chấp quyền bính trên đất nước đã mở rộng ra nhiều.

Khi Nguyễn Kim bị thuốc chết (1545) thì người kế nghiệp không phải là con ông mà là người rể, Trịnh Kiểm. Sự tranh giành quyền lực không thấy nổi bật nhưng rõ ràng đã có trong sự kiện Nguyễn Uông, con trưởng Nguyễn Kim, bị “nhốt trong biệt cung” (chúa Hiền nhờ Chu Thuấn Thuỷ kể lể năm 1657), bị giết và người con thứ, Nguyễn Hoàng phải giả điên khùng, nhờ người chị xin để được đi trấn đất Thuận Hoá xa xôi (1558). Ông Hoàng Xuân Hãn đã phải nghi ngờ rằng Trịnh Kiểm có nhúng tay vào việc đầu độc Nguyễn Kim. Chỉ là điều nghi ngờ thì khó dẫn đến thuyết phục, nhất là trong bao lâu nay sử xưa cứ cho thấy Trịnh Kiểm núp bóng Nguyễn Kim, gây ý tưởng rằng ông ta được trao quyền lớn vì là rể của ông công thần khai quốc lỡ làng. Nhưng hãy thấy rằng người dẹp kẻ “phản loạn” Trịnh Công Năng kia chính là Trịnh Kiểm, nghĩa là một người đã có thế lực riêng đủ để giải quyết mối tranh quyền nội bộ ngay từ lúc khởi đầu, người mà tính cách lãnh đạo vùng đã chứng tỏ trong lần phong chức năm 1539 chưa thấy có bóng dáng quyền lực Nguyễn Kim. Người đó về làm rể ông Nguyễn Kim hẳn không phải chỉ ở thế nhờ cậy mà chính là một thực lực cần nhờ cậy. Trung tâm đóng quân lúc đầu được chỉ là vùng Tây Đô của họ Hồ nhưng chỉ một năm sau khi Nguyễn Kim chết là sử ghi “vua lập hành điện ở sách Vạn Lại,” tách khỏi vướng víu của thời cũ. Ngay sau năm Nguyễn Hoàng đi thì Trịnh Kiểm cử người cùng họ trông coi ngự binh, nghĩa là kiềm chế vua Lê giành cho phe mình. Trên vùng đất kề nước Ai Lao mà tập đoàn chống đối Mạc còn cần nương tựa thì nhóm Trịnh Lào Việt tất phải có ưu thế hơn nhóm Mường Việt họ Nguyễn. Đến khi Trịnh Kiểm thấy mình sắp chết, hẳn cũng nhìn ra sự đối đầu tranh chấp của các con (Trịnh Cối – Trịnh Tùng) nên ông còn đẩy Nguyễn Hoàng đi xa hơn về phía nam, lấy cớ cho cai trị thêm đất Quảng Nam (1570). Ông nghĩ rằng đã tìm được an toàn cho con cháu mình hơn mà không ngờ đến sự thành lập của một lực lượng đối đầu sừng sỏ.

Thế lực Trịnh Lê chủ yếu ở vùng rừng núi gây áp lực đè nặng xuống vùng đồng bằng Thanh Nghệ khiến các tướng của Mạc trấn giữ nơi này thấy bị đe doạ nên tìm cách theo thế lực mới, rồi khi ở phe mới, thấy kẻ kia không mạnh như mình tưởng lại trở cờ chống đối, may mắn thì được chấp nhận để có tên trong lịch sử, rủi ro thì lãnh cái chết có khi không dễ chịu lắm. Không phải chỉ có trường hợp Lê Phi Thừa, Trung Hậu hầu trấn đất Thanh lúc khởi đầu của Mạc mà cả những tướng trấn thủ vùng biên của hai thế lực Đông Tây Việt cứ theo tình thế mà đổi phe, trong đó có Đặng Huấn, người làm ông ngoại Trịnh Tráng sau này. Vị trí đối đầu của Tây Việt cũng khiến cho các phe phái giành quyền mà thất bại ở Đông Việt thấy có chỗ ẩn trú an toàn trước khi nhận ra những khó khăn mới.

Cùng tính cách rừng núi như thế hợp với thời tao loạn của những người ngoài vòng cương toả, Trịnh dễ kết hợp với thế lực chống đối họ Vũ vùng tây bắc Đông Kinh (1547): anh em Vũ Văn Uyên, Vũ Văn Mật (Uyên “thiện tiện giết người” – Phan Huy Chú) từ Hải Dương lên vùng Tuyên Quang chiếm đất, cũng lấy danh nghĩa phù Lê. Tất nhiên với sử quan thì vai trò của dòng họ này thật khuất lấp, phải phụ thuộc vào các biến cố giữa Lê Mạc nhưng với danh xưng chúa Bầu/Biều mà dân chúng trong vùng xưng tụng, xây cất đền thờ một người khởi nghiệp (Vũ Văn Mật) thì họ đúng là chúa một vùng, như các chúa Trịnh Nguyễn, là một thế lực đe dọa Mạc thực sự từ phía tây bắc trong ngay cả lần liên kết với Trịnh đầu tiên 1551. Bài phú nôm của Nguyễn Hãng tả cảnh thủ phủ Đại Đồng, tuy vướng víu với văn từ xưng tụng mồm mép của trường ốc nhưng cũng tỏ rõ về một vùng “thành thị… họp khách bốn phương, xe, dù, ngựa dong đường thiên lí,” đã đem lại “thực lộc” cho tác giả đến 2000 lạng bạc tiền thưởng theo lời truyền tụng đến tai Lê Quý Đôn. Sự sung túc của cải lấy từ khu vực cai trị rộng lớn, một vùng “Đàng Trên” tương xứng với Đàng Trong, Đàng Ngoài, chứng tỏ trong lần đem số lượng lớn vàng bạc nạp cống Lê (1593) nên khó cho họ khuất phục Đông Kinh. Cơ sở đó hẳn khiến phát sinh chống đối ngay năm sau để rồi lên đến mức độ xưng vương của con cháu họ trong thế kỉ tiếp.

Lại cũng không thể quên vai trò Nguyễn Hoàng như sử quan ghi sự kiện thoảng qua, có lẽ vì viết dưới quyền hành Trịnh, mà cũng có thể vì ảnh hưởng bởi bức thư Trịnh Tùng gửi Nguyễn Hoàng: “Đánh thắng rồi mới thấy Cậu đem quân ra…” Quan biên cương không phải mỗi lúc một về triều, nhất với tình hình Trịnh muốn đẩy Nguyễn ra xa. Lần độc nhất mà Hoàng về Thanh Hoá là lúc Trịnh Kiểm đau ốm, có lẽ đủ suy nhược để năm sau thì chết, nên trước đó đã tính toán đẩy Hoàng càng xa hơn về phía nam. Nhưng các cống nạp của Thuận Hoá mà sử nhắc vào giai đoạn cuối cho thấy tính chất quan trọng trong việc chu cấp quân phí cho Thanh Hoá trong biến loạn có lúc “mất mùa, đói to.” Tiền của là từ nơi Nguyễn Hoàng cai trị, “thuyền buôn nước ngoài đều tới buôn bán, trao đổi phải giá.” Đó là chưa nói tới việc giữ an ninh ở vùng phía nam cho Trịnh. Trên nguyên tắc chính thống, khi Mạc cướp ngôi Lê thì có quyền “cả nước” cho nên các lãnh chúa địa phương, thổ hào vùng Thuận Quảng thấy ra được cơ hội, hoặc hùng cứ một phương hoặc nghiêng ngả theo Mạc tuỳ tình thế, trong đó có người như Hoàng Bôi, giữ đầu nguồn Hải Lăng (1553-1558), tận tình với Mạc khiến ông nghè Dương Văn An phải vinh danh người đó trong quyển sách của mình. Quyền hành chuyển đổi đi theo với những bội phản bên dưới nên nhóm Mĩ Lương từ Trịnh chuyển sang Mạc đã tấn công Nguyễn Hoàng (1571), thất bại. Và tiếp theo đó là trận chiến thắng Lập Bạo (1572), viên tướng cũng từ Trịnh đổi hàng ngũ, trận chiến mà sử thần Nguyễn lấy đó làm chứng cớ có thần thánh giúp nghiệp chúa lâu dài. Cả đến khi Trịnh Tùng đánh đuổi Mạc ra khỏi Đông Kinh thì sự thành công vẫn còn là bấp bênh nếu không có Nguyễn Hoàng hiện diện trên khắp các chiến trường, chống chúa Bầu, chống dư đảng Mạc… Quân phương Nam trên vùng hạ du với toán thuỷ quân hùng mạnh, với “hoả khí và súng lớn đồng loạt phá tan luỹ giặc” là một hình tượng quân lực chưa từng thấy trong các cuộc chiến đương thời, đã góp vào sự củng cố chính quyền Lê Trịnh cho đến khi ông chúa phải trở về Nam.

Với tình hình chiếm đóng trong thời gian tranh chấp thì rõ ràng tính chính thống đã thuộc về Mạc. Mạc cai trị trên một vùng rộng lớn, đông dân cư nhất. Mỗi lần có giao tranh là ta thấy sử quan nhận định tình trạng quân Mạc đông, quân Trịnh Lê ít. Nhưng chính vì lãnh phần khu vực đông đúc của triều cũ mà Mạc trở thành yếu thế vì những phức tạp không hoá giải nổi. Luôn luôn cứ thấy đều đặn những khoa cử mở ra với các ông nghè mới. Con Đỗ Nhạc bị Mạc Đăng Dung giết vẫn đỗ tiến sĩ dưới thời ông này, mở đường cho ông em thi đỗ dưới đời vua sau! Mạc không kịp, mà cũng không tìm được cách đưa ra một tính chất khác cho triều đại của mình nên vẫn giữ các cách điều hành, tuyển chọn nhân lực của Lê, điều đó gây ra sự nuối tiếc triều cũ càng mạnh mẽ một khi triều mới lung lay hơn. Sự kiện trong truyền thuyết về việc Nguyễn Bỉnh Khiêm nhắn lời “Hoành Sơn nhất đái…” cho Nguyễn Hoàng lại có vẻ như cho thấy có một khuynh hướng thứ ba trong tranh chấp ngay từ khi mối mâu thuẫn Trịnh Nguyễn chưa lộ hình.

Thật ra trong những năm đầu khi vừa nắm quyền từ giữa biến loạn, họ Mạc đã cứng rắn đem lại an bình cho xứ sở một thời gian. Sử quan dù có thiên vị cũng phải công nhận tình hình an ninh lúc đó (1532) thật đến mực lí tưởng: “[N]gười buôn bán và kẻ đi đường đều đi tay không, ban đêm không còn trộm cướp, trâu bò thả chăn không phải đem về, chỉ mỗi tháng xem lại một lần, có khi sinh đẻ cũng không biết được là gia súc nhà mình. Trong khoảng vài năm, người đi đường không nhặt của rơi, cổng ngoài không phải đóng, được mùa liên tiếp…” Thực tế cầm quyền bằng sức mạnh đó khiến Mạc đã đem lại một đổi mới cho chế độ quân vụ: từ năm 1543, họ bắt đầu cấp phát ruộng cho lính, một chế độ mà Lê Trung hưng cũng phải bắt chước theo vì không còn các ông lãnh chúa hào trưởng mang gia binh đánh giặc như Phạm Ngũ Lão nữa. Nhà nước trung ương đã gom quyền về mình thì phải có trách vụ nuôi người lính của mình.

Nhưng tình hình an bình lúc đầu không kéo dài vì có thể thấy ngay là Mạc phải chịu những áp lực nặng nề tưởng khó mà tồn tại nổi. Lực lượng phù Lê không những tạo dựng được hai thực thể chống đối lớn phía tây bắc và tây nam mà còn đi cầu viện nhà Minh dẫn đến sự đe dọa xâm lăng của nước lớn phương Bắc. Công thần thế gia của Lê “có người đi làm quan với nước ngoài tạm sống,” không chắc đã mon men được vào triều đình phương Bắc mà hẳn là đã hướng về phía tây, vùng Lào Thái, trong tinh thần đồng tộc rơi rớt từ xưa, hay bám víu theo con cháu những người chống đối Lê Thánh Tông ngày trước. Sự đe doạ của nhà Minh dẫn đến những điều đình cắt đất quỳ luỵ rồi cũng tạm yên với cấp độ hạ thấp danh vị “nước” – dù là phiên thuộc, xuống còn một ti sở của Bắc Kinh: An Nam Đô thống sứ ti mà bản thân Đăng Dung cũng chưa kịp nhận chức Đô thống sứ của vua Minh phong. Tình trạng ngập ngừng giữa mới cũ khiến cho Mạc xây dựng Dương Kinh ở làng Cổ Trai quê gốc mà vẫn phải để triều đình ở Đông Kinh của kẻ nghịch. Mạc Đăng Dung cũng bắt chước Trần lên làm Thái thượng hoàng để điều hành bao quát trên một khu vực chưa hợp nhất được nhưng rõ ràng là Mạc không hưởng được may mắn như Trần xưa trên hai kinh đô Thăng Long và Thiên Trường. Vua tôi nhà Mạc cứ nhấp nhổm chạy ra trú ở bên ngoài thành Đông Kinh, lập một thứ Kinh Ấp tạm bợ mỗi khi có rối loạn lớn nhỏ.

Và thế là tiếp đến những rối loạn nội bộ. Quan văn chức được tiếp tục bổ sung bằng những cuộc thi cử tuyển bổ đã gây ra những dèm pha công kích làm tan rã hệ thống võ quan từng cùng Mạc Đăng Dung dựng nên nghiệp đế, nhất là khi người cầm đầu chết đi (1541). Mạc đã cố gắng tăng quyền lợi cho binh lính vẫn không ngăn được nhóm Lê Bá Li gốc Thanh chống đối với nhóm Phạm Quỳnh Đông Kinh, đem nhau về hàng Lê (1550) mang cả một loạt tướng, tuy có người thấy lạc lõng phải trở cờ nhưng rõ ràng là tình hình đó đã gây nên đổ vỡ lớn lao cho phe Mạc khiến vua Mạc lần đầu phải bỏ chạy về đất gốc Hải Dương (1551). Thế rồi không phải chỉ chuyện quân tướng mà có đổ vỡ ngay trong thân tộc cầm quyền. Chuyện tranh giành kế lập 1547-1551 không những làm điêu linh đất Hải Dương căn bản của Mạc mà còn lây lan đến Trung Quốc khiến áp lực bên ngoài càng thêm một lần đe doạ nữa.

Tình hình nghiêng lệch chiến thắng không hề thấy rõ trong suốt một thời gian dài. Với tính cách là quyền lực chính trừng phạt kẻ nổi loạn, thường là Mạc đem quân vào đánh nhưng quân đồng bằng không đủ khả năng chiến đấu len lách trong thung lũng nhỏ hẹp, không tìm được lương thực tại chỗ vốn đã ít mà còn bị cất giấu kĩ. Quân Trịnh đánh ra tuy được lợi là dễ cướp được thóc lúa nuôi quân (như năm 1560 ở Kinh Bắc, 1562 ở Sơn Nam, 1583 với Trịnh Tùng) nhưng cũng không thành công nơi đồng bằng rộng lớn cho đến khi Trịnh Kiểm thấy ra khuyết điểm nên đổi chiến thuật. Ông chuyển quân đánh vòng trên rừng núi rồi áp xuống đồng bằng, lối đánh được Phan Huy Chú nhận ra là “con đường đi đánh Mạc… một dải ven núi, quân Lê lúc đi lúc về trong khoảng 60 năm.” Chứng tỏ một tình hình chiến thắng không phải là giản dị, thấy trước được.

Thế là cuộc chiến bắt đầu xoay chiều. Theo với biến cố chiêu dụ được Trịnh Cối làm Thanh Hoá mất hẳn một số lực lượng, Mạc còn tấn công thành công liên tiếp vài năm sau nữa, kể cả việc đánh quân chúa Bầu phía tây bắc, cho đến khi viên chủ tướng tài ba Mạc Kính Điển mất đi (1580). Như đã nói, lớp “nho thần Giang Đông” được tuyển lựa qua thi cử trở nên đông đúc nên muốn có tiếng nói trong chính quyền. Với họ, lập luận “xin bỏ cường thần để tôn xưng họ vua” đã nhắm đúng vào mối lo an ninh của vua Mạc. Nhóm võ tướng Phạm Quỳnh còn lại sau khi Lê Bá Li bỏ đi, không thấy được yên thân: Phạm Dao bị giết (1562) vì Mạc Mậu Hợp “ngờ có lòng khác.” Rõ ràng chiến tranh còn cần đến võ tướng, thế mà văn thần lại cho rằng “kế sách ngày nay phải là võ gần với văn, tướng võ cùng mưu với tướng văn” cho nên họ dèm pha, móc tội phản bội của Nguyễn Quyện, viên tướng năm 1576 được ca tụng là giỏi nhất “vùng Giang Đông.” Phe văn nổi lên nên có việc Mạc Mậu Hợp dời địa điểm Kinh Ấp mang tính quân sự, lưu động, vào ở hẳn bên trong thành Đông Kinh cho có tính cách đường bệ của một triều đình sang cả. Từ đó Mạc co cụm, đắp luỹ vòng ngoài phía xa ở sông Hát rồi thu vào, xây thêm ba lớp luỹ ngoài thành Đại La. Tình hình đó báo trước trận chiến cuối cùng của Trịnh Lê chiếm Đông Kinh (1592-1593), xua họ Mạc mất danh nghĩa chính thống về đất đai để trở thành những toán quân nổi dậy ở vòng ngoài.

Tuy nhiên công cuộc bình định của Trịnh trên vùng đất đã thuộc về chủ khác trong hơn 60 năm thật không dễ dàng. “Người còn giữ hai lòng chưa quy phục hết.” Cho nên thật rất lâu sau khi đuổi Mạc khỏi kinh đô, cứ mỗi lần có biến động là Trịnh lại lôi vua Lê chạy về Thanh Hoá, như trong cuộc khủng hoảng 1600 lúc hàng thần, công thần (Bùi Văn Khuê, Phan Ngạn) trở về với Mạc gây biến loạn, đánh nhau tạo dịp cho Nguyễn Hoàng bỏ về Nam – hay trong cuộc giành quyền trưởng thứ của họ chúa năm 1623. Hiện tượng trung thành với chúa cũ cũng xuất hiện như ở những lúc thay đổi triều đại “chính thống” khác: Sách Lĩnh Nam chích quái còn để lại câu chuyện ông quan triều Mạc ung dung cản đường nắm cương ngựa Trịnh Tùng, chịu chém để Mạc Mậu Hợp có thì giờ chạy thoát! Và Nguyễn Quyện, tuy bị dèm pha trong triều Mạc, khi thất thế cuối cùng đầu hàng Trịnh cũng tìm cách đẩy đưa cho vua cũ có thì giờ lánh xa. Ngoài nhóm chống đối “phù Mạc” còn có những kẻ chớp thời cơ hoặc xưng đế hiệu, vương hiệu hoặc chỉ là nguyên súy, quốc công, quận công… nổi lên ngay chính ở hậu phương của Trịnh Lê. Vô số chức tước xuất hiện, mà thông dụng nhất có lẽ là tước quận công, chắc là vừa vặn trong tầm mức ước mơ của con người thời loạn, khiến ngay với các sự kiện đương thời người ta đã không dài dòng mà chỉ nói gọn: “quận” Thuỵ, “quận” Quỳnh (1598)… Danh vị đó càng nhiều trong những năm về sau và trở thành thông dụng, dành cho cả những người nổi loạn ở các thế kỉ tiếp: Quận Hẻo (Nguyễn Danh Phương), Quận He (Nguyễn Hữu Cầu). Và với sử quan Nguyễn thế kỉ XIX thì càng gọn hơn: hầu hết các quan võ đời trước đều là Quạn X, Quận Y trước tên họ chính thức.

Bên ngoài vòng tranh chấp triều chính trên cao

Cuộc chiến tranh giành quyền lực giữa Tây Việt và Đông Việt trong thế kỉ XVI cho thấy tính cách tàn sát lên đến cao điểm: Quân Mạc “chết nhiều, xác nghẽn cả sông, nước đỏ như máu… mấy vạn chết gần hết,” quân Trịnh “sĩ tốt còn một nửa.” Dù có thể đó là lời khoa đại của sử quan theo tính cách văn chương trầm bổng họ học được, sự thật chắc cũng không xa về số lượng người chết, nếu không ngay lúc xung đột thì cũng kéo dài sau trận chiến xét theo thực trạng cấp cứu thương vong kém cỏi ngày xưa. Không thấy nói về số lượng dân chúng chết nhưng những lời sơ sài: “lụt lội,” “đói kém,” “xiêu tán” đủ tả rõ tình trạng đó, không cần đến chi tiết ghê gớm hơn: “Dân Hải Dương đói kém đến ăn thịt lẫn nhau.” Nhưng chúng ta không được cho biết nền tảng sinh hoạt nào đã khiến nuôi dưỡng cuọc chiến kéo dài đến hơn 60 năm. Đúng là tình hình thương mại khuất lấp trong cuốn sử nhà nước chỉ nói toàn chuyện tranh chiến khiến ta không hình dung được thực trạng trao đổi trong vùng vào thời gian này. Thế nhưng người Minh cho biết hai sứ thần họ Trịnh đi phân trần với Thượng quốc đã dùng thuyền buôn phát xuất từ các hải cảng Chiêm Thành. Như vậy là đã có một dòng lưu thông từ vùng Tây Việt đến phía nam. Đất Trịnh Lê nằm choàng trên Đại Việt và Lào hẳn là kiểm soát được dòng buôn bán nam bắc, biển cả và nội địa trong vùng để thu thập thực lực vật chất. Liên hệ giao thương có thể vươn ra xa và rộng lớn hơn nếu ta tính thêm vị trí vùng chúa Bầu nối tiếp với đất Nam Trung Quốc.

Chưa thấy ảnh hưởng thương mại của các tàu thuyền phương Tây như ở thế kỉ sau nhưng lúc này thì người Bồ cũng đã tiến qua chiếm Malacca (1511), đặt chân trên đất Thái, bán đảo Mã Lai, thành lập đế quốc trên bán đảo Ấn Độ (1521-1557). Họ đến Đàng Trong vào khoảng 1540. Sự có mặt của họ hẳn cũng kích thích nền giao thương trao đổi các món hàng truyền thống trong vùng mà dấu vết nổi bật nhờ những phát hiện khảo cổ học dưới biển gần đây là mặt hàng gốm, liên quan đến Việt Nam là gốm Chu Đậu phía Bắc và gốm Gò Sành trên khu vực Chàm không thấy ảnh hưởng suy sụp từ trận chiến 1471. Lại cũng không thể tìm chứng cớ nơi sử quan nhưng sự việc các đình làng với cơ ngơi vững chắc nên còn dấu vết đến bây giờ, sớm nhất là xuất hiện trong đời Mạc (ví dụ đình Lỗ Hạnh 1576, bia đình Nghênh Phúc 1591), sao không thấy đó là chỉ dấu của một nền thương mại trên đà phát triển đã tác động đến sinh hoạt của làng xã đương thời, đem tiền bạc vào nâng cấp cuộc sống vật chất và tinh thần ở đó?

Sự phát triển thương mại trên mặt biển dưới thời Mạc cũng thấy dấu vết ở từng lớp trên, gián tiếp qua việc vua quan, nội cung tạo tác nhiều chùa, tượng thờ Quan Âm xuất hiện đồng lúc với việc yểm trợ xây cất, trùng tu các “chùa” Bà Banh ẩn giấu dưới các tên hiền hoà hơn. Điều đó chứng tỏ đương thời người ta cần đến vị Bồ tát yểm trợ người đi biển, trong đó có lẫn lộn tín ngưỡng Phật Giáo, Đạo Giáo của Trung Hoa cùng với các tin tưởng chìm lắng hơn của phía Nam về hình ảnh con ngựa Balaha, Việt hoá dưới tên thần Bạch Mã Thái Giám lấn lướt hình ảnh phong thuỷ của thần Long Đỗ ở đất Thăng Long rơi rớt từ thời Bắc thuộc… Rồi cũng với hiện tượng thâm nhập từ phía biển lại thấy manh nha một loại linh thần nữ sẽ lan tràn trong các thế kỉ sau nhưng khởi đầu ở thế kỉ chiến tranh loạn lạc, chết chóc này, là một thần tai dịch hung dữ – thần Liễu Hạnh, vốn là một cô gái có thật vì được ghi là sinh ra với niên điểm chắc chắn: 1557, với chứng cớ từ gia phả một gia đình giàu có đem gửi gắm vào danh sách hậu thần, ở đó, cô được thần hoá qua thời gian theo một tiến trình bây giờ không kiểm chứng được bởi chính sự thần hoá kia. Các thần biển nữ, có lúc mang dạng Phật – Quan Âm, rồi sẽ phối hợp với dòng tin tưởng shaman rừng núi, lập nên một hệ thống thần điện Việt được thờ cúng với nghi lễ hoành tráng trong các điện, phủ càng lúc càng phát triển phồn tạp. Thiên Chúa Giáo, tôn giáo mới cũng bắt đầu mon men vào nước Việt. Theo Thánh dụ 1493 của Giáo hoàng Alexandre VI phân chia phần thế giới cho Bồ, các giáo sĩ sang châu Á lúc bấy giờ đều phải đi trên tàu Bồ, bắt đầu xuống bến ở Lisbonne, cho nên họ toả vào Đại Việt hay trốn chạy trong thời gian bị truy bức, xua đuổi đều qua tay của thương nhân Bồ. Dấu vết đầu tiên là trường hợp một giáo sĩ mà sử Việt ghi là I-nê-xu, có thể từ nguyên dạng Ignatio, đến đất Nam Định năm 1533. Giáo dân Việt đầu tiên được ghi nhận có đầy đủ tên tuổi là Đỗ Hưng Viễn, cải giáo trong khoảng thời gian giữa thế kỉ XVI đó. Đó là khởi đầu của những biến động to lớn hơn đi theo với sự phát triển cũng to rộng hơn của Đại Việt.

bài đã đăng của Tạ Chí Đại Trường


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)