Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Thơ Email bài này

Alejandra Pizarnik: nhà thơ nữ bạc mệnh

 

 

Alejandra-Pizarnik_thumb

 

Alejandra Pizarnik là nhà thơ nữ kiệt xuất của Argentina, một thành tựu độc đáo trong thi ca bằng tiếng Tây Ban Nha. Cô sinh ngày 29 tháng Tư 1936 tại Avellaneda, gần thủ đô Buenos Aires, cha mẹ là người Nga gốc Do Thái, tị nạn cộng sản và phát xít. Pizanik nổi tiếng ngay từ tập thơ đầu, La tierra más ajena (The Most Foreign Country) xuất bản năm 1955 khi mới 19 tuổi. Từ 1960, Pizarnik sống tại Paris, học văn chương Pháp tại Sorbonne, tham dự bộ biên tập Les Lettres Nouvelles, dịch sách, quen biết nhiều tên tuổi lớn trong văn giới Tây Ban Nha như Julio Cortazar, Octavio Paz. Chính Paz viết bài tựa, giới thiệu tập thơ thứ tư của Pizarnik, Árbol de Diana (Diana’s Tree). Về lại Buenos Aires từ 1964, Pizarnik có thêm bốn tập thơ. Tập cuối: El infierno musical (A Musical Hell, 1971). Cùng năm, Pisarnik nhận Fulbright Scholarship, nhưng nhà thơ tự sát ngày 25 tháng 9, 1972, khi mới 36 tuổi.

—Phan Quỳnh Trâm & Hòa Bình Lê giới thiệu / trích dịch

 

 

 

đêm

 

Tôi biết rất ít về đêm
Nhưng đêm dường như biết tôi,
Thậm chí giúp tôi như thể nó yêu tôi
Nó bao phủ tâm trí tôi bằng những vì sao của nó
Có lẽ đêm là sự sống và mặt trời là sự chết.
Có lẽ đêm là không-gì-cả
Và những giả định về nó là không-gì-cả
Có lẽ chỉ từ ngữ là thứ duy nhất tồn tại
Trong sự trống rỗng khổng lồ của nhiều thế kỷ
cào xé linh hồn chúng ta bằng ký ức của nó
Nhưng đêm phải biết những khổ đau được nuôi
dưỡng bằng máu và những ý tưởng của chúng ta
Nó phải ném sự hận thù vào ánh nhìn của ta
biết chúng chứa đầy những tính toán và bất đồng
Nhưng rồi tôi nghe đêm khóc trong xương tuỷ tôi
Giọt nước mắt khổng lồ của nó như mê sảng
Và thét lên về điều gì đó đã đi xa mãi mãi
Một ngày nào đó chúng ta sẽ lại hiện hữu.

 
[Phan Quỳnh Trâm dịch từ nguyên tác Tây Ban Nha “La Noche”
trong Alejandra Pizarnik, Poesia Completa: 1955-1972, Lumen Espana, 2009.]

 

 

 

phai mờ

 

ở phía bên kia của đêm
tình yêu là khả thể
hãy cho tôi đến đó
cho tôi đến giữa những ngọt ngào
đang chết dần mỗi ngày
trong ký ức anh.

 

 

 

về những điều vắng mặt

 

Trước khi từ ngữ cạn,
điều gì đó trong tim đã lụi tàn.
Ánh sáng ngôn ngữ bao trùm tôi như âm điệu,
như bức ảnh bị xé vụn bởi bầy chó dại buồn
Và mùa đông đến với tôi
như người đàn bà thuỷ chung với bức tường.
Ngay khi tôi hy vọng có thể từ bỏ hy vọng,
hình ảnh anh tan biến
Chẳng còn gì ngoài nỗi trống vắng
còn kẹt lại.

 

 

 

đôi mắt nguyên sơ

 

Nơi sợ hãi không lên tiếng
trong những câu chuyện hay bài thơ,
cũng không tạo dáng
cho nỗi kinh hoàng hay vinh hiển.
Tên tôi, tiếng gọi tôi – một khoảng trống xám.
Tôi quen thuộc với mọi loại sợ hãi.
Tôi biết thế nào là bắt đầu ca hát
và chắp cánh vượt qua ngọn núi hẹp
xuyên qua những lối đi
để rồi trở lại với bản thân xa lạ,
kẻ tha phương ngay trong chính lòng mình.
Tôi viết để né tránh nỗi sợ hãi
và cơn gió buốt cào xé cổ họng.
Rồi khi trời sáng, khi con người run sợ
nhận thấy mình đã chết
(chẳng còn hình ảnh nào) sự im lặng dồn nén,
sự im lặng của chính nỗi tịch mịch hiện hữu.
Cứ thế, ngày tháng trôi đi
cứ thế, chúng ta mất dần
niềm hạnh phúc đẹp đẽ ban sơ.

 
[Hòa Bình Lê trích dịch theo bản Anh ngữ của Yvette Siegert, A Musical Hell, New Directions, Sep 2015.]

 

 

 

không đề

 

Một nửa trong tôi muốn nói,
tôi thừa hiểu giọng điệu cô nàng.
Cô cho rằng yêu là chết,
dù chẳng thể quay lưng với nó.
Tình yêu vô tội,
việc gì phải lên tiếng
Mập mờ trong gương,
cô thủ diễn cả hai vai.
Những câu thơ chỉ có thể viết ra
bởi nỗi trống vắng
Sẽ chẳng là gì cả
nếu tôi để hình bóng anh len vào.
Tôi về phe với nó
ôi bài thơ
dẫn tôi đi xa khỏi cuộc đời
Rồi đến ngày tôi biến mất
biết sẽ về đâu?
Chẳng một ai hiểu
Sự nhớ nhung
cùng nỗi khát khao bóng tối của chữ nghĩa.
Tưởng tượng dáng hình anh,
tôi sắp đi sắp lại bài thơ như thể nó đã tan tác.
Chẳng một ai hiểu tôi.
Tôi biết cuộc đời và tình yêu luôn đổi thay
Chiếc mặt nạ dính trên da thịt tôi nói vậy
Nó đau đớn thừa nhận
sự dan díu giữa từ ngữ và bóng tối,
nơi nỗi khiếp đảm thành hình,
từ chối làm người.

 
[Hòa Bình Lê trích dịch từ Uncollected Poems (1962-1972)
do Cole Heinowitz dịch từ bản gốc tiếng Tây Ban Nha,
do chính Pizanik trao tận tay nhà thơ Perla Rotzait năm 1970,
một năm trước khi cô tự sát.]

 

 

 

.

bài đã đăng của Alejandra Pizarnik


1 bình luận »

  • Thường Quán viết:

    Những bản dịch gọn, lạnh. Alejandra Pizarnik: thơ ở biên giới và trên hết – sự kỳ lạ ấy – coi chừng sáo ngữ – thứ được gọi là tình yêu, dẫu rằng mãi mãi không có gì gọi đúng tên một trạng huống.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch