Trang chính » Học Thuật, Lịch Sử Email bài này

Sơ Thảo: Bài Sử Khác Cho Việt Nam* – Chương 9

CHƯƠNG IX:

TRIỀU ĐẠI BẢN XỨ TỪ VÙNG CAO

Thanh toán triều cũ và cơ sở mới

Nhìn lại bản văn thề Lũng Nhai 1416, ta đã thấy phần lớn là tông tộc Mường Thái cùng gia nhân, thân thuộc, láng giềng của họ, đúng với ý nghĩa ban đầu của hội thề là giữ yên làng xóm chống kẻ xâm phạm từ bên ngoài. Số lượng nhân vật Kinh ít hơn chứng tỏ chỉ là sự phụ hoạ theo với tình trạng lưu lạc, trốn lánh truy bức của quân Minh, nhưng chính kiến thức của họ và quần chúng đồng bằng rộng lớn đã đem lại tương lai cho nhóm. Văn thề viết bằng chữ Hán vừa như một nối kết ngôn ngữ giữa những tập đoàn khác nhau, vừa như một chỉ dấu mở rộng vươn lên. Lê Lợi từ cái thế nhỏ nhoi khu vực, đã xưng là phụ đạo, nghĩa là thần tử triều Trần của nước Đại Việt, còn đấy với một vị vua giả định có niên hiệu là Thiên Khánh, rồi sẽ hiện hình cụ thể với vai trò của Trần Cảo rước về năm 1425. Lúc này họ đã xuống được đồng bằng, khuếch trương thế lực trên đất Trần trực tiếp cai trị cũ, lấy chính nghĩa dân nước đối phó với nhà Minh, có sự thừa nhận của quần chúng trong ngạc nhiên: “Không ngờ ngày nay lại được thấy uy nghi của vua nước cũ.”

Nhưng đã gọi là “chiêu bài” thì rất dễ dàng vứt bỏ khi tình thế đổi khác đi có lợi cho phe chủ lực, cho nên quân Minh rút xong là Trần Cảo bị giết (1428). Tuy nhiên quá khứ vẫn không thể dễ dàng vứt bỏ huống chi lại có yếu tố mới chen vào gây thêm khủng hoảng. Còn ở trong vùng ảnh hưởng của Lam Sơn thì các nhân vật đồng bằng, nhất là vùng Kinh, còn phải chịu lép vế, đến khi về Thăng Long thì những tướng như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo (được mang họ Trần trong hội thề với Vương Thông) có thể thấy mình đắc thế hơn trong lúc nhóm Lam Sơn lại trở nên lạc lõng, tuy có lực, có quyền mà cảm thấy bị đe doạ thực sự. Kéo người đi, họ mất cả một vùng đất đai căn bản rộng lớn khai khẩn sẵn mà trống quyền lực nên thu hút các nhóm khác đến điền thế. Vì thế đồng thời với lúc giết Trần Cảo là “lệnh cho các đầu mục và các tướng hiệu trở về nhận ruộng đất ở quê để chấm dứt nạn tranh chiếm.” Tình thế giống như có một cuộc hành quân ngược lớn lao mà sử không ghi. Những dòng người theo các triền sông nơi này, đi về phía đông hẳn vẫn không chịu dừng lại nên đến 1466, Thánh Tông còn phải ra lệnh chia đất công ở Lam Sơn vì “các thế gia hay làm trái phép… chiếm đoạt đất đai làm công chúa không có đất cắm dùi…”

Thế là liên minh phải tan rã, đầu tiên là Lê-Trần, kéo theo các phần tử liên hệ phe phái khác: Trần Nguyên Hãn với Bế Khắc Thiệu (1429, 1430), Phạm Văn Xảo với Đèo Cát Hãn (1432), như liên kết cũ của chủ nhân trung châu và nhóm Thái phía bắc. Giữa thời gian thanh toán hai nhóm kia là công thần Nguyễn Trãi nằm ngục, không chết hẳn vì là văn quan không đủ sức đe doạ quyền lực Lê, và Lê còn cần tới ông. Con đường thoát tức khắc của ông là tiếp tục nhiệm vụ văn thần (viết chiếu cho quan, dân, thư ngoại giao với Minh…) theo một tính cách ủng hộ triều mới tích cực hơn qua việc phủ nhận liên hệ với anh em bà con, với triều cũ (“Chiếu bình Phục Lễ”), và toan tính về lâu về dài là đưa người thiếp Thị Lộ vào nội cung để gây uy thế nhờ cậy bảo toàn thân danh. Tranh chấp Lê Trần còn kéo dài rất lâu với những tình thế phức tạp của mỗi trường hợp gây biến đổi. Xúi giục Lê Lợi giết Trần Nguyễn Hãn cũng có người họ Trần phụ hoạ theo thời mới, đó là trường hợp Trình Nguyên Bá mang họ Trần đã đổi. Sau này, trong vụ giết Nhân Tông (1459), có vẻ người chủ xướng quan trọng lại là họ Trần: Trần Lăng, không được sử quan cho đổi họ để nêu rõ tội trạng. Và xung đột còn tiếp về sau, dài dài ẩn khuất qua nhiều thế kỉ…

Chính sử quan cũng tỏ ra ngầm đứng về phía Trần, nghĩa là xung đột không phải chỉ ở trên tột đỉnh quyền bính mà còn ở đám văn quan gốc trung châu tự phụ ở kiến thức Nho hoá cao hơn, và nhóm văn quan gốc Lam Sơn mang dấu vết bản xứ hơn. Nổi bật là sự tranh chấp về quy định nhã nhạc cho triều mới, giữa Nguyễn Trãi và Lương Đăng. Sự thắng bại của phe nào cũng lại tuỳ thuộc vào tình thế đương thời. Phép thiết triều của Lương Đăng tuy bị công kích dữ nhưng vẫn thắng thế. Có sự nhường nhịn khi Nguyễn Trãi dâng khánh đá được chấp nhận nhưng khi tranh cãi gay go thì phe văn thần trung châu được nhắc cho biết quyền lực là ở nơi đâu: Tham nghị Nguyễn Liễu bị xử “tội đáng chém nhưng được lệnh riêng cho thích chữ vào mặt, đày đi châu xa.” Cũng thắng thế là nhóm người đem tin tưởng thần bí (như cứu mặt trăng, mặt trời) vào một triều đình còn vua quan với sinh hoạt cũ xưa (vua cầm cung bắn chim, quan còn chăng lưới săn trên đất kinh kì.) Tuy nhiên nhóm trung châu lại thắng thế khi viện dẫn tinh thần Nho giáo trên đồng bằng như khi xin cấm lối hát bá cổ, níu chân tay trên đất Thanh Hoá, xin cho công thần khỏi theo “quốc tính” / họ Lê để trở về họ của tông tộc mình…

Bởi vì đã đóng đô trên đất cũ của Trần thì Lê cũng phải đổi thay, và do đó sự tranh chấp quyền lực cũng phức tạp hơn, không chỉ dừng lại ở mâu thuẫn của hai tông tộc Lê Trần mà thôi. Trên tột đỉnh, việc truyền ngôi có vẻ lúc đầu không theo thể thức của Trần mà có tính cách như một vài trường hợp ở nước Chàm phía nam, trường hợp truyền nghiệp của các dân tộc Polynesian ngoài đại dương. Lê Lợi nối nghiệp anh và nhân sự kiện Lê Thạch bị chết khi đánh Lào, sử quan hé cho thấy nếu không chết thì người này sẽ kế nghiệp, nghĩa là việc chuyển tiếp cơ nghiệp có vẻ theo thể thức anh qua tay em rồi sẽ trở về người trưởng dòng chính. Vì thế khi sắp xếp hậu sự, Lê Lợi lúc đầu đã phong con trưởng Tư Tề làm Quận Vương nối nghiệp còn đặt con thứ Nguyên Long làm Hoàng thái tử tiếp theo, cũng viện dẫn đến sử sách (sự kiện đầu đời Tống) mà không màng đến phản đối chỉ vì thấy sát với tập tục của mình (Chiếu cho Tư Tề nhiếp quốc chính: “Người xưa… lập anh truyền em mà hưởng nước lâu dài…”) Tập tục có vẻ còn rơi rớt trong vụ Nghi Dân bị phế bỏ mà xoay sang giết em (Nhân Tông) với sự phụ lực của các phe phái mới trong đó người họ Trần đã kiếm được cách chen vào.

Tuy cá nhân tông tộc Trần không thắng nhưng hệ thống chính trị, xã hội Trần để lại được thu thập vào tay Lê đã ép chuyển được tập thể mới uốn nắn theo, lúc đầu thì chỉ là gượng gạo, thu xếp theo từng tình thế, sau dần thâm nhập đủ để nắm vững tình hình mà phát triển ra căn bản vững chắc. Lê Lợi mới về Thăng Long, nhăn nhó với các nhà cao cửa rộng, với lề lối thù tiếp của quan viên cựu Trần bày vẽ theo theo thói quen cũ cùng với ý tưởng xu nịnh mới. Thế rồi ý thức về một bậc chủ tể toàn quyền theo một hệ thống không chỉ là quyền lực mà còn là đạo lí của một ông vua Nho giáo đã khiến cho vua tuy còn cầm cung bắn chim nhưng đủ sức giết được quyền thần mình không ưa. (Thái Tông giết Lê Sát, Thái hậu họ Nguyễn giết Trịnh Khả, Trịnh Khắc Phục vì động chạm đến tính chính thống của nhóm Lê.) Và cả triều đình kết tội phản quốc cho một công thần (vụ Nguyễn Thị Lộ lây lan qua cái chết của hai người ở nội cung) không một chút thắc mắc. Rồi với thời gian thì khuôn khổ mới thành hình vững vàng với ông vua Lê (Thánh Tông) văn minh hơn, nắm được quyền hành xử trên đám thủ lãnh Lam Sơn biến chất, chia rẽ (nhóm Lê Sát, Phạm Vấn giết Lưu Nhân Chú, gây mâu thuẫn với nhóm Thái Bắc và Thanh của Trịnh Khả, Trịnh Khắc Phục – anh em khác cha với Nhân Chú; Nguyễn Xí và các nhóm Lê Lăng, Lê Niệm…) Nhóm quần thần gốc Trần nhẫn nhục hơn nhưng lúc này đã thoả mãn vì thấy truyền thống của mình được củng cố hơn với tầng lớp quan lại đồng bằng, ùn ùn vào triều chính qua lối tuyển cử mới.

Chiến tranh không những đã đem lại đổi thay về chính quyền trên cao mà cả về chủ quyền khu vực nhỏ, chủ quyền đất đai nói chung vì tính chất lưu tán trong biến loạn của người dân. Vì thế khi nắm quyền, họ Lê có cả một chừng mực quá khứ bị xoá bỏ để xây dựng thời đại mới với ít trở ngại hơn. Hồ Quý Li hạn điền tuy chỉ ở tầng lớp dưới nhưng cũng đã làm thay đổi quá khứ. Đến Minh thì tầng lớp trên (Hồ, Trần) tan tành, điền trang rã ra, ngay cả những người theo Minh lúc đầu để giữ cơ nghiệp cũng trải qua những điêu đứng, có khi phải chết vì tay chủ mới. Chiến tranh đưa đến tình trạng tự do cướp bóc ruộng đất mất chủ khiến cho tập đoàn quyền bính mới về Đông Đô, thấy như mình bị cướp chặn công lao. Cho người về vùng căn bản chiếm lại đất đã mất cũng chưa đủ phân phát cho cả hàng trăm ngàn người từng cùng chiến đấu dưới tay. Việc tịch thu tài sản của nguỵ quan cũng có giới hạn một chừng mực vì chính sách thoả hiệp ban đầu khiến vẫn còn những người nổi bật như Trần Phong, Lương Nhữ Hốt… hay những người cần thiết cho việc cai trị lúc đương thời như Phan Liêu trước khi phải loại trừ. Một số người thời Minh vẫn còn làm quan xử kiện cho đến đời Thái Tông mới bị phác giác (1437) vì tầng lớp văn quan thời bình chen lấn vào chính quyền, đẩy bật ra. Cho nên phải lo kiểm kê ruộng đất trong nước, và thấy ra sự bất công hiển nhiên để áp dụng chính sách ruộng đất mới.

Tờ lệnh chỉ tháng 1al. 1429 cho thấy rõ điều đó: “Người đi đánh giặc thì nghèo, kẻ rong chơi thì giàu. Người đi chiến đấu thì không có một thước, một tấc đất mà ở còn những kẻ du thủ du thực, không có ích gì cho nước lại có quá thừa ruộng đất, hoăc đi làm nghề trộm cướp. Thành ra không có ai chịu hết lòng với nước, chỉ ham nghĩ phú quý mà thôi. Nay ra lệnh cho các đại thần bàn định số lượng cấp cho quan lại, quân nhân và dân chúng, trong từ đại thần trở xuống, dưới đến người già yếu mồ côi goá chồng, đàn ông đàn bà trở lên, loại nào được cấp bao nhiêu thì tâu lên. Lại bàn cả số tiền, lụa trình lên.” Thế là có chính sách được gọi là “quân điền” mượn của phương Bắc, làm căn bản cho những quy định điều hành sít sao hơn của các triều sau. “Các đại thần” đó là những nho gia thoát khỏi những kềm hãm của tầng lớp tông tộc cũ, được tiếp xúc rộng rãi hơn qua những năm biến loạn Hồ, Minh thuộc, đến lúc này có một thời mới trước mắt để áp dụng kiến thức từ những kinh sử họ học được. Việc chia ruộng có vẻ không được thi hành sít sao nhưng cũng đem lại một chừng mực ổn định tình thế sau chiến tranh, đặt cơ sở cho những quy định tiếp theo, thấy rải rác trong bộ Quốc triều hình luật thường được coi là “luật Hồng Đức” nhưng vẫn có các điều khoản của các đời Thái Tổ, Thái Tông. Cuối cùng chính sách quân điền được chính thức ban hành là năm 1477. Thật ra có vẻ như lệnh chỉ 1429 còn được nhắm vào việc chính thức hoá chủ quyền cho một công thần nào đấy, hoặc bao chiếm đất mới hoặc mở rộng điền sản cũ, chứ không hẳn chỉ là một toan tính công bình xã hội. Lê Quý Đôn đã thấy một lệnh chỉ như thế cấp cho Khai quốc công thần Nguyễn Thế Chuẩn “cho phép lấy ruộng tuyệt tự của nhà thế gia triều trước và ruộng đất bỏ hoang ở xã trang thuộc huyện Tống Sơn… làm tư sản, cộng 470 mẫu.” Một lệnh chỉ cuối năm 1429 (hay đầu 1930) buộc người có ruộng bỏ hoang không được ngăn kẻ nơí khác đến cày cấy, là dấu vết cho ta thấy sự chú tâm của chính quyền về việc phục hồi sản xuất hơn là công bình xã hội.

Có những vấn đề tồn tại của thời trước nay phải giải quyết dứt khoát như việc cải cách tiền giấy của nhà Hồ tuy không thành công nhưng qua thời gian thuộc Minh, đất nước sử dụng tiền giấy rộng rãi, nên cũng thành một truyền thống ngắn ngủi, không hợp với Đại Việt nhỏ bé với nền tảng kinh tế tự túc không đòi hỏi lượng tiền di chuyển lớn lao. Có cả những chuyện lặt vặt mà nhà nước buổi đầu còn nghèo, lo nạp người vàng cho Minh, phải tính đến như việc quy định buộc các quan nộp một phần số vàng “nảy” ra ở sông Nhị, hẳn là vàng vơ vét bỏ chạy của quân bại trận không kịp thu về. Nhưng nói chung việc cai trị toàn vùng mới làm chủ cũng phải đặt ra thật nghiêm chỉnh.

Cơ sở cai trị thời Trần, Hồ, Minh thuộc tiến triển dần đến độ quyền trung ương kiểm soát nhặt nhiệm hơn. Buổi đầu còn lại không hiếm những viên quan cũ / “nguỵ quan”, thất sủng hay yên vị là tuỳ những tình thế thật mỏng manh. Tuy nhiên họ Lê đã chia ra những vùng lớn gọi là “đạo” như những khu vực quản trị đầy đủ tính cách quân sự (Tư mã), hành chính (Hành khiển), giám sát (Ngự sử) dưới con mắt trông chừng của trung ương. Quyền hành trên hết hẳn nhiên là các tướng lãnh Lam Sơn qua những chứng cớ như Lê (Đinh) Liệt của Nam Đạo, Lê Văn An của Bắc Đạo, như Lê Bôi ở Tây Đạo, Lê Khuyển ở Hải Tây Đạo, và Đông Đạo thường xuất hiện với các chức quan nhỏ hơn… Đội quân nòng cốt ở trung ương là đội Thiết đột được sai đi bắt Trần Nguyên Hãn, là chứng cớ quyền uy như lúc Trịnh Khả được điều về trông coi tổ chức đó thì ông quyền thần Lê Sát than với vua: “Khả vào hầu trong cung thì thần nguy mất!”

Phù trợ cho tướng lãnh Lam Sơn, có một hệ thống cai trị mờ nhạt, được nhắc thoảng qua trong các lệnh chỉ nhưng nhìn kĩ thì đúng là một tổ chức có dụng ý, chỉ là không vươn lên được cấp độ chính thức mà thôi: hệ thống “thủ lãnh.” Phan Huy Chú sau này cũng không nhắc một lời về hệ thống này, hệ thống rõ ràng cho thấy nhóm Lam Sơn cố sức lấy vây cánh rừng núi cai trị dân trung châu đến tận cơ sở. Thật ra thì từ lúc đầu, Lê đã đem những bộ hạ thân thuộc từ rừng núi của mình, đến cai trị đất trung châu theo tính chất quân quản với danh xưng riêng biệt là những quản lãnh. Tuy nhiên tầng lớp cao cấp này dễ tan biến trong quyền chức mới thật nhanh chóng. Họ lo tranh giành quyền chức, đe dọa hoàng tộc Lê hơn là một lớp người thấp thỏi hơn, mang sinh hoạt cũ, đủ để tin cậy hơn: thủ lãnh.

Chức Thủ lãnh lần đầu tiên được nhắc trong Hoàng triều quan chế năm 1471 khi Thánh Tông đưa ra quy định tổ chức xã hội chặt chẽ làm căn bản cho cả một thời kì thịnh vượng về sau, còn dấu vết đến tận thời Mạc: “Đến như việc xét duyệt sổ sách quân nhu hàng đống, hay phân biệt chọn lựa tướng suý, thiên tì trong các quân của thủ phủ thì các quan kinh lịch, thủ lãnh đều được phép tra xét, đàn hặc cả…” Lệnh Chọn chức thủ lãnh (1498) nêu rõ chi tiết hơn về mặt quyền hạn và các ngóc ngách lan tràn của tầng lớp quan này: “Chức thủ lãnh được ngang hàng với trưởng quan, không phải chỉ có tra xét, viết lách sổ sách ở phủ vệ mà còn phải xét hặc các tướng hiệu gian phi… Từ nay, ở trong thì Lục khoa, ở ngoài thì Hiến ti, hễ là thủ lãnh phải tuân phép công bằng…” Hiến Tông kế nghiệp cha, đã nói rõ là không muốn sửa đổi gì nhiều luật lệnh của thời trước nên lệnh 1498 trên chỉ cho thấy chi tiết hơn về một tổ chức đã hiện diện rộng rãi và vững vàng từ lâu ngay trong lệnh 1471 (và các lệnh 1480, 1483 tiếp theo.) Sự việc được nêu ra năm 1471 có chi tiết nằm trong Nội mật viện, cơ quan nắm quyền quân sự của nhà nước, rõ ràng là trụ cột bảo vệ họ Lê cầm quyền. Chỉ danh thủ lãnh có khi xuất hiện trong thế đối ứng với “đường quan,” “trưởng quan,” những chức trách trong các văn thư năm 1478 cho thấy là những người đứng đầu “các nha môn viên chức trong ngoài,” “các nha môn quan quân.”

Điều kì lạ là một tổ chức cai trị cùng khắp và quan trọng như vậy mà không lưu dấu vết gì trong các quy định chức phẩm, quy định hưởng thụ của đương thời cả. Phan Huy Chú cũng không chừa một dòng nhỏ nào cho chức thủ lãnh trong phần Quan chức chí của ông dù ông từng khen hết lời về tổ chức thời Hồng Đức. Vậy thì chỉ có thể hiểu chế độ thủ lãnh là một tổ chức cấp thời, gán ghép trong quan chế thi hành ở đồng bằng, trung châu, lấy từ các tập đoàn thiểu số nhỏ len lỏi vào các cơ quan quân sự trung ương, địa phương giúp rập cho tập đoàn Mường Thái Lam Sơn, tập đoàn dù là đã vơ vào ban quốc tính cho các họ khác trở thành Lê cũng không thấy đủ người để tin tưởng mà cai trị trên khu vực to lớn vừa chiếm được sau chiến thắng 1428.

Nhưng như đã thấy, tập đoàn Lam Sơn phải tìm cách thích ứng – và bị lôi cuốn theo một sinh hoạt mới làm sửa đổi bản chất của họ. Dù còn phải khẩn cầu Minh công nhận thay Trần, Lê Lợi “Đại đầu mục” thực tế đã làm chủ nước. Đến ông vua cháu thì Nhân Tông được phong làm An Nam Quốc vương (1443) qua bao nhiêu tổn phí cống sứ và đủ thời gian cho Minh dằn được tự ái. Con đường trung châu hoá cũng là con đường Nho giáo hoá cho nên qua thời kì đầu, kêu gọi người tài ra giúp nước, lấy người làm việc theo tính cách công cử, lấy người qua những khoa thi bất thường, sơ sài thì cũng đến lúc phải mở ra những khoa được quy định thường trực đồng thời với các cuộc khảo hạch kiểm tra để thăng, giáng chức vụ. Thật ra thì đà tổ chức học vấn theo Nho đã phát triển tận các địa phương với những cải cách của Hồ Quý Li, lại tăng tiến dưới thời Minh thuộc theo tham vọng ổn định của chính quyền thuộc địa nằm ở Đông Quan. Lớp người văn học phục vụ Lê buổi đầu có người xuất thân thời Hồ (Lí Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên… đỗ 1400), trải qua kinh nghiệm kiến thức trong thời Minh (có thể là Ngô Sĩ Liên,) cả đến việc làm quan trong thời ấy (như các quan coi việc hình bị phát giác năm 1437,) dù người sau cố tránh né cũng không thể phủ nhận được: Nguyễn Trãi đã lưu lạc tận Nam Trung Quốc. Sự xung đột của Nguyễn Trãi hợp với Nguyễn Liễu một phía và Lương Đăng với nhóm nội quan phía khác không phải chỉ là xung đột địa phương, tộc đoàn mà còn là xung đột về mức độ kiến thức cập nhật hoá thu thập được từ Trung Quốc giữa hai lớp người đó nữa.

Quy định các năm 1434, 1442 chọn kẻ sĩ theo các cấp thi từ thấp đến cao, hương đến hội, đình, có kì hạn, lấy tiến sĩ, dự tính dựng bia lưu dấu văn hiến về sau. Thi hội, thi đình mở lần đầu 1442, mở tiếp năm 1448 nhưng việc dựng bia thì phải đến năm 1484 mới thực hiện được. Tình thế loạng choạng buổi đầu đó dù sao cũng làm đà cho kinh sử đi vào ngay chính dòng họ rừng núi xuống đồng khiến sản sinh một ông vua nổi danh trí thức, mượn ngay ý thức hệ Nho gia mà đám Trần vẫn tự phụ riêng biệt để trị ngay chính họ và đám quân tướng kiêu ngạo lúc này đã hao mòn nanh vuốt vì kèn cựa tẩy trừ nhau. Đó là Lê Thánh Tông, người mớm lời cho các quan viết chiếu chỉ, sách vở chê triều đình thời trước: vua mới hai tuổi, Thái hậu “gà mái gáy sớm… đàn bà mắt quáng đèn loà,” quan “ngu si không biết một chữ… không phân biệt sáu loại súc vật… chẳng hiểu được bốn mùa…”

Đỉnh cao của tổ chức cai trị ở Đông Kinh và tác động sâu đến tầng lớp cơ sở

Thái Tông chết vì một cơn đam mê sắc dục không phải chỉ gây vạ tru di cho Nguyễn Trãi mà còn gây cả một cuộc khủng hoảng về kế nghiệp khi Lê vẫn chưa thích ứng kịp với tình thế mới. Nguyên tắc truyền nghiệp từ anh sang em ngày trước, thành hình rồi bị phá vỡ vì còn có người cha (Thái Tổ) chủ trì, đến đây khi người cha (Thái Tông) đã mất thì quyết định phải nằm trong tay các phe phái cựu thần Lam Sơn lúc này đã chia rẽ hơn bao giờ hết. Cho nên thế quân bình thật là mỏng manh. Bang Cơ (Nhân Tông) nối ngôi vì Nghi Dân con trưởng đã bị truất phế, sự việc lên ngôi được quyết định bằng các thế lực nhỏ trong nội đình, nhưng không ngăn được phải trừ khử nhóm Trịnh Khả, Trịnh Khắc Phục mà vẫn chừa ra không kịp chận nhóm cấm vệ Lê Đắc Ninh, nhóm phục thù họ Trần trèo thang qua tường giết Nhân Tông, vợ và mẹ. Triều đình Nghi Dân yểu tướng trong tám tháng cũng chỉ vì gặp phe đối kháng khác, sau đảo chính lại phân vân lựa chọn giữa Tư Thành và Khắc Xương. Khắc Xương sợ hãi trước biến cố cung đình không dám nhận ngôi, tưởng mình thoát nạn không ngờ lại hại lây đến người ủng hộ (có lẽ rất tình cờ) là Lê Lăng mà bản thân thì cũng không thoát. Chỉ còn lại ông hoàng tử út mà tính cách nhỏ nhoi, co rút khởi đầu của ông không ngờ lại đem đến nguy khốn không những cho đám cựu thần Lam Sơn mà còn cho nhóm văn quan trung châu nữa.

Nhỏ nhoi khuất lấp vì phía ngoại mang gốc gác gia nhân của họ Lê – giữ nhà cho Lê Lợi đi đánh giặc, dấu vết còn chứng thực ngay lúc đã làm thông gia, là những chuyện mẹ bị đưa ra khỏi cung, con sinh ở chùa bên ngoài, mẹ con chịu ơn cứu vớt của Trịnh Khả (hay Nguyễn Thị Lộ)… Thật ra thì tư thế thấp kém đó lại làm cho ông xa rời vị trí cao cấp trong dòng họ làm vua, tách rời sinh hoạt Lam Sơn hơn những người khác, và mau chóng thâm nhập vào đời sống trung châu, Đông Kinh, nơi đang sôi nổi phong trào đua đòi kinh sách, khiến ông trở thành trí thức của thời đại, nắm vững quy luật trị nước theo Nho gia, dùng lí lẽ của ngay chính đám Nho gia kiêu ngạo để bài bác họ. Có thể thấy trong Toàn thư rất nhiều lời mắng mỏ quan chức nhưng nổi bật là lời mắng Ngô Sĩ Liên “phản quốc” vì bỏ Nghi Dân theo về ông, “mang lòng không vua” vì cho rằng ông không đủ tư cách tế Giao – lập luận của Ngô Sĩ Liên là dựa theo kinh sách học được: chỉ có vua Trung Quốc mới chính vì Thiên tử, mới được quyền tế Giao, còn lí lẽ của ông, là nhân danh tính phổ biến của quan niệm chủ tể, cũng từ Nho Giáo, ông là Thiên tử, vậy cũng đương nhiên có quyền tế Giao! Lại cũng không chỉ là lời nói, Thánh Tông còn bắt chước Hán Cao Tổ đái vào mũ quan, biểu dương quyền lực cụ thể cho đám văn nhân đó, vốn bản thân nhút nhát nhưng lại thường huênh hoang với mớ chữ nghĩa học được.

Tuy nhiên trong hai niên hiệu Quang Thuận (1460-1469), Hồng Đức (1470-1497) thì trong giai đoạn đầu ông phải lo chuẩn bị củng cố địa vị của mình để niên hiệu sau phát huy thành quả, lấy chiến thắng bên ngoài (Chiêm Thành) thay đổi chế độ rồi trên cơ sở đó lại cũng lập chiến công bên ngoài (đánh Bồn Man, Ai Lao) nâng cấp hiến định bên trong, rảnh rang ngâm vịnh với quan lại, tạo ra một sắc thái bình ổn của chế độ còn được giữ gìn đến nhiều đời sau, dù qua những biến cố, triều đại khác.

Thời gian đầu là việc thanh toán các quyền lực cạnh tranh còn sót lại. Không hiểu vì lẽ gì khác nhưng rõ ràng Thánh Tông thấy người yểm trợ quyền bính có thể trông cậy được là Nguyễn Xí, người trông coi đàn chó săn cũ của ông chủ Lê Lam Sơn. Bênh vực Nguyễn Xí đến phải che chở tội lỗi của Sư Hồi, con Xí. Chỉ bám vào thế lực duy nhất ấy cho nên ông lo sợ (1464) Nguyễn Xí chết, đọc thư nặc danh báo Sư Hồi làm phản, ông lại cho đương sự biết kèm theo lời ngọt ngào đe doạ, đồng thời nhắn nhe về sự rình rập của các phe phái khác để củng cố “liên minh” Lê Nguyễn chặt chẽ hơn. Tuy nhiên sự thành công của ông lại nhờ một phần ở tình thế đương thời nữa. Phe tướng lãnh tông tộc Lam Sơn qua một thế hệ tranh chấp ở Đông Kinh đã mòn nanh cùn vuốt rồi. Lê Lăng đề nghị lập người khác nên không được kể công làm đảo chính mà được đền bù bằng số ruộng ban cấp trội hơn người khác, rốt lại bị giết (1462). Chưa cần giết Cung Vương Khắc Xương (1476) thì thời cuộc cũng đã thấy tạm thời ổn định vì đến lúc này, ý thức quân quyền Nho Giáo đã có cơ sở trên kiến thức mới qua trường học từ cơ sở, qua các cuộc tuyển lựa thi cử mà Thánh Tông, qua hiểu biết thâm nhập của mình đã tìm cách khai thác thuận lợi cho ngôi vị. Bởi vậy, Nguyễn Xí chết đi, Sư Hồi cũng tuyệt tích trên các trang sử mà không có biến động nội bộ nào khác nữa bởi vì Thánh Tông đã có một chỗ dựa khác để xây dựng sự nghiệp cho mình, cho đất nước ông nắm trong tay. Những người lúc đầu được cho là ở phe đối địch: Lê Niệm, Lê Thọ Vực lại là những cánh tay đắc lực của ông trong việc bình Chiêm.

Chiến thắng 1471 đã giúp ông ban lệnh cải cách to rộng Hoàng triều quan chế, sắp xếp việc tổ chức hành chính, phân chia thứ bậc hưởng thụ quyền lợi đất nước, nâng cấp tính cai trị theo đà chuyên chế học được của Minh, dứt khoát rời bỏ quá khứ Lam Sơn, gây ra phản ứng mà người cầm quyền đã tiên liệu nên mượn cả lời đe doạ của Lí Tư giúp Tần cải cách xưa kia: “Kẻ nào dám dẫn bừa quy chế cũ mà bàn càn một quan nào, thay đổi một chức nào, chính là kẻ bề tôi gian nghịch, làm loạn phép nước, phải xử tử vứt xác ra chợ không thương xót; còn gia thuộc của nó phải đày đi nơi xa…” Chứng thực được đưa ra là vụ giết Trần Phong (1485), người thường xuất hiện rất nhiều trong việc xây dựng quyền lực cho ông mà rốt cục nói ông “đặt quan hiệu của nhà Minh là làm trái thông chế của quốc triều…” Lí do cải cách đưọc nêu ra: “Đất đai bờ cõi ngày nay so với trước kia khác nhau nhiều lắm, không thể không thân hành nắm quyền chế tác, làm trọn đạo biến thông.” Tổ chức chung là gom lại một đầu mối những cải cách lẻ tẻ từ trước thành một thể thống nhất. Ở trung ương là hệ thống quân sự cấm quân, là hệ thống hành chính có 6 bộ với cơ quan tra xét, thi hành bên trong phần việc tuỳ thuộc. Ngự sử đài là cơ quan liên hệ vua, quan, dân theo tư thế canh chừng, kiểm soát; Thông chính sứ ti là mối liên hệ của trung ương và dân chúng theo đường hành chính mang tính tình cảm đạo lí. Bên ngoài địa phương là 13 đạo Thừa tuyên có chức trách hành chính, kiểm tra, an ninh (với Thừa chính, Hiến sát, Đô ti) mà nổi bật là chức Tổng binh mang tính quân sự bao trùm trên khu vực lớn.

Tổ chức chi li như thế khiến phát sinh nhiều chức quan – nói như ngày nay là “hệ thống thư lại cồng kềnh,” nhưng chính quyền cũng tính đến việc không phải tổn phí nhiều vì “trước kia quan ít, tước to” nay thì “quan nhiều mà lương ít, trật thấp.” Chi tiết thứ bậc cũng được xác định từ trong hoàng tộc, triều đình ra đến các địa phương từ lớn tới nhỏ với các danh xưng rành rẽ. Về mặt quyền lợi thực tế thì rõ ràng có sự cách biệt rất lớn giữa tầng lớp vương hầu và quan lại – tất nhiên chưa kể đến dân chúng bên dưới. Ấy thế mà triều đình cũng đã thoáng thấy tình trạng “quan viên quá nhiều, tiêu phí lộc kho” nên có lệnh chọn thải bớt người (1481) để đỡ gánh nặng cho nhà nước.

Lại cũng như các thời kì khác, sử quan ít nói đến tình hình ở các khu vực hành chính cấp thấp với nhiều tên gọi: hương, xã, thôn, trang, sách, động, nguồn, trường… gồm cả những vùng dân thiểu số, mà ở vùng đồng bằng trực tiếp thì đã có tên cụ thể cho phần lớn, là “xã”/làng. Lệnh tổ chức xã với xã quan khi vừa thắng Minh (1429) cho thấy đơn vị này bị cắt xén nhỏ là chừng nào: xã lớn có 100 người trở lên thì đặt 3 viên, xã 50 người trở lên thì đặt 2 viên, xã nhỏ 10 người chỉ một viên. Đó chỉ vì qua sự càn quét của biến loạn, tầng lớp hào trưởng ở địa phương đã tan biến, các lãnh chúa cũ mất đi không ai còn quyền trên các khu vực lớn nữa, phải nhường chỗ cho chính quyền trung ương đến sắp xếp, cai trị. Từ tháng 6âl. 1466 cấp Xã không còn có “quan” nữa, chỉ là xã trưởng thôi, thế mà triều đình còn ngăn chặn cấp xã không được có vây cánh bà con (lệnh 1483, 1486, 1496). Lê dùng họ để kiểm kê hộ tịch, chia cắt ruộng đất, phân định khu vực theo với các lệnh, lệ ngày sau được gồm trong bộ luật được gọi là Hồng Đức đã đi vào cuộc sống của từng người. Thật ra thì nhà nước vẫn không ngăn chận được nạn cường hào ở địa phương – cũng như không trừ khử được quan quyền nhũng nhiễu, có điều tổ chức sâu sát đến tận những đơn vị dân cư nhỏ như thế lần đầu tiên cũng cho thấy xuất hiện những biến động xã hội ngay từ cấp nhỏ bên dưới chứ không phải chỉ là những biến động khu vực lớn như trước nữa.

Nhà nước Lê nắm vững dân số tuy không chặt chẽ như thời bây giờ nhưng cũng đã có một chừng mực sít sao qua các cuộc duyệt tuyển lấy thuế, bắt xâu, bắt lính. Tuy nhiên vì khả năng quản lí có hạn, họ không đủ sức – và do đó phải bỏ lơ phần dân chúng nằm ngoài sổ bộ hoặc vì xiêu tán bởi thiên tai, chiến cuộc hoặc vì thuộc thành phần tộc đoàn còn nằm bên lề của tập thể lớn… Tình hình đó nảy sinh sự phân biệt hai tầng lớp người cao thấp khác nhau, trước nhất là dưới mắt nhà cầm quyền và sau cũng chính bởi các hộ dân vì nương theo đà tổ chức chung mà tự phân biệt, tự coi như là thuộc thành phần trên trước. Người thuộc chính hộ nằm ở bậc cao vì lẽ phần lớn họ có tài sản, có nơi cư trú ổn định, dễ dàng cho các cuộc duyệt tuyển lấy người theo quy định, ví dụ bắt lính phải nhắm vào người khá giả, không lấy hạng cố cùng. Người thuộc khách hộ vì nguồn gốc xuất thân như đã nói nên bị coi như thành phần thấp kém trong xã hội tuy vẫn có thể bao gồm những cá nhân khá giả. Sự phân biệt chính, phụ này có lẽ đã xuất hiện tự phát, không chính thức từ trước, và tất nhiên phải đi đến tình trạng được quản lí rành rẽ theo nhu cầu cai trị của Lê để níu giữ một chừng mực ổn cố xã hội. Chỉ đến khi với sự hỗn loạn của các thế kỉ về sau làm thay đổi nội dung chính/phụ, nhà cầm quyền mới phải lo bối rối điều chỉnh một khi chưa thể gạt bỏ cơ cấu, định kiến đã thành hình.

Điều có lẽ họ Lê không ngờ nhất là một quyết định của họ lại xây dựng cơ sở cho cả một sinh hoạt khá quy củ của làng xã ngày sau khiến nhiều người lại tưởng phải tìm nguyên cớ thật xa trong dòng lịch sử. Đó là việc thành lập cái đình làng. Nguyên là từ cơ chế hậu Phật (lãnh tiền, ruộng đưa vào chùa để cúng giỗ cho người vô tự) chủ nhân các đình tạ, đình trạm đem áp dụng vào nơi họ xây dựng để chiêu dụ lập hậu – gọi tên mới là hậu Thần, và từ đó gây ra tranh tụng lâu dài về việc thực hiện khoán ước. Các quan thấy (1474) sự lợi dụng gây bất an nên xin lệnh (1496) chuyển đình cho làng cai quản, và được chấp thuận. Làng từ đó có ruộng đất riêng, có nơi tụ tập việc công, có ông thần riêng cho mình, tuy không thể trở lại thời cát cứ như các thủ lãnh ngày xưa nhưng cũng là một cơ hội để có tiền của, giữ được chút riêng biệt với chính quyền trung ương trên đà lấn lướt. Làng lại còn thu nhận được bộ phận trí thức thời mới nhờ các ông hưu quan về làng, các nho sĩ lỡ thời vì đã thấy có dấu hiệu “lạm phát trí thức” qua các kì thi chỉ lấy đỗ rất ít người. Những người này trở thành một bộ phận trí thức ở làng xã, mang kiến thức mới ra lập luật lệ theo kiểu “nước” cho làng, với các hương ước – những định chế thành văn, để quản trị quê mình. Theo với họ, ông thần của đình làng sẽ mượn tên thành hoàng họ học được trong sử sách, đem ra thờ cúng, rồi với thời gian, sẽ thành nếp ép buộc các chính quyền trung ương yếu thế công nhận. Đó là lúc của những năm biến loạn bắt đầu ở thế kỉ XVI, tiếp theo với các ngôi đình xây dựng vững chãi hơn vì thoát khỏi sự dòm ngó của trung ương, để rồi càng vững chãi hơn với khả năng tiền bạc do tiếp xúc với bên ngoài trong thời đại Trọng thương của thế giới. Rốt lại đã thành hình một thể chế có lúc muốn thách thức với trung ương trong câu tục ngữ Phép vua thua Lệ làng, huênh hoang để bù đắp thực tế áp bức họ phải gánh chịu hàng ngày.

Như thế, làng xã là kết quả của một tiến trình lịch sử phân, hợp chứ không phải là khởi đầu của sự liên kết thành nước của dân tộc Việt. Cách hiểu như thế mang tính siêu hình, có nguồn gốc là từ sự biếng lười suy nghĩ đi theo sự hướng dẫn vô thức của tâm tình dân tộc tự tôn đang thịnh hành ngày nay.

Đình làng lại cũng nuôi sống một sản phẩm biến dạng của truyền thống shaman / thầy mo vốn theo năm tháng đã tách ra khỏi quyền bính thế tục nay phải thay đổi nữa dưới áp lực của tổ chức Nho mang tính lí trí được xây dựng từ trên triều đình xuống đến tận làng xã. Chuyển biến đó thấy rõ trong gia phả của một dòng họ danh tiếng: họ Phan Huy ở Hà Tĩnh. Những người vu đồng nhảy múa mà người Minh còn thấy thời họ cai trị, đến lúc này đã tập họp thành các Giáo phường đi ca hát, nhảy múa trước các đình làng trong những buổi hội lễ, vào những dịp Hát cửa đình. Tính chất vừa thế tục vừa thiêng liêng của bản thân ngôi đình làng thật hợp với sinh hoạt ca hát này: vừa như một hình thức hiện thân của thần thánh giữa thế gian, vừa như là một lối giải trí cho dân chúng trong dịp tương thông với thiêng liêng qua những ngày hội lễ. Tuy nhiên tất cả hình như chỉ mới là khởi đầu, sự phồn tạp và tính tổ chức chặt chẽ phải đợi đến các thế kỉ sau mới có chứng cớ rõ rệt.

Một tiểu thiên triều trên bờ biển Đông

Tổ chức học hành thi cử dưới thời Lê sơ, nhất là thời Thánh Tông đã tạo ra một tầng lớp nho sĩ khác với các triều đại về trước. Rõ ràng nhất là kiến thức sâu rộng hơn. Không phải chỉ vì Thánh Tông khoe khoang lúc gần chết – hơi quá lố: “Dù Lí (Bạch), Đỗ (Phủ), Âu (Dương Tu), Tô (Đông Pha)… vị tất đã làm nổi, duy chỉ có ta là làm được” nhưng cứ so sánh hai ông sử quan thì rõ ràng Ngô Sĩ Liên đã có kiến thức nhiều hơn Lê Văn Hưu. Không phải so sánh từng người mà cả về tập thể, thành phần nho sĩ của Lê cũng nhiều hơn Trần Hồ. Từ đó lại là một phong khí khác của nhà nho Lê so với thời trước, mà điều này thì cũng không phải lúc nào cũng là đáng hãnh diện. Họ dài dòng hơn. Nhưng thâm nhập vào kiến văn của Tống Minh nho, họ cũng phải chịu luỵ vào những ràng buộc khắt khe của tinh thần duy lí cứng nhắc ở nơi phát xuất kèm theo những hệ luỵ vướng phải từ lí thuyết thu nhận va chạm với thực tế đất nước họ chịu đựng. Cho nên Nguyễn Trãi khoái trá mắng chửi “thằng nhãi ranh Tuyên Đức hiếu chiến hung hăng” thì khi thay mặt Trần Cảo và “đại đầu mục thần Lê mỗ” làm biểu “trần tình tạ tội” với Thằng nhãi ranh đó, lại bằng lời lẽ van xin thống thiết học được từ các ông thầy phương Bắc qua văn phong trường ốc. Nho sĩ Trần tuy cũng phải chìu lòn năn nỉ nhưng còn biện bác với Nguyên. Nho sĩ Lê biện minh cho việc Lê đánh Chiêm Thành tuy vẫn không có dấu hiệu nhượng bộ nhưng lời lẽ nhún nhường lại co rút thống thiết hơn. Nhân viên sứ bộ đi Minh năm 1435 giành nhau chức vị, đánh nhau, lại nhờ quan Minh phân xử! Tuy nhiên đất nước cụ thể thành hình liền lạc trên đồ bản, văn từ ghi chép (Dư địa chí 1435 của Nguyễn Trãi) dẫn đến sự hình thành một Quốc tổ dưới sức ép của ông vua cứng rắn (Kỉ Hồng Bàng trong Đại Việt sử kí toàn thư 1479 của Ngô Sĩ Liên.) Thế là từ trong đi ra bên ngoài, tư thế thiên tử được bày tỏ hung hăng hơn với các tập đoàn yếu thế chung quanh.

Trần Khắc Chung đã từng khuyên Minh Tông đừng đánh Ngưu Hống mà đánh Chiêm Thành dễ hơn thì nay Thánh Tông không cần lời khuyên đó cũng ra tay chinh phục phía nam trước để nêu rõ uy danh của mình. Quân lực Lê rất lớn và tổ chức rất quy củ. Tuy với thời hoà bình đã từng giảm quân từ 250 000 xuống còn 100 000, từng giảm cấp chỉ huy (1448) nhưng quân lính vẫn thường được huấn luyện tập trung và giữ gìn được sức mạnh đáng nể, đủ sức dẹp tan chống đối từ những thành phần liên minh cũ, vững vàng tư thế trung ương đối với các tập đoàn thiểu số khác trong cương vực Đại Việt, nhất là đối với những tập đoàn tộc Thái rõ ràng cứ muốn lấn xuống đồng bằng theo đà có sẵn từ lâu. Chính vì ở tư thế giữ gìn lãnh thổ nên Lê phải bênh vực các tập đoàn bên trong biên giới có xung đột với các tập đoàn bên ngoài, đôi khi dẫn đến va chạm với chính quyền địa phương của Minh.

Việc tuyển chọn người vào quân ngũ thì có quy củ nhất là từ lúc Thánh Tông chuẩn bị đánh Chiêm Thành (1470). Và điều này thì cũng do việc kiểm kê hộ tịch chu đáo, sít sao quy định các hạng: tráng, quân, dân, lão, cố, cùng. Số người dành cho quân vụ thì lại chia theo số người trong nhà, vớí hai hạng đều phải nhập ngũ, nhưng “quân” là một thứ trừ bị bậc hai, còn “tráng” là trừ bị hàng đầu, để riêng ra (“lánh”) có thể bắt đi phục vụ ngay. Tổ chức tuyển binh của Thánh Tông được giữ gìn qua nhiều thế kỉ với một số thay đổi nhỏ, cho nên tập họp “lánh tráng” đi theo với thời gian, còn lại đến ngày nay với các từ: lính, lính tráng, chỉ người phục vụ trong quân đội. Cầm đầu đoàn quân được tuyển lựa kĩ lưỡng này lại là nhóm công thần Lam Sơn còn sót lại và con cháu họ, tuy trải qua những xung đột nội bộ vẫn chưa bị bào mòn khí thế chiến thắng xưa vì một phần vẫn là những kẻ tóm thâu phần ruộng đất dồi dào chia chác từ ngày trước.

Chiêm Thành được hưởng một thời gian tương đối yên ổn nhờ những rối loạn ở Đại Việt qua việc quân Minh chiếm đóng, phải lo đối phó với quân nổi dậy nơi này. Tình trạng co dãn của biên giới Chàm Việt trải qua hàng thế kỉ. Với thời nhà Hồ thì Việt đã lấn xuống đến tận Quảng Ngãi ngày nay nhưng phần đất ấy lại trở về chủ nhân cũ một thời gian dài, có thể là bị mất cả vùng Thuận Quảng. Chức quan đặt cai trị chỉ là làm vì mà thôi. Cho nên khi Thái Tổ chết, quân Chiêm đã ra cướp đến cửa Việt (Quảng Trị), sứ Chiêm (1434) bị vặn hỏi chuyện “trọm đất bắt dân” hồi nửa năm trước, trả lời ậm ừ mà Tể tướng Lê Sát chỉ “khoan dung” không bắt tội thêm. Chiến thắng mùa hạ 1446 bắt vua Chiêm là Bí Cai đem về có vẻ to lớn nhưng không che lấp được thất bại khác là phải sai sứ đòi “người nước ta trước ở Chiêm Thành.” Số lượng và tính chất người được trả cuối năm đó cho thấy có vẻ là quan cai trị địa phương bị bắt vì với 70 người được trả, có tên Trình Nguyên Đĩnh, gốc họ Trần, lúc về được phong ngay chức ở trung ương: Đồng tham nghị của Chính sự viện. Trong việc phân chia khu vực quản lí, ta thấy lúc thì 13 Thừa tuyên (1466), lúc còn lại 12 (1469) đến sau chiến trắng 1471 mới trở về con số 13 với sự xuất hiện của thừa tuyên Quảng Nam, chứng tỏ vùng này đã mất ngay trong thời gian niên hiệu đầu đời ngôi vị của Thánh Tông.

Chúng ta lại cũng không có chứng tích gì về đất nước Chiêm Thành trong những khoảng thời gian này ngoài các ghi chép trong Toàn thư. Sử sách Trung Quốc qua thời kì chép chuyện xưa cũ thì đến lúc này chỉ ghi những chuyện sứ bộ Chiêm, hoặc đến mang tính cách tìm sự dựa dẫm ngoại giao hoặc nhờ cậy làm áp lực với Đại Việt mà thôi. Chúng ta cũng ngạc nhiên với sự thưa thớt bia đá và nhất là không thấy một công trình gạch tháp nào cả. Đã thấy thời gian hưng khởi của Chế Bồng Nga đến 30 năm vậy mà không có một bia nào xưng tụng các chiến công đánh Đại Việt cả. La Ngai / Jaya Shimhavarman V lên thay lại cũng chỉ có bia của người con, mà người này, Ba Đích Lai / Indravarman V lại là kẻ thua cắt đất cho Hồ Quý Li! Nhưng có vẻ như thời gian bớt áp lực từ phía bắc sau đó đã khiến cho Indravarman phát triển vùng Thượng nguyên (bia thượng nguồn sông Đà Rằng 1409), lấy đà lấn xuống phía nam, để lại bia Biên Hoà 1441, kể lại chiến công thắng Kampuchia lúc này cũng đang men xuống vùng hạ lưu, tìm cách tiếp xúc với thế giới bên ngoài, thay đổi truyền thống nông nghiệp ở Angkor. Nhưng vấn đề cũng vẫn là sự vắng bóng của các công trình xây cất đền tháp, lưu niệm tuyệt hẳn từ bia Biên Hoà, còn trong vùng Vijaya chỉ có hai bia 1401, 1436, trong thời gian ngự trị của ông vua có đến hơn 40 năm cầm quyền. Có vẻ như truyền thống xây cất đền tháp lúc này đã phai lạt chỉ vì có sự chuyển đổi ý thức hệ, ít ra là từ trên đỉnh cao quyền bính, đi kèm với sự phát triển của dòng thương mại gốm Gò Sành mà ta đã giả định vào thời Chế Bồng Nga.

Chiếu bình Chiêm 1470 hé cho ta thấy một vài suy đoán để sự giả định trở thành chứng thực của lịch sử. Lúc này thì triều đình Lê đã “văn minh” nhiều rồi nên không nhìn ra sự khác biệt văn hoá của hai khu vực Bắc Nam mà chỉ lấy mình làm tiêu chuẩn xét đoán, kiêu hãnh với tư thế của một thiên triều đầy tự tín bên bờ biển Đông. Sự sung túc của nước Chàm lúc này đã là căn bản cho một sự phát triển dân số: “Khi Nhân miếu [Nhân Tông] lên ngôi cả (1443) thì giống nòi chúng đã rất đông. Nương chốn Cổ Luỹ như hang cầy, cậy thành Chà Bàn như ổ kiến…” Thế lực đó đủ sức cho Trà Toàn “xưng bừa là cha chú, gọi đức vua ta là cháu con… lại nhận liều là Trời Phật, coi nước Việt ta là tôi tớ… Bảo ta như hai mặt trời cùng mọc, tự tôn là Hoàng đế nước Nam.” Có vẻ như Trà Toàn còn mang danh hiệu cao hơn, là Thiên Vương / devaraja cũ để xưng hô với Đại Việt, đủ cho Thánh Tông thấy ra sự cạnh tranh đẳng cấp với danh hiệu Thiên tử của mình. Thế mà vì nội dung văn hoá chấp nhận khác nhau cho nên Lê vẫn nhìn kẻ kia như thuộc hàng hạ cấp: “Ngập ngụa hôi tanh loài chó lợn, cướp ngôi giết vua đuổi con cháu vua Bồ Đề ra ngoài cõi. Nhảm tin phật quỷ dựng tháp chùa, bịa điều hoạ phúc cho dòng giống Trà Toàn được sinh sôi. Cấm mổ thịt làm khốn khó dân Trời, cấm nấu rượu việc tế thần phải bỏ. Con trai con gái thảy đều lo vất vả chầu hầu, kẻ goá con côi chịu mãi cảnh thiêu người cắt mũi…” Từ cái thế “trên chân” mắng chửi, Thánh Tông (hay ông quan viết từ lệnh) chen luôn vào đấy những chuyện cũng có ở xứ mình mà làm lơ đi: giết vua cướp ngôi, hành hạ dân chúng… Khác biệt văn hoá không cho thấy Trà Toàn lấy chị dâu làm vợ, là theo thói tục levirat dân Việt đã bỏ, không phải là “thông dâm” để bị mắng chửi “ngập ngụa hôi tanh loài chó lợn” cùng một kiểu với Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên đương triều mắng vua Trần thời đã qua!

Hẳn là Thánh Tông hiểu việc từ trong quá khứ nên mới mắng Trà Toàn “nhảm tin phật quỷ dựng tháp chùa…” bởi vì như đã nói, không có ngôi tháp mới nào được dựng lên, tuy hẳn tin tưởng về Siva vẫn còn đâu đấy, dân chúng Chiêm chắc vẫn còn tế lễ ở các đền tháp. Một điều khác lạ là lệnh Cấm mổ thịt làm khốn khó dân Việt ngụ cư. Làm thịt súc vật thì hẳn là giết bò giết heo; giết bò còn có thể cho là vi phạm tục thờ bò, nhưng giết heo? Tục giết heo tế thần trong một trường hợp đặc biệt (tế sống) được Trịnh Hoài Đức nhắc ở Gia Định thế kỉ XVIII, liên hệ đến một đền ở Thừa Thiên thế kỉ XVI, chứng tỏ người Việt ở thế kỉ trước đó cũng có thể cùng chung hành động. Và lại còn thêm lệnh cấm nấu rượu? Lệnh cấm như thế rõ là đã ban ra từ một triều đình Hồi Giáo, hay ít ra từ một một xứ sở đã thấm nhuần tin tưởng của đạo Hồi để chính quyền căn cứ vào ước thúc tôn giáo mà đem ra chống đối với lớp người theo tin tưởng khác, mở một bước đầu trên con đường đồng hoá kẻ “ngoại đạo.” Kẻ ngoại đạo ở đây không chỉ là dân Việt mà còn là lớp người Chàm theo Bà La Môn từ xưa, nghĩa là sự cải giáo còn làm phát sinh bất mãn ở ngay người đồng tộc để lời Chiếu khai thác: “(Trà Toàn) bịa điều hoạ phúc cho giòng giống Trà Toàn được sinh sôi…” Như thế thì Trà Toàn có lẽ đã coi mình như một sultan và cho ráo riết truyền bá đạo Hồi trong xứ.

Từ thế kỉ XI đã có những nhóm Hồi Giáo ở vùng Phan Rang. Lịch sử Hồi Giáo ở Java có bằng cớ liên hệ với Chiêm Thành trong thế kỉ XIV-XV. Nhà nghiên cứu ngày nay (Ngô Văn Doanh – 2002) đã chú ý rằng tháp Yang Prong (xã Ea Rok, huyện Ea Sup, tỉnh Đak Lak) có phần đỉnh hiếm thấy ở các tháp Chàm truyền thống, là hình củ hành giống như trên các đền Hồi Giáo. Một trăm năm đã qua từ Chế Bồng Nga đến Trà Toàn, từ những gì đến ngày nay chỉ còn là truyền thuyết mà lại có dấu vết chứng thực của lịch sử qua một tờ Chiếu kiêu căng, chúng ta thấy một đất nước Champa trên đà chuyển đổi, cố gắng để vươn lên nhưng không qua được mâu thuẫn nội tại từ sự đổi thay đó, lại gặp một kẻ thù mạnh vượt bực nên phải đi vào chặng đường cuối cùng của sự đổ vỡ không gì gượng được.

Kêu than “dân Trời” phải chịu khốn khó chứng tỏ vua Chiêm đã chiếm lại phần lãnh thổ chứa người Việt đông đúc. “Đàn ông đàn bà của ta nó bắt làm nô lệ…” chỉ vì từng “đánh cướp Hoá Châu, giết quan đồn thú” khiến “dân lưu vong (Thuận Quảng) phải chụm chân mà chịu oan…” Trà Toàn còn vận động Bắc Kinh về phe mình, vu khống Lê cướp vật cống, voi nạp. Kể ra thì cũng là khó chịu vì “Minh ngờ vực, gởi sắc thư hỏi mấy năm liền.” Không những trước chiến tranh mà sau chiến thắng 1471, Lê còn phải chịu các hạch hỏi của nhà Minh khiến Lê phải luồn lọt đáp trả. Trà Toàn có tự tín đem cả mười vạn quân cướp Hoá Châu mà không ngờ rằng Lê Thánh Tông còn có quân đông hơn gấp bội. Cho nên thành Chà Bàn bị phá, Trà Toàn làm thân tù tội, Đại Việt có thêm một phủ Hoài Nhơn của thừa tuyên Quảng Nam. Phần đất Chiêm Thành còn lại không đủ cho một đất nước gương dậy tuy còn lây lất trong co cụm nhiều thế kỉ sau, lần này là nạn nhân không phải của lực lượng trung ương mà lại là bởi sự nứt rạn trong quyền bính ở Đông Kinh.

Thắng Chiêm, Thánh Tông có đủ uy thế để củng cố việc nước và theo đà đó lấn lướt các tập đoàn Thái khác, không phải trên bình diện nhỏ bé kiểu tranh chấp ruộng vườn ở Lam Sơn xưa kia mà là chiếm đoạt từng vùng lãnh thổ rộng lớn của nước Lão Qua / Ai Lao qua vùng trái độn Bồn Man.

Tộc Thái từ cao nguyên Vân Nam theo các triền sông suối xuống nam, qua đông không theo một lực lượng lớn ào ạt mà là từng nhóm, có lúc tranh chấp nhau nhưng trên tổng thể là sự tràn lấn tiệm tiến để lập thành những “mường” nhỏ, khi găp người cầm đầu xuất sắc thì thành nước, còn không thì lẩn khuất chìu lòn hay cựa quậy sống giữa các tập đoàn khác giống đông, lớn hơn. Như những tập nhóm lẻ tẻ từng kết thông gia với Lê Lam Sơn, hay gây va chạm ẩn khuất trong khu vực đó. Thánh Tông tuy đã trung châu hoá nhiều nhưng xứ Lam Kinh gốc gác còn đó như một nhắc nhở tranh chấp không thể bỏ qua được. Uy thế vang dội của chiến thắng 1471 tạo sự thần phục của các nhóm thiểu số nhỏ cũng là dịp để Thánh Tông lấn lướt hơn về phía tây. Ở đó có một tập đoàn lớn có thủ đô, đã thành Nước, gọi bằng tên cũ trong sách sử phương Bắc: Ai Lao, hay chuyển âm theo với đương thời của chính địa phương: Lão Qua, một cách nói dàn trải của chữ “Lào” (giống như Lí Hoảng còn được gọi là Nhật Quang tách ra từ chữ Hán kia.) Với những xung đột của các triều trước thì Đại Việt và Ai Lao còn có các vùng đệm với nhiều thủ lãnh Thái ở các “mường” nhỏ, nhưng với tập đoàn Lê thì dù ở Đông Kinh, họ vẫn còn căn bản là Lam Kinh cho nên khoảng cách giữa hai bên ngắn lại, mối xung đột căng ra nhiều hơn, nhất là khi có mâu thuẫn giành giật gợi từ quá khứ. Nhóm Thái ở giữa, trên vùng Sầm Nứa, lập nghiệp nơi ngày nay gọi là Cánh Đồng Chum nhưng đó cũng là địa danh người thời Lê đã biết về sự hiện diện của các chum đá, vì có các tên gọi: Mường Bồn / Mường Chum, Tồn Bồn Man / Mọi Chum Cũ, Bồn Man / Mọi Chum, được ghi nhiều nhất trong sử Việt về một vùng Thái chống đối, có uy tín lan xa. Nhóm này chịu áp lực trực tiếp nhiều từ Đại Việt nhưng có vẻ trong thế kỉ XV đã xoay hướng chống đối mạnh bạo hơn vì sự lớn mạnh của con cháu Pha Ngum của nước Lan Xang – Xứ Triệu Voi. Sự hiện hữu của một chính quyền tộc Thái trên vùng là Cánh Đồng Chum còn kéo dài đến các thế kỉ sau trong sử Việt, cả đến lúc người Âu đến nên thấy mang tên Petit Laos trên bản đồ 1751 của họ. Do đó Thánh Tông có lúc phải lúng túng vì lựa chọn mục tiêu: Ai Lao ở xa yểm trợ Bồn Man hay tấn công Bồn Man gần hơn? Chọn lựa phía nào thì rốt lại cũng phải động đến cả hai.

Thánh Tông đã chọn Bồn Man trước. Và khác với trường hợp Chiêm Thành, chiếu đánh Bồn Man giữa năm 1479 cho thấy luôn cả những vấn đề nội bộ của Đại Việt: “Nuôi phường thích khách vô loài… bày kế gián điệp hòng nhòm ngó nước ta… Bầy gian ác Lệ Khai thì dung túng chở che, người thổ tù Hàn Triệu thì giam giữ không thả… Thích tên bán nước Đức Lân thì kết làm phụ tử, ghét người tích trữ Lang Tủng thì giết cả vợ con…” Vậy là có những người chống đối từ triều đình Đông Kinh đã đến tị nạn ở Bồn Man, có tên rõ rệt (Lệ Khai, Đức Lân) mà ta không biết nhiều vì sử chính thống không chép. Nhưng các sự kiện này lại cho thấy mối liên hệ Đại Việt và các nhóm Thái kia đến lúc này vẫn không phải chỉ dừng lại ở tính chất lân cận mà còn có ý nghĩa tương cận với một chừng mực quen biết, thân thuộc nữa. Năm tháng đã kể cho thấy có liên quan đến vụ giết Cung Vương Khắc Xương (1476) vì ông ta “mưu việc đại nghịch.” Chính trong phúc đáp thư nhà Minh hạch hỏi, đã có lời thú nhận phía Đại Việt là “Có 13 người ở Đông Quan (tên thời Minh của Đông Kinh) chạy sang biên giới nước Lão Qua… nên sai bọn đầu mục bắt đòi lại…” “Chỉ bắt được xe buôn bán chở về.” có nghĩa là xung đột còn liên quan đến việc tranh chấp nguồn lợi thương mại nữa nên phía Bồn Man thì “ghét người tích trữ Lang Tủng…”

Bồn Man không phải chỉ thanh trừng nội bộ mà còn chận đánh giết quan quân Đại Việt. Chỗ dựa của họ bên trong là một hướng tin tưởng khác. Tuy Lam Sơn thực lục cho thấy ông tổ họ Lê chịu ảnh hưởng Phật Giáo qua việc nhà sư núi Đá Trắng để mả nhưng sự việc có vẻ chỉ thoảng qua, căn bản Lê tộc vẫn là tin tưởng phù thủy bộ lạc được nâng cấp lên mức Đạo Giáo. Vua xưng là Động chủ, cầu đảo Hạo thiên Thượng đế (1478), khi chết đi “gươm thần, ấn thần biến mất”… Lớp sơn kiến thức Nho Giáo lại làm cách biệt thêm với tin tưởng của tập đoàn thù nghịch “tin lời yêu tăng gian tà,” “huỷ hoại tóc da chỉ vì đắm mê cửa Phật” đang tập họp bên lưu vực Mekong.

Bên ngoài, Bồn Man lại “dựa tiếng Lão Qua tiếp viện.” Cho nên Thánh Tông đã chuẩn bị 25 vạn quân đánh Bồn Man, ngay tháng sau lại ra lệnh đánh Ai Lao. Chiếu kể tội moi chuyện cũ Lan Kham Deng “trở mặt” hồi chống Minh, lại kể tiếp các sự kiện gần chứng tỏ Ai Lao đang trên đà sung sức: (Vua Lào Sai Chakrap’at) “gọi Cao Hoàng (Thái Tổ) là em, gọi Dụ miếu là cháu… sang cướp châu Lang Chánh, sang cướp phủ An Tây… vườn tược Sầm Thượng, Sầm Hạ nó ăn lấn như tằm… Thuận Bình, Sao Bôi do vậy rối ren, Lâm An, Quy Hợp bị chúng dày xéo, Thang Thượng, Thang Hạ là biên ấp của ta nó cướp đoạt hoành hành, Đạo Luận, Đạo Xa tên thổ tù của ta nó kêu gọi chứa chấp…” Cho dù chủ quyền các vùng biên giới còn nằm trong tranh chấp không rành rẽ, nhưng những địa danh đưa ra cũng cho thấy Ai Lao đã lấn sang vùng sông Đà, thượng lưu Thanh Nghệ, lôi cuốn các lãnh chúa trong vùng nghiêng về phía họ. Quân chinh phạt đi theo ba hướng trên các thung lũng mà hướng chính là ở giữa, tấn công Ai Lao xuyên qua Bồn Man. Quân Việt chiếm Luông Pha Bang, tiến sát đến biên giới Miến Điện, phía bắc đe dọa biên giới Vân Nam kinh động khiến nhà Minh phải đưa thư sang trách hỏi. Lại vì mục đích đánh Ai Lao bỏ qua Bồn Man trên đường tiến quân nên phải có thêm một toán quân khác tiếp đánh Bồn Man để thanh toán măt sau, giữ gìn an ninh cho quân phía trước.

Cống vật của một phe chiến bại: Po Yan Dari / Bà Banh, Bà Đanh

Lí Thánh Tông đánh Chà Bàn mang về Thăng Long thần Bà Chúa Xứ như một bằng cớ chiến thắng phải quỵ luỵ vì đã đặt vào vị trí chủ trì đàn Viên Khâu, vốn xây cất để thờ Trời mà chưa có ông Thiên. Lê Thánh Tông cũng đem tù binh về phân phát cho các tướng dưới tay, tuy từng khinh miệt “Phật quỷ” nơi các “tháp chùa,” nhưng không ngờ lại mở rộng thêm trên đất mình một thần linh thứ hạng của kẻ chiến bại, thần Po Yan Dari, mà qua dạng hình thờ cúng Việt, phải dùng đến hai từ để thể hiện đủ tình thế: Bà Banh với dáng hình cái yoni chờ đón, và Bà Đanh với tính chất cứng rắn của phần cái linga chủ động.

Thật ra Lí Thánh Tông xưa cũng đem về cả một bộ linga-yoni nhưng sao nó lại mang nhãn hiệu Bà Chúa Xứ, giữ được ý nghĩa thần cao cấp Po Yan Ino Nưga của dân chiến bại mà không thấy biểu lộ ý nghĩa thường tục của tính phồn thực nơi cặp vật thể kia? Lí do có lẽ vì sự khác biệt tình thế của hai thời đại: thế kỉ XI và thế kỉ XV. Lí chỉ làm một cuộc hành quân đánh phá, cướp chiến lợi phẩm, đem tù binh về làm ruộng theo gương ông cha. Tất nhiên đám tù binh cày ruộng trên đất trung châu sông Hồng vẫn theo tục lệ thờ cúng bình dân của mình nên còn lưu lại các tên chùa Bà Đanh nơi tên các thôn xã Đinh Xá ở Hà Nam, với thôn Đanh thấp thỏi ở Bắc Ninh… Vì tương quan thần thánh được chấp nhận cả trên cấp cao nên ý nghĩa siêu hình về cái linga, về tính phồn thực được thể hiện trong điện thần Hậu Thổ ở cung đình Lí, và đồng thời nơi cái tháp chứa “cột đá chùa Dạm” phải xây cất trong 8 năm mới thành. Sự sang cả của bậc vương hầu, nhất là sự việc chỉ được ghi lại trong sử nhà nước, đã làm khuất lấp các biểu hiện ở tầng lớp điền nô cựu tù. Quan điểm nhún nhường chấp nhận thần của kẻ dưới tay đó tất nhiên không thể thấy nơi ông vua “văn minh” Lê Thánh Tông, người đã từng làm lễ tế Giao, có ông thần tối cao ngự trị ở đền Xã tắc rồi. Cho nên không thể có một đền chính thức của nhà nước thờ thần của dân chiến bại, chỉ có đám tù binh, tù nô thờ riêng biệt thần của mình mà thôi. Vì thế từ đây mới nổi bật các chùa, các tượng Bà Banh/Đanh lan ra tập họp dân chúng dưới quyền.

Po Yan Dari không phải là thần cao cấp của dân Chàm vì rõ ràng không hề thấy có các bài tụng riêng trong những dịp cúng tế lớn mà thần chỉ xuất hiện trong một điệu múa, trên các hình tượng thiên nhiên kèm theo một hành vi thờ cúng đực-cái cụ thể của người dân. Thế mà cũng thật là lạ khi thấy thần len lỏi thật nhiều vào các nơi thờ cúng Việt và để dấu vết thật nổi trên hình tượng văn chương Việt. Đó là các chùa Bà Banh, Bà Đanh, chùa Bà Ả, Già Nàng, Bà Chúa Ngựa… thô lỗ nôm na, hay chuyển hoá đẹp đẽ trong các tên Thiên Hựu, Thiên Phúc (như chùa Thầy, một chùa cầu tự của cung đình – ban phúc từ Lí Thần Tông ngày xưa, cả Lê Thần Tông đồng tông với ông tổ văn minh, và còn là của dân chúng gần đây)…

Một khi các lãnh chúa vùng tan rã, chủ quyền đất đai bị chuyển đổi thì các khu vực, ít ra là ở vùng đồng bằng, trở thành những đơn vị hành chính lớn nhỏ. Và ta cũng thấy có một chừng mực quyền bính thờ cúng của trung ương đã đi vào cái đình làng mới thành lập cuối thế kỉ XV. Đó là dịp chan hoà để những tín ngưỡng bình dân đi vào hệ thống thần linh lớn, đòi hỏi chính quyền phải lưu tâm công nhận. Không gì rõ ràng hơn để ghi nhận sự phát triển của một nơi thờ cúng bình dân đã trở nên to rộng hơn với thời gian bằng cách nhìn vào các tên còn giữ gốc cũ: chùa Đống Liên, Đống Cao… Bia chùa Đống Quất ở xã An Tứ, huyện Tứ Lộc, Hưng Yên cho thấy con tinh trên cái gò nào đấy nguyên có cây quýt mọc, theo với thời gian hiển linh, nhờ địa phương có dòng họ hiển quý (Mạc) nên được xây cất to rộng, tổ chức đình đám ồn ào để am trở thành chùa, và có bia ghi nhận cho đời sau. Cũng như thế, các tín ngưỡng phồn thực ở các làng xã Việt được dịp nhận một danh xưng thần thánh mang từ phương Nam về, trong khi chuyển hóa nó đã nâng cấp chính mình. Po Yan Dari thành Bà Banh, Bà Đanh, có thể còn níu kéo ngôn ngữ bản xứ che giấu ngượng ngập: “nõ nường” nhưng không giấu được những gì nó tập họp lại và khai triển ra. Làng Nối (Văn Nhuế) xã Văn Phú, huyện Mĩ Hào, Hưng Yên thờ bộ chày cối bằng đá tượng trưng thành hoàng Phan Thị Lương từng hi sinh vì nước, giống như công chúa Côn Nường, nữ tướng Hai Bà Trưng, thành hoàng xã Tức Mặc. Dấu vết văn hoa “lương” khoe ra cái “lường/nường” thô tục nhưng không che được họ Phan/”phiên” kia là gốc tù binh phương Nam. Và các thần đó là nguyên cớ xây dựng đình, là căn tính thờ cúng ở các đình đó, chứ không phải từ một ý niệm siêu hình cao cả nào như người ta vẫn tưởng.

Sự thờ cúng Bà Banh được bàn tán nhiều về sau khiến người ta quên rằng mức độ xuất hiện đậm nét thì phải tính từ thế kỉ XV. Tất nhiên nó đã xuất hiện từ thế kỉ XI như ta đã nói. Nhưng trong khi các chùa Bà Banh ở các địa phương khuất lấp không thể giữ lại nguồn gốc liên tục thì ở Kinh đô, tên Bà Đanh (chắc né tránh tên Bà Banh, cho phù hợp với đạo lí Nho) cho ta biết nó có gốc là viện Châu Lâm, nơi Thánh Tông điểm mặt con cháu tù binh, trở thành chùa, rồi Phúc Lâm. Và qua năm tháng, đến đầu thế kỉ XIX, nó được nhắc trong bài phú Tụng Tây Hồ lạc loài trong tình thế đổi thay, còn vướng vất bóng hình cũ mà vẫn thưa thớt người lui tới, không như tiền kiếp của nó: “Vắng như chùa Bà Đanh.” Bài thơ Bà Banh gốc được giữ lại là của Hồng Đức quốc âm thi tập:

Chốn long cung cảnh giới này,
Uẩy ai đứng đấy loã lồ thay,
Miệng cười hơn hớn hoa in nhuỵ
Má đỏ hồng hồng tóc vén mây
Ấy sắp phất cờ trêu ghẹo tiểu
Hay toan bốc gạo thử thung thầy
Chẳng lên bảo điện ngồi thong thả
Khéo đứng ru mà đứng mãi đây.

Nó chứng tỏ không những người ta chỉ thờ các cây gậy/côn, lõ lồn / lõ lường hay nõ, nõn nường nói ngọng, mà còn tạc tượng đã Việt hoá với dáng “má đỏ hồng hồng tóc vén mây,” hình như có mặc váy nhưng hở hang “loã lồ” vì cánh tay táy máy vẹt vải, “bốc gạo” khiêu khích. Thần được thờ trong chùa vì có tiểu, có thầy nhưng đã không lên “bảo điện ngồi thong thả” mà “đứng đấy” cho người đến chiêm bái cầu phúc cầu con, chắc là hành lễ với cây gậy. Đó cũng là hình dạng các Bà Banh sẽ đi vào các đình làng thế kỉ XVII, XVIII còn giữ lại đến ngày nay.

Thần Bà Banh/Đanh còn được lưu giữ nổi bật vì gặp được tính chất thờ cúng phồn thực trên đất lưu vong nhưng cũng vì thế mà nó che khuất các hiện tượng bà con khác cũng cùng đi từ phương nam ra. Con cá voi cứu người đi biển mang dấu vết kết quả ngoại tình loạn dâm của Việt điện u linh tập phải trở thành Long Quân giúp dân, giúp vua để trở về khuôn khổ Nho Giáo, làm người học trò thầy đồ Chu An. Nơi thờ cúng chính của nó phải thêm tính cách trinh liệt của bà Phu nhân nhà Tống mất ngôi. Các con vật biển đi theo cá voi, ở phương nam còn được gọi là Bà, là Thần khi vào đất Lê với hệ thống Hùng Vương phụ hệ mạnh mẽ, phải núp sau điện thờ Bà Trưng thành tướng của Hai Bà, như con rùa “Bà Tím” thành Nàng Tía lôi theo con rắn biển – con đẻn Mộc trụ Thần xà, trong ngôi đền ở Thanh Trì. Và sẽ thấy vị nữ thần Liễu Hạnh trong thế trỗi dậy giành giật uy thế với nam quyền trong thời đại chao đảo hậu-LêThánhTông, vẫn chứa chấp trong mình dáng dấp thần Po Riyak đã đòi Trần Duệ Tông cung hiến cung nhân của mình. Thế cũng là đủ cho cuộc sống chan hoà đồi dào, phức tạp hơn, cứ thay đổi mãi không chịu ngừng nghỉ.

Khó khăn là ở về phía trước

Tóm lại, nói riêng về một tộc đoàn xác định thì tộc đoàn Thái từ nơi xuất phát, khi tiến về phía nam, đông nam (với chủ trương Thác đông của nước Nam Chiếu) đã thất bại trên vùng đồng bằng sông Hồng vì sự ngăn chặn của Đường, Lí, Trần nhưng lại thấy bớt được áp lực của triều đại Việt trên vùng các thung lũng sông xa hơn về phía nam. Ở đây, họ len lỏi phối hợp hôn nhân với các tập đoàn bản thổ, đi đến kết cục thành công hơn khi góp phần tạo dựng được một triều đại lâu dài nhất trong lịch sử Việt. Từ một khu rừng núi, tập đoàn Mường-Thái Lê đã tràn xuống làm chủ các đồng bằng, chuyển hoá mình trên căn bản một xứ sở càng lúc càng đậm tính Nho Giáo nên lập được một triều đình hùng mạnh, với đất nước rộng lớn, văn minh chưa từng có trên bờ biển Đông, đủ cho những người kế nghiệp thấy không cần phải làm hơn. Người kế nghiệp, Hiến Tông (ở ngôi 1498-1503) bào chữa cho sự thụ hưởng của mình: “Thánh Tổ ta xây dựng đất nước, vua cha ta sửa trong dẹp ngoài, quy mô đã định, ta không có việc gì phải thay đổi bày đặt, chỉ tuân giữ phép cũ, mở rộng và phát huy thêm, để tỏ rõ công đức của ông cha mà thôi.” Ông vua đó tuy cũng thấy nên có đổi thay nhưng không biết rằng không thể sửa chữa chỉ trên nền tảng cũ. Đại Việt của Lê Thánh Tông muốn đạt kết quả như đã để lại cho con cháu, đã phải trải qua những đổi thay có lúc mạnh bạo như lúc ban Hoàng triều quan chế đòi giết những kẻ phản đối, thì trên nền tảng đạt thành cũng không thể “chỉ tuân giữ phép cũ” là được. Nhưng người cầm quyền tiếp theo, vua quan, không thấy rõ điều đó, không biết được điều đó nên cứ để tình hình tự nhiên lôi kéo, không đủ sức quản trị một vùng đất to rộng hơn, đành phải để cho nhiều thế lực giành giựt, co kéo, dài đến nhiều trăm năm sau.


Phụ lục

1.- TƯỢNG ĐÁ MẤT THIÊNG (21)

Khéo đứng ru mà đứng mãi đây,
Khen ai đẽo đá tạc nên mày.
Trên cổ đếm đeo dăm chuỗi hạt,
Dưới chân đứng chéo một đôi giày.
Cởi váy phất cờ trêu ghẹo tiểu,
Để đồ bốc gạo thử thung thầy.
Có thiêng sao chẳng ngồi toà ngọc,
Khéo đứng ru mà đứng mãi đây.

(Có bản chép là: Có ngứa gần đây nhiều gốc dứa, phô phang chi ở đám quân này?)

2.- BÀ BANH HẾT LINH THIÊNG (11)

Khen ai đẽo đá tạc nên mày,
Khéo đứng ru mà đứng mãi đây.
Trên cổ đếm đeo dăm chuỗi hạt,
Dưới chân đứng chéo một đôi giày.
Ấy đã phất cờ trêu ghẹo tiểu,
Hay là bốc gạo thử thanh thầy.
Có ngứa gần đây nhiều gốc dứa,
Phô phang chi ở đám quân này.

Bài thơ Bà Banh trong phần chính văn là lấy từ Nguyễn Duy Hinh, Văn minh Đại Việt, Nxb. Văn hoá &Thông tin, H. 2005, tr. 901-902, trích Hồng Đức quốc âm thi tập. Bài 1 của Phụ lục lấy từ 40 truyện Trạng Quỳnh, (song ngữ Anh-Việt) Nguyễn Đức Hiền biên soạn, Nguyễn Đình Phương dịch, Nxb. Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh, 1999. Số 21 trong ngoặc là thứ tự bài của nguyên bản. Bài 2 là của Trạng Quỳnh, Châu Nhiên Khanh, Lê Hoàng Mai sưu tầm và biên soạn, Nxb. Thanh niên 2006. Số 11 là thứ tự trong sách. Hai bài 1, 2 rõ ràng có gốc là từ bài của Hồng Đức Quốc âm thi tập, tuy không hẳn là từ đời Hồng Đức, nhưng những chi tiết thêm vào chứng tỏ chúng cũng căn cứ từ cơ sở một tượng bà Banh có vẻ cũng đồng thời với bài thơ: đá, chuỗi hạt trên cổ, chân mang giày, váy phất… Nên lưu ý rằng người biên soạn Nguyễn Đức Hiền đã cho mình là hậu duệ của Trạng Quỳnh, người có tên gốc là Nguyễn Quỳnh (1677-1748), được học giả Hà Văn Tấn đem gia phả chứng thực trong một bài viết chung.

Nhìn chung, có vẻ ngay từ lúc đầu, đây là một tượng tròn (“đứng”) chứ không phải là tượng chạm khắc. Hai câu Thực (“Miệng cười… tóc vén mây”) có dáng tiên Việt. Rồi chữ “tiểu” rõ đây là Chùa! Lại cũng lưu ý thêm là lối nói lái: đẽo đá / đã đéo, đếm đeo / đéo đêm là thường xuyên ở phía Nam hơn là ở phía Bắc cho nên cũng phải nghi ngờ rằng hai bài nối này không xưa như người ta muốn chứng minh.

bài đã đăng của Tạ Chí Đại Trường


1 bình luận »

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)