Trang chính » Biên Khảo, Tiểu luận Email bài này

THƠ CA – CƠN THỊNH NỘ THẦN THÁNH ĐÓ (phần 2)


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 11.01.2016

 

 

 

KHOA LUYỆN KIM TRONG NGÔN TỪ

Nhà thơ, khi làm việc, bất kể dáng dấp và thao tác ra sao, ông cũng chính là trung tâm công việc vừa tế nhị vừa phức tạp. Và người ta đã trao cho nhà thơ những gì có thể tạo nên Thơ Ca, đó là hình ảnh, là âm nhạc cùng một số kỹ thuật tối thiểu nào đó(…)

“Những hình ảnh được trao cho thi sĩ trong cùng cảm giác và cảm xúc đồng nhập. Chính vì vậy, hình ảnh được gọi lên đồng thời với ngôn ngữ. Để lý giải tính chất cội nguồn của những hình ảnh trong tâm thức nhà thơ (và sau cùng cũng là hình ảnh nơi tâm thức của độc giả khi thưởng thức thơ), người ta có thể gọi tới việc đi tìm nguyên nhân. Hãy trả lời những câu hỏi sau đây: Những hình ảnh Thơ Ca được hình thành ra sao ? Dưới những hình thức nào ? Liệu có thể đem lại cho hiện tượng này lời giải thích hợp lý ? Nền phê bình và thẩm mỹ trong tác phẩm của Bachelard (và cả một trạng huống phê bình hiện đại từng đã chịu ảnh hưởng hoặc gần hoặc xa) chính là do nơi nhà triết học đã từ chối những câu hỏi đó. Với Bachelard, hành động Thơ Ca phải được nắm bắt “ngay khi nó vừa tới”. Trong khi nền triết lý của khoa học phải lần ngược đường dây nguyên nhân và liên hệ mật thiết những ý tưởng chớm hiện hoặc trước đó, “triết học Thơ Ca phải công nhận rằng, hành động Thơ Ca không có dĩ vãng, ít ra là không có loại dĩ vãng vừa mới xảy ra mà chúng ta có thể dọc theo để kiểm soát được, từ đầu cho đến cuối”. Đó là nhận định của nhà triết học Jean-Paul Sartre.

“ Và đặc biệt, hình ảnh là thứ mà không có cách gì giải thích được bằng dĩ vãng, ngược lại thì đúng hơn: với sự bùng nổ của hình ảnh, dĩ vãng xã hội dội lại âm vang và người ta không được rõ cho lắm chiều sâu của âm vang đó kích cỡ bao nhiêu. Hình ảnh Thơ Ca trong đường nét mới của nó, trong hoạt động của nó, có một thực thể riêng tư, một động lực cô lẻ “ [7]

CHO NHÌN THẤY,

Hiệu quả của tất cả những điều đó chứng tỏ sự vô ích và bất khả khi ta muốn định nghĩa bản chất của hình ảnh Thơ Ca. Tinh túy của loại hình ảnh này là một thực tại không sao giải thích nổi. Có thể người ta cứ việc đi quanh hình ảnh Thơ Ca mà không sao đào sâu được chút nào bởi lẽ giản dị là, hình ảnh Thơ Ca chẳng có gì là bí ẩn. Những hình ảnh Thơ Ca hiện hữu đó, chỉ có một khả năng duy nhất mà chúng ta cần hiểu hơn chút nữa là vì sao hình ảnh Thơ Ca “đã cho nhìn thấy”một thực tại mới mà nếu không có nó chúng ta sẽ không sao hiểu nổi, đó là tìm hiểu vì sao những vận dụng đơn giản nào mà các nhà thơ đã thiết lập nên, bằng hình ảnh, những quyền lực mới trong chúng ta. Hình ảnh là ở bên trong mối liên hệ mà nhà thơ đã tạo dựng nên giữa một xúc cảm, một cảm tính, một cảm giác với một từ ngữ giúp chúng ta nương vào ý nghĩa, âm thanh và hình dáng bên ngoài mà có được một xúc cảm khác, một ngoại vật khác,….Mối liên hệ này tạo nên một thực tại mới: thực tại của hình ảnh.

Ta thử nghe Homère, khi ông nói “ bình minh với những ngón tay búp hồng”, tôi hiểu nhà thơ nói lên một thực tại mà tôi đã biết về một bình minh. Nhưng nhà thơ đã kết hợp thực tại này với một thực tại tưởng tượng khác nữa: “những ngón tay búp hồng”. Nếu, chúng ta sẽ thấy sau đây, chỉ đơn giản đứng trên bình diện ví von, tôi sẽ nói: Homère, khi gợi hình ảnh một sớm mai trước cảnh bình minh ló rạng, đã ghi sự giống nhau giữa màu trời và những sự vật vào lúc đó với màu một bông hồng. Cùng mặt trời giống những ngón tay cách nhau của một bàn tay. Nhưng giờ đây, tôi lại nhận thấy hình ảnh không còn hiện hữu nữa mà đã bị triệt tiêu. Thực tại với tôi không còn là buổi bình minh, không còn là sắc màu của một đóa hồng: bình minh của Homère là “bình minh với những ngón tay búp hồng”, hình ảnh không thể tách rời ra, được kết hợp trong một cụm từ ngữ một cái gì trước đó hiện hữu, nhưng nay thì lại hiện hữu qua những từ ngữ của một bài thơ.

Tôi xin nhấn mạnh ở sự kiện hình ảnh này là hình ảnh hiện tại đối với tôi và chính sự tiến triển của khái niệm Thơ Ca kể từ Baudelaire, Rimbaud, Mallarmé, đã khiến chúng ta phải xét lại với đôi mắt khác những hình ảnh đó; chúng, những hình ảnh đó – bất quá giờ đây chỉ là những ví von.

Sau rốt, hình ảnh Thơ Ca thiết lập mối liên hệ giữa hai thực tại: “Hình ảnh là một sáng tạo thuần túy của thần trí. Nó không hề phát sinh từ một ví von mà là sự ráp nối giữa hai thực tại, hoắc gần hoặc xa nhau. Liên hệ của hai thực tại gần nhau càng xa càng đúng thì hình ảnh càng mãnh liệt, càng có sức gợi cảm để biểu hiện được thực tại Thơ Ca.”[8]

Những nhà thơ siêu thực hơn ai hết, đã hệ thống hóa quan điểm này vào hình ảnh Thơ Ca. Cách hệ thống hóa của họ có cái hay là, giúp ta như thể được nhìn qua kính hiển vi để chứng kiến những nét bất biến ngụy trang quá kỹ càng của những hình ảnh đó.

– Thoat đầu, hình ảnh hiện hữu bời hai từ ngữ cùng nhau: “Lực lượng được dứt khoát chấp nhận hai từ ngữ của hình ảnh không cùng diễn dịch tự từ này sang từ kia là sản phẩm đồng thời của cái gọi là siêu thực, dù lý trí chỉ ở phạm vi nghiệm thấy để đánh giá hiện tượng ánh sáng”.[9]

Do đó, khi đọc thấy Apollinaire viết “mặt trời bị cắt cổ”, chúng ta đừng vội cố gắng tìm cách phân tách những từ ấy, cũng đừng tìm cách thiết lập trật tự liên hệ và bổ túc cho nhau (mặt trời là cái cổ bị cắt, vì mặt trời giống một cái cổ bị cắt). Hai thực tại tổng hòa lại thành một thực tại bi thảm, chiếu sáng với cả một nghi trượng hình ảnh phụ…

Để tránh những chú thích duy lý hóa, Breton còn đi xa hơn nữa: “Theo tôi, hình ảnh mạnh nhất (là hình ảnh) trình bày mức độ chuyên chế cao nhất, tôi không giấu điều này, hình ảnh người ta phải mất một thời gian lâu nhất để phiên dịch ra ngôn ngữ thực hành”.[10]

Cũng vậy đó, hình ảnh nổi bật làm nên thương hiệu của Eluard, là: ”Trái đất xanh như một trái cam”, và còn hàng ngàn những gặp gỡ hoàn toàn bất ngờ như vậy. Nhưng sự nghịch lý của hình ảnh siêu thực có thể là một nghịch lý giả.

– Thực ra chúng ta không hờ hững nếu có những trạm tiếp vấn giúp chúng ta không hoàn toàn bị mất hút cái cụ thể thực sự vây quanh ta. Chính vì vậy mà những hình ảnh quen thuộc của Hugo, chẳng hạn, hoàn toàn bị lạc lõng nhưng vẫn lơ lửng đó cho một thực tại xúc động gần gũi và, nói cho thật sát nghĩ, người ta vẫn nhìn thấy chúng rõ ràng. Khi Hugo viết trong Tombeau de Théophile Guatier (Nấm mồ của Théophile Gautier):

Sợi dây dài của tôi rùng mình và gần chạm sát lưỡi gươm

Động từ “rùng minh” kết hợp với hình ảnh thần thoại quen thuộc về Parque và sự mênh mông của đợt sóng, lời nói này với thực tại rất vật lý của sự rùng mình lúc hấp hối và, theo một chiều hướng nào đó, hình ảnh không bền vững này còn phong phú gấp bội so với hình ảnh siêu thực mà đôi khi lý do để biện minh duy nhất chỉ là đại diện cho chính mình.

Mặt khác, ta cũng không nên bỏ qua khả năng phân biệt theo góc cạnh tuyệt đối tân kỳ một hình ảnh có thể gói ghém ý nghĩa, kể cả khi ý nghĩa thực của nó là do sự quy tụ mà thành (Trường hợp của Mallarmé).

CÓ NHỮNG MÙI HƯƠNG THƠM MÁT NHƯ MÙI DA THỊT TRẺ EM

Những tương ứng đã được đặt thành vấn đề như trên, ở vào một mức độ mới chỉ là những hình ảnh Thơ Ca: “Người ta nói về nét tương ứng – H.Morier đã viết trong Dictionnaire de poétique et de rhétorique(Từ điển Thơ Ca và tu từ học) – khi một từ ngữ thường dùng để chỉ một loại cảm xúc (thị giác chẳng hạn) lại đặc biệt được dùng để chỉ một loại cảm xúc khác (tỉ như khứu giác, hậu thính giác, xúc giác…) do trung tâm gợi ý là những âm thanh phát ra của chính nó”, cũng như khi Rimbaud viết “Những vì sao trên trời phát ra những tiếng rột roạt nhẹ hẫng”.

Nhiều công trình đã diễn tả và giải thích hiện tượng này; Morier, trong cuốn tự điển của ông, đã vạch rõ dòng lịch sử của ẩn dụ này : Người ta tìm thấy chúng trong tác phẩm của Virgile Silentia lunae clarescunt sonius; Và Dante từng đã gợi hình ảnh “ một nơi cần ánh sáng”, còn với Goethe (trong cuốn sách lý thuyết về mầu sắc, ông đã thiết lập mối liên hệ giữa màu sắc với âm thanh của một vài nhạc khí) và đương nhiên là với các nhà thuộc trường phái lãng mạn và hiện đại nữa.

Chưa kể những thứ “hiếm lạ” như loại “phong cầm mắt nhìn” của đức cha Castel, và “đội phong cầm thổi bằng miệng” của Esseintes, nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết của Huysmans : Arebours, Gàn dở ngược ngạo.

Điều cần hơn nữa là phải khám phá ra rằng, những tương ứng là những hình ảnh được xây dựng trên bao liên hệ : liên hệ giữa những cảm xúc đó với nhau; liên hệ giữa những cảm xúc đó với ý nghĩa của những từ ngữ, dùng cảm xúc này để diễn đạt cảm xúc khác; hay liên hệ giữa cảm xúc với âm thanh (hay với âm tố) cấu tạo nên từ ngữ.

Với một nhà thơ, tất cả có thể đùa bỡn trên bình diện từ ngữ, ngôn hoạt. Tỉ như một từ đơn giản, khi đọc lên có thể phát sinh cả một đám cảm xúc dây chuyền, khởi từ cảm xúc mà ông diễn tả, và nó như một thứ phản xạ. Saint-Pol Roux, trong một bài thơ tuyệt đẹp của mình Để nói làm sao trong dịp lễ thang các nhà thơ, ông đã cho hứng rộ lên cả một chuỗi từ ngữ, để rồi cứ thế, chúng nhân rộng rồi bừng túa lên không ngừng…

Xin quý vị hãy nhận lấy trách vụ mai táng,
Hãy bước nhẹ nhàng thôi
Bước nhẹ, vì áo quan này đã tràn đầy
Một hòa âm kết tủa bằng các sự vật
Thay biến đến vô tận:
Những chú ve sầu, các hương thơm, tràng hoa, tổ chim
Chùm nho, trái tim, những bông lúa,
Trái cây, gai sắc, vuốt nhọn, tiếng bò rống, và bao nhiêu là mộng ảo…

Nhân sư Sphinx, con xúc xắc, gương soi, ly tách, chiếc nhẫn, bình hai quai, tiếng láy nhại, tửu thần, nhạc mời, sở thích, con chim công, tiếng chuông vang, vương miện, bánh lái, ách gông cùm, bị gậy vác vai, roi quất, đoản kiếm, dây xích, mũi tên, thập tự, vòng đeo cổ, bẫy rắn, tang chế, tia chớp, lá chắn, gió mát, tù và, chiến lợi phẩm, bình đựng nước, giầy cao gót, sóng nước cầu vồng, cây nguyệt quế, lá cọ, sương mai, nụ cười, dòng lệ, tia sáng, nụ hôn, vàng, và tất cả những gì không cử động, hãy mau qua để tan biến hay vỡ nát[11]

Dùng một danh từ gợi lên một cảm xúc và một tĩnh từ gợi lên cảm xúc khác, là một phương thức chúng ta thường gặp một cách tương ứng trực tiếp, nhanh chóng và ngẫu nhiên.

Vì thế mà, Chúng ta có được mùi hương thơm mát như da thịt trẻ em của Baudelaire.

Tấm kính chẳng thể ngăn cản: hơi thở của tôi đã xếp lướt chân tình theo vết thương của bạn (Char).

Hãy xem kìa, đó chính là tiếng cào xé của mùa thu trên mặt đất (Mallarmé)…ở đây, chúng ta thấy rõ một câu hoàn toàn mô tả một cảm xúc về ánh sáng lại được diễn đạt bằng một cảm xúc về thính giác.

Người ta sẽ nhanh chóng rơi vào một tu từ học khó chịu, vì muốn ghi thành mục lục những loại tương ứng khác nhau này. Và thật là vô bổ, nếu cứ nằng nặc đòi giải thích cho bằng được những cái đó với mọi giá. Tỉ như người ta chi phí những kho tàng của trí tưởng tượng và trí thông minh để “bứng ra khỏi hầm” bài đoản thi Voyelles (Những nguyên âm) của A.Rimbaud. Cũng có vài người nghĩ rằng, đó là hồi ức của Rimbaud về một cuốn sách khai tâm thời bé dại; một số khác lại tìm cách giải thích khác, đượm vẻ bí truyền bằng những cung hoàng đạo, phép thần thông, những con số theo học thuyết Pythagore. Cách đây ít năm, người ta cho ra một lối giải thích rất tinh xảo và dâm tục về bài đoản thi nổi tiếng này. Tôi không hoàn toàn phủ nhận, mỗi người đều có quyền đem vào một đoản thi tất cả những gì mình muốn. Nhưng có một giai thoại do chính Henri Morier kể lại, đượm màu huấn dụ: “Verlaine, khi được Adré Gide hỏi ý về bài đoản thi Những Nguyên Âm đã đáp lại bằng một giọng gay gắt, khi nhắc tới Rimbaud :”Nhà thơ, họ đã nhìn thấy những thứ đó như thế đó, chỉ có vậy thôi.”[12]

NHỮNG HÌNH ẢNH TRONG MỘNG VÀ ẢO GIÁC

Khi các nhà thơ thuật lại những giấc mơ, các vị đó thoạt tiên sáng tác ra những bài thơ.

Người ta quả đã quá ngạc nhiên khi đọc những bài thuật tả lại những giấc mơ mà, Freud chẳng hạn, đã nêu lên, chúng tương đối nghèo nàn những hình ảnh. Và chúng ta hẳn từng có kinh nghiệm là tự thấy thất vọng khi muốn tìm lại bản chất và sự phong phú của những hình ảnh trong giấc mơ đêm, để kể lại hoặc ghi nhớ vào khi thức giấc. Nhà thơ mượn ngôn ngữ để phiên dịch và tạo nên“sức mạnh của giấc mơ.”

Nhưng, trong một diễn từ, Albert Beguin đã phân tách hình ảnh của Baudelaire để được tìm thấy lại các yếu tố cấu tạo những ảo giác Thơ Ca “Nhưng nhà phân tâm học trong kỳ vọng chữa trị cho nhà thơ ngay nơi Thơ Ca, và tránh một thất bại cho chính nhà thơ, đã quên khuấy rằng, nhà thơ là người sử dụng cho những cứu cánh khác những gì mà nhà thơ có với kẻ suy nhược thần kinh, do vậy nhà thơ có thể tiến tới cắt đứt sợi dây đã trói cột hình ảnh nơi ông : kể từ đó, hình ảnh là một cái gì khác”[13].

Hình ảnh trong mơ thoát ra ngoài mọi kiểm soát. Nhà thơ là kẻ mộng mơ nhận biết những hình ảnh trong mơ và có thể chế ngự chúng, bắt chúng biến đổi hình dạng theo một mức độ, như cách nói của Novalis là “tất cả những gì không chú tâm đều phải được chuyển hóa và đặt dưới quyền uy của ý chí”. Những chuyện kể, những giấc mơ và Desnos đã thuật lại trong tác phẩm Deuil pour Deuil (Tang tóc cho tang tóc), Breton trong Les Vases Communicants(Bình thông nhau), Eluard trong Donner à voir (Cho xem) cũng như những văn bản của các nhà lãng mạn Đức hoặc của Gerard de Nerval đều khích động những khả năng huyền học hoặc huyễn hoặc của từng độc giả, nhưng ở những mức độ hình ảnh nhập diệu trong cấu trúc ngôn ngữ bằng cách này hay cách khác để khuyến dụ và lôi kéo được nhiều cảm xúc thẩm mỹ.

Người ta cũng dễ dàng nêu lên được những nhận xét tương tự khi đề cập tới những gì đượm màu ảo giác. Không gì thất vọng hơn, là trên phương diện Thơ Ca phải dùng tới những chứng cứ y học thực hành khi đề cập đến những đề tài mê sảng cuồng nhiệt. Và, cũng ngược lai, không gì có thể cảm động hơn (theo nghĩa mạnh nhất của từ ngữ này) những hình ảnh chợt lóe sáng, mô tả như những hình ảnh mà Artaud đã dùng để thuật lại những khám phá của ông, có thể nói được rằng hình ảnh Thơ Ca không tường thuật lại ảo giác (hay mộng mơ) mà thực ra đã gợi lên ảo giác mộng mơ.

Khi tôi tự suy tư, tư tưởng tôi tự tìm kiếm trong chất thuần tinh của một không gian mới. Tôi đứng trong bùn cũng như những người khác đương đứng trên bao lơn. Tôi tham dự vào hấp dẫn – lực của các hành tinh trong những kẽ hở của tinh thần tôi.[14]

Ngoài ra, người ta có thể ghi nhận rằng, rất nhiều khi những chuyện kể trong mơ hay trong những cơn mê sảng không sử dụng tới hình ảnh. Đó là những liên hệ đơn điệu, không hành động tiếp liếp nhau với những trạng thái, những gặp gỡ, chúng chỉ gợi lên hình ảnh trong những trường hợp đặc biệt khi nhà thơ thực sự chiếm hữu được chúng.

Để ngắn gọn lại sau một hồi vòng vo chạy quanh chủ đề mà chúng ta muốn nhấn mạnh ở các mức độ khác nhau, thiển nghĩ rằng, chỉ cần tập trung suy tưởng giây lát câu nói nổi tiếng của Rimbaud: “Tôi đóng chặt sự choáng váng” trong tác phẩm Une saison en enfer – Một mùa ở địa ngục. Những gì khác nhau giữa hình ảnh trong mộng thành một bài thơ, tất cả ở chỗ nhà thơ cùng thấy được sự quan trọng trong cả hai ý “tôi đóng chặt” và “sự choáng váng”.

CÓ THỂ DÀN XẾP CHO MỘT CUỘC SẮP HẠNG HÌNH ẢNH THƠ CA ?

Sự cám dỗ khá lớn khi tính chuyện xếp hạng những hình ảnh Thơ Ca, theo ngôn ngữ của cuộc phân tích này. Đã có nhiều khó khăn bắt đầu lộ diện :

Thoạt tiên, cũng thật khôi hài khi muốn nhốt những thực tại liên hệ tới đời sống, tới sự khám phá và tính cách đặc sắc sâu xa của từng cá biệt nhà thơ vào những loại hạng mục của tu từ học.

Thật vô cùng khó khăn khi muốn ấn định những tiêu chuẩn chính xác để có thể nêu lên một bảng liệt kê thấu suốt những hình ảnh Thơ Ca.

Trong tác phẩm Art Poétique (Nghệ thuật Thơ Ca), Roger Caillois đã cố hết sức thực hiện một bảng xếp hạng, nhưng phải áp dụng nhiều tiêu chuẩn liên tiếp. Thoạt đứng trên bình diện văn phạm, ông phản biện cái gọi là”hình ảnh với dụng cụ văn phạm”, hoặc so sánh : Đêm dày đặc như vách ngăn của Baudelaire với “phép ẩn dụ”hay hình ảnh không cần đến dụng cụ văn phạm.

Xa hơn nữa, ông coi bản chất văn phạm khác với những từ ngữ “làm nên” “hình ảnh”; những từ ngữ này có thể là :

– Một danh từ : Đấng cứu thế đã tới: đây chàng lực sĩ trẻ tuổi (A.de Viguy)

– Một tĩnh từ: Những xứ sở rộng lớn câm lặng sẽ trải dài lâu lắc (A.de Viguy)

– Một động từ:…trồng cọc đỡ hết thảy các cây cối (P.Valéry)

Cũng có khi ông còn phân biệt những hình ảnh theo các quan hệ cú pháp nối liền (hoặc không) những từ ngữ đã cấu tạo nên chúng; như vậy là ông đã đối chống những “hình ảnh kề sát bên nhau”:

Riêng bông hồng, giấc ngủ không của riêng ai dưới bao nhiêu mi mắt, như Rilke đã mô tả với những “hình ảnh-xác định”: Bạch tuộc với tia nhìn nhung lụa (Lautréamont).

Kế đó, ông khởi đi từ vật thể và chứng tỏ rằng trong một vài trường hợp, hình ảnh phát sinh từ một ví von của vật thể với chính nó:

Sóng gợn trong suốt như vào một ngày đẹp trời nhất (La Fontaine)

Vào những dịp khác, sự so sánh được thiết lập giữa vật thể mà nhà thơ muốn gợi lên với một vật thể khác:

Đôi mắt em như bông hoa kia
Tím nhạt như quầng mắt em và tựa như mùa thu (Appollinaire)

Sau hết, ông xác định những loại hình ảnh có liên hệ với những cảm xúc: hình ảnh thị giác,.v.v.. và đưa tới những hình ảnh phức tạp mà chúng ta đã có dịp gợi lên khi đề cập tới những trường hợp tương ứng. Ở đây, chúng ta chỉ nêu lên một đại cương ngắn gọn về ý đồ này, nó dứt khoát là một bảng liệt kê có thứ tự hơn là một sự xếp hạng.

Trong tác phẩm Dictionnaire de poétique et de rhétorique, Henri Morier đã mượn những tiêu chuẩn xếp hạng để, dung rộng trong những ý niệm tâm lý và luân lý học: những hình ảnh trừu tượng hay cụ thể hoặc rời rạc không mạch lạc,…

Người ta cũng có thể chấp nhận cách phân loại của Bachelard và xếp các hình ảnh theo các chủ đề tưởng tượng cụ thể. Mọi tác phẩm “Thơ Ca”của triết gia chỉ là ý đồ thiết lập một bảng liệt kê đầy đủ những hình ảnh Thơ Ca, và “hiện tượng học” này, như lời ông bày tỏ, khả quan hơn tất cả những hệ thống khác vì nó mạch lạc hơn cả.

Cũng chẳng phải là phi lý khi rằng trong mắt tương lai gần đây người ta có thể nhìn vấn đề này rõ hơn nhờ phương pháp khoa học của ngôn ngữ học tổng quát.

Những công trình nghiên cứu của R.Jakobson, của Nicolas Ruwet, cho phép ta hy vọng thiết lập được mạng lưới sống động và rộng mở cho những hình ảnh Thơ Ca. Mạng lưới này cũng chỉ là một tế bào trong cả một kiến trúc rộng lớn hơn mà đối tượng “có thể tạo thành thuyết tu-từ học mới mà Francis Ponge từng đòi hỏi và cho tới nay chúng ta vẫn chưa có được”[15]

LIỆU, CÓ MỘT NỀN THƠ CA KHÔNG HÌNH ẢNH ?

Hình ảnh, như ta đã thấy, không phải luôn luôn là dấu ấn đặc biệt cho ngôn ngữ Thơ Ca.

Đã từ lâu, nhịp điệu, sự nhấn lại những âm thanh gần gũi nhau hay na ná giống nhau, một cách nào đó, đã, đo được lời phát âm, cho phép lưu trữ và truyền đạt những thông điệp, những truyền kỳ, những lời cầu nguyện, những phương thức,…tới Thơ Ca và ký ức.

Hình ảnh hiện hữu như một yếu tố phụ thuộc giúp ta “nghe biết rõ hơn, trông thấy rõ hơn”qua trung gian của từ ngữ.

Trái lại, trong Thơ Ca cận đại, hình ảnh thường xuất hiện như yếu tố chính và tràn lan nữa. Jean Cocteau kinh ngạc về sự lạm phát hình ảnh đã kịch liệt phản ứng lại, tới mức phải viết những dòng sau đây trong tác phẩm Le Secret Professionnel :

Từ quá lâu rồi, hình ảnh vì hình ảnh đã đẩy Thơ Ca xuống vực thẳm. Một tập thơ là một tập hình ảnh, nơi đó chúng ta tự bằng lòng với thị hiếu bắt chước rỡm đời. Than ôi, thị hiếu rỡm đó vẫn còn linh hoạt nơi con người! Nay, một nhà thơ chỉ muốn sử dụng bằng hình ảnh để giải trí đám đông, như một người chào hàng làm vui mắt bàn tiệc bằng cách chế tạo thêm một con thỏ bằng quả hạnh nhân với những que diêm; vậy đó làm sao khiến cho chúng ta vui thích cho được.

Từ đó, đã dấy lên làn sóng chống đối đến nhạo báng các nhà thơ thuộc trường phái trừu tượng hay siêu thực, nhất là những nhà thơ ưa thích triết lý.

Cứ như thế, sự nhạy cảm của tác giả đã tự động biến chất những cách ngôn, những ngạn ngữ theo các đường thẳng của triết gia thành những giá trị tương đương về xác thịt và nhạy cảm.

Loại Thơ Ca không hình ảnh này chỉ có thể hiện hữu qua những hình ảnh mà chúng ta đón nhận và giải thích chúng.

Điều này, cũng chẳng ngăn cản nổi một thể loại Thơ Ca mà vai trò của hình ảnh là thứ yếu. Chúng ta thừa biết, Baudelaire đã nói về niềm vui văn phạm được Thơ Ca phân phát, và theo ý nghĩa này, các nhà ngữ học hiện đại đã minh chứng rằng, sự sắp đặt cú pháp âm luật của ngôn ngữ Thơ Ca đã khiến nó tự phân biệt không những với hình ảnh mà còn với nhiều hình thức khác nữa của ngôn ngữ. Vì vậy, R. Jakobson đã viết:”Những sách giáo khoa tin ở sự hiện hữu của các loại Thơ Ca không hình ảnh, nhưng trên thực tế sự nghèo nàn của từ ngữ trong các từ điển được quân bình lại bằng những từ ngữ phong phú, lộng lẫy và những hình ảnh văn phạm. Sự phong phú của Thơ Ca ngôn ngữ, tóm lại Thơ Ca của văn phạm và sản phẩm văn chương của nó là văn phạm của Thơ Ca đều rất hiếm khi được các nhà phê bình công nhận và gần như hoàn toàn bị lơ là bởi các nhà ngữ học; ngược lại, các nhà văn sáng tạo lại biết cách thủ lợi tối đa ở những điểm đó”[16]

Người ta cũng có thể nhận tính chất ”không thể sờ mó thấy” của một vài câu thơ, hay một vài cụm thơ của Racine chẳng hạn. Thơ của Racine chắc chắn là giàu về hình ảnh, nhưng cũng có những đoạn hay với nhiều câu không hình ảnh.

Người ta thường bảo rằng “nhạc thơ Racine” đã bù đắp quá hậu hĩ cho nét trần trụi trong những dòng thơ thập-nhị-bát-âm của ông, tỉ như câu sau :

Anh yêu Em thất thường. Làm sao ra điều chung thủy ?

Chúng ta chẳng tìm đâu ra hình ảnh, và ngoài nét tâm lý ẩn trong câu thơ, trên hết ta còn cảm thấy niềm yêu thương tuyệt vọng của nhân vật Hermione với thanh âm trùng xuống đậm “nét nhạc” ngời sáng. Nhưng cấu trúc văn phạm (sự đối lập giữa câu khẳng định với câu nghi vấn, giữa thì-bán-khứ (imparfait) với điều kiện cách (conditionnel), giữa thất thường với chung thủy đã đem lại cho ”nét nhạc” này một hỗ trợ đáng quý, thiếu nó “nét nhạc” cũng tan biến mất.

Đạt tới trong mức độ thì, sự nghiêm ngặt gắt gao, sự tiết chế trong lời nói, sự làm chủ được nghệ thuật lược từ (ellipse) và phép biến ngữ cưỡng ý có thể thực hiện được một bài thơ không hình ảnh. Với điều kiện là sự nghiêm khắc đó không hủy diệt những khả năng âm vang của ngôn ngữ, bởi nếu thiếu chúng Thơ Ca cũng sẽ tan loãng trong vô hữu.

ÂM NHẠC TRONG THƠ CA.

Câu thơ được biết đến nhiều (và quá nhiều là đằng khác) của Verlain : Âm nhạc là điều tiên khởi trước mọi thứ thoạt gây nhiều bối rối và lúng túng cho tính chất Thơ Ca. Người ta có thể tin rằng Thơ Ca phải trở thành âm nhạc. Thơ Ca sẽ là thứ “hát xướng lên được “, những từ ngữ sẽ mất dần đi ý nghĩa của chúng, nó chỉ còn là những thanh âm trầm bổng. Nhà thơ sử dụng chúng như các nhạc công điều tiết các nốt nhạc.

“Hẳn sẽ là điên khùng lắm mới phủ nhận những nét tương đồng giữa âm nhạc và Thơ Ca. Nhưng cũng phải nói rằng, chúng ta sẽ là kẻ phản bội lại Thơ Ca và âm nhạc, nếu cố tình nhầm lẫn hay tráo lộn giữa hai thứ ngôn ngữ đó (…). Nói ngắn gọn, Thơ Ca không phải là một cách để xướng thanh mà là cách để suy ngẫm…khác với tiết điệu của âm nhạc, tựa như chất liệu của tượng đá mà nhà điêu khắc phải khám phá để điêu và khắc đến khi có thành phẩm. Chất liệu đích thực của Thơ Ca là ý nghĩa – âm thanh hỗn hợp và yếu tố thứ hai (âm thanh) phụ thuộc vào yếu tố kia tới mức dường như phát sinh ra một thứ nhu cầu nội bộ”[17]

Không đi sâu vào chi tiết so sánh phức tạp để có thể trở thành một tập biên khảo dồi dào khác (chẳng hạn, tác phẩm mà André Spire nhắc tới, chủ yếu là để đề cập tới những vấn đề này), nhưng người ta có thể nói rằng âm nhạc kết thành thứ ngôn ngữ mà nó tổ chức, trong khi Thơ Ca tự thấy mình là một ngôn ngữ đã được tổ chức và có ý nghĩa rồi.

Đặc tính của Thơ Ca là ở chỗ, hiếm có sự hòa hợp hoàn hảo giữa Thơ Ca với cái gọi là “nhạc phổ lên Thơ Ca”[18].

Có nhiều ngoại lệ khẳng định quy luật này. Cho tới thế kỷ XVI, thơ thường được sáng tác để ca hát; đàn thất huyền lyre hay đàn lute tượng trưng cho cả Thơ Ca lẫn âm nhạc. Những tao ngộ kỳ diệu từng đã xảy ra: Goethe và Schubert, Fauré, Debussy và cả những Verlain, Poulenc rồi Éluard. Có điều đáng chú ý là khi một nhạc sĩ hiện đại như Pierre Boulez đề cập tới R.Char hay Mallarmé, ông ta không tìm cách đệm nhạc hòa theo thơ, mà chỉ như phụ giúp “làm nên một bức chân dung bằng âm nhạc về tác giả này”

Ở đây, tôi không việc gì phải dài dòng về những cuộc tao ngộ đó, đôi khi còn được tranh luận trong thời gian dài về Thơ Ca và những bài hát. Hiện tượng này có thể giúp cho Thơ Ca được phổ biến và bình dân hơn, nhưng dẫu sao còn nhiều điểm vần phải soi sáng hơn lên, và chúng ta sẽ trở lại sau.

Và lúc này, chúng ta hãy xét Thơ Ca ngay trong bản chất của nó để làm rõ những yếu tố thiết yếu của âm nhạc trong ngôn ngữ Thơ Ca.

Có thể cũng hơi độc đoán đấy, nhưng để không gặp những rối rắm và tản mác, chúng ta hãy xét âm nhạc trong Thơ Ca dưới ba quan điểm khác nhau và bổ sung cho nhau, dó là: nhịp điệu, sự dàn trải du dương, và cấu trúc hòa âm.

Cái ranh giới giữa các ý niệm trên cũng rất mong manh, và việc phiên giải, biện biệt nhịp điệu với giai điệu tựa như thừa, bởi không thể có nhịp điệu mà không có giai điệu. Điều đầu tiên trên thực tế là, tìm cho ra những nguồn gốc tổng quát nhất cuả nhịp điệu Thơ Ca, và bước thứ nhì là phân tách những yếu tố bên trong câu thơ, bài thơ, chúng là hiện thân của nhịp điệu, thể hiện nhịp điệu. Điều thứ ba là, y cứ vào những sưu tầm của Mallarmé, Spire, Butor cùng những khuynh hướng hiện đại về phân tách ngôn ngữ Thơ Ca, chúng ta sẽ thấy làm cách nào để biết được Thơ Ca là một toàn thể những hòa âm phức tạp chứ không chỉ là một tiếp nối những âm tiết theo đường thẳng.

LẮNG NGHE NHỊP TIM : TIẾT ĐIỆU THƠ CA.

Henri Morier, trong tác phẩm Dictionnaire de poetique et de rhetorique, đã định nghĩa nhịp điệu là “sự trở lại từng quãng cách đều nhau của một điểm chuẩn chuyên nhất”.

Theo ông, điểm chuẩn này có thể:

Thuộc về vật chất: cử động nhắc đi nhắc lại, như người khiêu vũ

Thuôc về thính giác: xưởng thợ, tiếng chuông, tiếng trống…

Thuộc về thị giác : Ánh đèn pha nhấp nháy

Ngoài ra, người ta còn phân biệt nhịp điệu tự nhiên (ngày đêm, mùa màng, thủy triều…), nhịp điệu sinh lý (nhịp thở, nhịp tim đập), nhịp điệu nhân tạo (âm nhạc, Thơ Ca). Như vậy, nhịp thơ thuộc loại nhịp điệu nhân tạo do ý chí con người can thiệp vào. Người ta có thể nghĩ rằng, nhịp điệu của Thơ Ca bắt nguồn trong ngôn ngữ khi chắc chắn chỉ có một cách áp đặt nhịp điệu tự bên ngoài vào ngôn ngữ, nhịp điệu nối kết vào con người toàn diện : “nhịp điệu là hình ảnh, ghi khắc trong lời nói của con người toàn diện, phần xác cũng như phần hồn, cả cơ bắp lẫn trí tuệ” ( Abbe Rousselot, trích dẫn bởi A. Spire). Tiết điệu, khác nào hơi thở tươi mươi của sự sống, thổi bùng cơn thịnh nộ thần thánh của Thơ Ca ?


[7] / Gaston Bachelard, La Poetique de L’espace, Paris, P.U.F, tr. 1

[8] / Pierre Reverdy, Nord-Sud(Đông Nam), thuật lại bởi André Breton, Paris, Gallimard(tập Idées, tr. 31

[9] / André Breton, Manifestes du surréalisme, tr.51

[10] / Sách đã dẫn trên, tr. 52

[11] / Saint-Pol Roux, Les Reponsoirs de la Procession, Những chặng dừng chân của đám rước, Mercure de France, tr.261

[12] / Henri Morier, Dictionnaire de poétique et de rhétorique, Paris, P.U.F. tr.123

[13] / Albert Beguin, L’Âme romantique et le Rêve, Tâm hồn lãng mạn với giấc mơ. Paris, Corti tr.17

[14] / Antonin Artaud, Oeuvres complètes, Paris, Gallimard, tr.112

[15] / Gerard Genette, “Structuralism et critique litteraire” (Cấu trúc và phê bình văn học)L’Arc, số 26.

[16] / R.Jakobson, Essais de linguistique générale, Paris Editions de Minuit, tr 244

[17] / André Spire, Plaisir poétique, Plaisir musculaire, Jose Corti, tr. 191

[18] / Victor Hugo : “Défense de déposer de la musique sur mes vers” :Cấm, không được đặt âm nhạc lên thơ tôi.

bài đã đăng của Georges Jean


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)