Trang chính » Biên Khảo, Tiểu luận Email bài này

thơ ca- cơn thịnh nộ thần thánh đó (phần 1)


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 7.01.2016

 

 

 

 

Không phải vì nghệ thuật mà vì niềm hứng khởi và sức ám thị của thần linh nên các nhà thơ mới có thể sáng tạo nổi những thiên anh hùng ca tuyệt vời như vậy, và cả những nhà thơ trữ tình lớn khác cũng dạt dào không kém…một khi đã nhập vào các thanh điệu, họ bị lôi cuốn toàn thể chẳng khác nào các bà đồng trong lễ thế Tửu Thần hút sữa và mật từ những dòng sông một khi tâm thần bị rù quyến, bị mê hoặc chứ đâu phải vì lòng xăng xái đảm đang (Platon, Ion).

Niềm thi hứng được quan niệm như một sự chiếm hữu. Kể cả nền Thơ Ca cổ đại và ở Đông Phương trong thế kỷ XVI, ngay cả Boileau nữa, đều được miêu tả như vậy, niềm cảm hứng đã được các vị thần linh ban cho nhà thơ với sự ứng trợ của thần Măt Trời và các nữ thần Thơ Ca.

Với những người trong trường phái lãng mạn, niềm cảm hứng trở thành một thứ định mệnh và kẻ nào chọn lựa như Moise hay Chatterton của Viguy sẽ vĩnh viễn mất niềm an tĩnh và không còn thuộc vào thế giới thường nhật nữa. Nhà thơ, trước khi trở thành tiên tri tiên giác, đã là một pháp sư có thể biết đọc “những gì mà Miệng của Bóng Tối thốt ra”. Như chim hải âu cô đơn, nhà thơ là kẻ không được ai hiểu và những gì mà năng lực về đêm đọc cho riêng và chỉ riêng nhà thơ nghe mà thôi, với một cái giá đau thương nào đó, nhà thơ được hưởng quyền hân thưởng để tìm cách diễn dịch thành lời.

Chuyện thật hoang đường, và quả thật đây là một chuyện hoang đường, đã từ lâu lắm nhà thơ bị đẩy vào thế sống đơn độc của một kẻ bị nguyền rủa (maudit) mà thiên tài cô độc đen tối chẳng thể tìm được cho nhà thơ một chỗ đứng trong hợp quần xã hội; và để phản ứng lại, nhà thơ càng thu mình, cô lập hơn nữa trong nếp sống dị biệt khác thường với mọi người chung quanh.

Horace đã từng mỉm cười hài hước và trêu chọc những đấng cao cả “đầu bù tóc rối”, những đấng tự do “móng tay dài thậm thượt, mặc cho râu tóc dài ngắn lê thê biếng lười tắm gội”…

Thật là rất cần phải lôi kéo niềm cảm hứng về với sự thật phức tạp hơn, cảm động hơn của nó, nghĩa là về với con người, về với nhà thơ.

 

LÒNG KIÊN TRÌ,

Claudel, một lần nữa cho phép chúng ta đi vào thực tại xác thịt của nhà thơ. Ông ta dùng từ “niềm cảm hứng” theo nghĩa gốc. Trong tiếng Pháp “inspiration” là niềm cảm hứng, cũng có nghĩa khoảnh khắc đầu tiên mà nhà thơ “chuẩn bị ca hết mình…hít thở ngập tràn không khí trong lồng ngực, cho len tới từng ngóc ngách xương thịt đó đây”. Đó, gần như một một cử nhịp của sinh lý sinh tồn, giúp nhà thơ tự mở rộng mình ra với thế giới.

Nhưng động tác này không nhất thiết là một cử nhịp phấn chấn bồng bột. Trạng thái cảm hứng là một trạng thái trầm tư mặc tưởng, chẳng phải loại động lực sáng tạo bừng bừng phát lộ (F.J. Lorca).

Tôi không viết ra cuốn sách đó, mà chính nó đọc cho tôi ghi chép ròng rã ngày đêm, đọc bằng một giọng kẻ cả và tôi chỉ việc tuân thủ ghi lại như một người câm chép tiếng vang liên hồi vào màng tai tối tăm của ngoại giới (René- Guy Cadou)

Được gợi hứng, chính là đón nhận, vì đã đợi chờ (M. Dufrenne)

Nhà thơ, hơn ai hết là những con người, những hiện hữu sẵn sàng nhạy cảm với những rung động nhỏ nhất, hết sức chú tâm mà không tự biết. Vẻ lười lĩnh của Jean de la Fontaine, những mơ mộng lê thê trễ nãi của M.Rilke chứng tỏ đó là sự kiên trì, nhẫn nại, cho dù dưới hai dạng thức hoàn toàn khác hẳn nhau.

Thời gian ở đây không phải là một thực thể đo lường. Một năm không đáng kể, mười năm cũng chẳng là cái thá gì. Người nghệ sĩ không biết đo đếm, cứ như nhiên lớn lên và nẩy mầm như cây cỏ kia mà chẳng hề thúc giục huyết nhựa dâng lên, hãy kiên trì chống đỡ cuồng phong của mùa xuân mà không nản chí đánh mất lòng tín cậy vào mùa hè sắp tới. Mùa hè sẽ tới với những ai biết chờ đợi, điềm tĩnh chờ đợi, cởi mở chờ đợi như thể có cả thiên thu đang giàn ra phía trước …“[1]

 

SỰ THIẾU NHẪN NẠI,

Về phía đối lập, có những người tự tạo ra cảm hứng, coi sự nôn nóng muốn bùng nổ tức khắc là đặc tính chính của Thơ Ca. Với những vị này, sự cô đọng thành chất thơ chỉ thể hiện trong chớp mắt : Chúng ta là những kẻ bất trị. Điều duy nhất làm chủ chúng ta, chính là tia chớp vừa làm rực sáng vừa chém sả xuống tay chân chúng ta (René Char).

Hay như trút bỏ một gánh nặng : Một ngón tay gõ xuống mặt trống làm thoát ra tất cả những thanh âm và một khởi sự hòa điệu mới (A.Rimbaud).

Người ta có thể mơ tới một thi pháp chống lại những nhà thơ rề rà chậm chạp, chẳng hạn như Vigny, Supervielle, Rilk, Miloscz, …

Giữa hai dáng vẻ Thơ Ca đó, mỗi nhà thơ phải tự chọn lựa lấy, mỗi vẻ đều phải kinh qua các giai đoạn của kinh nhiếp và của trầm tư (nơi đó gom lại những gì mình vừa hái lượm).

 

SỰ TÌNH CỜ,

Sau những nhà siêu thực, đặc biệt là Breton, chỉ còn muốn đặt niềm tin vào khả năng tự động của tâm trí. Với những nhà siêu thực, niềm cảm hứng là một nữ thần vô bổ, Thơ Ca không sinh ra từ sự kiên tâm, hay niềm cảm hứng chợt bừng lóe như tia chớp, mà do tình cờ ngẫu nhĩ, nhà thơ bất quá chỉ là “một bộ máy ghi chép” : Chúng ta há chẳng phải là được giao phó cho bất kỳ công việc gạn lọc nào; trong những tác phẩm, chúng ta khác nào những tên điếc đặc thâu nhận biết bao tiếng vang, chỉ là những máy ghi âm không chuyên trên những đường nét mình vẽ vời ra…[2]

Niềm cảm hứng chẳng hề xa lạ với các nhà thơ, chính nhà thơ làm chủ nó, như R. Caillois từng nói: “ Niềm cảm hứng là do nhà thơ tạo ra, chứ không phải nhà thơ được tạo ra do niềm cảm hứng”. Quả thực, có lúc nhà thơ thấy cần chuyển sang hành động và, chính sự cần thiết này đã khiến nhà thơ phải nín thở để diễn đạt hay mô tả nó. Quãng đường chuyển hóa thành tác phẩm này đã được thể hiện do muôn vàn thái độ khác nhau, nhưng tất thảy đều hướng về mục đích dùng một cái gì đó để thay thế cho sự trống rỗng – thực tại của bài thơ trong bài thơ.

 

NIềM LO ÂU TRẮNG XÓA TRÊN KHUNG VẢI CỦA CHÚNG TA

Nhà thơ, vào một lúc nào đó trong cuộc phiêu lưu của mình, tự chuyển thành nhà thủ công. Kể cả lúc tác phẩm đương đại nổi bật lên hoàn toàn tự nhiên như một trái chín, tác phẩm đó vẫn phải được tạo tác. Nhà thơ như điêu khắc gia Micchel-Ange chỉ còn lại mỗi việc, đó là đục đẽo, giũa gọt lớp đá thừa che khuất pho tượng. “Tôi nghĩ rằng, không một nghệ sĩ lớn nào mà lại làm việc trong trạng thái đang lên cơn sốt. Kể cả những người có tinh thần huyền bí cũng chỉ làm việc vào lúc con chim câu của Trí Thông Minh Thần Thánh vỗ cánh rời tổ để bay mất hút vào những đám mây. Người ta trở về từ niềm cảm hứng như trở về từ một xứ sở xa lạ. Bài thơ nói kể về cuộc viễn du đó. Niềm cảm hứng, ban cho hình ảnh nhưng không có gì bao bọc bên ngoài. Và muốn bao bọc nó, phải tịch tịnh quán sát nhưng chớ quá đam mê phẩm chất và thanh âm của từ ngữ ”[3].

Đó là cuộc hồi cố của chính mình, một cuộc hòa giải mà vật thể mới muốn đóng dấu niêm trên đó. Bài thơ xác định một sự thống nhất được tái lập. André Frénaud nói “Nếu tôi trở thành một ai khác, nhà thơ chỉ có thể thực hiện được cuộc hóa thân sau đó khi đã quy hồi về với chính mình”.

Sự trống rỗng trước lúc sáng tạo chợt được tràn đầy bởi một phép lạ ngôn ngữ. Dòng thơ đầu tiên do thần linh ban cho, như Valéry từng nói, thật ra chẳng phải là phép lạ mà là sự kết tinh bất chợt sau một thời gian chiêm niệm, huân tập và chờ đợi. Đôi khi, đấy chính là điểm rơi ngay vào Valéry, khi ông viết Le Cimetière Marin, câu thơ đầu tiên là một nhịp điệu chứ không mang theo một ý nghĩa nào cả. “Còn về tác phẩm Cinetière marin, ý hướng này thoạt kỳ thủy chỉ là một nét thanh điệu trống rỗng được rót cho đầy vần một cách vô ích và vô dụng, chúng cứ ám ảnh và đeo bám tôi suốt…”

Nhà thơ gợi cho ta thấy, khởi từ cái nhịp điệu đó, hình ảnh bài thơ dần tượng hình nơi ông, và rồi ông đã tạo tác thêm một đôi câu nền tảng khác nữa, cho đến khi hoàn tất một công trình bề thế, uy dũng vững vàng.

Edgar Poe, người mà Valéry chiêm ngưỡng khá nhiều qua Baudelaire và Mallarmé, đã tự nhận mình là người có thiên-nhân-thông (visionnaire), giải thích tác phẩm Le Corbeau (con quạ) đã được hình thành ra sao với một ý thức toàn mỹ về những hiệu quả phải đạt cho bằng được.

Đó là nói về những nhà thơ kiến trúc. Nhưng sự bận tâm về kiến trúc này cũng thấy có ở những kẻ cho ta cảm tưởng chỉ cần mở những đầu nút mối nơi đai dương tăm tối đang xao động trong họ.

Một cuộc nghiên cứu kỹ lưỡng chất thơ của Victor Hugo đã minh chứng rằng sự kiến tạo những mảng thơ rộng lớn của ông được thành tựu một phần nhỏ theo một loạt những đồ thức (épures) cần được bổ sung bằng mọi giá. Nhà thơ thấy trước (theo nghĩa đen của từ thấy) như thể trong những bức vẽ của ông có một cách xếp đặt nào đó những điểm đen, điểm trắng, những kiến trúc văn phạm, nhịp điệu, thanh nhạc,…

Các nhà siêu thực cũng vậy, chấp nhận mọi sự tình cờ và ngay từ bước đầu, đã cổ xúy cho lối viết tự động, các tự vị từng đã dần dần khám phá thấy rằng “tấm vải trắng” muốn được đầy thì cần phải có “bàn tay cầm cọ” khởi đầu, kể cả tự động và làm việc. Và, như Riverdy đã nói, Breton từng chiêm nghiệm điều này : “Những tác phẩm Thơ Ca đã được thể hiện, ta sẽ không còn thấy Thơ Ca ở bất kỳ một nơi nào khác”.

 

TRĂM LẦN NƠI NGHỀ NGHIỆP

Thơ Ca là một công việc.

Kẻ nào muốn bay bằng những bàn tay và miệng của mình, người đó phải nhốt mình lâu trong phòng vắng (J. du Bellay).

Bạn cần mẫn gọt giũa từng câu thơ, chẳng khác gì người thợ làm vườn chuyên nghiệp không sao làm ngơ trước những cành nhánh lòa xòa vô tích, không có tác động ích lợi gì cả…(Ronsard).

Những nhà thơ là những người thợ có lương tâm và tự họ ý thức rõ, rằng muốn tìm lại những giây phút mê sảng, nghĩa là sức mạnh của những mộng mơ thường ám ảnh mình và mình cũng muốn truyền gửi tới, công việc này đòi hỏi thêm một thời gian dài: “Những dữ liệu của mộng mơ lúc tỉnh thức mà Thơ Ca trao đến cho ta, cần được nhà thơ nhà thơ chăm sóc lại, có vậy mới xứng đáng với vị trí cao quý của Thơ Ca” [4]

Những nhà thơ là những người thợ có lương tâm và tự do, họ ý thức rõ rằng, công trình của mình chỉ phản ánh chưa được một trong muôn phần – rất nghèo nàn – chất thơ xối ngập trong tâm hồn mình, và quả thật, nếu không làm việc trong cam khó lao lực, thì đừng hòng có được Thơ Ca.

Công việc trong Thơ Ca không giống như bao công việc khác. Nơi đây không tìm thấy cái dáng vẻ bề ngoài của lao động mà là những mạch nhảy, những tiết nhịp luân khởi khi nhanh khi chậm, cũng có những nút đoạn thắt mở mãnh liệt không ngờ tới. Tỉ như Max Jacob đã khuyến cáo các nhà thơ trẻ hãy khoan thai trong việc khởi công tác phẩm, ông nói :”Hãy chịu đựng khá lâu và phản ứng chậm. Càng chậm càng tốt, phản ứng tức thì nó cạn cợt thiếu hụt, chính sự tinh luyện mới đạt được sự viên mãn trong sáng tạo”[5]

Rốt cùng, công việc của nhà thơ là rất đơn độc, không phải tuân thủ theo bất kỳ luật lệ nào. Theo một nghĩa nào đó, công việc này là một ẩn náu, một giấu mình trước sự ồn ả màu mè của đám đông tung hứng thô thiển và cạn cợt, vô trách nhiệm. Thoạt giả, người ta có thể tự vấn, liệu những nhà thơ của tương lai, để được xã hội mới chấp nhận, có thấy cần phải nghiền ngẫm những tuyên bố sau đây của Maiakowski hay không :

1. Thơ Ca là một kỹ nghệ. Loại kỹ nghệ khó và phức tạp nhất, nhưng vẫn là kỹ nghệ.

2. Thực tập trong Thơ Ca không phải là học cách làm một bài thơ theo một tác mẫu nhất định và có những hạn định, mà nghiên cứu những thực tập của loại kỹ nghệ này để sáng tạo nên những thực tập khác…

3. Để có thể đáp ứng trọn vẹn những đòi hỏi xã hội, nhà thơ phải sống giữa mọi sự vật, mọi biến cố các thứ. Hiểu biết các thuyết lý về kinh tế, tham dự vào đời sống thực tế, thấu triệt các vấn đề của lịch sử,…đó là những hành trang cần yếu cho nhà thơ, chứ không phải những bộ tập giáo khoa nhồi nhét và thần thánh hóa những cũ nát đã lùi vào xưa cũ…[6]

Công việc của Thơ Ca, rất có thể, đến một ngày nào đó sẽ là động lực đưa đẩy nhà thơ trở về và hội nhập lại với nhân quần xã hội.

(còn tiếp)

 

 

[1] / Rainer Maria Rilke, Oeuvres, prose, Seuil, tr 306

[2] / Tuyên ngôn đầu tiên của trường phái siêu thực.

[3] / Federico Garcia Lorca, L’image poétique chez Don Luis de Gongora(Hình ảnh Thơ của Don Luis de Gongora), Seghers, tr. 623.

[4] / Gaston Bachelard, Poe1tique de la re6verie(dáng vẻ Thơ của mộng mơ), tr 136.

[5] / Max Jacob, Conseils à un jeune poe2te(những lời khuyên cho một thi sĩ trẻ), Paris, Gallimard.

[6] / Vladimir Maiakowski, Vers et Proses, tr 363.

bài đã đăng của Georges Jean


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch