Trang chính » Biên Khảo, Nghiên Cứu, Nhận Định Email bài này

Thơ ca, ngôn ngữ thần thánh: niềm vinh hạnh của con người!


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 21.12.2015

 

 

dadaism1

 

Thơ Ca của Yamatou bắt rễ từ trái tim của con người, ở đó có ngờm ngợp những hoa lá của nghìn vạn ngôn từ, ngữ điệu. Tsourayouki, một thi hào của Nhật Bản, thế kỷ X đã nói như thế.

Với ngôn ngữ, Thơ Ca hiện hữu như một sự vật. Và cũng với ngôn ngữ, Thơ Ca hiện hữu như một truyền đạt. Trong ngôn ngữ, Thơ Ca bám sát vào đó không phải để mai một hay héo tàn đi, mà để ngày một sống động, linh hoạt, để có thể mỗi lần được vời đón là một lần tải hiện với cuộc phiêu lưu mới. Hết thảy các thi nhân đều nói như thế. Họ đều có thể tự biện bạch cho mình bằng cách nhắc lại lời khẳng định của Jean Grosjean rằng: “Thơ Ca chính là ngôn ngữ, là thực, thực hơn những gì khác nữa”. Mọi nghệ thuật Thơ Ca đến một mức độ nào đó khiến người ta phải nghĩ tới lời đề nghị của Raymond Queneau :

Đặt đúng chỗ chọn lựa kỹ
Phải chỗ của từ ngữ sẽ thành một bài thơ,
Những từ ngữ, chỉ cần biết yêu chúng
Là có thể viết nên một bài thơ…

Còn Claudel đã viết về mình: Hãy tưởng tượng, một buổi chiều ta lạc vào rừng thu, dâng trào lên cảm xúc, nhà thơ hay họa sĩ diễn đạt bằng những phương tiện của riêng mình, và phương tiện của nhà thơ là ngôn ngữ.

Vậy nhưng, ngôn ngữ chưa thuộc hẳn về nhà thơ. Nhà thơ dùng ngôn ngữ chung của hết thảy mọi người, nhưng trong một cung cách và diễn ngôn riêng biệt. Hẳn nhiên, các nhà thơ chẳng thể sử dụng được như vậy nếu ngôn ngữ không đã là một trong những phương tiện chuyển vận có ưu thế của cảm xúc, của đam mê và của những mơ mộng nơi con người với nhịp thở dễ bắt nhịp giữa muôn loài muôn vật.

Nhưng những thi nhân thấy được gì trong ngôn ngữ ? Và họ vận dụng chúng, ra sao ? Quán sát tính chất của ngôn ngữ, chúng ta chỉ có thể trả lời từng phần của hai câu hỏi trên. Chính trong khi tìm cách nắm bắt tính chất của hình ảnh Thơ Ca và thể điệu của nó mà chúng ta tạm hiểu được các thi nhân đã sử dụng ngôn ngữ thế nào và, ra sao.

 

1/ TÍNH CHẤT CỦA NGÔN NGỮ.

NGÔN NGỮ VÀ LỜI NÓI.
Để thật hiểu thi nhân đã tìm thấy gì ở ngôn ngữ. Tốt hơn hết nên tìm đến các nhà ngôn ngữ và lời nói cùng những gì đã khám phá.

Lời nói có thể được hiểu là cách sử dụng ngôn ngữ một cách nhất thời và đặc biệt của mỗi cá nhân. Ngôn ngữ là một sự kiện xã hội, lời nói là một sự kiện cá nhân. Ngôn ngữ gồm tất cả những gì là chủ yếu, một toàn thể rộng rãi ; lời nói chủ yếu chỉ gợi lên một phần nhỏ của toàn bộ này để diễn đạt một tư tưởng hay một tình cảm đặc biệt thoáng hiện và hoàn toàn chỉ có tính cách cá nhân” [1]

Đặc tính của Thơ Ca (hình như) là một ngôn ngữ luôn luôn có thể chuyển thành lời nói. Một trong những đặc tính độc đáo của Thơ Ca là có thể làm ngưng đọng cuộc đàm thoại linh hoạt con người đang thực hiện với ngoại giới và với chính mình mà vẫn thường xuyên giữ được khả năng trả lại cuộc hội thoại này cho cuộc đời Thơ Ca tập trung nơi ngôn ngữ xã hội hóa và ngôn ngữ cá nhân. Thi nhân mà chểnh mảng về ngôn ngữ, chỉ chú trọng tới lời nói thì, rất dễ rơi vào trạng thái thô tháp hay mù mờ khó hiểu.

KÝ  HIỆU VÀ ÂM THANH.
Lại nữa, ngôn ngữ là một hệ thống âm thanh đồng thời cũng là một hệ thống ký hiệu. Dù thi nhân viết hay nói, nhưng trước và trên hết là, thi nhân lắng nghe.

Y cứ vào những dữ kiện cơ bản này, chúng ta đặt ra câu hỏi về ngôn ngữ. Thơ Ca chả mất gì mà lại được tất cả, chỉ cần cẩn trọng đôi chút khi sử dụng ngôn ngữ :

Toan tính của tôi ít vẻ riêng tư, tôi chỉ làm công việc sử dụng những công trình lý thuyết của các nhà ngữ học, bạn tôi. Các nhà ngữ học chỉ cần chuyển công trình của họ lên một dụng cụ hiện đại là họ đã trực tiếp giúp cho công việc của Thơ Ca rồi.[2]

“NHỮNG TỪ NGỮ XẾP ĐẶT VÀO ĐỜI” (H. Michaux).

Những từ ngữ là Thơ Ca, vì ngoài phần nghĩa đen, chúng còn một giá trị biểu cảm vượt xa hơn nữa. Giá trị này do mối liên hệ có trong từ ngữ giữa dáng vẻ hữu hình, âm vang và ý nghĩa của riêng nó.

Những mối liên hệ này có thể là kết quả của một nội dung nào đó, luôn luôn kết hợp với một từ ngữ nào đó tự thuở thiếu thời của chúng ta. Chúng có thể chỉ đơn giản hình thành từ tính chất của những nghĩ-thanh-từ. Nhưng, như Von Wartburg đã lưu ý chúng ta, có thể ngôn ngữ tái tạo tiếng động để cho ra những từ như con chim cu coucou. Trong tiếng kêu của con chim này làm gì có thêm phụ âm, mà chỉ do ngôn ngữ mang vào. Nhận xét này rất quan trọng đối với Thơ Ca. Nói là “hòa âm trước tác” những thanh âm, thực ra là bắt chước nhái nhại chính nó, nhưng nhà thơ chân chính sáng tạo những âm thanh phản ánh “những tiếng động”ngoại giới.

Trên một bình diện cơ giới hơn nữa, là cả một loạt những liện hệ phức tạp giữa âm thanh của ngôn ngữ với một số yếu tố nào đó của thực tại. Phụ âm “1” chẳng hạn, gợi ý một thể lỏng như…nước. Điều đó còn cần ở tính cách liên tục và trường độ khi uốn giọng để đọc. Âm thanh khi đọc vang động lên trong cơ thể ta những cảm giác như khi ta đối diện với chính thực tại đó.[3]

Người ta sẽ thấy ngay những gì là phong phú mà hiện tượng này mang đến cho Thơ Ca. Một vài nhà văn phạm học, ngôn ngữ học đã có thể thiết lập được những từ vựng thực sự.

Nhiều từ ngữ mang tính ẩn dụ cao. Và nhà thơ tiếp dẫn cũng như nhận biết theo cái nhìn của riêng mình. Nhưng cũng có những nhà thơ say mê từ trong ngôn ngữ, thấy lại nét tươi mát của ẩn dụ thuở ban sơ để trở lại ngọn nguồn của ngôn ngữ. Von Wartburg đã có nhận xét như sau : “ Valéry nói tới “dòng suối tỉ mỉ “(ruisseau scrupuleux) để làm sống lại ý nghĩa từ La Tinh Scrupulus (những hạt cuội nhỏ), liên hệ động từ Contempler (chiêm nghiệm) với danh từ Temple (ngôi đền),..v..v…

2/ MỘT TỪ CHO MỘT TỪ KHÁC.

Trong ngôn ngữ, nhà thơ được hưởng loại tài nguyên khác hẳn bắt nguồn từ những sự kiện sau:

– Một nghĩa có thể diễn đạt bằng nhiều từ

– Một từ có thể có nhiều nghĩa

– Nhiều từ có hình thức giống nhau với những ngữ nghĩa khác nhau.

Có rất nhiều những dẫn dụ cho các khái niệm trên, ở bất cứ ngôn ngữ và nền Thơ Ca nào, nhưng người ta vẫn coi thường lối diễu nhại này, đôi khi dẫn đến phi lý và ảo hóa vô nghĩa. Chỉ một số ít có công phu hàm dưỡng mới trưng dụng vào tác phẩm các lợi tính của nó. Ta thử đọc “Năm Đoản Ca Bất Hủ”, trong đó Claudel đã chơi chữ thật tài tình giữa hai đồng âm“mer”(biển) và “mère”(mẹ), sau đây :

Tôi chả thiết tha gì : loại nước được sắp xếp thâu lượm bởi mặt trời, chuyển sang máy lọc và nồi chưng cất rồi mới phân bổ đi, những nước đã bị hư hoại tuột chảy hoài.
Những dòng suối của anh chẳng phải là suối chút nào. Chính là nguyên tố!
Đúng vậy thôi, nguyên liệu chính là bà mẹ mà tôi cần!
Hãy chiếm hữu biển mặn mênh mông muôn thuở, bông hồng lớn màu xám!Tôi đưa một cánh tay về phía thiên đàng ! Tôi tiến về biển rộng trong ruột đầy nho
![4]

Như vậy, từ ngữ đã trở thành ngã tư của những hình ảnh, ý nghĩa, âm thanh. Jean-Pierre trong một bài nghiên cứu về Gerard de Nerval đã minh chứng rằng, một nhà thơ có thể thủ đắc một số từ ngữ khi ông ta hiểu và yêu chúng. Những gì J.P.Richard nói về Nerval như thế, nó cũng rất thiết yếu cho những nhà thơ khác, chẳng hạn như Mallarmé hay Bonnefoy, những vị này luôn quan tâm đến tính chất “thường tại”(ở đâu cũng có mặt) của ngữ vựng, điều này giải thích cho chúng ta hay khả năng kỳ dị : nơi từ ngữ chồng chất và trùng hợp nhiều tầng ý nghĩa. Giáo lý của Nerval là một giáo lý huyền bí đa năng. Tất cả nhưng chú giải khác nhau về bài thơ đều đúng, nhưng nếu tất cả tập hợp lại nơi lời nói thốt ra không bao giờ lại chỉ là một, là duy nhất. Ngôn ngữ của những “ mộng tưởng hão huyền” đã hòa giải được đồng nhất với toàn thể. Khi ta gắng tập hợp thực tại trong sự chính xác cực kỳ của một vài từ ngữ chọn lọc, chúng ta sẽ thấy lại đức tính đã mất của nó là sự “biến tại”(l’ubiquité).

NHỮNG TỪ NGỮ CHO NHỮNG TỪ NGỮ.

Những nhà thơ ưa thích những từ ngữ vì chính những từ ngữ đó. Từ “vật”-mots “choses”, như Sartre từng nói : Nhà thơ đã tách chúng ra khỏi ý nghĩa của chúng. Sartre tiếp nhận những từ đó như những thực tại vật chất hào hứng.

Mọi phương tiện đều được phép sử dụng :

– Có thể phá vỡ sự hợp lý của bài diễn từ. Do vậy, sự hiện diện của một bài thơ liệt kê từ Rabelais đến Prevert chẳng có mục đích nào khác hơn là sự gặp gỡ và sự va chạm của các nhóm thanh âm.

– Có thể phá vỡ chính những từ ngữ để tái tạo những từ ngữ khác “chưa từng nghe thấy”. Fargue, Fombeure, và Michaux đã sáng tạo ngôn ngữ và từ ngữ như vậy.

Với Michaux, thứ ngôn ngữ đó có thể đạt tới một ý nghĩa kinh khủng:

Il l’empanouille et l’endosque contre terre
Il le rague et le roupète jusqu’à son drâle
Il le pratèle et le libucque et lui barufle les ouillais
Il le torcade et le marmine,
Enfin il l’e corcobabisse
[5]

Bài thơ chỉ có thể đọc bằng mắt. Những danh từ và đặc biệt những động từ có âm vang kỳ lạ (mà vẫn quen thuộc) với tất cả sức mạnh khi nghe thấy. Trong những tác phẩm cuối đời của ông, Michaux giải thích vì sao đôi khi sinh hạ được những từ ngữ này :

Vì phải gấp gáp tranh thủ thời gian, thời gian cực kỳ sinh động, những từ ngữ đôi khi phải rút lại sao cho thật ngắn gọn, và buộc chúng phải kết hợp với nhau, hai khúc xa lạ bỗng được gắn liền nhau để cho ra một từ sinh động khác.

Từ chối “sự hiện hữu” của một “từ” để thay vào đó bằng “chữ”, các nhà chơi chữ do đó đã đem lại định nghĩa cho nghệ thuật mới này : “ Nghệ thuật chấp nhận chất liệu của chữ rút gọn để chỉ còn là chính những chữ đó thôi (thêm vào hoặc thay thế hoàn toàn những yếu tố Thơ Ca và nhịp điệu) vượt thoát những thứ đó để khuôn đúc thành những tác phẩm có mạch lạc hẳn hòi”( Isidore Isou), kỳ dư hoàn toàn vô nghĩa :

Oissemance de youisse de yance
Haiesse de dehaiesse dehaiere
Haiesse do dehaio o déhance
Oissemance de youisse et de yance
[6]

Trường phái DADA từng đã đưa vào giữa bài thơ những cụm chữ chắc chắn với dụng ý nhấn mạnh vào sự vô nghĩa. Nhưng điều đó có thể chứng minh cho một cuộc nổi loạn trọn vẹn từ gốc rễ ngôn ngữ, thì trong bộ môn về tự học (lettrisme) hình như sự nghiên cứu còn hạn hẹp lắm, vì nơi đây chỉ biết cạnh tranh với âm nhạc không gì khác hơn bằng vũ khí của chính mình.

VĂN PHẠM KHÔ KHAN.

“ Sự chuyển đạt bằng ngôn ngữ, Ulman viết, không thực hiện bằng cách gợi lại những ý tưởng đứt quãng. Những ý nghĩa chỉ hiện hữu để thiết lập tương quan với nhau : tương quan giữa thuộc từ với chủ từ, giữa động từ với bổ ngữ, giữa xác định với được xác định, liên hệ về thời gian, không gian và duyên cớ,..v..v…

Mãi tới thế kỷ XIX, Thơ Ca phải tuân thủ theo cú pháp trong việc chuyển đạt bằng ngôn ngữ. Theo Roland Barthes, Thơ Ca thế kỷ XVI đã phải chấp nhận cho ngữ pháp một vị trí quan trọng. Rất nhiều bài đoản thi của Bellay hay Ronsard đã chứng tỏ những cố gắng dung hòa giữa tính cách tự do tương đối lớn của dòng văn La-Tinh với khuôn phép đã bắt đầu nghiêm ngặt trong tiết tấu câu văn Pháp. Cả hai, Thơ Ca kỳ dị và Thơ Ca cổ điển đều phải tuân phục theo “hòa điệu cú pháp”. Với Hugo, tất cả bắt đầu thay đổi.

“Cần thiết phải hủy bỏ ý hướng về liên hệ để thay thế bằng cả một sự bùng nổ của từ ngữ…Thật vậy, nền Thơ Ca hiện đại, vì muốn đối lập với nền Thơ Ca cổ điển và với mọi thể văn xuôi khác, đã phá hủy tính chất cơ năng bộc phát của ngôn ngữ, chỉ còn để lại những nền móng của giản yếu từ điển…Từ ngữ nổ tung bên trên đường thẳng của những liên hệ đã bị khoét rỗng, văn phạm bị tước bỏ cứu cánh để trở thành âm-luật-học, chỉ còn lại sự biến hóa của âm được kéo dài để tượng trưng cho Từ Ngữ…”[7]

Người ta không thể đi quá xa trong chiều hướng này, và thật là sai lầm khi cho rằng những nhà thơ hiện đai “ đã đề cao tự điển, xem thường cú pháp”( M.Dofrenne). Những tác phẩm của Claudel, Saint-John Perse, Pierre Emmanuel, J.C Renard, Aragon đã minh chứng ngược lại. Có thể là để phản ứng một ngôn ngữ “bị nghiền nát”, con đường liên lỉ của ngữ pháp đã trở thành điều bận tâm chính của những nhà thơ trẻ, rất trẻ. Baudelaird, trong một ảo cảnh do uống say thuốc được chiết nấu bằng cây gai haschich của Ấn Độ, từng đã cúi chào trước uy thế của “ văn phạm khô khan “.

Chính văn phạm, văn khô khan, đã trở thành một cái gì có sức mạnh phù thủy chiêu hồn; danh từ uy nghi, cụ thể; tĩnh từ như tấm áo trong suốt cư ngụ ở đó, tô mầu cho nó như đường hình đê xuôi; và động từ, thiên thần của chuyển động, đem lại vẻ sống động cho câu văn .[8]

NGÔN NGỮ, CÁCH NHÌN NGOẠI GIỚI.
Georges Mounin, trong luận án Những vấn đề lý thuyết về dịch thuật(Problèmes théoriques de la traduction) đã thuật lại lời của nhà ngữ học Benveniste, rằng :”Chúng ta tư duy một vũ trụ mà ngôn ngữ của chúng ta đã khuôn đúc nên”.

Đây là một điểm khẳng định chung : Vũ trụ mỗi nhà thơ -cũng như của mỗi người trong chúng ta- thoạt được khuôn đúc bởi tiếng mẹ đẻ. Đó là điểm khó khăn cho công việc dịch thuật Thơ Ca mà chúng tôi không muốn nhấn mạnh nơi đây.

Nhưng người ta há chẳng thể nghĩ rằng mỗi nhà thơ lớn đều đã được sáng tạo ra vũ trụ của riêng mình, ngôn ngữ của riêng mình, rằng mỗi vũ trụ Thơ Ca hàm ý một cách”nhìn ra thế giới”

độc đáo. Và để nghĩ về một vũ trụ Thơ Ca, đôi khi – há chẳng là điều cần thiết –phải thật am hiểu như ngôn ngữ đã tạo tác nên nó.

NHỮNG GÌ KHÔNG PHẢI LÀ VĂN XUÔI THÌ LÀ VĂN VẦN…

Để tạm kết thúc, chúng ta có thể nói Thơ Ca hàm ý một cách sử dụng ngôn ngữ đặc dị và riêng biệt.

Chúng ta sẽ thấy rằng, sự đối nghịch về hình thái –mà ông thầy Triết Học của Molière đã dùng để phân biệt giữa văn xuôi với văn vần- là không còn nữa. Nhưng những đối lập cơ bản vẫn còn đó giữa điều mà chúng ta gọi là cách sử dụng văn xuôi và cách sử dụng văn vần của ngôn ngữ. Tỉ như Claudel đã phân biệt ngôn ngữ hằng ngày, ngôn ngữ hùng biện, ngôn ngữ truyền đạt, và ngôn ngữ Thơ Ca , mà “đặc điểm là sự cảm khái làm ta vừa dấy lòng vừa hừng chí”. Đó là sự khác biệt về tính chất hơn là về cách thế sử dụng. Cũng trong ý này, Valéry đã diễn đạt chính xác rằng, Thơ Ca là một cái gì không thể là văn xuôi được: chuyển đổi thi phẩm của ông “Điều không thể chuyển đổi thi phẩm của ông thành văn xuôi, không thể nói về thi phẩm của ông như một áng văn xuôi đã là những điều kiện thiết yếu cho Thơ Ca, ngoài những điều kiện đó tác phẩm không còn một chút ý nghĩa nào khả dĩ liên hệ được với Thơ Ca”.

Và J.P.Sartre còn đi xa hơn, ông cho rằng đặc tính của nhà thơ là từ chối sử dụng ngôn ngữ :

“Sự thực, nhà thơ đã tự thoát, tự rút lui khỏi loại ngôn ngữ dụng cụ; họ dứt khoát chọn một thái độ Thơ Ca, coi những từ ngữ như những vật thể hẳn hoi chứ không chỉ là những dấu hiệu”.

Trong khi nhà văn viết văn xuôi, họ sử dụng ngôn ngữ như một dụng cụ, nhưng nhà thơ – mà Sarte còn gọi là người phát ngôn- đã được các từ ngữ trao tặng uy quyền để mở rộng hay kéo dài những giác quan, những kìm nén, những nắm bắt nhạy bén từ xa của một đầu giây tín hiệu, những mắt thần mà kẻ phát ngôn điều khiển từ trong nội tâm, xem và nhận chúng như chính mình, tự thấy được vây quanh bởi một đạo quân ngôn ngữ không thể ngờ tới, và chúng tỏa rộng quyền uy lên ngoại giới”.

Tất cả những điều này giúp ta hiểu rằng, kể từ thời lãng mạn, các nhà thơ đã nghiêng về khuynh hướng coi ngôn ngữ như một cứu cánh hơn là phương tiện. Nhưng dẫu sao, các nhà thơ cũng đừng quên rằng- chính Sartre cũng đã nhắc nhở điều này- những từ ngữ gìn giữ một ý nghĩa và ngôn ngữ bằng mọi giá phải duy trì nhiệm vụ truyền đạt.

PHÒNG THÍ NGHIệM TRUNG ƯƠNG.

Tới đây, chúng ta đã có thể đề cập tới hiện tượng Thơ Ca trong tính chất sâu xa của sáng chế sau khi được xét tới những yếu tố nguyên thủy từng hợp lực theo nhiều cấp độ khác nhau để cấu thành nên nó vào thuở ban sơ.

Trước khi diễn đạt điều này, chúng ta cần xác định vài điểm sau :

Tính chất bao quát của hành vi Thơ Ca luôn luôn vượt thoát nếu chúng ta còn ôm tham vọng muốn nắm bắt cái toàn thể, muốn múc cạn hết biển đời lênh láng(!). Những nhà thơ cứ mãi dài dòng tự giải thích về mình hiếm khi giúp ta đạt được một cái nhìn toàn diện, tham dự vào mọi khía cạnh của sáng tạo. Nghệ thuật Thơ Ca hoàn mỹ nhất cũng không đáng giá bằng một bài thơ cụ thể, thực sự. Và chúng ta buộc lòng phải dùng những từ ngữ liên tiếp để diễn tả những cảnh huống tụ hội, biện chứng trong thực tại, lúc thoáng nhanh như tia chớp, lúc cực kỳ trầm trệ ù lì.

Như vậy, chúng được dẫn tới, phải làm nổ tung những nguyên tố tổng hợp thành những quan điểm cục bộ. Nhưng ở một mặt khác, người ta hoàn toàn không thể diễn tả công cuộc sáng tạo đủ tổng quát để từng nét thơ riêng biệt có thể tìm thấy trong đó. Làm như thế là ta phủ nhận tính chất độc đáo của nhà thơ và cũng là cho mọi thi phẩm. Muốn được như vậy, chúng ta phải gắng tìm cách phân tách thật kỹ, thật tỉ mỉ, vẫn phê bình đấy mà vẫn không quên chiêm ngưỡng đến tận cùng, như kiểu Mounin với René Char, J.P Richard với Mallarmé, hay như Kim Thánh Thán với cõi Đường Thi…

Với một ý thức trọn vẹn về những ranh giới trong loại công việc này, hiểu rõ rằng một cuộc giải phẫu chỉ có thể thực hiện trên một xác chết, trong khi Thơ Ca trước hết là đời sống, thì thái độ của ta là phải từ chối cách giải thích bằng huyền bí và phải thấu triệt khuôn mặt thực tại và cụ thể của Thơ Ca. Phương pháp hoàn hảo nhất vẫn là biết lắng nghe và nghiền ngẫm, thấu cạn hết bài thơ.

Cũng nên nhớ, bài thơ càng nhiều chú giải bao nhiêu càng gây thêm rối rắm bấy nhiêu.

Và giờ đây, chúng ta hãy đứng bên cạnh nhà thơ, đối tượng duy nhất mà nhà thơ rất đỗi chú trọng, đó chính là bài thơ, bởi suy cho cùng, như lời Reverdy đã nói, “Bài thơ chẳng phải ở trong đời, cũng không ở trong sự vật, mà chính là cái bạn làm nên và những gì bạn điểm xuyết chấm phá vào đó”(Le Livre de mon Bord).

Và sau cùng, độc giả sẽ tìm thấy nhiều hơn và chi tiết hơn các luận đề vừa nêu trên trong những chương mục tiếp theo, bổ khuyết ý tưởng về một ngôn ngữ đã làm vinh hạnh cho chúng ta, ngôn ngữ thần thánh của Thơ Ca!


[1]/ Von Warburg, Introduction aux méthodes de la linguistique, Paris, P.U.F.,tr. 7

[2] / Maiakowski, Vers et Proses, tr.364.

[3] / Thực ra, để có thể chính xác hơn, chúng ta phải nói là những hiện tượng chứ không phải là những thanh âm. Nhưng vì không muốn mang dáng dấp thông thái không cần thiết, và chỉ như vậy, kính xin thỉnh ý.

[4] / Paul Claudel, Oeuvre Poetique, Paris, Gallimard, tr.236

[5] / Henry Michaux, Qui je fus, Paris, Gallimard.

[6] / Isidore Isou-Trolet, trich trong Dictionnaire Illustré des auteurs francais, Seghers, tr.445.

[7] / Roland Barthes, Le Degre1 Zéro de L’écriture,Paris, Gallimard, Seuil, tr. 68-69.

[8] / Charles Baudelaire, OEvres, Paris, Gallimard, tr.80

bài đã đăng của Georges Jean


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch