Trang chính » Biên Khảo, Câu chuyện Nghệ thuật, Nghệ Thuật Email bài này

Những Câu Hỏi Về Mỹ Thuật (Kỳ 5)

2 bình luận ♦ 11.12.2015

 

Vì sao hội họa hiện đại như có vẻ nặng về hình thức hơn là nội dung, nhất là từ thời kỳ Hậu Ấn Tượng (Post-Impressonism) trở về sau?

Trịnh Cung: Nếu đó chỉ là cảm nhận không thôi thì đã là đúng, chưa cần đến phân tích chuyên môn. Tuy nhiên, không có lửa sao có khói, ý tôi muốn nói là không có chủ ý sáng tạo của nhà nghệ sĩ về mặt đưa ra một hình thức hội họa mới, một kiểu diễn đạt khác thường, hay còn được gọi là trường phái (école) và thêm nữa là phong cách (style) để xác lập một bộ mặt riêng, không lẫn với nhóm họa sĩ khác hoặc người khác, nhất là với những người nghệ sĩ lớp trước hay đồng thời, thì hình thức ngôn ngữ hội hoạ khó có thể giữ vai trò nổi bật trong thời hiện đại và có lẽ cả mai sau.

Hình thức, đối với nhiều lãnh vực văn hoá, có một thời bị coi là không quan trọng bằng nội dung, vì chỉ là lớp vỏ bên ngoài. "Tốt gỗ hơn tốt nước sơn" hoặc "chiếc áo không làm nên thầy tu," là những câu ngạn ngữ rất quen thuộc nhằm phê phán chủ nghĩa hình thức, nhưng ngày nay người ta lại nói “nhìn một chiếc cà vạt trên áo của bạn thuộc loại nào, tôi sẽ biết bạn là ai," lại cho thấy chủ nghĩa hình thức đang lên ngôi, là một thước đo giá trị con người. Ngày nay, chủ nghĩa hình thức (Formalism) không những chỉ nổi bật ở lãnh vực nghệ thuật vì tính tiền phong của nó trong khía cạnh thực hành mà hầu như nó còn chi phối và xâm lấn vào tất cả mọi lĩnh vực đời sống. Nhìn hình thức biết nội dung, nó chính là thẻ căn cước văn hóa thời đại của mỗi con người, không chỉ riêng của giới văn nghệ sĩ. Mặt khác, có một điều lý thú đối với nghệ thuật tạo hình là, theo lịch sử, nó là kẻ viết văn, kể chuyện bằng hình vẽ đầu tiên của loài người, nó là những bài học mỹ học về thế giới tự nhiên của con người và tất nhiên nó là ông tổ của chủ nghĩa hình thức ngày nay.

Suprematism - Kandinsky 1915

Kazimir Malevitch, Suprematism  (Chủ Nghĩa Siêu Phẳng) (1915)

Tuy nhiên, nghệ thuật tạo hình vốn có rất ít lý thuyết, mọi tác phẩm thường không được khởi xướng trước bằng lý thuyết hay lý luận như bên văn học vốn thường có những công trình nghiên cứu về mặt lý thuyết văn học trong đó có "chủ nghĩa hình thức." Chủ nghĩa hình thức bên văn học là một cuộc cách mạng chữ nghĩa, được bắt đầu từ phong trào Dada trước khi các nhà lý thuyết Nga vào những năm 20 của thế kỷ hai mươi đưa ra "Chủ nghĩa Hình thức Nga" nhằm canh tân văn học nhưng chủ yếu là cho thi ca. Riêng nghệ thuật chưa có hẳn một công trình nào của giới phê bình được xuất bản ngoại trừ những bài viết, những cuốn sách còn ở dạng "đặt vấn đề": làm thế nào để đi vào thế giới mỹ thuật mới của những nhà văn luôn quan tâm tới các trào lưu tiên tiến đang xảy ra và tương tác trực tiếp với văn học của họ như Tuyên Ngôn Siêu Thực (Surrealism Magnifesto) của André Breton (1924), Tiếng Nói của Sự Im Lặng (La Voix du Silence) của André Malraux (1951) hay Những Họa Sĩ Lập Thể (Les Peintres Cubistes) của Apollinaire (1913). Tất cả bọn họ đều ngoại đạo, chỉ mỗi một C. Bell, tên đầy đủ là Arthur Clive Heward Bell, nhà phê bình nghệ thuật người Anh, tác giả cuốn Nghệ Thuật, xuất bản ở London năm 1914, cốt nêu ra vấn đề thế nào là nghệ thuật trong một tác phẩm hội họa và so sánh sự tương phản giữa lối vẽ cũ và mới hay nói rõ hơn là sự thay đổi lớn lao giữa hình thức hội họa cổ điển và hình thức hội họa hiện đại mà C Bell đặt tên là "Hình Thức Có Ý Nghĩa" (xem C. Bell, Significant Form, Theory of Art).

Vậy "hình thức có ý nghĩa" là gì? Theo C. Bell, đó là sự kết hợp giữa đường nét, màu sắc … trong tác phẩm hầu tạo ra sự rung động thẩm mỹ ở người xem. Sự rung động thẩm mỹ là một khái niệm mới mà C. Bell đã đưa ra để làm sáng tỏ sự khác biệt giữa cách xem tranh cũ và mới, giữa sự cảm xúc của người xem trước một tác phẩm kinh điển với một tác phẩm hiện đại, một đằng là cảm xúc nội dung và một đằng là cảm xúc thẩm mỹ.  Thực ra, C. Bell chưa giải luận vấn đề một cách rõ ràng về cái được gọi là "hình thức có ý nghĩa" của tranh hiện đại, mà chỉ nêu lên một cảm thức có tính gợi mở cho một công trình lý luận sâu rộng hơn về chủ nghĩa hình thức đang diễn ra trước mắt ông: tiếp theo phong trào Ấn Tượng vào những năm 1884-1889, với Monet, Manet, Renoir …. là chủ nghĩa Biểu Hiện khởi xướng bởi Paul Cezanne, Paul Gauguin, Van Gogh, Edward Munch, v.v., rồi Dã Thú xuất hiện trong tranh của Vlaminck, Van Dongen … và sau đó, vào năm 1906, chủ nghĩa Lập Thể ra đời từ khuynh hướng của George Braque và Picasso. Cùng lúc, những Kandinsky, Malevitch, Soulages, Paul Klee, làm một cuộc cách mạng lật đổ hội họa hình tượng (Figurative) bằng hội họa Trừu TượngVô Hình Dung (non-figurative). Bấy giờ, người xem tranh của những họa sĩ như đã nêu trên không còn tự hỏi: "Tranh này họa sĩ vẽ cái gì?" mà chỉ xem cách họa sĩ vẽ như thế nào, ví dụ như cách sử dụng màu đen đặc biệt quyến rũ và độc đáo của Soulages hay màu xanh Phổ kỳ ảo của Chagall. Hoặc như Francis Bacon, nhà họa sĩ đã làm nên một thứ cảm xúc thẩm mỹ từ những gãy khúc, những biến dạng của hình thể và những tảng màu xám xịt, bệnh hoạn. Vân vân và vân vân. Những điều đó đã để lại ở người xem tranh những ấn tượng sáng tạo khắc ghi về từng nghệ sĩ chứ không phải là nội dung thường tình, quen thuộc.

Piet Mondrian

Piet Mondrian, Composition No. 10 (1913)

Những trào lưu khác nhau như thế, không đợi thời gian cho phép, đã thay nhau xô đổ nhau thật hào hứng, thật sôi nổi, thật nhanh chóng khiến các nhà phê bình không kịp nắm bắt cái bản chất, cái mục đích nghệ thuật của nó để phân tích, để chỉ ra tâm điểm của chủ trương cái mới, để giải mã một thế giới nghệ thuật tiên tiến đã ra đời cho công chúng thông cảm và tiếp nhận. Hình như bên nghệ thuật tạo hình, lý thuyết thông thường bao giờ cũng đến sau thực hành của các nhà nghệ sĩ. Lý thuyết dẫn dắt cuộc sống hay cuộc sống là nguồn cội của lý thuyết? Con gà hay quả trứng được hiện hữu trước tiên? Riêng về nghệ thuật, lý thuyết luôn đi sau sáng tạo. Chính vì lẽ đó mà các tác phẩm mang giọng nói nghệ thuật xa lạ thường phải gánh chịu những phỉ báng của dư luận trước khi nó được công nhận và tôn vinh, Lập Thể là một ví dụ điển hình.

Marcel Duchamp - Nude Descends a Staircase - 1915

Marcel Duchamp,  Nu Descendant un Escalier (Khỏa Thân Xuống Lầu) (1913)

Chúng ta có thể đồng ý với nhau, nền hội họa thế kỷ 20 là nền hội họa của chủ nghĩa hình thức, nó chính là message và là nội dung nghệ thuật mà bên văn chương cũng bị cuốn theo (có lẽ). Vào năm 1916, chủ nghĩa Dada bắt đầu chính thức ở phương Tây để xóa bỏ hoàn toàn vai trò tối trọng của nội dung trong văn chương (và cũng là khởi thuỷ của văn chương hậu hiện đại?) Và như mục đich của những nhà lý thuyết trẻ Nga muốn cách tân văn học theo hướng nghệ thuật, muốn văn chương là một tác phẩm nghệ thuật (xem Chủ Nghĩa Hình Thức Nga) có nghĩa là làm cho nội dung tan biến vào hình thức.

Antoni Tapies - Ocre Graphique - 1960

Antoni Tàpies, Ocre Graphique (Đồ hoạ Thổ Hoàng) (1960)

Dẫu sao, nghệ thuật và văn học là hai ngôn ngữ rất khác biệt trong sử dụng và trong cả sứ mệnh của mỗi bên. Nghệ thuật qua lịch sử đã cho thấy sự thoát ly của nó ra khỏi nội dung thật không dễ, phải mất sáu thế kỷ thống trị bởi đế chế cổ điển và nhờ vào cuộc cách mạng chính trị dân chủ 1789 của Pháp, cùng những tiến bộ khoa học, đã làm thay đổi tư duy người nghệ sĩ.  Sự tự do trong ý thức sáng tạo do đó được cơ hội phát triển cho mỗi cá nhân nên giới nghệ sĩ tiền phong mới làm được cuộc cách mạng thoát khỏi những giới luật nghiêm khắc của hội họa kinh điển, cùng cái ao tù nội dung “hỉ nộ ái ố” muôn thủa của con người. Từ đó, dần dần nghệ thuật được trả lại cho nghệ thuật một cách ngoạn mục và ngày càng rực rỡ bởi sự đa dạng trường phái và phong cách. Chính trường phái nghệ thuật và phong cách của mỗi nghệ sĩ là sự khác biệt, là thông điệp sáng tạo, là định giá của sáng tạo.

Trong khi đó văn chương – trừ thi ca (đã có những thử nghiệm thay đổi hình thức ngôn ngữ táo bạo, thậm chí những con chữ truyền thống đã được thay thế bằng những ký hiệu, hình vẽ … chẳng khác nào một tác phẩm nghệ thuật) – ở khía cạnh tiểu thuyết hay truyện ngắn, khó mà thoát ra khỏi hiện thực, khó mà không mang thông điệp về một nội dung truyền thống nào đó dù nhà văn không ngừng muốn đổi mới hình thức văn học — tựu trung cũng vì sứ mệnh của “văn chương chữ nghĩa” phải như vậy.

Bolsa, tháng 11-2015

Trịnh Cung

bài đã đăng của Trịnh Cung


2 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Lý thuyết dẫn dắt cuộc sống hay cuộc sống là nguồn cội của lý thuyết? Con gà hay quả trứng được hiện hữu trước tiên? Riêng về nghệ thuật, lý thuyết luôn đi sau sáng tạo. (TC)

    Con gà phải có trước. Vì sao? Vì nếu không có con gà ấp thì trứng sẽ… un! Nói đùa cho vui. Ngay 1 bức tranh sẽ thấy, không có hoạ sĩ thì không có tranh.
    Cho dù lý thuyết đến sau sáng tạo thì lý thuyết đó vẫn không thể là cái gì “khẳng định” giá trị bất di bất dịch được. Vẫn phải trông cậy vào nghệ sĩ. Bằng cớ là nếu anh bây giờ vẽ lại Lập Thể (đã ổn định về mặt lý thuyết) chẳng hạn, thì không có lý thuyết nào bảo đảm chắc chắn là anh sẽ vẽ đẹp hơn Picasso. Lý thuyết có thể đóng lại nhưng sáng tạo bao giờ cũng mở ngỏ. Tôi nghĩ thế.

  • Nguyễn Quốc Tuấn viết:

    Quá tuyệt, họa sĩ Trinh Cung

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch