Trang chính » Bàn Tròn: Chính trị, Biên Khảo, Nhận Định Email bài này

Mệnh Trời?

 

clip_image002

Chỉ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (trái)
và Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng

Hai ngày viếng thăm Việt Nam ở cấp độ quốc gia của Tập Cận Bình đã trôi qua, nhưng dư âm của nó thì phải còn khá lâu mới chìm xuống. Nhìn chung, đây là một sự kiện chính trị rất êm thấm nếu tính đến những “khác biệt” chưa được giải quyết thỏa đáng giữa hai quốc gia, nổi bật nhất là những tranh chấp lãnh hải ở biển Đông. Ngoài một vài cuộc biểu tình nhỏ nhanh chóng bị dập tắt một cách khá tàn bạo bởi lực lượng công an của nhà nước, những tiếng ồn ào còn lại đến từ 21 phát đại bác và những tràng pháo tay giòn giã của đại biểu quốc hội dành cho thượng khách quốc gia Tập Cận Bình và phu nhân.

Không ai đủ ngây thơ để tin rằng Tập Cận Bình đã bỏ thì giờ quí báu của mình đến thăm Việt Nam chỉ để… phát chẩn (gồm chút đỉnh tiền bạc và vài câu thơ Đường) và rao giảng về tình cảm chính quyền và nhân dân Trung Hoa dành cho Việt Nam. Đa số quan sát viên tin rằng Tập Cận Bình đến Việt Nam để gây áp lực với đảng và chính quyền cộng sản Việt Nam (CSVN) ở nhiều lãnh vực, trong đó quan trọng nhất có thể là thành phần nhân sự chóp bu của đảng CSVN trong nhiệm kỳ tới và cung cách ứng xử của Việt Nam về những xung đột quyền lợi ở biển Đông. Chúng ta không biết chắc những thỏa thuận ngầm nào đã được ký kết, nhưng dựa trên những sự việc xảy ra kể từ hội nghị Thành Đô (tháng 9 năm 1990), có rất ít lý do để cho rằng Tập Cận Bình đã ra về với hai bàn tay trắng. Bởi vì tập đoàn lãnh đạo CSVN không quen nói “không” với thiên triều. Theo sử gia Tạ Chí Đại Trường (TCĐT), một cựu sĩ quan Việt Nam Cộng hòa (VNCH), sự “ngoan ngoãn” của các nhà lãnh đạo ViệtNam không chỉ đơn giản đến từ quan hệ đàn anh đàn em giữa hai đảng cầm quyền mà còn là sự kế thừa từ quan hệ lịch sử văn hóa giữa hai nước, vốn có nguồn gốc tự ngàn xưa.

*

Hồi cuối tháng 7 năm nay (2015), tôi có cơ hội trao đổi với sử gia Tạ Chí Đại Trường (TCĐT). Tôi gửi hai câu hỏi qua email để nhờ ông giải đáp. Nguyên văn hai câu hỏi như sau:

1. Các yếu tố tạo nên tâm lý thần phục thiên triều của các vương triều Việt Nam trong lịch sử?
2. Đảng cộng sản Việt nam có mang tâm lý thần phục Bắc Kinh hay không, và tại sao?

Mặc dù sức khỏe bắt đầu suy sụp từ nhiều tháng trước đó, sử gia TCĐT đã cố gắng hồi đáp khá nhanh, cũng qua phương tiện email. Trước hết, TCĐT cho rằng hai câu hỏi “níu kéo” nhau “vì cũng chỉ là chuyện quan hệ Việt-Trung mà thôi”. Ông xác nhận tâm lý thần phục Trung Hoa là hoàn toàn có thật, và tâm lý này mang nặng tính lịch sử và văn hóa. Về mặt địa lý, hai nước kề cận nhau thì chắc chắn sẽ xảy ra xung đột, và theo lẽ thường, “thằng nhỏ phải thua thằng lớn”. Đối với nước nhỏ, đánh nhau là chuyện bất đắc dĩ, ngay cả khi thắng trận, giành lại được ngôi vị thì vẫn phải xưng thần để cảm ơn nước lớn đã không… đánh tiếp và đã phong chức cho mình. Điều này xảy ra nhiều lần trong lịch sử vẻ vang dựng nước và giữ nước của dân đất Việt, “lâu ngày thành thói, có chuyện tranh giành trong nước, bị thua thì kéo nhau qua Tàu nhờ phân xử, như họ Trần cầu viện Minh đánh Hồ Quý Li, Trịnh Lê cầu Minh đánh Mạc, Lê Chiêu Thống v.v..”. Theo TCĐT, chính là vì vậy mà cái thế “nước nhỏ” càng lúc càng thấp thỏi, phải chịu đựng một thứ tâm thức Phiên thuộc, kéo dài thành một thứ ông gọi là “Hội chứng Phiên thuộc”.

Sử gia TCĐT cho biết thêm cái hội chứng phiên thuộc còn có gốc rễ sâu xa từ áp lực nặng nề của văn hóa Hán. Theo ông, “các nho sĩ làm quan được là nhờ chữ Hán, sống trong khung trời Hán học nên có lúc tưởng mình là người phương Bắc, không được thì cũng ráng nghĩ làm sao cho có dạng phương Bắc”. Ông dẫn chứng: “Quyển Toàn thư dịch ra tiếng Việt, ví dụ có chữ ‘nước ta’ thật ra trong bản văn gốc nó là ‘ngã Trung Quốc nhân’ (1). Sách triều Nguyễn không xưng là dân Việt mà xưng là ‘dân Hán’, còn người Tàu là ‘Đường nhân’”.

Liên kết tâm lý phiên thuộc này với giới lãnh đạo CSVN thuộc nhiều thời kỳ, TCĐT nhận xét: “Cái tâm lí [phiên thuộc], kiến thức đó  âm ỉ trong phần lớn đám cộng sản ngoài Bắc khiến họ thấy thân thiện một cách tự nhiên khi nhờ cậy [Trung quốc] từ những năm 1950. Cú xung đột 1979 vì Tàu chận âm mưu làm bá chủ Đông Dương của nhóm Lê Duẩn kiêu ngạo chiến thắng nhưng chiến tranh biên giới, Kampuchia làm các anh cũng ê mình, lớp người nối tiếp tất nhiên không có dũng khí của cha anh nên không những phải chịu Tàu lấn lướt mà tâm thức phiên thuộc trỗi dậy nên có lời phân trần chính thức của nhà chức trách Đảng ‘Từ xưa ta cũng phải xưng thần’”.

*

Cái hội chứng phiên thuộc này được hăng hái kế thừa bởi các lãnh tụ CSVN rất sớm. Có thể một phần của cái cảm giác “thân thuộc” họ dành cho đất nước Trung Hoa đến từ thực tế là hầu hết các lãnh tụ tiền phong của đảng CSVN đã sinh sống và hoạt động ở đây ngay từ những năm 1930. Hội nghị thống nhất các tổ chức CSVN do Nguyễn Ái Quốc triệu tập và Đại hội Đại biểu Toàn quốc đầu tiên đã diễn ra ở Hong Kong và Macao thuộc lãnh thổ Trung quốc chứ không phải ở Việt Nam. Vào đầu những năm 1950, hội chứng Phiên thuộc dưới một dạng thức mới, một tôn ti mới, “đàn anh đàn em”, ngày càng rõ nét với sự “ngoan ngoãn” của tập đoàn lãnh đạo CSVN trong việc thực hiện chương trình Cải Cách Ruộng Đất theo chỉ thị của cố vấn Trung Quốc một cách sít sao. Vào năm 1958, công hàm mà nhiều người cho rằng mang tính bán nước của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cho thấy tâm lý lệ thuộc tự nguyện của đám chóp bu CSVN đã lên đến cao độ. Điều này tiếp tục vào năm 1974, khi hải quân Trung quốc sát hại 74 thủy thủ VNCH và chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa. Chính quyền Hà nội đã không hề mở miệng phản đối. Không những vậy, theo nhà báo Bùi Tín, cựu đại tá Quân đội Nhân dân, cựu phó tổng biên tập nhật báo Nhân Dân, “đồng chí” Lê Đức Thọ đã trấn an mọi người: “Hãy yên tâm, Hoàng Sa trong tay các đồng chí Trung quốc còn hơn là trong tay ngụy quyền tay sai của đế quốc Mỹ”.

Làm thế nào mà một người dân Việt Nam bình thường có thể yên tâm giao trứng cho ác? Nhiều năm trước khi Trung quốc đánh chiếm Hoàng Sa, một người lính VNCH khác, học giả Phạm Việt Châu, bút danh của cố Trung tá Phạm Đức Lợi, đã lên tiếng cảnh báo không chỉ Việt Nam mà toàn thể Đông Nam Á về mối họa Trung quốc trong chuỗi bài viết “Trăm Việt Trên Vùng Định Mệnh” đăng nhiều kỳ trên tạp chí Bách Khoa (Sài gòn) trong những năm 1969 – 1974. Một cách sáng suốt, tác giả chỉ ra rằng “nhân dân Đông Nam Á không có vấn đề Trung Cộng riêng rẽ mà chỉ có vấn đề Tàu. Tàu thì lúc nào cũng chỉ là Tàu, và cái mưu đồ theo đuổi tận diệt bằng cách đồng hoá các dân tộc nhỏ yếu xung quanh (dưới hình thức này hay hình thức khác) từ xưa đến nay cũng vẫn thế”.

Xung đột biên giới Tây Nam với Campuchia vào nửa sau những năm 1970 dẫn đến cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc do Trung quốc phát động vào năm 1979 với tuyên bố xấc xược của Đặng Tiểu Bình “dạy cho [đàn em] Việt Nam một bài học”. Đây thật ra là cơ hội rất tốt để CSVN gỡ cái tròng băng đảng anh em vô sản quốc tế ra khỏi đầu mình. Cũng chỉ được một số năm, cho đến khi hải quân Trung quốc đánh chiếm quần đảo Trường sa và sát hại 64 chiến sĩ Việt Nam vào năm 1988. Phản ứng của chính phủ Việt Nam đối với sự kiện quan trọng này, nhìn ở góc độ bao dung nhất, được cho là vô cùng yếu ớt. Không bao lâu sau đó, nhiều văn kiện quan trọng (vẫn còn nằm trong vòng bí mật sau một phần tư thế kỷ) được ký kết giữa lãnh đạo hai nước tại hội nghị Thành Đô vào tháng 9 năm 1990. Điều đáng lưu ý là vị trưởng lão cố vấn cho phái đoàn CSVN không ai khác hơn là cựu thủ tướng Phạm Văn Đồng, người đã ký công hàm 1958 thừa nhận chủ quyền của TQ trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách mau mắn! Như vậy, sau một thập kỷ tương đối độc lập, giới chóp bu CSVN lại quay về thần phục thiên triều, không phải vì nhu cầu ích nước lợi dân mà chính vì sự sống còn của đảng CSVN ngay vào thời điểm hệ thống cộng sản ở Đông Âu đang trên đà sụp đổ. Đây chỉ là một trong số không ít lần đảng CSVN đặt quyền lợi của mình lên trên quyền lợi của tổ quốc và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam. Đúng như sử gia TCĐT nhận xét, “quyền lợi lớn quá nên không thể để mất đảng…”.

*

Từ sau hội nghị Thành Đô, có nhiều dấu hiệu cho thấy sự nhượng bộ, đôi khi tự nguyện, của chính quyền Việt Nam trong một số lãnh vực. Hiệp ước Biên giới (trên đất liền) năm 1999 vẫn tiếp tục là điều được dư luận nhắc nhở mỗi khi quan hệ Việt-Trung được mang ra thảo luận. Trong khi phe thân chính quyền khăng khăng cho rằng đây là một hiệp ước công bằng, bài học địa lý quen thuộc của nhiều thế hệ học sinh Nam Bắc vốn luôn luôn có câu “Nước Việt Nam hình cong như chữ S, kéo dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu” đã không còn đúng với thực tế! Ngoài ra, Việt Nam thường tỏ ra dè dặt một cách thái quá khi phải đối đầu với Trung quốc, tránh né đến mức tối đa việc buộc Trung quốc phải nhận trách nhiệm trong việc thay đổi hệ sinh thái sông Mekong, ảnh hưởng vô cùng tiêu cực lên đời sống hàng chục triệu dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Gần đây, có những bằng chứng cho thấy Ủy ban Sông Mekong do chính quyền lập ra đã sản xuất một báo cáo mà kết quả đi ngược lại các công trình nghiên cứu quốc tế liên hệ về hậu quả nghiêm trọng do việc xây cất các con đập ở thượng nguồn sông Mekong (thuộc lãnh thổ Trung quốc).

Về hiểm họa này, từ hơn 15 năm trước, nhà văn, bác sĩ quân y (VNCH) Ngô Thế Vinh, đã lên tiếng báo động với các “tiểu thuyết dữ kiện” Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng (xuất bản lần đầu năm 2000) Mekong, Dòng Sông Nghẽn Mạch (xuất bản lần đầu năm 2007) cùng nhiều bài biên khảo, tiểu luận liên quan đến hệ sinh thái sông Mekong mà ông cho ra đời khá thường xuyên. Gần đây nhất là các bài viết “Năm Nay 2015 Không Có Mùa Nước Nổi” và “Thoi Thóp Trái Tim Biển Hồ – Miền Tây Đau Thắt Ngực” để chỉ ra cái hiểm họa mà ông và các thân hữu trong Nhóm bạn Cửu Long lên tiếng báo động từ lâu nay đã trở thành một tai họa có thật đang giáng xuống đầu người dân vùng châu thổ sông Cửu Long (Việt Nam) và vùng biển Hồ Tonle Sap (Campuchia). Điều đáng chú ý là bài viết “Thoi Thóp Trái Tim Biển Hồ – Miền Tây Đau Thắt Ngực” chỉ ra sự ngoan cố của Hun Sen, đương kim thủ tướng Campuchia, người vẫn khăng khăng bào chữa cho Trung quốc trong khi bằng chứng các con đập thượng nguồn ở Trung quốc là thủ phạm gây ra tình trạng khô kiệt ở vùng Biển Hồ là điều không thể chối cãi. Xem ra về mặt cúc cung tận tụy với thiên triều, đảng CSVN nay đã có một đối thủ đáng gờm.

*

Không ít người cho rằng lần viếng thăm Việt Nam vừa qua của Tập Cận Bình là một cơ hội rất tốt cho chính quyền Việt Nam gửi đến người cầm đầu Trung quốc một thông điệp rõ ràng về “dáng đứng Việt Nam” trong quan hệ đối ngoại, đặc biệt trong vấn đề tranh chấp lãnh hải ở biển Đông. Chỉ trong ít ngày trước cuộc thăm viếng, một số biến cố thuận lợi cho Việt Nam liên tiếp diễn ra. Ngày 27 tháng 10, 2015, khu trục hạm Lassen của Mỹ xâm nhập vùng “12 hải lý” của đảo nhân tạo Subi thuộc quần đảo Trường Sa nhằm phủ nhận “chủ quyền” mà Trung quốc ngang ngược tuyên bố trước đó. Sau đó ít hôm là vụ Philipines kiện Trung quốc về chủ quyền trên biển Đông được tòa án quốc tế đặt ở Hòa Lan nhận thụ lý. Kế đến, bộ trưởng quốc phòng Nhật thăm Cam Ranh, đề nghị tập trận chung v.v… Tuy vậy, dựa trên cách ứng xử của nhà cầm quyền chung quanh lần viếng thăm của chủ tịch Tập Cận Bình, không có dấu hiệu nào cho thấy giới lãnh đạo CSVN đã tận dụng những biến chuyển thuận lợi này để mạnh dạn đương đầu với áp lực của vị khách đến từ phương Bắc. Theo thiển ý, hành động đàn áp những người biểu tình chống bành trướng Bắc Kinh không chỉ tô đậm thêm hình ảnh tiêu cực của chính quyền Việt Nam về mặt nhân quyền trong mắt giới quan sát quốc tế mà còn là điều vô cùng thất sách, gây bất lợi cho công cuộc tranh đấu giành lại chủ quyền biển đảo. Nếu buộc phải né tránh việc công khai thách đố Tập Cận Bình về chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vì tâm lý Phiên thuộc hay vì một lý do nào khác, Việt Nam vẫn có thể lợi dụng các cuộc biểu tình này để gián tiếp bày tỏ vị trí của chính quyền và tâm tư của nhân dân Việt Nam đối với cuộc tranh chấp lãnh thổ đang xảy ra giữa hai quốc gia. Bằng cách dập tắt những cuộc biểu tình, chính quyền Việt Nam đã không chỉ vùi dập tiếng nói chính đáng của người dân mà còn tự làm suy yếu tư thế đàm phán của chính mình.

*

Người cộng sản, kiêu ngạo một cách vô căn cứ, luôn cho rằng họ xứng đáng hơn bất cứ ai hết để cai trị đất nước và nhân dân Việt Nam. Những tuyên bố theo kiểu “còn đảng còn mình” hay “mất đảng mất đảo” cho thấy đối với họ việc đảng này giành độc quyền lãnh đạo đất nước trong gần ba phần tư thế kỷ là chuyện… trời cho, là mệnh Trời.

Mệnh Trời hay mệnh con Trời?

Phùng Nguyễn
11.08.2015

Ghi chú:

(1) Về cụm từ “ngã Trung quốc nhân”, sử gia TCĐT phụ chú là ông “không nhớ rõ [một cách] chính xác”

Nguồn: VOA Tiếng Việt

bài đã đăng của Phùng Nguyễn


4 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Cái hội chứng phiên thuộc (TCĐT)

    Tôi nghĩ là ông TCĐT hiểu và dùng “phiên thuộc” theo nghĩa chữ “chư hầu” hay chăng ? Chứ chữ 番 phiên có 3 nghĩa chính: Tên họ, tên địa danh Phiên; ngoại quốc; và luân phiên. Cho nên cái “hội chứng phiên thuộc” hơi tối nghĩa và phản nghĩa. Nếu kẻ sĩ VN mang tâm thức phiên thuộc thì hoá ra họ mang ý nghĩ là người thuộc về nước ngoài (khác TQ) rồi. Vậy thì đâu có gì lạ.

    Theo tôi, nên phân biệt giữa học thuật và tính nô lệ. Ngày xưa người Việt học chữ Nho, đạo Nho, chính trị theo Nho Giáo, điều này là một thực trạng, đúng. Nhưng trong số sĩ phu đó không có nghĩa là 100% họ mang ý tưởng nô lệ và đầu phục Tàu. Nho sĩ không ai Nho cho bằng Nguyễn Trãi, nhà Nho từ đầu tới chân. Mạc Đĩnh Chi cũng là tay danh Nho cự phách. Trần Hưng Đạo là quý tộc, từ thời để chỏm đã được các giáo sư đại Nho uốn nắn. Nhưng mà, đấy lại là tiêu biểu cho những văn thần võ tướng VN chống giặc Tàu.

    Kẻ sĩ đời xưa, trí thức đời nay ai là người không được trang bị tri thức của nước ngoài ? Không Tàu thì cũng Tây, cũng LX, hay Mỹ. Còn cái việc ý thức quốc gia dân tộc VN hay đầu phục ngoại bang của họ thì lại là chuyện khác, nó tuỳ theo suy nghĩ và tư cách của từng người.

    Lý luận cho rằng học chữ Tàu thì nô lệ Tàu, hơi bị máy móc. Người Đại Hàn hay Nhật Bản tốt nghiệp trung học, đại học, nào cũng có thể đọc được báo Hoa Văn nhờ số vốn Hán Tự mà họ bó buộc phải học ở nhà trường. Nhưng họ vẫn là người Đại Hàn, người Nhật Bản với bản sắc dân tộc rất rõ. Trong khi hiện nay, tôi nghi ngờ là khả năng đọc được chữ TQ của gần như “toàn bộ” đảng viên CSVN (kể cả toàn bộ trí thức VN). Nhưng VC theo Tàu thì vẫn theo Tàu hơn bao giờ hết mặc dù họ không biết chữ Tàu.

    Phàm, con người nô lệ nhau là vì miếng lợi vinh hoa hơn là do tinh tuý của học thuật.

  • black raccoon viết:

    Mệnh Trời hay mệnh … lệnh của thời đại ?

    Nói đúng ra, căn bản, người CS nói chung là chống Trời. Nếu hiểu Trời như là đấng Tạo Hoá quyền năng tối thượng. Còn, Nho Giáo coi trọng Thiên Mệnh là chuyện đã hẳn. Chuyện cũng đã qua khá lâu đối với người VN . Ít lắm là người VN sống dưới chính thể CS toàn trị từ hơn 60 năm nay, 54 miền Bắc, 75 miền Nam. Thời gian đủ để đào tạo ra ít nhất là 3 thế hệ theo CNCS.

    Thực tế, người Việt đi bầu ra QH nước CHXHCN-VN. Từ căn bản này, QH bầu và thông qua để có Chủ Tịch Nước và TT Chính Phủ. Quý vị có thể nói, ơ, nhưng mà chỉ có độc đảng đưa ra ứng cử. Đó là chuyện của người VN phải giải quyết bằng cách nào đó. Vì, người CSVN cũng rất “rõ ràng” họ không hề dấu giếm chuyện độc quyền lãnh đạo. Nó nằm ngay trong qui định của bản HP nước VN !

    Ngoài ra, có một thực tế khó chối cãi nữa là TQ hiện đang là “siêu cường” số 2 (có thể qua mặt Mỹ năm bờ oăn đấy nhé). VN liền sông núi, đồng văn với TQ. Người Việt có công ăn việc làm cũng không ít nhờ các “gói thầu” từ TQ. Cái vi tính, cái hai bánh, cái di động phũ sóng đều nhờ TQ . TQ còn là “đối tác” lớn nhất cho kinh tế VN. Chung màu cờ sắc áo. Chung biên giới. VN hàm ân TQ trong chiến tranh để có nước VN thống nhất như ngày hôm nay.

    Tóm tắt, người Việt Nam sống với VC (và hạ mình theo TQ) không chừng chính là mệnh … lệnh của thời đại cũng nên !

  • Nguyen Duy Chinh viết:

    藩 phan, phiên [fān]
    ————-
    ① Rào, hàng rào, bờ rào: 藩篱 Hàng rào; ② Vùng biên cương; ③ Phên che. (Ngr) Thuộc quốc hoặc thuộc địa: 藩國 Phiên quốc; 外藩 Ngoại phiên.

    Trung Hoa ngày xưa coi mình là trung tâm của thiên hạ (nên tự gọi là Trung Quốc), các nước chung quanh chầu về như các tình tú chầu về sao Bắc Thần (tức sao Tử Vi) và gọi là phiên quốc (nước làm hàng rào che cho thiên triều). Nước che chắn có nhiều cấp độ nên để được công nhận ở một vị trí cao và đạt được một danh hiệu xứng đáng (An Nam quốc vương) là một quá trình tranh đấu cam go. Những ai được cử đi sứ là nhận một nhiệm vụ ngoại giao tối quan trọng. Đời Mạc và Lê trung hưng nước ta (vua Mạc, vua Lê) chỉ được danh hiệu An Nam đô thống sứ, trật tòng nhị phẩm. Cho nên ai ai đi ra ngoài cũng tâm niệm làm sao cho không làm nhục quốc thể, làm tròn việc vua sai đi(bất nhục quân mệnh). Trong suốt lịch sử chỉ có mấy năm đời Quang Trung là thời gian mà triều đình Trung Hoa trọng nể nước ta hơn cả. Tiếc thay “bên thắng cuộc” nào cũng tìm mọi cách để bêu xấu “bên thua cuộc” nên người sau chỉ được đọc những “nguỵ sử” hoàn toàn sai sự thật.

  • black raccoon viết:

    Có hay chăng hội chứng phiên thuộc,
    Người Tàu phong vương, người Việt có nhận không?

    Người Tàu phong vương cho vua Đại Việt, người Việt nhận trên bề mặt ngoại giao, nhưng trong tinh thần và trong sách, sử chính thống thì Đại Việt bài bác. Chẳng những bài bác, người Việt còn tự xem nước Đại Việt ngang hàng với Trung Hoa trên danh phận mỗi nước. Tôi xin chứng minh:

    1- Thời nhà Lý

    Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế cư
    Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư
    (Lý Thường Kiệt)

    2- Thời nhà Trần

    況余與汝等, 生於擾攘之秋; 長於艱難之勢. 竊見偽使往, 來道途旁午. 掉鴞烏之寸舌而陵辱朝廷; 委犬羊之尺軀而倨傲宰祔
    Huống dư dữ nhữ đẳng, sinh ư nhiễu nhương chi thu; trưởng ư gian nan chi thế. thiết kiến ngụy sứ vãng lai, đạo đồ bàng ngọ. Trạo hào ô chi thốn thiệt nhi lăng nhục triều đình; ủy khuyển dương chi xích khu nhi cứ ngạo tể phụ.
    Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình; đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tể phụ.
    (Trích, Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo)

    3 – Nhà Hậu Lê

    惟 我 大 越 之 國,
    實 為文 獻 之 邦 。
    山 川 之 封域 既 殊,
    南 北 之 風 俗亦 異 。
    自 趙 丁 李 陳 之肇 造 我 國,
    與 漢 唐 宋元 而 各 帝 一 方 。

    Duy ngã Đại Việt chi quốc,
    Thực vi văn hiến chi bang.
    Sơn xuyên chi phong vực ký thù,
    Nam bắc chi phong tục diệc dị.
    Tự Triệu Đinh Lý Trần chi triệu tạo ngã quốc,
    Dữ Hán Đường Tống Nguyên nhi các đế nhất phương.

    Như nước Đại Việt ta từ trước
    Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
    Núi sông bờ cõi đã chia
    Phong tục Bắc Nam cũng khác
    Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập
    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương
    (Trích, BNĐC của Nguyễn Trãi)

    4- Nhà Tây Sơn

    Đánh cho để dài tóc
    Đánh cho để răng đen
    Đánh cho nó chích luân bất phản
    Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn
    Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ
    (Trích, Chiếu Xuất Quân của Nguyễn Huệ)

    Nhận xét:

    1- Khẳng định vua nước Nam cũng xưng là Hoàng Đế, ngang hàng HĐ Tàu
    2- Đức Trần Hưng Đạo gọi sứ giả vua Nguyên là nguỵ sứ, lưỡi cú diều, thân dê chó. Chứng tỏ ý thức bất khuất và bất kính đối với Bắc phương.
    3- Khẳng định Đại Việt là một nước khác cương vực lãnh thổ, khác phong tục, vua Đại Việt cũng xưng Đế sánh ngang vua Tàu
    4- Khẳng định chủ quyền của nước Nam độc lập, khẳng định văn hoá người Nam (răng đen, dài tóc) khác người Thanh (răng trắng, cạo đầu tếch bím)

    Tóm lại:

    Hội chứng phiên thuộc hay nói cách khác là mặc cảm nô lệ, ở đâu ra. Chẳng phải người Đại Việt tự hào bất khuất còn ghi lại trong sách, sử đó sao. Toàn sách sử của anh hùng hào kiệt, sĩ phu trí thức ưu tú nhất VN ngày xưa lưu truyền lại, chứ có phải là từ truyện hư cấu của tiểu thuyết gia vô danh tiểu tốt hay sao?

    Ngoài ra, cũng nên coi lại việc người Tàu phong vương cho vua Việt. Tôi thấy, nó cũng chẳng khác gì ngày nay bao nhiêu. Nguyễn Phú Trọng từng được đại học Thàm-Má-Sạt của Thái Lan phong Honorary Doctor, ông Bill Gates của Mỹ cũng từng được Nữ Hoàng Anh phong tước Hiệp Sĩ v.v…

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch