Trang chính » Bàn Tròn: Chiến Tranh Việt nam, Bàn Tròn: Chính trị, Nhận Định, Quan Điểm Email bài này

GIỚI THIỆU – Zinky Boys: Soviet Voices from the Afghanistan War


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 27.10.2015

 

clip_image001

 

Tác giả của quyển “Đoàn Trai Áo Kẽm: Những Mẩu Chuyện Nga từ Cuộc Chiến A Phú Hãn” (“Zinky Boys: Soviet Voices from the Afghanistan War”) là Svetlana Alexandrovna Alexievich. Bà là một ký giả và là nhà văn chuyên viết tường thuật đầu tiên đã đoạt giải Nobel về văn chương mới đây.

Giữa 1979 và 1989 có khoảng một triệu lính Liên Xô đã tham dự cuộc chiến tranh tàn khốc ở A Phú Hãn. Hơn 50 ngàn bỏ mình trên mảnh đất khô cằn đó. Chữ “Đoàn Trai Áo Kẽm” có ý nhắc về những chiến binh Nga tử trận được đưa về trong các quan tài bằng kẽm. Trong suốt thời gian nầy, chính quyền Liên Xô che đậy công luận trong nước bằng cách dấu nhẹm sự kiện có một cuộc chiến tranh đang xảy ra ở A Phú Hãn.

Đoàn Trai Áo Kẽm là tập hợp các cuộc phỏng vấn dưới hình thức mẩu chuyện ngắn, trực diện kể lại bởi những người Nga trẻ đã dự phần vào cuộc chiến. Đây là những người lính, người sĩ quan, y tá chiến trường, nữ nhân công tình nguyện, nữ hộ lý,và cả cán bộ chính trị nói về cái nhìn qua trải nghiệm của riêng họ về cuộc chiến nầy ra sao. Tất cả câu chuyện của họ đều có một điểm giống nhau: mặc dù sống sót trở về nhưng họ đã trở thành những kẻ cay đắng, tật nguyền từ tận đáy tâm hồn, đầy những giận dữ và oán trách, và hoàn toàn cô độc trong xã hội và đời sống cũ của họ.

Đoàn Trai Áo Kẽm gây ra nhiều tranh cãi và phẫn nộ ở Liên Xô khi nó được xuất bản lần đầu tiên năm 1992. Nhiều người gọi nó là “một thóa mạ hoang tưởng” và là một phần của “những cuộc phỉ báng loạn trí”.

Qua tác phẩm nầy, Svetlana Alexievich cho thấy thực trạng của cuộc viễn chinh Nga: nét đẹp hoang sơ của đất nước A Phú Hãn là bối cảnh của những chiến trường đẫm máu không ngừng nghỉ, những vụ sát nhân và tra tấn dã man, hiện tượng đẳng cấp bóc lột và hành hạ từ trên xuống dưới truyền thống bên trong hàng ngũ quân đội Liên Xô, hiện tượng nhu yếu phẩm của Tây phương tràn ngập, và đời sống tàn phế từ cơ thể lẫn tinh thần của những cựu chiến binh.

Svetlana Alexeivich cũng đưa ra một so sánh giữa cuộc chiến Nga ở A Phú Hãn với cuộc chiến Mỹ ở Việt Nam vào thập niên trước đó; những dữ kiện và hiện tượng tương tự nhau một cách sững sờ và đau đớn.

Larry Heinemann viết lời giới thiệu cho Đoàn Trai Áo Kẽm. Larry Heinemann là một văn sĩ Mỹ với lối viết thẳng thừng và thường có những quan điểm được nhiều người cho là “dễ gây tranh luận”. Ông nổi tiếng viết về chiến tranh Việt Nam.

Dưới đây là bản dịch của lời Giới Thiệu:

Những câu chuyện của người lính trong chiến tranh vừa vô cùng khó đọc, vừa lôi cuốn và đầy ưu phiền. Bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng có một “câu chuyện”, và bước khởi đầu của câu chuyện nầy luôn luôn là các lời tường thuật được kể miệng lại một cách đơn giản về cuộc chiến đó. Cho đến gần đây, việc xuất bản một quyển sách về các câu chuyện chiến tranh giữa Liên Bang Xô Viết và A Phú Hãn là một điều hầu như hoàn toàn bất khả dĩ. Tôi tin rằng rồi đây các tiểu thuyết, thi văn, kịch bản, và phim ảnh sẽ lần lượt xuất hiện trong những năm tới khi người ta tìm ra được ngôn ngữ và “phương cách” để kể lại câu chuyện của họ. Nhưng bây giờ thì chúng ta chỉ có lời tường thuật từ những người lính và sĩ quan bình thường, những thanh nữ tình nguyện và những người dân dại khờ đã sống qua ở A Phú Hãn. Và nếu bạn không phiền thì tôi xin nói rằng các câu chuyện trong quyển Những Người Trai Kẽm của Svetlana Alexievich đọc rất giống các câu chuyện đã từng được những người lính Mỹ đã tham chiến ở Việt Nam về kể lại – đây là cái tôi đã thấy, đây là cái tôi đã làm, đây là cái tôi đã trở thành.

Nếu cuộc chiến tranh ở Việt Nam là một móc ngoặc trong lịch sử Mỹ, thì cuộc chiến tranh ở A Phú Hãn cũng có thể được cho là một bước rẽ gay cấn tương tự cho đế quốc Nga. (Tôi nghĩ rằng chúng ta có thể dùng từ nầy một cách nghiêm chỉnh, phải không bạn?) Những việc tương phản và tương đồng giữa hai sự kiện lịch sử và chính trị nầy có các vang động lâu dài cho cả hai quốc gia. Tuy nhiên, tôi cho rằng chúng ta có thể nói, dù chỉ bằng một cách nhẹ nhàng nhất, là hậu quả cuộc chiến của Liên Xô ở A Phú Hãn có phần gay cấn hơn.

Vào cuối năm 1989 lúc cuộc đánh nhau vẫn còn đang tiếp diễn, tôi may mắn được đi sang Liên Xô cùng với một nhóm cựu quân nhân đã tham chiến ở Việt Nam và các chuyên viên tâm lý về chứng chấn động thần kinh hậu chiến. Chúng tôi đến để gặp gỡ và trò chuyện với những cựu quân nhân Liên Xô trẻ đã từng tham chiến ở A Phú Hãn – những người tự gọi họ là những “Afgantsi”.

Chúng tôi bay qua khối mây phủ dầy đặc ở độ cao 10 ngàn bộ đến phi trường Moscow.Tôi không biết những người khác trong cùng chuyến bay lúc đó thì sao, riêng tôi thì tôi có cảm giác rất lạ lùng. Bay vào Mosowlúc đó đối với tôi thật sự có nghĩa là đang bay đến từ một quảng đời dài đầy những tuyên truyền về xứ sở Liên Bang Xô Viết và về người dân Liên Xô; về những câu chuyện của một cuộc cách mạng đầy hận thù đẫm máu; về những chu kỳ đói nghèo tàn khốc và những trận khủng hoảng kinh tế hầu như bất tận; về sự kềm kẹp của Cộng sản ít nhất hung tàn không kém gì đời sống dưới các Nga Hoàng; và những câu chuyện về các ủy viên chính trị Cộng sản mặt mày lạnh lùng, lười biếng và phì nộm lúc nào cũng sẵn sàng tướt đoạt bất cứ cái gì có giá trị của các công nhân tầm thường thấp yếu, và nếu họ dám chỉ trích điều gì hay phát biểu ý nghĩ của họ, thì họ sẽ bị liệng vào cái hệ thống nghiền bẹp của các trại cải tạo lao động và bị bắt buột làm việc cho đến chết hay bị lưu đày trong những dưỡng trí viện của kẻ mất trí để giữ họ vĩnh viễn yếu mềm và ngu dại bằng các lượng thuốc an thần do Nhà Nước chuẩn duyệt. Đó là hình ảnh về Liên Bang Xô Viết trong tuổi thơ của tôi; những cuộc thanh trừng độc ác đầy nghi kỵ của Stalin; cuộc cách mạng bất thành ở Hung Gia Lợi năm 1956, khi người dân Budapest tấn công xe tăng Nga bằng tay không, bằng những chai bomxăng molotov và khí giới nhẹ lấy được từ các tên mật vụ khốn khiếp; về mối họa thường trực bởi đám quân chó điên cởi đoàn xe tăng bách thắng nằm chực chờ bên kia Bức Màn Sắt sẵn sàng lan tràn qua Âu Châu để nô lệ hóa toàn thể lục địa và tàn phá nơi chốn nào chúng đi qua bằng các hành động cưỡng hiếp, cướp bóc và sát nhân của chúng. Hàng chục ngàn võ khí nguyên tử chiến lược nằm sẵn trên đầu các hỏa tiển liên lục địa, những phi cơ dội bom siêu âm luôn luôn đứng chờ ở đầu phi đạo với đôi cánh chĩu nặng “hàng” của chúng, sẵn sàng bay vọt lên không trung bất cứ lúc nào mang đầy đủ chất nỗ để đưa toàn thể hành tinh nầy vào cõi chết bắt đầu bằng một mùa đông hạt nhân đăng đẳng.

Tôi tham dự chuyến đi nầy vì tôi đã từng là một chiến binh, ở Việt Nam. Tôi đã viết về cuộc chiến ấy, và từ đó đã trở thành rất quen thuộc với các ảnh hưởng chấn động cá nhân của một người chiến binh. Và tôi cũng đã nghe những Afgantsi nầy từng chịu đựng sự khổ cực trong quân đội giống như những chiến binh Mỹ ở Việt Nam, và chắc chắn họ cũng đã phải chịu đựng những ảnh hưởng chấn động cá nhân giống như vậy khi họ trở về quê nhà. Tôi muốn tự mắt nhìn thấy ảnh hưởng của chiến tranh trên con người họ, và biết đâu tôi có thể giúp họ tránh được một vài khổ đau mà tôi đã từng phải chịu đựng.

Họ gặp chúng tôi ở phi trường với một sự tiếp đón nồng hậu và ấm áp, và họ bảo chúng tôi nhiều lần là cuối cùng rồi, cuối cùng rồi, họ đã gặp được những người có thể hiểu được những gì họ nói. Tôi không khỏi tự hỏi, họ không nói chuyện với cha của họ à? Nhưng rồi tôi sực nhớ lại những cuộc đối thoại vất vả với cha của chính tôi mỗi khi tôi về thăm nhà – mỗi khi tôi cố gắng làm cho ông ấy thấu hiểu chuyện gì đã xảy ra cho tôi. Tôi vừa ngạc nhiên vừa cảm thấy mát dạ khi nghe những Afgantsi sau gần 2 tuần sinh hoạt chung với nhau nói rằng, điều khác nhau duy nhất giữa A Phú Hãn và Việt Nam là A Phú Hãn màu nâu còn Việt Nam màu xanh. Chúng tôi chia sẻ những chi tiết rất tương tự và những điểm khác biệt kỳ lạ với nhau. Thí dụ, quân đội Nga không có cấp hành thẻ quân bài, vì vậy nhiều Afgantsi xâm loại máu của mình trên cổ tay hay trên vai hay đeo trên cổ một vỏ đạn AK-47 rỗng trong đó có một mảnh giấy ghi rõ tên, địa chỉ và số điện thoại của thân nhân gần nhất của họ. Những giải pháp tự phát minh như vậy rất phổ biến.

Chúng tôi gặp nhau và trò chuyện với nhau nhiều lần trong mấy tuần ở đó, các cuộc đối thoại của chúng tôi kéo dài đến khuya với những chai rượu vodka lớn cả lít để làm trơn cổ (nó lạnh như băng đến nỗi khi rót ra chảy giống như rượu ngọt). Nhiều người họ nói chuyện một cách cực đoan không khác những lính Mỹ giận dữ, cay đắng và ngán ngẫm ở Việt Nam vào cuối thập niên 1960 và đầu 1970. Họ dẫn chúng tôi đến những bảo tàng viện “riêng” của họ, chỉ cho chúng tôi xem giữa những món vật dụng quân sự là các loại bẫy mìn có hình dáng búp bê bằng vải với tay và mặt bằng plastic. Ai sẽ nhặt những thứ nầy lên? Trẻ con, dĩ nhiên. Ai có thể chế tạo ra những thứ như vậy? KGB hay CIA? Chớ còn ai nữa?

Điều làm tôi ngạc nhiên và xúc động nhất về chuyến thăm viếng, về các buổi họp mặt, về những cuộc trò chuyện riêng tư nầy là tôi đàm đạo với những người trai trẻ đáng tuổi con trai tôi.

Một nhận xét mãnh liệt nhất là bất kể quốc tịch nào – Mỹ đánh trận ở Việt Nam, Liên Xô ở A Phú Hãn, Nam Phi đi quân dịch ở Angola, lính Anh ở Bắc Ái Nhĩ Lan, Do Thái và Palestine ở Trung Đông – hiện thực của một chiến binh vẫn giống hệt nhau một cách đáng đau buồn và rõ rệt: một hiện thực khổ nhọc, tàn bạo và xấu xa. Bất cứ vì lý do quân sư hay chính trị gì (luôn luôn là những quyết định của các chính trị gia và lãnh đạo đứng từ xa, cách biệt hẳn với thực trạng chiến trường), kết quả trong nỗ lực hàng ngày của họ lúc nào vẫn cũng như nhau; nó là những công việc làm tê dại linh hồn và hủy hoại trái tim con người.

Có lẽ nhà thơ Li Po của Trung Hoa ở thế kỷ thứ 8 diễn tả điều nầy hay nhất:

Sầu khổ, sầu khổ như mưa

Sầu khổ ra đi, và sầu khổ, sầu khổ trở về.

Những sự tương đồng giữa cuộc chiến của Mỹ ở Việt Nam và cuộc chiến của Liên Xô ở A Phú Hãn rất nổi bật và mỉa mai, và cho thấy là con người chúng ta có nhiều thứ giống nhau hơn chúng ta nghĩ.

Cả hai cuộc chiến đều diễn tiến thiếu sự ủng hộ hay tham dự của toàn bộ tất cả người dân trong nước. Thật vậy, trước 1985 dân chúng Nga được bảo rằng quân lính họ đang ở A Phú Hãn để thi hành “nghĩa vụ quốc tế” của họ như là xây cất trường học và bệnh viện, trồng cây, và nói chung giúp đỡ người dân A Phú Hãn tạo dựng một nước xã hội chủ nghĩa. Thư từ của họ đều bị kiểm duyệt chặt chẽ và tất cả hình ảnh đều bị cấm gởi. Thật vậy, chế độ kiểm duyệt chặt chẽ đến nỗi sau nầy chỉ còn một vài tấm ảnh chiến trường của binh lính còn sót lại mà thôi (khác hẳn với những người lính Mỹ ở Việt Nam, họ chụp ảnh tất cả mọi thứ, mọi việc). Những Afgantsi ra khỏi quân đội đều bị dặn dò thẳng vào mặt một cách nghiêm khắc rằng họ không được kể lại những gì đang xảy ra – một màn che bí mật không khác gì những lính Mỹ đã từng ở Việt Nam đã trải nghiệm. Thi hài của lính Nga được đưa về quê nhà trong những quan tài bằng kẽm đóng kín, được hộ tống bởi quân cảnh với lệnh không ai được mở các quan tài nầy ra. Gia đình, trong niềm đau khổ vô biên, không thể nào biết chắc chắn là con trai họ, anh em họ, chồng họ có đã thật sự chết rồi và thi thể họ thật sự nằm bên trong những quan tài đó hay không. Chẳng ai giải thích gì về cái chết của những người lính nầy; tang lễ của họ được tổ chức ban đêm để tránh đông người; mộ bia của họ chỉ đề võn vẹn “Chết trong khi thi hành nhiệm vụ quốc tế”, đó là một mỹ từ đồng nghĩa với “Chết trong tác chiến”.

Ngày nay, chúng ta có thể thấy rõ cả hai cuộc chiến trên đều là những thảm cảnh về chính sách ngoại giao, mặc dù sau nầy cũng có những tư tưởng xét lại đáng kể nói về Việt Nam. Vào mùa thu 1988, khi Liên Xô tuyên bố rút quân khỏi A Phú Hãn, người ta hỏi một tướng lãnh Liên Xô cuộc chiến nầy có phải là một sai lầm hay không thì cũng giống như những nhà lãnh đạo, ông không xác định có hay không – chẳng như những người suốt đời trong quân đội. Ông nầy ngừng giây lát rồi trả lời bằng một câu ngạn ngữ Nga nói rằng một người thợ may nên đo tấm vải 7 lần trước khi cắt nó. Đó là một câu mang nhiều tính cách xin lỗi nhất mà dân chúng Nga có thể được nghe. Bạn có thể tưởng tượng ông William Westmoreland nói một câu như vậy không?

Trong cả hai cuộc nội chiến, quân đội của hai chính phủ (những người được chính phủ “chủ gia”trả tiền) đều không có tinh thần và thiếu sự cật lực để chiến đấu, và họ đều được giúp đỡ bởi lực lượng tác chiến nòng cốt của một đồng minh hùng mạnh (có phần quá hùng mạnh). Các cựu chiến binh Nga không dấu diếm giọng chê bai khi nói về quân đội A Phú Hãn, cũng giống như cách những lính Mỹ nói về quân đội Việt Nam Cộng Hòa của Nam Việt Nam – đến trễ nhất khi nhập trận; trở về trại trước nhất khi xong trận; thường xuyên ngủ gật trong những lúc khác. Cả hai trận chiến đều chống lại những lực lượng du kích được võ trang đầy đủ với tinh thần chiến đấu cao. Ở A Phú Hãn, đó là những mujahedin, những người mà các Afgantsi gọi là thổ phỉ.

Cả hai Việt Cộng và mujahedin đều tuyệt đối nhất tâm giải phóng đất nước và sử dụng chiến thuật du kích phá hoại bằng cách đánh-và-chạy, phục kích, đặt mìn đường xá, gài bẩy cá nhân, tận dụng các khu vực biên giới an toàn để ẩn náo; và đều được tiếp nhận đầy đủ viện trợ quân sự từ những chính phủ ngoại quốc hỗ trợ.

Cả hai nhóm cựu quân nhân Mỹ và Nga đều đại đa số thuộc “thành phần lao động”. Ở Mỹ, nếu bạn không có tiền hoặc trí óc để được miễn dịch trong các trường đại học hoặc có gia đình thế lực để được có một chân trong đội Cảnh Vệ Quốc Gia (hay những cách trốn lánh khác) thì bạn rất có thể sẽ bị kêu quân dịch; và vì lý do đó mà nó được gọi là Dịch Vụ Tuyển Lựa. Ở Liên Bang Sô Viết, con cháu của giới lao động và nông dân đi lính – chớ không phải con cháu của những nhà trí thức, giám đốc hay đảng viêncao cấp. Ở đâu cũng giống vậy thôi.

Trong cả hai cuộc chiến, tuổi trung bình của các chiến binh là 19 tuổi, và cả hai đều phải phục vụ một nhiệm kỳ tác chiến nhất định: một năm cho lính Mỹ và hai năm cho lính Nga. Có một sự khác biệt quan trọng ở đây. Ngoại trừ lần đầu tiên khi cả quân đoàn được điều động đến nơi chung cùng một lúc, lính Mỹ sau đó sẽ đi đến và đi về riêng rẽ từng người. Bạn đến nơi như một người vừa gia nhập, một gã vừa ra lò, một thằng khốn mới. Sau khi mãn nhiệm kỳ, là một “người ngắn hạn”, bạn chào từ biệt mọi người chung quanh, trả vật dụng quân trang lại, lên máy bay và trở về quê nhà – thường là được thả ra ở Phi Cảng Quân Sự Oakland với một tấm giấy giải ngũ. Có nhiều câu chuyện kể lại cảnh họ đang ở chiến trường hôm nay, và về đến nhà ngày hôm sau – và tôi nói “về đến nhà” có nghĩa là về đến căn nhà mà bạn đã từng lớn lên hồi nhỏ –không có một ai để tâm sự và thông cảm; nỗi cô độc của bạn sẽ đột ngột và tột cùng; và mỗi lúc càng về gần đến nhà thì sự đơn độc của bạn càng trở nên sâu thẳm hơn và toàn diện hơn. Bạn trở về nhà giữa một nỗi mừng vui cá nhân về sự sinh tồn của mình, rồi theo sau đó một cách mau chóng và không tránh khỏi là chứng trầm cảm tàn khốc kéo dài nhiều năm. Nhiệm kỳ quân dịch của lính Liên Xô là 2 năm, tuy vậy họ luân chuyển nguyên cả đơn vị cùng một lúc. Trong từng đơn vị thường là những người đã từng lớn lên và đi học chung với nhau, rồi cùng vào quân đội với nhau. Việc luân chuyển chung từng đơn vị giúp cho những Afgantsi có dịp thành lập những “hội đoàn” tương trợ lẫn nhau với cấu trúc của một tổ chức mang tầm vóc quốc gia, một điều được xem là bất hợp pháp trước khi Liên Bang Xô Viết tan rã.

Ở A Phú Hãn và ở Việt Nam, khả năng di tản thương binh bằng trực thăng và kỹ thuật y tế tân tiến ở chiến trường đã cứu mạng sống của nhiều người, nhưng đồng thời cũng đã sản xuất hàng ngàn cựu quân nhân tật nguyền, liệt giường cần sự hỗ trợ nghiêm trọng suốt đời – chân tay giả, xe lăn, và những chương trình chữa trị cho các bệnh nghiện rượu, sử dụng ma túy, và các chứng bệnh tâm thần. Đây là những hậu quả không tránh khỏi và hầu như không chữa trị được phát xuất từ các sự kiện thảm khốc xảy ra hàng ngày trong đời sống binh sĩ dưới chiến tranh.

Vào những thập niên1960 và 1970, Bộ Cựu Chiến Binh Mỹ không trang bị đủ để đáp ứng nhu cầu của các lính Mỹ ở Việt Nam, như quyển hồi ký của Ron Kovic “Sinh Ngày Bốn Tháng Bảy” cho thấy rõ. Lính Mỹ ở VN rồi cũng hiểu rằng Bộ Cựu Chiến Binh không phải là một tổ chức chuyên lo về vấn đề y tế cho họ. Tuy nhiên, Liên Bang Xô Viết thì lại không hề có một Bộ Cựu Chiến Binh, và các trung tâm y tế của họ hoàn toàn thiếu thốn một cách thảm hại – họ không có gì đầy đủ cả. Họ không có trụ sở đặc biệt dành cho xe lăn hay người mù, và nơi thiết kế chân tay giả của họ rất tàn tệ, nếu không muốn nói là thuộc về thời trung cổ; tuy vậy việc nầy đã được cải tiến trong vài năm gần đây. Nếu chân bạn bị nổ banh và được gắn một cái chân giả tồi tàn, thì đến khi bạn 40 tuổi bạn có thể sẽ phải cần cái chân cụtcắt xén bớt ít nhất vài lần, và ít nhất bạn sẽ trở thành một người bị đau xương lưng nặng ngồi trên xe lăn. Đó là tại sao các Afgantsi không khỏi cay đắng với Đảng Cộng Sản và những lề thói quan liêu bất tận của họ. Vài tuần trước khi tôi đến Moscow, 80 Afgantsi ngồi xe lăn đã tập hợp ở diễn trường Đỏ, khu vực giữa mộ Lenin và khu mua sắm GUM và bức tường Kremlin, để phản đối về sự thiếu thốn trong vấn đề chăm sóc sức khỏe và người tàn tật. Họ đã bị cảnh sát đánh đập thẳng tay.

Cả cựu quân nhân Mỹ và Nga đều trải qua nhiều vấn đề tâm thần kéo dài nhiều năm sau khi họ giải ngũ – Hội Chứng Thần Kinh Căng Thẳng Hậu Chấn, sự căng thẳng thần kinh bị trì hoãn và chỉ bộc phát sau một thời gian, hay cái từng được gọi là chứng kiệt quệ chiến trường hay chấn động bởi bom pháo (sau Nội Chiến Mỹ nó được gọi là “trái tim chiến binh”). Nói một cách giản dị, vì tính chất tàn bạo của chiến trận nên họ không thể nào tránh khỏi và chữa trị được các ảnh hưởng của căn bệnh căng thẳng thần kinh trì hoãn. Những triệu chứng chính của căn bệnh nầy gồm: tái diễn mê sảng và những ác mộng; mặc cảm của kẻ sống sót thường được bộc lộ qua một sự trầm cảm suy nhược không thể gạt bỏ được;trạng thái cảnh giác cực độ với những phản ứng hốt hoảng quá đáng; và khuynh hướng cố tình tự hại mình hoặc dưới dạng tự sát thật sự hoặc dưới dạng tự trừng phạt qua việc lạm dụng ma túy và rượu chè – cái mà Bộ Cựu Chiến Binh gọi là tự phát thuốc. (Mặc dù có khoảng 58 ngàn lính Mỹ đã bỏ mạng ở Việt Nam, một con số tương tự sau nầy cũng đã tự giết chết họ phần lớn bằng rượu hay ma túy.)

Mỹ và Nga đã không chuẩn bị gì cả cho những biến đổi tâm lý của chiến binh trở về từ chiến trường, cũng như của gia đình họ. Lính Mỹ thường được giải ngũ tại Phi Cảng Quân Sự Oakland, xong rồi họ bị tống ra cửa để đến những xe taxi đang chờ chở họ đến phi trường. Lính Nga thì được thả ra tại Tashkent ở Trung Á và họ phải tự tìm cách để trở về quê nhà, kèm theo lệnh không được kể lại gì hết về những nơi họ từng đến, những gì họ từng thấy. Tạm biệt, bạn, và chúc may mắn. Đừng gọi điện cho chúng tôi, chúng tôi sẽ gọi bạn.

Thật ra, trước 1980 thì Bộ Cựu Chiến Binh [Mỹ] không hề biết chữa trị Hội Chứng Thần Kinh Căng Thẳng Hậu Chấn một cách hợp lý và đúng đắn. Nếu một cựu chiến binh đến Bộ Cựu Chiến Binh thì anh ta sẽ được chẩn đoán mắc bệnh tâm thần phân liệt rồi được mời vào Viện Tâm Thần và được phát thuốc Thorazine cho uống.

Trước năm 1988, chuyên gia tâm thần Liên Xô chưa từng nghe biết đến Hội Chứng Thần Kinh Căng Thẳng Hậu Chấn, cho đến khi các chuyên gia tâm thần Mỹ về chứng chấn động hậu chiến đến thăm viếng và nói cho họ nghe. Trước đó thì cách chữa trị của họ là dùng dược phẩm để hoán đổi tính nết – phương cách mà ngành tâm thần học Liên Xô luôn sử dụng cho các chứng bệnh tâm thần.

Chính sách của nhà nước Liên Xô đòi hỏi cộng đồng địa phương phải tổ chức những buổi lễ “Đón Mừng Trở Lại Quê Nhà”, một điều làm nhiều viên chức ngạc nhiên vì họ đã được bảo rằng các người lính đó đi A Phú Hãn chỉ để làm “việc cộng đồng” mà thôi. Những Afgantsi nói chuyện với tôi gọi các thủ tục rỗng tuếch vô nghĩa lý nầy là “bộ mặt đón mừng giả dối”. Nếu cựu chiến binh đi Việt Nam về không bị nhổ nước bọt vào mặt và gọi là những kẻ giết trẻ con – và phần đông họ không hề bị như vậy – thì ít nhất họ cũng gặp một sự thờ ơ hung hăng. “Từng ở Việt Nam hả? Thì sao?” Hay hằn học hơn nữa là, “Cụt một cánh tay à? Đáng kiếp, đồ chó đẻ!” Những buổi diễn binh và những đài tưởng niệm (mặc dù có lẽ nói lên rất nhiều) đã trở thành thịnh hành trong vòng mười năm gần đây, thật ra, có phần quá trễ và quá ít ỏi.

Tuy nhiên trong các so sánh giữa lính Mỹ đã đánh trận ở Việt Nam và những người trẻ Liên Xô đã đánh trận ở A Phú Hãn, có lẽ điều rõ rệt và đồng nhất hơn hết là lòng cay đắng dành cho chính phủ của họ. Cả hai nhóm người nầy đều cảm thấy họ đã bị phản bội cực độ, và bị dối gạt là một điều họ căm phẩn nhất. Nếu có thể nói một cách tượng hình rằng chính quyền cũng giống như “cha” – người mà bạn nghĩ là sẽ thương yêu và chăm lo cho bạn nhất – thì bị phản bội bởi cha của bạn không những chỉ một lần mà từ ngày nầy qua ngày nọ là một bài học rất nặng nề khó quên. Đây là một dạng phẩn uất nặng nề tuy có thể nguôi ngoai dần theo năm tháng nhưng không bao giờ tốt lành lại được. Điều nầy có thể thấy vào năm 1971 ở bậc thang Capitol tại Washington DC khi các cựu chiến binh đã từng ở Việt Namhết người nầy đến người khác lần lược bước đến hàng rào vừa mới được vội vã dựng lên và thảy trả lại các huân chương mà chính phủ đã trao cho họ. Vào mùa thu 1991, những người Afgantsi trẻ đã tụ họp từ khắp Moscow, Nga và phần còn lại của liên bang Xô Viết cũ để bảo vệ tòa nhà quốc hội của Nga (gọi là “Tòa Nhà Trắng”) và bảo vệ nhà lãnh đạo vừa mới lên của Nga, ông Boris Yeltsin. Những Afgantsi nầy đã nhanh chóng tổ chức để ngăn chận những tên xách động, chỉ là những gã say rượu, và không cho những tên nóng máu khởi xướng náo loạn với đoàn xe thiết giáp và xe tăng đang bao vây họ; để cô lập những sự xung đột và giảm thiểu thiệt mạng nếu có xung đột xảy ra; và nếu có một cuộc tấn công thẳng thừng thì họ sẽ chiến đấu đến cùng. Đêm ấy người ta đoán rằng các người cầm đầu cuộc đảo chánh sẽ tấn công, các giáo sĩ đã làm phép lành cho toàn thể những Afgantsi, có hàng ngàn Afgantsi lúc ấy đã sẵn sàng, tình nguyện, và có đầy đủ khả năng để chống trả lại, và họ cũng không phải là không biết làm gì hay không có võ trang. Sự hiện diện của những Afgantsi lúc đó đã ngăn ngừa được một thảm sát đẫm máu khỏi xảy ra.

Sau khi mối hiểm nguy của cuộc đảo chánh đã qua, một lãnh đạo của nhóm Afgantsi nói, “Chúng tôi không nghĩ rằng chúng ta đã dành được dân chủ.” Tuy vậy, những Afgantsi tôi đã gặp và trò chuyện cho tôi thấy rằng họ là những người có khả năng, thông thạo, trẻ và cứng rắn đủ để đạt được những gì họ muốn.

Trong phần Giới Thiệu trên cho quyển Đoàn Trai Áo Kẽm, chúng ta có thể thấy nhận xét và so sánh nổi bật được lập đi lập lại nhiều lần của Larry Heinemann là “cuộc chiến Nga-A Phú Hãn rập khuôn cuộc chiến Mỹ-Việt Nam”. Nhiều bình luận gia thế giới cũng có cùng quan điểm với Heinemann. Ở nhiều lãnh vực và cấp độ, quan điểm nầy rất xác đáng. Tuy nhiên, có một số người khác cho rằng nhận xét và so sánh trên đã bỏ qua một số chi tiết đáng kể.

Thí dụ như so sánh lý do Liên Xô có mặt ở A Phú Hãn và lý do Hoa Kỳ có mặt ở Việt Nam. Đối với nhiều người, trong hai cuộc chiến, Nga cũng như Mỹ chỉ là hai cường quốc muốn nhúng tay vào chuyện của nước khác để giữ một thế đứng, để hạn chế các bành trướng thù nghịch, để bán vũ khí, v.v. Đối với một số người khác, họ cho rằng việc quân đội Liên Xô chiếm đóng A Phú Hãn là một hành động xâm lược với mưu đồ nới rộng lãnh thổ Nga dần xuống phía nam với mục tiêu tối hậu là chiếm hữu một hải cảng thông vào Ấn Độ Dương. Trong khi đó Mỹ chỉ can thiệp vào Việt Nam để cố ngăn chận làn sóng Đỏ tràn lan khắp vùng Đông Nam Á. Ngoài việc muốn bảo vệ một đồng minh, Việt Nam Cộng Hòa, để làm “tiền đồn” (mà có người còn gọi là “trái độn”) cho mục đích nầy, Mỹ không có ý định hay nhu cầu chiếm cứ lãnh thổ Việt Nam.

Một thí dụ khác là về lý do Liên Xô và Mỹ đã rút quân khỏi A Phú Hãn và Việt Nam. Có quan điểm cho rằng lý do chính là vì cả Liên Xô lẫn Mỹ đã đánh thua các lực lượng nhỏ yếu hơn nhiều: mujahedin (“chiến sĩ của Thượng Đế”) của A Phú Hãn và Việt Cộng. Một số người khác thì cho rằng trong khi Liên Xô đã thật sự thua trận trên chiến trường thì Mỹ thua trận là vì phe phái phản chiến ngay trong nước Mỹ đã gây áp lực bắt buột chính phủ rút quân khỏi Việt Nam. Chính các cuộc biểu tình “kêu gọi hòa bình” rầm rộ trên toàn nước Mỹ lúc đó đã đào sâu những hầm hố chôn sống các quân đoàn hải ngoại của họ. Có nhiều bằng cớ sau nầy cũng cho thấy rằng nếu Mỹ kiên trì thêm một thời gian ngắn (một, hai năm) nữa ở Việt Nam thì rất có thể Bắc Việt (lẫn đồng minh Liên Xô) sẽ trở thành kiệt quệ đủ để Bắc Việt hoặc sụp đổ hoặc chịu ngồi xuống xin điều đình với miền Nam Việt Nam.

Một thí dụ khác nữa là cách đối xử của chính quyền Liên Xô và chính quyền Mỹ với binh lính của họ tham dự các trận chiến trên. Một quan điểm cho là cả hai chính quyền đều bạc đãi binh sĩ và cố ý che đậy dối lừa dân chúng ở hậu phương của họ. Đó là tại sao ở cả Nga và Mỹ ngày nay vẫn còn một thế hệ cựu chiến binh đầy bất mãn, tật nguyền và cô độc hiện diện như là một di sản đau buồn từ cuộc mạo hiểm quân sự của quốc gia họ vài mươi năm trước. Một quan điểm khác cho rằng lời kết tội trên chỉ có thể áp dụng đúng cho Liên Xô. Trong khi đó, tuy Mỹ có hạn chế phần nào việc báo chí tường trình về cuộc chiến Việt Nam, nhưng đó chỉ là vì lý do an ninh quân sự hơn là vì muốn lừa dối dư luận ở quê nhà. Hơn nữa, kỹ thuật truyền tin, cụ thể nhất là sự phát triển của vô tuyến truyền hình, đã đưa Việt Nam trở thành cuộc chiến tranh đầu tiên mà tin tức, thời sự với đầy đủ phim ảnh nóng bỏng cập nhật nhất của chiến trường được nhanh chóng mang đến tận phòng khách của vô số gia đình trên thế giới. Dân chúng Mỹ do đó có cơ hội được nhìn thấy tận mặt không ít những gì cha, chồng, anh, em, con trai của họ đối diện tại chiến trường. Trong khi đó, như bài Giới Thiệu của Larry Heinemann cho thấy, tất cả tin tức và hình ảnh chiến trường Nga-A Phú Hãn đều đã bị kiểm duyệt mất hết, đến độ ngày nay chỉ có rất ít tài liệu còn sót lại để tham khảo. Còn về việc bạc đãi binh sĩ thì với sự tự do báo chí và tự do ngôn luận ở Mỹ, cho đến nay vẫn không hề có tường trình về trường hợp nào có thể so sánh tương đương với những gì đã xảy ra cho binh sĩ Liên Xô và gia đình họ.

Trong bài Giới Thiệu ở trên của Larry Heinemann cũng có một số nhận xét khác có thể làm cho một số người cau mày. Thí dụ như Heinemann cho rằng Việt Cộng, cũng như các mujahedin của A Phú Hãn, là “những lực lượng du kích được võ trang đầy đủ với tinh thần chiến đấu cao” và “Cả hai Việt Cộng và mujahedin đều tuyệt đối nhất tâm giải phóng đất nước”. Các lời tuyên bố trên có thể được xem là chịu ảnh hưởng cái nhìn ủng hộ khuynh hướng phản chiến trong khoảng thời điểm lịch sử đó. Những người nầy cho rằng cái nhìn trên của Heinemann có phần chủ quan và không toàn diện. Một quân đội có khả năng chiến đấu cao không hẳn luôn luôn là vì họ có tinh thần chiến đấu cao. Lịch sử cho thấy môi trường kỷ luật khắc nghiệt của một bộ chỉ huy đặt chiến thắng lên trên sinh mạng của binh lính có thể tạo ra những đạo quân thành công trong nhiều trận chiến. Một điều khó khăn mà cả người lính Nga và Mỹ đều đã phải đương đầu là “sự dửng dưng, tàn ác lạnh lùng và xem rẻ mạng người” của mujahedin và Việt Cộng. Đây là một sự kiện rất kỳ lạ và kinh hoàng mà những người lính non trẻ Tây Phương chưa bao giờ được chứng kiến trước đó.

Có thể cho rằng tác giả lẫn người viết lời giới thiệu cho Đoàn Trai Áo Kẽm có khuynh hướng phản chiến. Nói cho cùng, Larry Heinemann đã có lần tuyên bố, “Câu chuyện về chiến tranh luôn luôn là câu chuyện của cá nhân mỗi người, cũng giống như tại sao những câu chuyện chiến tranh ‘trung thực’ luôn luôn là những câu chuyện phản chiến.”

 

Chú Thích:

Tác phẩm nguyên ngữ tiếng Nga nầy của Svetlana Alexievich đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Bản dịch tiếng Anh mang tựa là “Zinky Boys”; bản dịch tiếng Pháp mang tựa là “Les Cerceuils de Zinc”.

bài đã đăng của Larry Heinemann


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch