Trang chính » Biên Khảo, Dịch Thuật, Nhận Định, Sang Việt ngữ, Thơ Email bài này

Thơ ca: Cuộc du hành nội tâm


♦ Chuyển ngữ:
2 bình luận ♦ 22.10.2015

klee_southern-gardens
Paul Klee, Tunisian Gardens (Những ngôi vườn ở Tunisia) (1919)

Nhà thơ căn dặn : “Hãy nghiêng xuống, hãy nghiêng mình xuống hơn nữa”. Nhà thơ không chỉ an lành bước ra khỏi trang thơ, mà như kẻ nghèo khó kia còn biết tận dụng lợi điểm bất tử nơi trái ô-liu”( René Char).

Đây không phải vấn đề giải thích quá trình phong phú và phức tạp trong sáng tác Thơ Ca.

Với mỗi nhà thơ, sáng tác tuân theo một lợi ích riêng, một năng khiếu đặc biệt, do vậy khó mà trình bày điều phức tạp, sống động này theo một sơ đồ giáo khoa cứng nhắc.

Điều tiếp cận duy nhất chỉ có thể là mô tả những mức độ hoạt động và thái độ khác nhau mà chúng ta quan sát thấy được nơi nhà thơ. Ngoài ra, phương pháp này còn giúp chúng ta am hiểu một cách tinh tế hơn về bản chất của Thơ Ca ngay nơi suối nguồn phát sinh ra nó.

Vậy nên, Cuộc du hành nội tâm, diễn tả những sự kiện nguyên chất, mà nhà thơ thoạt thấy nơi chính mình, đó là những cảm giác ban đầu cũng như dĩ vãng và lịch sử đời ông ta. Tóm lại, chúng ta phải chứng minh rằng, nhà thơ, nhà ảo thuật ngôn ngữ đã đạt được khả năng sáng tạo tới mức độ nào.

 

1. Cảm nhận

Nhà thơ, trước hết phải là bậc thầy của năm giác quan trong cơ thể, đó là : thị giác, xúc giác, thính giác, khứu giác và vị giác (F.G. Lorca).

Trẻ thơ khám phá ngoại giới thoạt tiên bằng những những giác quan của chúng, đồng thời quay nhìn và tìm hiểu chính cơ thể chúng. Trong suốt cuộc đời, những giác quan không ngừng dạy cho chúng ta về vũ trụ bao quanh và cả chính bản thân mình nữa.

Người mà Lorca xưng tụng là “bậc thầy của những giác quan cơ thể”, ấy là thi sĩ, vì chính anh ta biết rõ hơn ai hết sự tổng hòa dung hợp này. Với những giác quan, nhà thơ sáng tạo ra ngoại giới và chính bản thể của họ :

Tôi hiện hữu, nghĩa là tôi không là những vật thể vây quanh tôi, tôi hiện hữu vì được giới hạn bởi chúng, vì cảm thấy sự giới hạn đó, vì được sự giới hạn đó thông báo cho hay, vì cảm thấy, tiếp xúc thấy sự giới hạn đó, tôi là chủ thể trông thấy, là chủ thể nghe thấy, nếm thấy, ngửi thấy ngọn lửa đó, trái cây đó, bông hồng đó.[1]

Cảm xúc tạo nên con người, chính vì cảm xúc đã tái tạo ngoại giới nơi con người. Với danh nghĩa này, những nhà thơ, hơn ai hết, là những con người sống gấp đôi. Kiến thức nhạy cảm của nhà thơ với ngoại giới là một biện chứng. Kiến thức này luôn đẩy nhà thơ trở về với chính mình. Cùng với lúc nhà thơ nhìn, nghe, sờ mó, hít thở, những vật thể, những thanh âm, những mặt phẳng, những hình khối. Những mùi vị trở thành chính bản chất của nhà thơ.

Trong một số trường hợp, một ý nghĩa đặc quyền đã đánh thức sự hủy diệt mọi ý nghĩa khác : Chúng ta biết ở điểm nào mà Hugo là một con mắt. Và Lorca đã từng hạ bút : “ Không một kẻ nào lúc sinh ra đã mù lòa lại có thể trở thành nhà thơ sáng tạo khách quan, vì nhà thơ có biết gì về những chiều kích của thiên nhiên đâu !”. Với những người khác họ có cả hệ thống ý nghĩa, nhưng thực là không ai có thể diễn đạt điều ấy hay hơn Claudel. Trong tác phẩm Nghệ Thuật Thơ Ca ( Art Poétique ), sau khi đã gợi cho chúng ta biết xúc giác đem lại ý niệm về “ hình cầu và khối lượng “, vị giác “ chỉ là một thứ xúc giác hoàn bị hơn”, tức khứu giác, ông diễn tả thị giác và thính giác như là hai giác quan thượng đẳng vì “chúng không chỉ cho chúng ta những cảm giác mà còn thêm những bình diện khác nhau của hình ảnh. Thị giác, ông nói thêm, cho chúng ta thấy hình ảnh trong không gian; thính giả cho chúng ta biết về trường độ “.

Đôi khi, cảm giác trong Thơ Ca có thể trở thành một thực tại tự trị :

Tôi đã bị quyến rũ, Eluard viết, bởi một điều bí mật trong đó hình thể không hề giữ một vai vị nào. Tò mò về một bầu trời không sắc màu, trên đó không một bóng chim, cũng chẳng vướng một vệt mây. Tôi trở thành nô lệ cho một khả năng nhìn thuần túy, nô lệ cho đôi mắt không thật và tinh tuyền của tôi. Không hay biết chỉ vẻ ngoại giới và chính chúng. Với sức mạnh trầm lặng, tôi xóa bỏ những gì có thể nhìn thấy, những gì chẳng thể nhìn thấy, tôi tự mất hút trong tấm gương không tráng thủy. Không bị hủy diệt, tôi không mù lòa .[2]

Trong thực tại, những giác quan hiếm khi đạt được mức tự chủ này, thường chỉ nhận thấy nơi mình có sự phức tạp trong cảm xúc. Malcolm de Chazal bảo, đó là “những cảm quan trung gian tham dự với những cảm quan kế cận”.

Vậy là chúng ta đang tiến gần tới thuyết “trường hợp” mà các nhà thơ như Baudelaire, Rimbaud, sau Edgar Poe, đã từng cùng nhiều nhà thơ đương đại giải trình. Nhưng lý thuyết này, trong chiều hướng muốn trở thành triết thuyết của chúng ta, chỉ mang đầy đủ ý nghĩa vào lúc nhà thơ tìm cách thể hiện nó trong ngôn ngữ và chúng ta lại thấy nó ở mức độ đó.

Trong lúc này, chỉ cần nhận ra rằng cảm xúc đã chứa đựng tất cả chất thơ ban cho thế giới và con người trong một thoáng nắm bắt, và khởi từ một cảm xúc duy nhất của thi nhân có thể ánh hiện lên nơi từng đơn thể.

Tuy nhiên, Bachelard đã chứng minh rằng chất thơ chỉ xuất thần nơi những ai không ngăn nén cảm xúc, mà trái lại, còn ứng thúc thêm lên cho chúng được phong phú tận đáy tầng nhục thể. “ Chính ở mật độ này, cũng theo lời Bachelard, đã biệt giải đâu là loại Thơ Ca bóng loáng hời hợt, đâu là Thơ Ca trầm thiết sâu lắng, và để chứng thực điều đó, người ta đã đi từ giá trị nhạy cảm đến giá trị nhục cảm. Chỉ những giá trị nhục cảm đem lại cho chúng ta những tương ứng, còn những giá trị nhạy cảm chỉ cung ứng cho những giải trình “.[3]

Bachelard cho rằng, nhạy cảm là một mức độ đã được trí thức hóa, ông nhận cho lý trí một vai trò thiết yếu trong công cuộc sáng tác Thơ Ca, nhưng lý trí chí có thể can thiệp vào những lúc mà toàn thể hiện hữu đang làm giềng mối cho cơ thể hợp nhất với ngoại giới và khám phá ra ngoại giới nơi chính mình.

Kể từ đó, người ta có thể thấy rằng mọi loại thứ hạng thái độ và tác phẩm Thơ Ca nổi tiếng, bất quá chỉ là những điều làm bộ làm tịch không đáng kể. Những giác quan thúc đẩy nhà thơ tham gia hết mình, không thể tính toán những sinh khí riêng tư. Hoặc giả, nếu có thể, nhà thơ tự ràng buộc chính mình thành “một bài thơ phụ thuộc, trong đó người ta được chứng kiến những thủy thần xinh xinh nhỏ nhắn đang không ngớt nô đùa với bao hình ảnh thật xưa cũ”(Bachelard).

Vậy nên, những giác quan chính là những vũ khí đầu tiên của kiến-thức-Thơ-Ca. Nhưng nhà thơ luôn vươn khỏi những cảm xúc của mình. Và để mài sắc những cảm xúc đó, nhà thơ phải phá vỡ vỏ ngoài che lấp thực tại.

Với nhà thơ, cảm xúc có hàm ý là bộc lộ.

 

2. Bộc lộ

Thơ Ca, Jean Cocteau viết, bộc lộ theo nghĩa dũng mãnh nhất của từ này. Thơ Ca cho thấy những điều kinh ngạc vây quanh mà các giác quan chỉ ghi nhận một cách máy móc, Thơ Ca lóa sáng gần như hôn mê.

Nhà thơ luôn trong tư thế rình rập thám thính. Không chỉ nhìn thoáng qua mà là rất chăm chú. Lắng nghe cũng vậy, chú mục và không hờ hững. Ông không chỉ biết sao chép, mà còn bóc trần và tái tạo. Khi nói về Picasso, Eluard nói thêm về thi nhân :

Nếu sao chép y nguyên trái táo bên ngoài, vô tình ông đã làm yếu đi một cách khủng khiếp của thực tại cảm xúc…Điều trọng yếu, chính là tham dư, di dịch và hiểu biết. Picasso đã vươn lên khỏi mọi tình cảm yêu, ghét, chỉ khác nhau có chút xíu và không hề là những yếu tố của tiến bộ, của động tác, ông quyết tâm toan tính – và đã thành công – gỡ mối cho muôn ngàn liên hệ phức tạp giữa thiên nhiên và con người…[4]

Giác quan là những dụng cụ đối với nhà thơ. Nhà thơ sử dụng chúng để khám phá ngoại giới, để “gỡ nút“ cho những gì chưa nắm bắt được, để triệt bỏ những gì ngăn cản không cho thực tại “ ngời sáng đến tuyệt cùng.”

Nhưng, có trăm nghìn cách để nhà thơ đạt tới thế giới bên ngoài và tiếp nhận nó, đặc biệt là sự chờ đợichinh phục.

CHỜ ĐỢI,

…Tôi để cho những sự vật từ từ chiếu vào tâm hồn tôi thứ ánh sáng đặc biệt của chúng, từ viên cuội đến vừng thái dương và những vì tinh tú, tôi để mặc chúng như chất dầu lỏng dâng lên dần, từ mức độ dây thần kinh tới ngọn đèn tư tưởng bên trong (Sikellianos).[5]

Sự lười lĩnh phong nhiêu này, thái độ nghiêm túc này, thái độ tỉnh thức bất động kiên trì để giúp mọi đòi hỏi của giác quan, Bachelard mệnh danh điều này là mơ mộng về ngoại giới.

MƠ MộNG,

Trong mơ mộng, những giác quan của nhà thơ, do thiên nhiên nài nỉ, đã mơ mộng thả cửa để hoàn toàn tràn ngập trong đó. Nhà thơ quên cả ý thức nơi mình, quên cả điều này lẫn điều kia, và giữ chút trí năng sáng suốt để biết rằng đã mất đất đứng.

Rousseau đã diễn tả rất đúng, trong tác phẩm les Rêveries d’un Promeneur Solitaire(Những mộng mơ của kẻ nhàn du đơn độc), và đặc biệt trong Mộng mơ thứ Năm, trạng thái trong đó tác giả vẫn cảm thấy mình hiện hữu nhưng chẳng màng đến suy tư.

Sự “trầm tư”, “mặc tưởng” của những người lãng mạn như vậy là xuôi theo “triền dốc mộng mơ” và nhiều nhà thơ ở mọi thời đại đã đạt được trạng thái Thơ Ca mà không nhất thiết phải phóng hóa ra khỏi chính mình.

Thơ Ca sinh ra từ hình thức mộng mơ này hầu hết là loại thơ trầm lặng.

“Kẻ mộng mơ trên cõi đời này không nhìn ngoại giới như là đối tượng, mà chỉ thể hiện cái nhìn soi móc. Chàng là chủ thể và là kẻ thưởng ngoạn, tựa như thế giới thưởng ngoạn đường chạy qua thang tỉ lệ ánh sáng, khi ý thức nhìn là ý thức nhìn lớn và nhìn đẹp. Cái đẹp hành động tích cực lên cái mình xúc cảm. Cái đẹp vừa là khoảng nổi của thế giới được thưởng ngoạn vừa là một vươn cao trong phẩm cách được nhìn thấy”. [6]

Trên chặng đường này, Chúng ta cần phân biệt để không lẫn lộn giữa mộng mơ với giấc mơ. Mơ mộng xuất phát từ cảm xúc, nó huớng ngoạn, nó tiếp đón. Sự mơ mộng, Bachelard cho đó là một trạng thái. Giấc mơ, giấc mơ về đêm là một hành động. Trong mơ mộng, những giác quan mất điều hòa, tái sinh khác hẳn. Trong mơ mộng, sự tiếp xúc của kẻ mộng mơ với thế giới thực tại vẫn thường xuyên được giữ vững. Trong giấc mơ, một thế giới giả định sẽ thay thế một thế giới thực tại. Nơi những nhà thơ lớn, sự sáng tạo được được mộng mơ nâng lên, nhưng rồi mộng mơ luôn đưa nhà thơ trở về với thực tại, và chính nhờ đó mà những yêu thuật mộng mơ mới có vinh dự thể hiện thành Thơ Ca.

THÀNH KIẾN VỀ SỰ VẬT,

Cũng có những giác quan bị ngoại giới kích thích.

Tôi tự làm cho sự vật lôi kéo mình đi ra ngoài chủ nghĩa nhân bản xưa cũ, ra ngoài con người hiện tại và tiến về phía trước,[7] Francis Ponge đã viết như thế.

Rilke từng nói rằng, những vật thể, những tiếng động, những phong cảnh nơi ngoại giới đã “ra dấu hiệu cho nhà thơ “ : Ý chí có dụng tâm gợi vẽ hùng vĩ nào đó, đã ngang qua một ngày khiêm nhường nhất. Những tin tức vô nghĩa đến mức không thể di chuyển lấy một phần mười ngàn loại định mệnh di động nhất, và đây : chúng đã làm dấu hiệu, và cậy nhờ nhà thơ sải bước tới để tiếp nối đưa chúng vào vĩnh cửu .[8]

CHINH PHỤC,

Con đường kia là con đường chinh phục. Nhà thơ theo con đường này tìm cách làm cho các giác quan thật bén nhạy. Chàng vượt lên một bước quyết định, tìm cách “nhận định những gì ở phía sau sự vật”. Chàng những muốn đem cái thực tại nơi chính mình thay thế cho cái thực tại ngoại giới và con người, nhưng chàng gắng nắm giữ những thứ đó được gần gụi và mật thiết hơn. Vào lúc nhà thơ muốn vượt cảm xúc, một hành trình trước, đây là một hành trình nội tâm mà chúng ta phải phá cách theo từng giai đoạn.

 

3. Cuộc hành hương về nguồn

Với những giác quan, nhà thơ nắm bắt sự vật, nắm bắt cỏ cây, phố phường, thanh âm, mùi vị,..Nhưng chàng không nắm bắt như một con mắt điện tử hay một máy ghi âm bí mật, mà hội nhập chúng vào với đời sống của chính chàng. Và không phóng chiếu ra để thu nhiếp cuộc sống, cuộc đời và bản thể của chính chàng trĩu nặng một thời ấu thơ, lắng đọng những ký ức tình cảm, những đam mê, do vậy nó luôn mang dấu ấn của thời gian, của sự chết, của sử lịch cuộn trào…Điều này, ở một cấp độ nào đó có thể được coi như là phần số chung cho hết thảy mọi người – Tới đây, tất cả mọi người đều được xem là thi nhân. Ở điểm “kẻ mang âm nhạc nơi chính mình” ( như lời Shakespeare đã nói ) chính là lúc trí tưởng tượng cất cánh bay lên. Không tự thỏa mãn với chính nó mà phải diễn đạt thành lời.

 

 

CON MẮT VÀ KÝ ỨC,

Người nào cũng có dĩ vãng. Có thể nói tất thảy đều là nhà thơ ở điểm mọi người đều thường xuyên sống với và sống trong những kỷ niệm của mình. Nói vậy không có nghĩa là diễn tả những hiện tượng phức tạp trong ký ức từng ám ảnh chúng ta, mà chỉ muốn nói chúng đã đem lại cho ký ức thi nhân sức mạnh và tín lực.

Ký ức của nhà thơ là một ký ức tinh tuyền tình cảm, theo ý nghĩa này thì Proust là một nhà thơ lớn. Một cảm xúc hiện tại làm tái sinh một cảm xúc trong dĩ vãng, và cả một thế giới bị vùi sâu bỗng chốc tái hiện.

Như Cadon với một mùi hương :

Như mùi mưa thủa ấu thơ
Ánh sáng tàn rụng qua mùi
Vui sao thời lên ba lên bảy
Sau chuyện buồn tênh
Được quay lại chốn nhà xưa.

 

Hoặc như Milosz với một điệu nhạc :

Lời nói nào tiết nhịp nào xưa cũ thế
Vang vang trong ta thể điệu vô hình
Tiếng chim câu một thời ấm nhĩ
Điệu nhạc còn vẳng khúc lung linh ?…[9]

Mùi thơm và âm nhạc cũng từng làm cho thi nhân nhớ lại một thời xa xưa hư ảo. Đó cũng là những đề mục phong phú nhất trong Thơ Ca hiện đại, và Nerval trong lãnh vực này cùng nhiều lãnh vực khác đã là nhà tiên phong lớn.

Có một điệu nhạc mà tôi cho là
Giá trị như tất cả Rossini, Mozart cà cả Webber cộng hợp…

Xúc cảm làm khởi phát cả một tiến trình kết hợp tưởng tượng, trong đó ta cần phân biệt những địa tầng thực tại mà một số dữ kiện của dĩ vãng hỗn hợp mật thiết với những yếu tố rất chính xác của hiện tại.

Ký ức của nhà thơ còn là một ký ức hết sức sàng lọc, biết lựa chọn trong những hình ảnh của dĩ vãng và của Thơ Ca, của hoài niệm vô cùng bát ngát trong số những ghi chú, kể từ phong trào lãng mạn đến hiện tại, và đấy là một bài thơ được đơn giản hóa và, đôi khi quá nghèo nàn.

Nhưng sự chọn lựa đã làm trỗi dậy nơi nhà thơ một sáng suốt cực độ với chính mình, điều này Rousseau từng phát biểu : Tôi chỉ nhìn thấy rõ những gì tôi hằng tưởng, và tôi chỉ có được thần trí trong hoài niệm.

Đặc biệt, ký ức bảo toàn những gì thơ mộng nhất, thân thương nhất, bền vững nhất nơi mỗi con người : đó là thời thơ ấu của chúng ta.

THỦA ẤU THƠ LÀM CHỦ,

Thiên tài, Baudelaire nói, là tuổi thơ được mặc sức sống lại.

Và Éluard tiếp lời : Tóc tôi nay đã bạc trắng, thể chất chán ngán trì trệ, nhưng tôi vẫn còn giữ được da thịt và tinh thần thơ ngây ngày nào còn chập chựng. Hai bàn tay thô ráp bè bè của tôi ngày nay che giấu đôi tay nhỏ nhắn thuở nào, khi tôi ngủ, bụng tôi co lại nhỏ xíu và mắt tôi cười tít tắp với các thiên thần, dẫu cho đó là lúc lâm chung chăng nữa. [10]

Thi nhân không là trẻ thơ – thường, không gì kém chất thơ hơn là những bài thơ chỉ viết riêng cho trẻ thơ, thi nhân chỉ trìu mến tìm lại những dấu vết của tuổi thơ mà mình đã trải qua. Việc đó được thực hiện không do trí nhớ chính xác, không do phải tường tận dĩ vãng, cũng chẳng do suy tư, mà là do mơ mộng. “ Chính trên bình diện mơ mộng – chứ không phải trên bình diện sự kiện – mà tuổi thơ tái hiện sinh động để trở thành hữu ích cho Thơ Ca. Giữ được tuổi thơ thường trực này, chúng ta mới có thể nắm bắt được vẻ nên thơ của dĩ vãng “( Bachelard ).

Tuổi ấu thơ thường trực này hiện diện thân mật nơi nhà riêng, nơi những không gian biệt lập, những vụ hè, những trò chơi, nhà trường, anh chị em, cha mẹ,..v.v…các thứ.

Nhiều nhà thơ đã nói lên niềm ngùi nhớ tuổi thơ hạnh phúc, như Villon, Marot, Racine, Hugo, Lamartine, Cadou, …Một vài nhà thơ khác lại thường quan tâm đến những trẻ em nghèo khó và nổi loạn, như Tristan Corbière, Gaston Couté,…

Có thể nói, sau Freud và Jung, không còn những chìa khóa nào khác để giải mã, không những cho con người mà còn cho tác phẩm của họ nữa. Chúng ta còn nhớ luận đề bất hũ của Freud về một kỷ niệm tuổi thơ của Léonard de Vinci và Jean-Paul Weber, nhan đề Căn Nguyên tác Phẩm Thơ Ca (Genèse de L’oeuvre Poétique), chủ trương rằng “ sự hồi niệm về tuổi thơ “ là điểm đặc thù của mọi cuộc sống tình cảm đầy xúc động, và đó là điểm khu biệt cho mọi sinh hoạt của nghệ sĩ.

“ Nghệ thuật, ông viết tiếp, xin hãy tin rằng đó là trò chơi tìm lại tuổi thơ trong nét vẽ một màu xám duy nhất của tuổi thành niên”.

Y cứ vào những phân tách của Jean Paul Sartre, của J. P. Weber đã chứng tỏ rằng sự xúc động làm mất đi tính cách thực tiễn trong vũ trụ của chúng ta, tính cách thực tiễn nơi ý thức trở thành huyền nhiệm như thuở còn ấu thơ : “ Mỗi niềm xúc cảm của chúng ta chuyển điệu, hợp tấu thành chủ đề xúc cảm tương ứng với thời thơ ấu”, Weber đã viết như vậy.

Biết được cách vận dụng những hồi niệm tuổi thơ trong ý thức của người lớn có thể soi sáng một vài trạng huống của sáng tạo Thơ Ca. Về chủ đề này, Weber đã nêu lên hai giả thuyết :

a/ Con người, khi nghe ca ngợi tuổi thơ nơi mình, thường “tự thu nhỏ” lại, tự “đơn giản hóa” để trở về với những ngọn nguồn của kiến thức cảm xúc tổng quát. Người đó có thể được sống ngợp trong một vũ trụ muốn gì được nấy. . Và do đó, Baudelaire suốt đời cứ bị tuổi thơ ám thị, đã viết một bài mà ít ai biết về “ Luận lý trong đồ chơi con trẻ”:

…Tính mau mắn đáng khen ngời sáng đặc biệt nơi trẻ thơ, lòng ham muốn, sự bàng bạc và hành động có thể nói chỉ là một khả năng nơi trẻ em, với khả năng này các em trái biệt hẳn với người lớn, họ hầu hết để thì giờ cho những đắn đo, suy gẫm nghiêm trọng…

b/ Mỗi khi xuất hiện nơi ý thức, một hay nhiều yếu tố ấu thơ, chúng ta luôn cảm thấy một niềm vui không sao tả xiết, kể cả những giờ khắc bị chìm đắm trong u sầu thăm thẳm.

Tuổi thơ, nơi thi nhân bao giờ cũng được sống lại một cách sảng khoái, thi nhân nương cậy theo tuổi thơ như một động cơ duy nhất trong sáng tạo Thơ Ca. Luận đề của Sartre về Baudelaire cũng như của Weber với những đề tài sâu sắc về Vigny, Nerval, Hugo, Mallarmé, Valléry,…xem ra vẫn còn quá máy móc ở lãnh vực này.

Ngược lại, chúng ta cũng chẳng thể hiểu được bất kỳ điều gì nơi bất cứ nhà thơ nào, nếu không thật lòng chú mục tới những gì của tuổi thơ còn sót đọng lại nơi nhà thơ đó.

TÌNH CẢM VÀ ĐAM MÊ,

Xúc cảm cho phép ta hiểu được sự vật, đồng thời vừa kích thích thể chất vừa để nhận biết chúng ta. Xúc cảm này buộc chúng ta phải lấy tích phân những vết tích vật chất mà vũ trụ ngoại giới lưu lại trên những tế bào thần kinh vi tế nhất của da thịt chúng ta. Về mặt này, cảm xúc chính là bản thể của Thơ Ca. Nhưng sự có qua có lại này, hít vào và thở ra, hấp thu và hoàn trả, đón nhận và giữ tặng,…là cả một quá trình biện chứng vang dội trong từng ý thức, làm rung động và chuyển hóa. Những cảm thức nhận được, những phô diễn hoàn trả làm vang lên ngân nga những tiếng chuông cũng khởi từ cảm xúc mà ra.

Khi mà cả giàn nhạc nội tâm bị trùm phủ bởi một hợp âm đồng nhất, lúc đó những tri giác đã biến hiện thành đam mê. Khi mà tiếng nhạc, êm đềm hay rộn rã, bất chợt đưa vị nhạc trưởng nội tâm dâng trào cảm xúc đã khiến chúng ta nhất đồng làm một với nó.

Ở trường hợp đặc biệt của người đang trong hoàn cảnh với Thơ Ca, tình cảm rúng động theo một cường độ trào dâng bốc cháy hay lụi tàn thì cảm xúc làm xáo trộn sự quân bình của nội tâm, nhưng trong mọi tâm cảnh, chút tro tàn nơi trái tim thi nhân này, cơ thể lại tái sinh một Phượng Hoàng hực hỡ.

Ngọn lửa là đám mây trong tim
Và những nhánh máu
Chúng cất lên theo điệu thể của ta
Làm tan biến hơi nước ngày đông giá mãi đọng trong ta
Dạ khúc và nỗi buồn thác lửa hãi hùng
Tự những tro bụi của niềm vui
Cái đẹp vỡ òa hoa chớm nụ
Chúng ta quày quả ngược phía mặt trời khép mắt
Như bao sắc màu ngấm lịm hoàng hôn…(Paul Éluard).

Và trong một chừng mực nào đó, sự phiêu lưu trong Thơ Ca luôn là một ngọn lửa có thể đốt cháy tất thảy, nhưng cũng từ đó chúng biến tạo ra nhiều chất than tro cốt mạch phong nhiêu. Và tình yêu, hơn cả mọi tình cảm hay đam mê nào khác, cho phép chúng ta hiểu rõ vì sao nhà thơ có thể tái sinh từ những gì đã từng đốt cháy và đôi khi, thiêu hủy chính mình nữa.

 

TÌNH YÊU, THƠ CA,

“ Tình yêu phải tạo tác lại “, Rimbaud đã tuyên hô như vậy. Toàn thể Thơ Ca chẳng qua cũng chỉ là những chuỗi biến dịch liên lĩ không ngớt của thể tài duy nhất này. Tình yêu hòa quyện với Thơ Ca vì cả hai thường song hành và sáng tạo :

Sự sôi nổi khi yêu, rơi rãi trên mặt nước bình lặng, nó không đốt cháy mà chỉ soi sáng. Cưỡng ép xác thịt là làm cho xác thịt dễ dãi, thông thường khi yêu và được yêu là bằng mọi giá vượt thiên nhiên, luôn luôn tiến nhanh tới sáng tạo. Anh hiện hữu, tôi hiện hữu, chúng ta sẽ là những gì đang hiện hữu, chắc chắn như vậy và không thể tránh khỏi. Không có ngày mai cho sấm sét, sấm sét là tương lai của hiện tại. Trong cuộc yêu đương, tất cả hiện hữu mãi mãi và chẳng còn gì hiện hữu hơn nữa. Cơ bắp khuấy động co giật là một cuộc phóng lặn tuyệt vời trong hư không, nhưng đó là một khai sinh trong suốt chuỗi vĩnh hằng của những khai sinh tự thuở ban đầu. ( Paul Éluard ).

Những dòng này có giá trị với tình cuồng dục cũng như với tình yêu cao thượng; từng chữ, từng chữ một mang nặng định nghĩa khởi hứng từ sáng tạo Thơ Ca. Trong tình yêu, nhà thơ tìm thấy sự đồng nhất trong sai biệt, phân ly trong cảm thông, vui sướng trong khổ đau, cái chết trong sự sống, sự thông minh cơ thể, không thể làm ngưng đọng sự di động của thời gian. Trong Thơ Ca, là tất cả những gì vẫn thường trực nhưng không thể nắm bắt được.

Điều này đúng cho tất cả mọi hình thái của tình yêu : tình yêu mẫu tử, tình yêu Thượng Đế, …Chúng ta đã thấy lời cầu nguyện luôn luôn không nhiều thì ít đượm chất thơ. Một vài nhà thần bí lớn từng đạt được cách diễn tả hết sức hồn nhiên tính cách sâu xa hành vi của Thơ Ca bằng cách nắm bắt và ca hát đúng với biện chứng của tự do và câu thúc, do đó Thơ Ca và tình yêu luôn hòa quyện lẫn nhau.

Cuộc họp mặt thần thánh này
Là tình yêu mà tôi muốn với
Thượng đế bị tôi giam hãm
Trong khi trái tim tôi tự do;
Nhưng tôi cảm thấy niềm mê đắm
Khi Thượng đế bị tôi giam hãm
Ôi! Ước gì tôi không bị hoại diệt…
[11]

 

NỖI ĐAU VÀ NIỀM VUI,

Quang phổ của những tình cảm và đam mê được bao phủ rộng lớn hơn nhiều bởi quang phổ của nỗi đau và niềm vui. Nỗi đau và niềm vui tự thân không hiện hữu, chúng lẽo đẽo bước theo đời ta, và chúng biến thành chính đời ta. Và Thơ Ca ở mọi niềm rung động phong phú của nó, thảy đều hoặc là lời than thở hoặc là tiếng reo vui. Mọi trạng thái Thơ Ca cho thấy những đường nét thay biến đến vô cùng của những sầu hận, buồn thương, tuyệt vọng hoặc vui tươi hạnh phúc và khoái hoạt tột cùng. Nhưng vết thương khủng khiếp nhất, sự hung hiểm ghê ác nhất trong Thơ Ca thường đưa tới sự vượt tháo, sự tựu thành, sự kiến giải :

Thoạt đầu hãy làm thơ bằng máu
Chúng ta tiêu hóa thời gian của máu
Và bài thơ thoát vụt lên khúc ca không máu
Và những gì khởi đi từ máu,
Chúng ta sáng tạo nên bài thơ…( Antonin Artaud )

Và niềm vui của nhà thơ, cũng vậy, vượt lên, hoàn tất, và biện giải cho niềm vui trần thế của con người:

Hỡi thi nhân,
Hãy bay lên sánh với cánh đại bàng
Hãy hát ca trong nguồn xám thế gian
Tôi rơi hoài trong suối ánh sáng bằng dòng thơ ngát lục,
Và Bạn cũng thế nhé…( Maiakowski ).

Tuy nhiên, để đạt tới sự hiện hữu của Thơ Ca, điều cần là những tình cảm, những niềm vui nỗi khổ phải thấu đạt đến một cường độ nhất định nào đó.

PHẢI LUÔN LUÔN SAY SƯA”,

Những nhà thơ lớn, thường là những người sống hết mình, sống tận hiến, Chính vì theo nghĩa này mà sự say sưa, đắm đuối của tử thần ( Dionysos ) cần thiết cho mọi thực tế sáng tạo, kể cả khi say sưa này phụng lập cho Thần Mặt Trời Apollon và trong trạng thái sáng suốt bén nhạy. Cần phải vượt thoát qua thời gian, mà Henri Pichette đã nói, là “lôi kéo sự chống nghịch thói quen này” để đạt tới cực điểm của chờ đợi, của kinh ngạc, của niềm vui, của tình yêu, của phi lý, của hài hước, bạo lực, hay kể cả các tình thương mến…các thứ.

Phải luôn luôn say đắm. Tất cả là ở đó, là duy nhất như vậy ! Để thoát khỏi bị thời gian đè nặng trên vai, kéo chúi lũi xuống vũng đen, ta phải say sưa triền miên. Nhưng là say cái gì ? say rượu, say Thơ Ca hay say phẩm hạnh ? Tùy thuận nơi Bạn đó thôi, nhưng là … phải say !…(C.Baudelaire ).

THỜI GIAN TRÔI ĐI, THỜI GIAN TRÔI ĐI, THƯA QUÝ BÀ”,

Nhà thơ là người có ý thức bén nhạy về thời tính : Họ còn hơn các triết gia, họ giúp ta biết cảm nhận và phân biệt những mối liên hệ phức tạp giữa thời gian khách quan với thời gian sống còn, giữa thời gian toán học với “thời gian dần trôi”. Với Thơ Ca, người ta có thể nắm bắt được cả một mạng lưới gồm những vấn đề lớn mà thời gian đặt lên cho con người : thời gian và vĩnh hằng, thời gian nhân hữu và thời gian tự nhiên, biện chứng về hiện tại bất khả, thời gian của tưởng tượng, thời gian và mệnh tính, đẩy tới tận cùng những vấn đề đó đều đồng quy về một câu hỏi cơ bản cho bất kỳ mọi loại Thơ Ca nào – dù chấp nhận hay không chấp nhận tình yêu : đó là, ý nghĩa của sự sinh diệt là thế nào ?

“ Tất cả chúng ta đều sống với sự chết, và tất cả chúng ta sống với sự chết của chúng ta “ Héraclite đã nói như vậy.

Chính vì cái ý nghĩa này mà sự chết của nhà thơ phần nào là sự chết của chính chúng ta, và là sự chết tạm thời của một thế giới. Không ai như Rilke, trong một bài thơ mà chúng tôi buộc lòng ghi lại toàn thể dưới đây, đã nói lên rằng, Thơ Ca là cuộc chiến chống trả với thời gian, chống lại cái chết mãi còn đeo đẳng :

CÁI CHẾT CỦA NHÀ THƠ,

Chàng nằm đó,
Khuôn mặt ngước lên lời lẫm liệt
Trong đám gối chăn bơ thờ mệt mỏi
Chàng bất khuất như mầu trời nhạt nắng
Và ngoại giới thức tỉnh cùng chàng
Khi các nhà thơ bị tước bỏ giác quan
Khốn đốn và bị ném trả về dòng năm tháng hững hờ.
Tất cả trôi biệt thủa sinh thời. Ai đã từng chứng kiến
Chàng từng chối bỏ các thứ
Vì hết thảy những lũng sâu, những đồng cỏ, những hồ gương,…
Hết thảy chính là khôn mặt của nhà thơ
Ôi, khuôn dung có là khoảng rộng mênh mang này
Và nó trườn về, và nó ôm siết lấy chàng để khóc than!…
Không còn,
Và mãi sẽ không còn nữa
Nét dịu dàng thay cho niềm âu lo trên khuôn mặt chàng
Và ấm áp cởi mở như trái cây ngoài khí trời trong mùa chín tới[12]

Bị ảnh hưởng bởi thời gian, bị gậm nhấm bởi hạn kỳ và sự hiện diện của cái chết, nhà thơ cũng như tất cả mọi mọi con người là một hiện hữu của xã hội, của kịch sử. Phủ nhận sự kiện này như bao người đã từng, chỉ là cô biệt, là nhốt Thơ Ca vào tháp ngà để rồi sau cùng Thơ Ca sẽ biến dị mất, vậy nên chúng tôi trộm nghĩ, hãy khép cuộc viễn du này trong cái mà người ta có thể gọi là “nội tâm gần” của nhà thơ bằng một cuộc phân tách nhanh chóng, mà trong lịch sử và trong xã hội vẫn giúp cho nhà thơ được là người của mọi người.

 

4. Lịch sử ở bên ngoài cánh cửa

Tương quan giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với con người, luôn thay đổi theo dòng chảy của lịch sử, đó là một nhàm chán. Dù muốn hay không, nhà thơ, nhà nghệ sĩ, các vị đó ý thức để rồi nắm bắt “những tâm trạng”muốn diễn đạt, tất thảy đều được chung quyết bởi xã hội, bởi lịch sử.

Ở đây, chẳng phải là vấn đề phân tích những hiện tượng phức tạp mà, kể từ Platon đến Lukacs đã là đề tài cho biết bao tác phẩm và những luận đề trái chiều nhau. Tôi chỉ đơn giản nghĩ rằng, thực là thiếu sót rất nhiều nếu chúng ta không nhấn mạnh : ngay trong hành vi sáng tạo Thơ Ca, thì hoàn cảnh xã hội và lịch sử của nhà thơ cũng đã tất yếu giữ vai trò số một rồi.

Cũng như mọi người, nhà thơ được môi trường gia đình và xã hội hun đúc hay ban phát về giáo dục, văn hóa và tôi luyện. Việc khám phá chất thơ nơi ngoại giới và ngay nơi chủ thể nhà thơ, nghĩa là có được phần nào uy quyền trên khắp cõi vạn vật cỏ cây, cũng đã khiến nhà thơ rất sớm có ý thức thật sâu xa về vũ trụ, xã hội và dòng chảy của lịch sử mà họ đang ngày ngày hụp lặn…

Với những giai cấp có đời sống xã hội dễ chịu, thoải mái, Thơ Ca có thể được xem như một trang sức phụ, một trang sức tinh tế, và nhà thơ có thể hoặc trở thành một nhà trí thức có hạng, hoặc khám phá ra thân phận con người, và qua đó, tìm thấy bản chất của đời sống. Một số nhà thơ quý tộc hay tư sản như Ronsard, Claudel và nhiều vị khác nữa, đã hướng theo con đường này. Đó là những nhà thơ có thi tứ và trí lực sung mãn, kiệt liệt, họ có trí tưởng tượng vượt thoát cũng như một tâm thế không bao giờ biết bằng lòng hay ưng thỏa.

Những nhà thơ khác thuộc giai tầng trung lưu hay tiểu tư sản thì nổi loạn. Thơ Ca giúp nhóm này khám phá ra tự do, bạo động và gầm thét. Họ bốc cháy, tỉ như Rimbaud, Baudelaire và một số nhà thơ thuộc trường phái siêu thực khác. Các vị đó cho rằng, sáng tác Thơ Ca là cách thế để phủ nhận môi trường, nghĩa là phá hủy nếp sống thường ngày nhàm chán, quen thuộc, nếp nghĩ, nếp tư duy ngôn ngữ và cả cái nhìn về thẩm mỹ theo thói quen hời hợt cũng cần biến khỏi,…Và để khởi sự, các vị ấy đành phải sáng tạo lại tất cả.

Hành trình Thơ Ca, hành trình xã hội và chính trị có thể hợp nhất lại với nhau. Lúc đó sáng tạo Thơ Ca sẽ có được một dáng dấp lý tưởng để đời sống xã hội và chính trị gắng mà noi theo. Lamartine hụt hơi ở hai bình diện này, còn Hugo cũng dần dà hòa nhập được, chỉ riêng Brecht là đã một mực chối từ :

Và tôi đã rời bỏ giai cấp tôi
Để nhận những con người làm bạn đồng hành
Những con người hèn mọn thôi.

Còn về những nhà thơ “hèn mọn”, nhiều tác giả vô danh thường tìm ở Thơ Ca một nguồn của cải, các vị này giải trừ sự nghèo khó bằng cách miêu tả nó, và sáng tác Thơ Ca là một cách trả thù, kho tàng của tưởng tượng là một bổ sung cần thiết. Cũng đành phải nói ra như vậy cho dù, khi họ quên cả thứ ngôn ngữ đã từng cho phép họ dũng mãnh cùng bước tới để tự giải phóng bằng Thơ Ca.

Sau cùng, thực là phi lý nếu trong cuộc phân tích này, chúng ta bỏ quên sự kiện rằng, nhà thơ là con người đặc biệt nhạy cảm với biến cố ; Và lịch sử tìm thấy ở nhà thơ hoặc “một chấn động vang rền” hoặc một khán giả chiến sĩ. Về phía nhà thơ thì ngược lại, có thể chạy trốn lịch sử và tự mình khép kín. Hiếm khi, Diderot đã ghi chú, biến cố khiến nhà thơ phản ứng tức thời. Cũng có một vài ngoại lệ, nhũng bài thơ do chống đối kích động chẳng hạn, ít khi là những bài thơ lớn.

Một nhận xét sau cùng, Marx đã viết : “Các triết gia chỉ làm công việc giải thích thế giới theo cách khác nhau : điều cần hôm nay là phải biến cải nó “. Vào lúc chúng ta đang đề cập đến sự sáng tạo trong Thơ Ca như một ngành hoạt động, thì tốt hơn hết là, những bài thơ cũng nên góp phần mình vào công cuộc cải tạo thế giới

 

 


[1] . Paul Claudel, Art Poétique, OEvre Poétique, Paris Gallimard, tr.165

[2] . Paul Éluard, Donner à voir, Paris, Gallimard, tr 11

[3] . B. Bachelard, L’Eau et Rêves, Paris, Corti, tr 31

[4] . Paul Éluard, Donner à voir, tr 93

[5] .Một trong những nhà thơ lớn nhất của Hy Lạp thời cận đại

[6] .Gaston Bachelard, Poétique de la Rêverie (Nét thơ của mộng mơ), Paris, P.U.F. tr. 59

[7] .Francis Ponge,Le Grand Recucil, Paris, Gallimard, tr 334

[8] .Rainer Maria Rilk, Sur le Jeune Poète, Bản dịch của Maurice Betz, Seuil, tr 334

[9] .Oscar Venceslas de Lubiecz-Milosz, les Sept Solitudes, Paris, Jouve. Tr 104

[10] .Paul Éluard, Les Sentiers et les Routes de la Poesie (Những ngõ hẻm và đường lớn của Thơ Ca), Paris, Gallimard, tr 126.

[11] .Sainte Thérèse d’Avilla, Gloses,

[12] .R.M.Rilke. Nouvelles Poésies, bản dich của Lou-Albert Lasard, Paris, Seghers, tr 51

bài đã đăng của Georges Jean


2 bình luận »

  • vuong ngọc minh viết:

    theo thiển ý, còn không thể, do nội tại, này/ nọ, góp phần mình vào công cuộc cải tạo thế giới, cũng không sao, trước tiên, hãy thực hiện, làm những bài thơ thực sự, cái đã! trân trọng.

  • black raccoon viết:

    Dù tưởng tượng mạnh đến đâu, con người vẫn có những giới hạn tự nhiên. Có những điều nghệ sĩ vượt lên được dễ dàng, có những điều không thể. Và không nên. Ở ngưỡng cửa tri thiên mệnh trở đi mà cứ vàng anh với thỏ trắng thì hỏng. Ngay ông Tây mũi lõ củng không chơi. Nhưng xem tiền như phù vân, tưởng dễ, oái oăm thay, lại chính ông Tây Picasso đã sống như vậy: Tôi thích sống như một người nghèo có nhiều tiền.

    Anthony Hopkins trong Surviving Picasso
    https://www.amazon.com/gp/product/B006R41JJY/ref=ARRAY(0xbd65bbb8)?ie=UTF8&redirect=true&tag=imdbtag_tt_pv_vi_aiv-20

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)