Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

trung-việt việt-trung (phần 20)

0 bình luận ♦ 15.10.2015

 

(Tiếp theo phần trước)

Đại Việt chúng ta hiểu Biển Đông là:

Một vùng biển có tên gọi mà trong mỗi ngôn ngữ mang một ý nghĩa khác, song hoàn toàn không có ý nói về chủ quyền. Tên gọi quốc tế của Biển Đông là Hoa Nam, từ nhiều thế kỷ trước ngụ ý biển ở phía Nam của nước Trung, vì thời ấy đó là quốc gia rộng lớn, có ảnh hưởng nhất;

Một vùng biển rìa lục địa, một phần của Thái Bình Dương, trải dài từ Singapore và eo biển Malacca tới eo biển Đài Loan đông bắc, với diện tích 3.500.000 km² gồm 12 nước, lãnh thổ có biên giới biển: đại lục Trung, Ma Cao, Hồng Kông, Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Singapore, Thái Lan, Miên và Đại Việt;

Một vùng biển có hơn 1,9 tỷ người mà 77% sống trong vòng 100 km bờ biển, trong đó – chỉ sau Trung – Đại Việt có số lượng ngư dân lớn thứ hai, đứng trên Indonesia và Philippines. Tức là ở khu vực Đông Nam Á có ít nhất 31 triệu người đang sống bằng các nghề thủy sản, chiếm 1/10 tổng lượng thủy sản đánh bắt toàn cầu với trị giá nhiều tỷ USD.

Một vùng biển lớn thứ 4 thế giới, có ý nghĩa địa-chính trị và chiến lược cực kỳ quan trọng với hải lộ mậu dịch trọng yếu và nhộn nhịp đứng thứ 2 thế giới mà mỗi năm giá trị thương mãi lên đến 5.300 tỷ USD, trong đó Hoa Kỳ chiếm đến 1.200 tỷ; và cũng là nơi thường xảy ra các vụ hải tặc kinh hoàng;

Một vùng biển có các quần đảo với những sự tuyên nhận tranh giành nhau về quyền sở hữu trên biển và các tài nguyên đã trở thành đối tượng xung đột, tranh chấp giữa nhiều quốc gia trong vùng và cả ngoài vùng (như Mỹ chẳng hạn);

Một vùng biển có: trữ lượng rất cao về dầu thô và chất lỏng, chất hydrocarbon tiềm năng, đặc biệt hơi đốt thiên nhiên (11 tỷ thùng dầu và 190 nghìn tỷ bộ khối/cubic feet hơi đốt thiên nhiên tại các vùng mỏ đã được chứng minh và khả hữu); có nguồn thủy lực dồi dào và chiếm 1/3 toàn bộ đa dạng sinh học biển thế giới.

Đại Việt chúng ta hiểu, ‘Thiên hạ vi công’ – Thiên hạ là của chung thì Biển Đông cũng vậy.

Đại Việt có bờ Biển Đông chạy dọc từ đầu chí cuối đất nước, với 28 trên 63 tỉnh, thành phố biển;

Đại Việt là quốc gia biển, và hầu hết các cuộc chiến tranh xảy ra cũng đến từ biển;

Đại Việt có Biển Đông mang tầm quan trọng hết sức lớn lao trong sự phát triển trường tồn của mình. Lúc này hơn bao giờ hết, Biển Đông là quyền lợi cốt lõi, là máu của máu người Việt, là thịt của thịt người Việt. ‘Sông có thể cạn núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi.’;

Đại Việt có tỷ lệ diện tích biển so với đất liền là 3/1; tức là vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa có diện tích hơn 1 triệu km², trong đó một nửa diện tích nằm trong vùng triển vọng có dầu khí, và trữ lượng dầu khí ngoài khơi các tỉnh miền Nam có thể chiếm 1/4 trữ lượng dầu dưới đáy Biển Đông;

Đại Việt với miền duyên hải dài 3.444 km, từ Quảng Ninh đến Kiên Giang; tức là chiều dài bờ biển so với diện tích đất liền là 1/100 trong khi trung bình của thế giới là 1/600, đứng hàng thứ 33/154 quốc gia có chiều dài duyên hải dài nhất thế giới. Tưởng cũng nên nhớ, trên trái đất có tới 47 nước nằm hoàn toàn trong lục địa (không tiếp diện với biển) và 35 nước có chiều dài duyên hải chưa đến 100 km;

Đại Việt có hơn 4.000 hòn đảo lớn nhỏ xa gần, trong đó 2 quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa, tất cả hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển;

Đại Việt có đường lưu thông quốc tế từ bắc xuống nam, đông sang tây địa cầu, nên giữ vị trí quân sự rất trọng yếu. Từ vùng biển đảo của Đại Việt có thể quan sát, kiểm soát đường hàng hải huyết mạch Đông Nam Á;

Đại Việt sẽ có công nghệ khai thác tài nguyên biển chiếm tỷ lệ quan trọng trong thu nhập quốc gia.

Trong Thế kỷ đại dương, Biển Đông sẽ là đường giao thông huyết mạch với thế giới bên ngoài của Đại Việt. Cả quốc gia đang chuyển đổi từ nền văn minh Phù sa sang văn minh Hải cảng. Tương lai, sự tồn vong của dân tộc Việt phụ thuộc rất nhiều vào biển đảo.

100 năm qua là 100 năm Tổ quốc thống nhất từ Bắc đến Nam của chúng ta hầu như thường xuyên phải chống chọi với kẻ thù ngoại xâm mà tất cả đều là các cường quốc lớn nhất thế giới. Đã sắp tròn 40 năm thoát khỏi cuộc chiến tranh ác liệt và dai dẳng nửa thế kỷ, song Tổ quốc thân thương với mỗi con dân Việt vẫn chưa thể ngẩng cao đầu trước một cuộc sống hạnh phúc và bình thường cho mọi công dân. Chúng ta chỉ có hơn một thập niên sau năm 1993 tạm được yên biên cương bờ cõi.

Để tái thiết giang sơn, chúng ta vô vàn mong muốn hòa bình và chung sống hữu hảo với tất cả nước trong khu vực – trong đó tất nhiên Trung là quốc gia quan trọng nhất, gần gụi nhất. Nhưng, chúng ta càng khiêm nhường, bọn bành trướng Trung càng lấn át, chúng ta càng hữu nghị càng bị chèn lấn.

Nay, tàu chiến địch đã kéo đến chặn ngang cửa ngõ sơn hà với lời khiêu chiến phi lý và phi nhân. Thời điểm bắt buộc toàn thể dân tộc phải đáp trả xứng đáng trước kẻ xâm lăng đã đến!

Đại Việt làm sao có đủ vũ khí, khí tài, phương tiện hải quân để chống trả Trung trong cuộc chiến không cân đối này? Câu hỏi không mới. Và lời đáp càng không mới, ngay trong thời đại chiến tranh vi tính. Khi chưa lâm trận, vũ khí tốt nhất của chúng ta luôn là ngoại giao, là luật pháp quốc tế, là chính nghĩa. Khi buộc phải xung trận, bằng máu thịt bao thế hệ, chúng ta hiểu không thứ vũ khí nào, dù chiến địa hay chiến hải, có đủ ưu thế để chống ngoại xâm bằng Vũ khí lòng dân, bằng Đội quân nhân dân. Kẻ xâm lược phải ‘chết’ ngay khi gặp vũ khí đó, đội quân đó trước khi bị chết thực sự trong bàn tay của mỗi chúng ta.

Suốt 4.000 dựng nước và giữ nước Đại Việt, vũ khí không quyết định thắng thua trong chiến tranh, không là thế mạnh quân sự của dân tộc Việt. Chúng ta có Hội nghị Diên Hồng bất tử dựa trên nền tảng văn hóa đình làng coi trọng giá trị tập thể và truyền thống. Chúng ta đang có nền khoa học quốc phòng hiện đại dựa trên truyền thống yêu nước và ý chí chống ngoại xâm thông qua hành động: ‘Giặc đến nhà đàn bà phải đánh’, ‘Còn cái lai quần cũng đánh’, ‘Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu thần trước đã’, ‘Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách’, “Không thành công cũng thành nhân’, ‘Trường kỳ kháng chiến, nhất định thắng lợi’, ‘Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh’…

Thế nhưng, cũng bằng máu thịt bao thế hệ, chúng ta đã hiểu những lần dân tộc bị ngoại bang chinh phục và nô lệ đều tại bởi đất nước ta đã bị kẻ xâm lăng lợi dụng, chia rẽ người Việt với người Việt. Hơn lúc nào hết, kẻ thù phương Bắc lại đang rình rập chúng ta từng ngày từng tháng, chỉ chờ nội bộ Đại Việt biến động là ào ạt kéo thủy-lục-không quân xâm chiếm bằng chiến tranh tổng lực, quy mô lớn theo mọi hướng đất mọi đường biển mọi khoảng không.

Dù ở đâu trên bốn biển năm châu, dân Việt luôn coi đất Việt trời Nam hình chữ S là quê hương duy nhất. Người Việt chân chính sẽ không lợi dụng Tổ quốc lâm nguy để chống phá nhau chỉ vì quyền lợi phe phái, mưu đồ cá nhân…

Gây chiến tranh là quyền của kẻ xâm lược. Nhưng liệu họ có rút được chân ra khi đã sa lầy vào cuộc chiến tiêu hao sinh lực và dai dẳng, đó là quyền của chúng ta.

*

Nhiều bình luận gia chiến tranh của phương Tây đã tiên lượng:

Rằng địa dư chính là lợi thế của Đại Việt. Đội tàu nhẹ và các tàu ngầm Kilo trang bị tên lửa của Đại Việt có thể tấn công bất ngờ và rút lui dễ dàng về quân cảng, còn hạm đội Trung càng lớn khi bị tấn công càng trở nên mạo hiểm trên biển cả lênh đênh;

Rằng Đại Việt có nhiều quân cảng, hải cảng hiện đại và lý tưởng trong đó Cam Ranh là tiêu biểu: không có đá ngầm; có núi bọc quanh nên ngoài khơi bão lớn trong vịnh chỉ gợn sóng; khe hở giữa các dãy núi sẽ là cửa dẫn chiến hạm vào ra, khi cần đi ra tấn công, nếu không thắng rút về cố thủ; ngoài cửa quân cảng là các hàng rào thủy lôi chống chiến hạm địch, trên bờ biển các ổ phòng không bao quanh.

Rằng Đại Việt không phải quan ngại khi so sánh với Trung về số lượng, chất lượng tàu chiến, máy bay, vì binh pháp chiến thuật du kích trên biển khơi vẫn hoàn toàn hiệu dụng, nhất là bằng các lữ đoàn Đặc công nước thiện chiến ‘ngoài sức tưởng tượng’ như ca tụng của chính cựu thù Mỹ;

Rằng các trang bị mới của hải quân Đại Việt sẽ hiệu quả; như chiến hạm lớp Gepard, Molniya đủ tung lực lượng ra Biển Đông; tàu ngầm Kilo có thể phá hoại đội tàu của Trung bằng nhiều cách khác nhau, bởi năng lực chống tàu ngầm của Trung còn kém cỏi…

Rằng Đại Việt, với tinh thần và binh pháp Lý Thường Kiệt, còn có năng lực tấn công căn cứ hải quân chủ lực của Trung tại Tam Á, đảo Hải Nam cùng các cơ sở quân sự trên đảo Phú Lâm ở Hoàng Sa; cũng như tấn công uy hiếp bằng tên lửa các thành phố lớn ven biển phía Nam của Trung.

Rằng một chiến lược hải chiến phi cân xứng, cùng việc liên minh đúng lúc với các đối thủ của Trung sẽ đặt Đại Việt vào vị trí tốt trong cuộc xung đột vũ trang tới đây.

Có vị giáo sư quân sự Úc còn chi li tính đếm, nhận thấy hệ thống vũ khí, thiết bị hải quân Đại Việt đã và sắp mua sẽ có thể bắt Trung phải trả giá cực đắt, nếu Trung gây chiến dọc theo bờ biển Đại Việt trong khu vực 200-300 hải lý.

Lại có ba vị đô đốc Nga, Mỹ và Ấn cùng xác quyết nếu tấn công Đại Việt, quân đội và hải quân Trung chắc chắn sẽ đại bại, bởi chỉ cần một yếu tố mà Đại Việt thủ đắc: quân cảng Cam Ranh!

Bởi vì quân cảng Cam Ranh là một trong những quân cảng vào loại tốt nhất, quan trọng nhất trong vùng Châu Á – Thái Bình Dương, mà ngay từ chiến tranh Nga-Nhật 1905 nó đã có thể tiếp nhận hạm đội mạnh nhất thế giới thời đó là hạm đội Baltique của Sa Hoàng với 40 tàu hải quân;

Bởi vì quân cảng Cam Ranh thuộc về vịnh Cam Ranh – một trong ba cảng biển nước sâu tự nhiên tốt nhất thế giới (hai cảng kia là San Francisco, Mỹ và Rio de Janéro, Brazil). Diện tích mặt nước của vịnh hơn 100 km2, chiều rộng khoảng 5-6 km, chiều dài 15 km và độ sâu trong vịnh trung bình 16-25 m (sâu nhất là 32 m), tại cửa vịnh đạt độ sâu khoảng 15-20 m. Vịnh gần như đóng kín bởi bán đảo Cam Ranh từ phía bắc chạy phủ kín phía đông và tây còn phía nam là đất liền, vịnh chỉ mở ra một cửa lớn như cánh tay ôm lấy và tạo nên vành đai trên mặt nước; vì thế có thể tiếp nhận đồng thời nhiều hạm đội, tàu chiến, tàu ngầm và các tàu trọng tải hơn 100.000 tấn vào ra dễ dàng bất cứ khi nào (tàu 200.000 tấn đậu ở ngoài cửa vịnh). Về địa chất biển, đáy vịnh gần như bằng phẳng được cấu tạo bằng cát pha bùn khá chắc, tiện lợi vô cùng khi thả neo. Vịnh được bán đảo bao che kín gió nên rất tốt lành khi tàu thuyền trú bão. Phía ngoài vịnh lại có một số đảo, cù lao án ngữ, có các dãy núi khoảng 300-400 m vây quanh với các điểm cao thuận lợi cho hệ thống đèn biển, ra-đa;

Bởi vì vịnh Cam Ranh mở ra cả vùng Biển Đông, cách 1.110 km đến Hồng Kông và Manila, 1.123 km đến Singapore. Với các giàn tên lửa phòng không tại đây và những cao điểm xung quanh, toàn bộ hai eo biển Malacca và Singapore đều nằm dưới tầm hỏa lực;

Bởi vì vịnh Cam Ranh cho phép triển khai hệ thống giám sát điện tử kiểm soát toàn bộ khu vực bắc Ấn Độ Dương, vịnh Persia, biển Hoa Đông và Biển Đông. Tất cả tàu ngoại quốc cỡ lớn đi Trung, Nhật hoặc từ đó quay về cần dừng lại ở Đại Việt từ vịnh Cam Ranh để nhìn rõ hải đăng ở mũi Padaran;

Bởi vì quân cảng Cam Ranh rất cơ động cho tàu chiến, máy bay chiến đấu, tàu ngầm và các phương tiện tác chiến khác cùng hoạt động: chỉ cách đường hàng hải quốc tế 1 giờ tàu biển (còn cảng Hải Phòng cách những 18 giờ);

Bởi vì quân cảng Cam Ranh ‘khó công dễ thủ’, như pháo đài tự nhiên lý tưởng, như đồn phòng vệ của Thái Bình Dương, chứa được đồng thời nhiều phi cơ chiến đấu, phi cơ vận tải, tàu chiến, tàu ngầm và các phương tiện chiến tranh khác, nhất là có thể chứa hàng vạn thủy quân lục chiến, có thể cùng neo đậu 40 tàu chiến cỡ lớn, kể cả tàu sân bay;

Bởi vì quân cảng Cam Ranh không chỉ ưu thế vượt trội về hải quân mà còn ưu điểm về không quân và lục quân: phía tây nam là tuyến phòng thủ Tây Nguyên, phía nam là cửa ngõ Sài Thành. Lực lượng không quân và tăng thiết giáp sẽ biến Cam Ranh thành một pháo đài bất khả xâm phạm. Từng có không ít thời điểm tại phi trường Cam Ranh tần suất hạ cánh và cất cánh cao nhất thế giới;

Bởi vì vịnh Cam Ranh, từ trăm năm nay đều được hải quân các cường quốc coi là ‘trung tâm dịch vụ hậu cần’ quan trọng, vừa có lợi thế tự nhiên cho quốc phòng vừa sát kề tuyến đường vận tải biển quốc tế tấp nập;

Bởi vì quân cảng Cam Ranh cho phép kiểm soát hoàn toàn 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, để có thể tạo tin tưởng về khả năng Đại Việt giành lại Hoàng Sa và Gạc Ma (Trường Sa) bằng quân sự: chỉ cách Hoàng Sa 470 km, Trường Sa 600 km, các máy bay Su-27, Su-30 từ đó bay ra 2 quần đảo với thời gian ngắn, bảo đảm tuần tra biển đảo và lâm chiến. Ngay hiện nay dù với phương tiện kỹ thuật còn khiêm tốn từ quân cảng này Đại Việt vẫn kiểm soát một vùng Biển Đông tương đối rộng;

Chính thế, truyền thông Trung từ lâu cứ ghen tị: ‘Dường như tìm kiếm cả châu Á cũng không thể thấy quân cảng nào ác hiểm và đặc sắc như quân cảng Cam Ranh. Khi các cường quốc ngày càng tiến vào sử dụng hải cảng này, Đại Việt cảm thấy tự tin hơn trong các đàm phán với Trung về biển Nam Hải’;

Chính thế, báo chí Mỹ đã reo lên ngay trong chuyến thăm Cam Ranh năm 2012 của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Panetta: ‘Ai chiếm được vịnh Cam Ranh, người đó sẽ chiếm được một nửa đất nước Trung, sẽ được kiểm soát tuyến đường hàng hải huyết mạch Á-Âu! Ở vị trí bá quyền thế giới, Mỹ phải chiến thắng Nga: hải quân Mỹ phải được đóng ở Cam Ranh!’ Còn chính đương sự tuyên bố: ‘Một ngày lịch sử của Mỹ đang đến: Tôi, Liev Panetta, Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ thăm vịnh Cam Ranh kể từ sau cuộc chiến tranh Mỹ-Việt cáo chung năm 1975!’;

Chính thế, hiện nay trong vịnh có quân cảng Cam Ranh như là căn cứ quân sự của hải quân Đại Việt – nơi neo đậu, trực chiến của các tàu ngầm, tàu chiến mặt nước, tàu hàng, tàu khách, thủy phi cơ… Đây cũng là đại bản doanh của Lữ đoàn 189 Tàu ngầm thuộc Quân chủng Hải quân, Bộ Tư lệnh Vùng 4 Hải quân;

Chính thế, cư dân mạng đồn rằng có thể ngoài quân cảng Cam Ranh, vịnh này có còn một ‘căn cứ quốc phòng tuyệt mật’ của Đại Việt; rằng trong vịnh ẩn náu một đường hầm rất sâu đủ để chứa vài cái tàu ngầm nguyên tử; rằng biết đâu ở đó ‘quân ta đang bí mật sản xuất vũ khí siêu hiện đại’; rằng trong tương lai không xa Cam Ranh là át chủ bài, là bùa hộ mệnh của Đại Việt để giữ chủ quyền biển đảo;

Chính thế, Sách Trắng Quốc Phòng cho biết: đến năm 2030 hải quân Đại Việt có khả năng kiểm soát toàn bộ Biển Đông và đến năm 2050 có khả năng vươn tới biển xa; trong chiến lược đó Cam Ranh không thể nào vắng mặt.

Vâng, chúng ta ghi nhận nhiều đánh giá từ các chuyên gia ngoại quốc về quân cảng Cam Ranh.

Vì quân cảng Cam Ranh hiện nay đã góp phần quan trọng với an ninh Đại Việt, duy trì hòa bình ổn định các nước trong khu vực và thế giới;

Vì quần đảo Trường Sa tạm thời vẫn an toàn khi được quân cảng hộ vệ. Còn Trường Sa, còn Cam Ranh thì chúng ta hoàn toàn vững tin một ngày nào đó Hoàng Sa và phần còn lại của Trường Sa sẽ phải trở về với mỗi người dân Việt đang đêm ngày hướng ra biển cả ngóng chờ. Hải cảng Cam Ranh mãi mãi phải là bờ bến yêu thương nối kết đất Việt với Hoàng Sa-Trường Sa tạo nên một hình chữ S hoàn chỉnh có đất liền có biển đảo.

Vì một khi kinh tế Đại Việt phát triển hơn nữa, chúng ta sẽ xây dựng vịnh Cam Ranh thành một hải cảng quân sự bậc nhất trong hành lang bờ tây Thái Bình Dương.

Tựu trung:

Theo giới quan sát phương Tây, Bắc Kinh phải tính toán trước khi quyết định thách thức vũ lực với Đại Việt, khi mà Hải quân Đại Việt hiện đã có được các loại vũ khí đặc trị chống Hải quân Trung, cộng thêm yếu tố địa lợi và quân cảng ưu việt, sẽ tăng giá trị răn đe và phòng thủ quốc phòng đối với Trung, cũng như sẵn sàng giáng trả tàu chiến Trung những tổn thất kinh hoàng.

Nhưng, hơn ai hết chúng ta tự hiểu rằng những vũ khí hiện đại đó chỉ là bước tiến lớn của chính chúng ta so với trước đây không lâu. Trên mặt bằng chung của nền quân sự thế giới và nhất là trong nhu cầu thiết thực của mình, trang bị vũ khí Đại Việt còn rất khiêm tốn.

Cuối cùng vẫn là yếu tố con người: các sĩ quan và thủy thủ của Hải quân Đại Việt là những chiến binh đã coi ‘Đảo là nhà, biển cả là quê hương’, nay nguyện ‘Sống bám biển đảo, chết hóa biển đảo, thành bất tử’!

IV.

Hỡi đồng bào và chiến sĩ Việt,

Suốt 7 thập niên qua, với lần thứ nhất vào năm 1946, người Trung từng 6 lần xâm chiếm biển đảo của Đại Việt trong khi đất nước ta ở các thể chế chính trị khác nhau.

Tại từng thời kỳ Đại Việt có những phương cách, sách lược khác nhau.

Trận chiến lần thứ 7 này có thể sẽ phải sống mái sinh tử!

Cuộc kháng chiến giữ biển cứu nước thần thánh chống tập đoàn phản động Trung xâm lược, bảo vệ Tổ quốc Việt có thể sẽ diễn ra quyết liệt ở các tỉnh duyên hải miền Trung, thậm chí cả Hải Phòng.

Nhưng, dải đất hình chữ S mang trên mình 28 tỉnh thành có bờ biển sẽ phải được vững như kiềng ba chân Bắc-Trung-Nam.

Ức triệu người như một, nhất tề đứng lên cùng hướng ra biển khơi chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Cả nước, từ quốc nội đến hải ngoại, đoàn kết đồng tâm dành tất cả nhân lực và vật lực cho tiền tuyến Biển Đông sẵn sàng hy sinh quên mình.

Chúng ta sẽ đánh thắng hoàn toàn trận chiến xâm lược đại dương của bọn bành trướng và bá quyền Trung Nam Hải!

Trời Nam biển Việt – độc lập, tự do và hạnh phúc muôn năm!

Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải lấy lại chủ quyền cho Biển Đông!

Ban lãnh đạo tối cao Đại Việt

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản, Bí thư Quân ủy Trung ương Nguyễn Phát Trọng

Chủ tịch Nước, Thống lĩnh các Lực lượng vũ trang Trương Tiến Sang

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tiến Dũng

(Còn tiếp)

bài đã đăng của Đỗ Quyên


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch