Trang chính » Chuyên Đề, Sáng Tác, Tôn Giáo trong Văn Chương/Nghệ Thuật, Truyện ngắn Email bài này

ĐÊM HOÀ ĐỒNG

Hòa Đồng, tên cũ của huyện Gò Công Tây thuộc tỉnh Tiền Giang; ấy tuy nhiên ông Tư vẫn ưa địa danh cũ, chỉ một cái tên Hòa Đồng là thân thuộc với ông từ thuở ấu thơ. Hòa Đồng và chùa Da Lươn và chợ Dinh và rắn rít và những đêm Hòa Đồng…
Đêm tối bưng, như thể đôi chưn tự tìm lối đi. Ông Tư khởi từ nhà vị chủ nhơn giàu có ở giữa lòng huyện lỵ trở về chợ Dinh, qua lối ruộng đường đất hẹp mấp mô. Hồi chiều vị chủ nhơn giữ ông lại, bữa tiệc linh đình mà thực khách thưa hơn gia nhơn phục dịch. Bữa tiệc tới tối chưa tàn, ông Tư uống rượu gắng cầm mình, cũng muốn say. Chủ nhơn từng chịu ơn ông Tư cứu mạng lần bị rắn hổ cắn.
Một đám sáng đột khởi giữa hư không, ông Tư ngó hình thù kỳ dị của chùa Da Lươn nổi lên, thoáng nhớ cậu trai trẻ Hai Huynh, trìu mến như nhớ đứa con ông chưa hề có. Trên lối ruộng, giữa bóng tối và những cơn gió réo từng chặp, như lẫn tiếng hút gió , không ai mà chẳng e đạp nhằm con rắn. Ông Tư đứng khựng, trong luồng gió đưa tới, mùi của một món xào nấu độc địa: loài rắn hổ lông đang được làm thịt. Không do dự, ông băng ngang ruộng, đi thẳng hướng tay mặt, tắp xa có ánh lửa chấp chới. Bọn trai trẻ thấy ông Tư hiện ra trong ánh lửa của mấy cành khô chụm đun, cùng reo lên, chào mời ông ở lại nhập bữa thịt rắn giữa đồng, bên ngôi mộ xây mới quét vôi. Ông Tư nói muốn như quát:
– Mấy người tính xuống thăm âm phủ sao đó?
Ông Tư đòi coi cái đầu rắn. Cái đầu rắn loe loét máu gói trong lá bông súng. Phơi ra ánh lửa, ông chỉ cho cả bọn đang kinh ngạc, sợi lông trong mũi con rắn. Ông Tư day nhìn từng người, nói:
– Đây là rắn hổ lông, hiếm thấy lắm. Đứa nào bắt được nó?
Lại là Hai Huynh. Anh ta nhiều phen bắt rắn. Khi chụp đuôi rắn, khó thấy con rắn dài tới đâu, rồi tới đâu là cánh tay Hai Huynh. Nói vầy, ý tả cánh tay Hai Huynh uốn lượn tài tình, rắn day đầu mổ không đặng. Bọn trai trẻ rùng mình nghe tiếng ông Tư:
– Ăn thịt rắn hổ lông… chết không kịp trối!
*
Ông Tư về tới nhà thì đã khuya lắm. Tịnh không tiếng chó sủa nơi chỉ có mỗi cái nhà trong đám cây um tùm giữa đồng. Từ con lộ thẳng tới chợ Dinh, nửa chừng có lối quẹo vô phía tay trái, ban đêm chỉ riêng vợ chồng ông Tư thấy đặng, mà không phải bằng mắt nữa. Dẫu một đêm trăng, lối mòn nhỏ hẹp ngoằn ngoèo, hiện ra dứt tỏ giữa hai bờ cỏ dại.
Chấm sáng vàng của chiếc đèn hột vịt le lói trong song cửa để mở, như con mắt đau yếu mỏi mòn trông đợi. Ông Tư ho khẽ mấy tiếng khi đẩy cánh cửa, cho người vợ biết không phải trộm đột nhập. Tiếng người vợ trong buồng vọng ra:
– Thằng Hai Huynh biên giấy gì cho ông đó.
Tờ giấy đó, một góc được chặn dưới cái điếu cày của người bạn quê miền Bắc tặng ông. Rút tờ giấy, ông vặn tim đèn lên cao, soi tờ giấy sát gần. Hai hàng viết theo lối chữ in hoa:
MỜI CHÚ TƯ DỰ ĐÁM CÚNG CHAY Ở CHÙA
ĐỢI CHÚ LÚC 9 GIỜ, QUÁN ANH BA THIỆT. HAI HUYNH KÍNH MỜI
– Nó mời dự đám cúng ở chùa, chớ gì đâu.
Tiếng ông vang lên giây lát trong căn nhà. Ông ngồi xuống, ngả lưng trên ghế, mạch máu hai bên thái dương giựt giựt, ông nghe nhức đầu, chừng thấm men rượu bữa tiệc. Vói tay lấy điếu cày, ống đóm chỉ còn mẩu que cụt lủn, ông cầm lên rồi thả xuống. Ông coi lại tờ giấy có hai hàng chữ như bức điện tín, thầm khen Hai Huynh viết đẹp, hơi lưỡng lự, ông gấp tờ giấy cho hẹp khổ giống que đóm, châm lửa hút thuốc. Như một ông già miền Bắc, ông ưa hút thuốc Lào.
Điếu thuốc làm ông ngây ngất, sau đó ông thấy khoảng khoát, không nhức đầu hay say rượu nữa. Có tiếng như vợ ông động đậy gì. Rồi cái im lặng xóa sạch, chỉ còn một cõi đêm khuya vắng khi ông bước ra sân. Ngó hồi lâu, bầu trời đêm như đám bụi đen đặc loãng dần, và do vậy sáng ra chút ít, nhưng cái biển trời minh mông ấy phải chịu mờ tối trong làn sương xám sậm. Ông Tư nghe mùi thơm của lá sả. “Chắc hồi chiều ai tới lấy sả ướp thức ăn,” ông nghĩ. Ở nhà chẳng khi nào ướp sả nấu nướng, vợ ông không chịu mùi ấy. Ông trồng sả quanh hàng rào cho vợ yên tâm chuyện rắn rít bò tới, chúng kỵ mùi sả. Cũng không cần dè chừng trong góc tối nhà ông đột ngột con rắn ngóc cao đầu, hoặc trên xà nhà rắn buông thõng đầu ngó xuống. Ông không nuôi giữ loài vật này như nhiều thầy rắn. Ông cũng chưa từng dặn dò bịnh nhơn bằng câu nói như thần chú: Làm như vầy… như vầy… ắt đặng. Chẳng qua ở đây có nhiều bà con bị rắn hại, mà ông ngày trước là con nuôi thầy rắn ở Mộc Hóa, chẳng học cũng như học được nghề thầy rắn.
Ông Tư lại nhớ tới Hai Huynh, cậu trai khôi ngô sáng dạ, thầy Hoa Lư xin cha mẹ anh ta từ nhỏ, về cùng thầy lập chùa tại Hòa Đồng. Hai Huynh gặp ông Tư chưa từng hỏi cặn kẽ nghề bắt rắn. Anh ta lẳng lặng bắt hàng chục con rắn bò vô nhà bà con cắn chết gà, vịt, ngỗng, cắn cả người. Anh ta mến ông Tư, hỏi thăm tới nhà, gặp ông ngồi giữa đám khói thuốc trắng như mây, biểu: “Thầy giống vị đạo sĩ!” Lúc nào Hai Huynh cũng xưng “con” và kêu ông bằng “thầy,” ngoại trừ bức điện tín này, anh ta viết là “chú,” xưng trỏng là Hai Huynh.
Ông Tư thấy buồn ngủ, vô nhà, khép cửa lại, luồng gió lùa theo mùi lá sả bị bứt ngang.
*
Thầy Hoa Lư lập ngôi chùa Da Lươn, ban sơ cũng giống như bà con dựng nhà để ở. Thầy đi tứ xứ nhiều năm, về lại Hòa Đồng, người ta chỉ biết rằng thầy xuất gia từ bao giờ rồi, có cả đệ tử về theo, cậu bé tên là Hai Huynh, chín, mười tuổi gì đó. Thầy là người tu hành, nên ngôi chùa nghiêm chỉnh bây giờ có phân nửa tiền bạc công sức của bá tánh. Chỉ Hai Huynh biết tên chùa Da Lươn vốn do bà con nghe trật từ tên của thầy mình, có người lại ngỡ mấy dãy lu quanh chùa đựng nước mưa, lớp men màu da lươn, nên tên chùa như vậy. Thầy Hoa Lư siêng làm ruộng, dạy Hai Huynh sớm biết việc đồng chớ chưa vội học kinh kệ. Bây giờ Hai Huynh cáng đáng hết thảy mấy công ruộng của chùa, vẫn chưa xuống tóc. Những quyển kinh Phật nằm trong tủ kiếng gỗ gõ bóng ngời, thầy Hoa Lư vẫn khóa chặt.
Mỗi khi muốn hiểu về đạo, Hai Huynh được thầy giáo Nhi giúp đỡ. Thầy giáo Nhi ở Mỹ Tho tốt nghiệp sư phạm về dạy trường cấp ba của huyện Hòa Đồng, thầy giáo ngụ trong nhà người bà con tại huyện. Thầy giáo lớn hơn Hai Huynh vài ba tuổi, vóc dáng như cậu công tử, đọc sách nhiều, lại chịu chơi, thường không thiếu thầy giáo trong những bữa nhậu của đám trai trẻ. Thầy Nhi biểu Hai Huynh:
– Anh có thiên tư tốt, tiếng nhà Phật là lợi căn. Tôi là… người liễu ngộ.
Hai Huynh thấy thầy Nhi hiểu biết nhiều, chắc “liễu ngộ” là người như thế, tuy vậy vẫn hỏi lại thầy Nhi. Thầy giáo xác nhận:
– Đúng vậy! Liễu ngộ là hiểu biết rõ. Tôi đọc kinh sách nhà Phật hơn mười năm rồi… Tôi hiểu hết Bát nhã Ba la Mật đa tâm kinh… Pháp bảo đàn kinh…
Thầy giáo còn biểu mình là Khương Tử Nha trong sách Phong Thần. Hai Huynh nhìn nhận thầy Nhi thiệt bác học, nhưng anh Ba Thiệt lại biểu:
– Ông thầy giáo đó là con mọt sách, chớ bác học cái gì.
Ở dọc lối hành lang tịch mịch hẳn, trong lúc ngoài sân tiếp giáp hậu liêu, bà con chộn rộn chuẩn bị đám cúng cầu siêu cho một người quá cố. Hai Huynh chậm bước, nghĩ về ông Tư, lòng tràn đầy cảm mến… Anh ta chợt nhớ anh Ba Thiệt nói:
– Ông thầy giáo Nhi ưa cao đạo… Uống rượu, ổng làm bộ ơ hờ gắp mồi. Mà tao biết ổng đã ngó lướt khắp, rồi như chẳng để ý, gắp đại một miếng, luôn trúng miếng ngon nhứt! Ổng lại làm bộ hươ hươ miếng đó mời người khác, rồi đành bỏ vô chén của ổng!
Hai Huynh nói:
– Tui hổng biết chuyện đó!
– Mầy biết sao đặng! Còn mải mê nghe ổng nói chuyện thầy Huyền Trang đời Đường sang Tây Vức thỉnh kinh…
Hai Huynh nhăn mặt, nói:
– Tui cũng thấy khó hiểu thầy Nhi, không cảm mến ổng bằng thầy Tư.
Anh Ba Thiệt ngó trừng Hai Huynh, gằn tiếng:
– Mầy dám sánh thằng chả với ông Tư? Ông thầy rắn là người đạt đạo… gì nhỉ… an nhiên tự tại như mầy nói đó.
Hai Huynh quý mến anh Ba Thiệt như anh hai của mình. Anh Ba Thiệt biểu:
– Tao thương mầy nhứt ở đây. Ngặt mầy sớm muộn cũng làm thầy chùa, chớ không thì cùng tao lập nhóm thám tử… như hãng bảo hiểm bên xứ Anh-cát-lợi.
Hai Huynh từng nghe giấc mộng thuở mới lớn của anh Ba Thiệt, được sang xứ Anh-cát-lợi học trường thám tử Xicốtlơn Di-a…
*
Anh Ba Thiệt nằm chữa bịnh ở Bịnh viện Hòa Đồng hơn một tuần, trở về thì ông Tư đã được chôn cất xong xuôi. Người ta giam giữ Hai Huynh ở thị xã Gò Công. Anh Ba Thiệt không nghĩ mình bị ám bởi hình ảnh chàng thám tử Xicốtlơn Di-a, lương tâm của người ngay bắt anh tìm ra lẽ… Ông Tư từ hồi nào cứu người không biết mệt, con dê con bò cũng nhìn ra ông là người hiền, ai ghét mà thù ông cho đặng? Đời có đảo điên, thì cũng không thể là Hai Huynh trong đó… Chị Ba Thiệt biểu:
– Bà Tư nói, ổng tới chùa dự đám cúng chay thằng Hai Huynh mời, trên đường đi ngang ruộng bị hại. Ổng bị bỏ rắn vô mình, nó cắn ổng chết… Bà Tư biểu, chỉ thầy rắn mới hại được ông Tư bằng rắn… Ở đây ai dám giữ rắn ngoài Hai Huynh?
Anh Ba Thiệt nhíu mày, giận dữ nói:
– Thằng Hai Huynh khác chi con ổng… Hai người thương nhau như cha con, nó lại hại ổng?
Chị vợ vừa lườm mắt vừa mỉm cười, nói:
– Ông đi mà điều tra! Người ta biểu Hai Huynh ganh tài bắt rắn với ông Tư.
– Hổng tin được. Rắn cũng không cắn chết đặng ông Tư.
Chị vợ phân tích:
– Rắn không cắn chết nếu ông Tư không bất tỉnh… Ổng bị đập bất tỉnh sao đó, rồi bị thả rắn cắn.
Anh Ba Thiệt ngó thẳng mặt vợ, hỏi:
– Cô cũng tin thằng Hai Huynh hại ông Tư?
– Tui hổng tin gì ráo, người ta biểu vậy… Mà lãng nhách, ông nhọc công làm gì? Thằng Hai Huynh tự động đưa tay chịu còng mà.
Anh Ba Thiệt ngạc nhiên hết sức… Rồi không còn dấu vết ngạc nhiên nào trên gương mặt, anh nhớ tới Hai Huynh thường nói tới kiếp trước, kiếp này… thiện báo, ác báo… Cũng từ ông thầy giáo thuyết giảng… Anh sững người hồi lâu chợt đứng dậy như sắp đi, nói với vợ:
– Tui biết ai ám hại ông Tư rồi!
Trong đầu anh Ba Thiệt hiện ra vẻ mặt không bình thường của thầy giáo Nhi, bữa anh gặp ngoài Hòa Đồng, lúc chập tối… Anh đi mua chai nước biển ở tiệm thuốc Tây mang vô bịnh viện. Anh hỏi thầy giáo đang cầm bó sả:
– Thầy lấy sả ướp món nhậu?
– À… mấy đồng nghiệp ở trường tổ chức… không có sả, tôi phải về nhà thầy rắn.
Anh Ba Thiệt từ lâu hồ nghi thầy giáo có quan hệ thầm lén gì đấy, nghe vậy hỏi lại:
– Về tận nhà bà Tư lấy sả?
Anh Ba Thiệt nhìn ra vẻ mặt bối rối, cùng giọng nói của thầy giáo Nhi:
– Không phải… Nhà ông Tư xa quá… Tôi lấy sả ở nhà người quen, gần đây thôi.
Ngồi lại trên ghế, anh Ba Thiệt thấy chuỗi dây rối đã được dàn ra… Ông thầy giáo khả nghi này dan díu với vợ ông Tư, âm mưu cùng người đàn bà, tạo nghi vấn hung thủ sát hại ông Tư là Hai Huynh. Can chi Hai Huynh mời ông Tư dự đám cúng cầu siêu của ai đó?… Tại sao thầy giáo Nhi bối rối cải chính , rằng không lấy sả nhà ông Tư? Đúng vào buổi chiều ấy, họ bàn tính kế hoạch chớ gì?
Anh Ba Thiệt nói với vợ điều anh suy xét. Chị vợ biểu:
– Bà Tư có trình mấy ông xã đội tờ giấy Hai Huynh biên, mời ông Tư tới chùa Da Lươn. Tờ giấy ông Tư châm lửa đặng hút thuốc Lào, cháy còng queo chớ không rụi.
Anh Ba Thiệt lại vụt đứng dậy, nói lớn tiếng:
– Đúng là âm mưu! Tờ giấy đốt rồi còn cục than mỏng dánh còng queo, chớ còn thấy chữ gì?!
Chị vợ tới bên chồng, muốn dắt vô nhà sau:
– Ông mới hết bịnh, vô nằm nghỉ… Cứ chăm bẳm thắc mắc này nọ, trở binh lại đa! Tui cũng thương thằng Hai Huynh chớ… Bề gì cũng nó sẽ được làm ông trụ trì chùa Da Lươn… Ông Tư mất, bà Tư buồn quá, dìa ở Thạnh Nhựt với cha mẹ, bữa hổm… Còn thầy giáo đổi trường dìa Mỹ Tho… chắc thẩy đi rồi. Mà dìa bển, hổng có thằng Hai Huynh mai mốt sẽ ra tù, thẩy còn biết nói chuyện kinh kệ với ai chớ…
=/=

bài đã đăng của Nguyễn Đạt


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch