Trang chính » Bàn Tròn: Văn Học Nghệ Thuật, Biên Khảo, Dịch Thuật, Nhận Định, Sang Việt ngữ Email bài này

Thơ ca: tấm gương của ngôn ngữ

0 bình luận ♦ 24.09.2015

 

Nhà nghiên cứu Georges Mounin đã từng lo lắng khi nêu ra câu hỏi : “Liệu Thơ Ca có phải đột tử hay không ?”

Trước nay, tôi vẫn cả tin mà sống trong ảo tưởng rằng, chẳng thể nào nghĩ đến việc Thơ Ca bỗng chốc mất tich trong sinh hoạt, trong đời sống của con người. Thơ Ca mãi mãi thuộc về văn hóa : nó gìn giữ biết bao ẩn mật, nó mang lại những hình thái và ý nghĩa cho những trao đổi trong tâm tưởng giữa con người và thế giới bát ngát bên ngoài, giữa con người và chính những “bất khả tư nghì”trong chính hắn. Thơ Ca cất giữ những giấc mơ, nối dài những cuộc tình đã cạn, như Michause đã tin rằng, để khỏi “trở thành tro bụi”tàn phá Bản Thể. Thơ Ca làm tung hê và làm dấy lên nét rực rỡ của Nổi Loạn, san bằng Cái Chết, đem lại vĩnh hằng cho những sự vật tầm thường. Thơ Ca cho phép đương đầu với bạo lực và chiến tranh : Đọc Aragon, E’luard, Jouve,…trong thời đất nước bị chiếm đóng, chính là đã được giải thoát ra khỏi cái băng giá và sự tối tăm khốc liệt của thù hận và độc tài ác hiểm, là trực tiếp tham dự vào “Nền Cọng Hòa của im lặng”, tin vào một cái gì đã trợ giúp chúng ta xứng hợp trong cuộc tồn sinh, cho dẫu phải vượt qua nhiều cam khó…

 

1.TRỮ TÌNH

Con người khi cất giọng, gióng lên một lời cầu nguyện, khi chuyển dịch một anh hùng ca, hoặc khi tâng cao những niềm vui hay nỗi khổ đau là đã vướng nghiệp rồi. Lúc này con người nghe chính giọng nói của mình, và giọng nói đó mở ra cho thấy những khả năng lạ lùng. Trong ngôn ngữ cố định, những từ ngữ này khép vào một chuỗi cấu trúc âm thanh mỗi lúc một phức biệt so với trí nhớ và lời ca, “người nói” nghe chính nhịp đập của trái tim mình cùng với nhịp hít thở. Những từ ngữ mà người nói khiến ta như cảm thấy đang chứng nghiệm sự hiện diện của các vị thần linh, sức mạnh nơi các vị anh hùng, sự khôn ngoan của một quyết định, thì những tiếng động và hình ảnh một miền quê vào lúc bình minh trở thành tương ứng với sự hiện diện của các vị thần linh đó, tương ứng với những tiếng động và hình bóng miền quê đó, nhưng đây còn là một tương ứng cũng giống với chính người đó nữa.

Khi cất lời ca, người đó “nhập điệu” vào lời ca, cũng cười khóc, cũng mỉm môi hay gào thét. Anh ta ủy thác cho ngôn ngữ vốn mờ nhạt và đơn điệu, chẳng cần phải ghi nhớ và là một dụng cụ truyền thông hữu ích, phải gánh vác nhiệm vụ phá vỡ sự cô quạnh và thiết lập sự giao tiếp hàng ngày có lợi ích với những người khác.

Ngôn ngữ có vần điệu gợi lên chính những tình cảm của người nói. Trong những lời ngọt ngào, người nói khám phá thấy mình đã nắm giữ được những gì thoát ra tự chính mình; tính chất niềm vui của mình, nổi buồn bỏng da của mình, mối tình thơ mộng tuyệt vời hay dịu dàng êm ả của mình với ngoại giới hoặc với một người nào đó…Thực ra điều này đã có từ khá lâu rồi. Trong một bài thơ cổ nhất mà người ta từng biết tới, đó là bài thơ đến từ xứ Ai Cập vào thế kỳ XX trước Thiên Chúa, đó là bài Đoản Thi Của Kẻ Thất Vọng, nhà thơ chỉ cất lời ca cho sự chết của chính mình :

Sự chết ngày nay sừng sững đứng trước tôi
Như sức khỏe sừng sững đứng trước kẻ tàn phế
Như dời khỏi căn phòng sau trận ốm nặng

Sự chết ngày nay sừng sững đứng trước tôi
Như hương thơm của nhựa cây mộc-dược
Như ngồi trên tấm vải một ngày gió lộng

Sự chết ngày nay sừng sững đứng trước tôi
Như trận mưa vừa dứt
Như một người trở về với mái nhà xưa
Sau một chuyến hải hành ngàn khơi

Sự chết ngày nay sừng sững đứng trước tôi
Như khi vòm trời mở toang
Như ước vọng con người muốn quay nhìn lại mái nhà xưa
Sau những tháng năm bị giam hãm. [1]

Trong tất cả những âm vang lớn vẫn có một âm sắc duy nhất. Và chính là điều mà ngôn ngữ Thơ Ca chứa đựng tự thuở ban đầu, một trong những chất men cứ dần dần tự ướp, tự ủ lấy chính mình. Đã từ lâu chất men ấy hợp nhất với tất cả những năng lực khác giúp cho ngôn ngữ Thơ Ca có khả năng “duy trì được những gì đã qua”( Max du Puids). Một số yếu tố lịch sử, xã hội, văn hóa sửa soạn thúc đẩy tiến hóa đã khiến cho lãnh vực Thơ Ca bị thu hẹp.

Nhưng còn một yếu tố khác nữa cũng can thiệp tới, thiếu yếu tố này sự tiến hóa mà chúng ta minh họa sẽ trở nên bất toàn. Yếu tố này đã xuất hiện trong mọi hình thức Thơ Ca cổ cũng như Thơ Ca điêu luyện nhất trong hiện đại : đó là Trò Chơi.

 

2. TRÒ CHƠI CHỮ

Johan Huizinga, trong một tác phẩm quan trọng của ông, Homo Ludens đã đề cập đến yếu tố xã hội trong trò chơi chữ, ông viết:

“Hình như trong Thơ Ca, không chỉ quan niệm như một thỏa mãn duy nhất cho nhu cầu thẩm mỹ mà còn được dùng để diễn đạt cho tất cả những gì quan trọng, thiết yếu trong đời sống hợp quần, nhưng điều diễn đạt bằng cách chơi chữ. Kể từ lúc trong ngôn ngữ có những âm thanh được nhắc đi nhắc lại, có sự trở lại của một nhóm âm thanh tương tự hay gần gần như thế mà người ta chọn để sử dụng – chắc chắn là cho trí nhớ rồi – nhưng cũng để cho xuôi tai nữa, có trò chơi. Và tất cả những phối hợp đều có thể thực hiện.”[2]

Trò chơi càng phức tạp khi ngôn ngữ làm lẩn đi mất ý nghĩa tức thì, và hình ảnh được thay thế cho sự đơn giản đặt tên, gọi tên.

JohanHuizinga

Theo Johan Huizinga,  trò chơi là một yếu tố cơ bản trong việt tạo dựng văn hóa

Nếu trò chơi “đứng ngoài lãnh vực của lợi ích và nhu cầu vật chất”, và nếu Thơ Ca là một trò chơi, thì ngay nơi Thơ Ca tự thuở xa xưa nhất đã có một yếu tố vô bằng cớ. Cũng như trí nhớ, ngôn ngữ Thơ Ca cũng đã là một phương thức để con người có thể sống được trong một vũ trụ giả tưởng và tuân theo những luật lệ khác với những thể thức nghiêm túc vẫn chi phối những liên hệ của con người trong một vũ trụ hiện thực. Điều này không hề có nghĩa Thơ Ca là một thái độ vị kỷ có thể bỏ quên thực tại. Chính Thơ Ca đã kéo chúng ta trở về với thực tại. Eluard đã từng đề cao công việc sáng tạo Thơ Ca “như những điều phi lý khó tin, như những cách nói phô trương,” và cũng chính Éluard, ngược lại, đã nghĩ rằng trò chơi Thơ Ca là một cách nói dối để phục vụ chân lý.

Những tên lái buôn lịch sử – những kẻ chưng diện đỏm dáng, ưa thích khoác lác, bới lông tìm vết, thích diễu nhại, ba hoa chích chòe dối gạt xanh rờn miệng lưỡi gan thép, mặt mũi lạnh lùng trơ tráu, bép xép hão huyền, hay bươi móc trêu ngươi cho bớt mơ mộng hão huyền, thường hay tô vẽ thêm chuyện, cứu khốn phò nguy, ngoa ngôn bịa đặt. Toàn là những kẻ gài bẫy, lang băm khoác lác dối lừa hoặc bông phèn ngụy tạo lếu láo bằng miệng lưỡi ngon ngọt, ôi những kẻ cưỡi mây cưỡi núi, những kẻ ăn nằm trong màu sắc và ngôi nhà giả tạo, những nhà thơ từ trên chín tầng mây bay bổng với con số không, những nhà thơ lạng quạng chạy lơ láo phục vụ thức uống cho các thi nhân. Và những gì họ muốn chúng ta coi như tiền mặt đã khiêu khích trắng trợn chân lý từng kinh qua biết bao khó nhọc mới thoát lên từ đáy giếng .[3]

 

3. TRÒ CHƠI VỪA NHẢY VỪA NÓI THEO NHỊP

Chính ở trình độ tuổi thơ mà người ta hiểu thấu hơn cả tính chất lố bịch của vài cách sử dụng ngôn ngữ. Trò chơi vừa nhảy vừa nói cho ta biết bao nhiêu tỉ dụ để hiểu lời nói đã giữ vai trò với chính nó ra sao, Éluard trong tác phẩm mà chúng ta trích dẫn trên đây, đã viết :

Với trò chơi vừa nhảy vừa nói, đứa trẻ nhảy hai chân dính vào nhau theo nhịp đếm và người ta dạy nó những điều sơ đẳng. Nó tung hứng tinh tế với những từ ngữ và tự ngạc nhiên về tài sáng tạo của mình. Nó trả thù, sử dụng những gì nó biết cho niềm vui bị cấm tưởng tượng, cấm lạm dụng[4].

Nghĩa là, bằng trò chơi vừa nhảy vừa nói theo nhịp, đứa trẻ thoát được vòng cương tỏa chung của quy tắc ngôn ngữ, và nó sáng tạo ra một thế giới ngôn ngữ khác với thế giới ngôn ngữ hàng ngày. Quan sát tính chất và hình thức trò chơi vừa nhảy vừa nói theo nhịp của các trẻ em, người ta có thể thấy một vài đặc tính của sáng tạo ngôn ngữ, do đó đem lại sự chuẩn nhận phụ thêm cho lý thuyết của Huizinga.

Những trò chơi vừa nhảy vừa nói theo nhịp là “ cách sử dụng những công thức nhỏ để “đếm,”ngõ hầu chỉ định em nào phải giữ vai trò thứ nhất hay vai trò cuối cùng của trò chơi.”( Jean Chateau ).

Jean Bacaumont, trong bài tựa cuốn sách nhỏ quý giá của nhà xuất bản Seghers – Les Comptines de la langue Francaise – Những trò chơi vừa nhảy vừa nói theo nhịp của Pháp – nhấn mạnh hơn nữa về tính cách “phán định” của trò chơi này, như sau :

“Trò chơi này được dùng để chỉ định ai là người phải làm đầu tàu, gánh chịu vai trò thứ nhất, bạc bẽo với trò chơi “hiện thân con mèo”, “ dính chặt vào đó”. Đó là một cách chỉ định tùy theo may rủi, do một mãnh lực huyền bí can thiệp vào, mãnh lực này được mọi người chơi chấp nhận và được ủy quyền phán định.”[5]

Người ta có thể xếp loại trò chơi vừa nhảy vừa nói theo nhịp thuận theo ưu thế của một số yếu tố nào đó, những yếu tố này đã khiến cho ngôn ngữ của Thơ Ca dần dần có nhiều khác biệt với ngôn ngữ đời thường.

Yếu tố thứ nhất: Những con số và nhịp điệu.

Với trẻ con, tính thích những con số đã khiến cho các em ưa chơi trò đếm số”, Jean Château viết. Và khi nhắc lại nhận xét này, Jean Bacaumont đã liên tưởng tới sự thiết định của nhà phong tục học Canada là Luc Lacourcière, khi ông đề cập đến trò chơi vừa nhảy vừa nói theo nhịp :” Chính những con số thường tình dùng để đếm, đến đây cũng trở thành vô nghĩa, mất hết cả giá trị của nó.”

Quả thật, trong rất nhiều trường hợp, người ta theo nhịp ba con số nối nhau mà đi.

Nhịp điệu sẽ do trò chơi quyết định, và nên nhớ rằng, ngoài nhịp điệu cơ năng và một phần nào là nhịp điệu thể chất, còn một thứ nhịp điệu thuần âm nữa do vần điệu hay do ép vận can thiệp vào giữa con số cuối cùng và từ của mỗi dòng.

Yếu tố thứ hai: Hình ảnh âm thanh và trò chơi ngữ-âm-học

Trẻ con chơi với từ ngữ, thường vẫn coi là những thực tại mới. Michel Leiris, trong tác phẩm FourbisBiffures, đã phân tích thủa mình còn là một chú bé, sau khi nghe cha mẹ hoặc những người lớn đọc một vài từ ngữ mà mình thì hiểu sai, đã chuyển hóa những từ ngữ đó thành những thực thể âm thanh tuyệt vời vì không còn giữ nguyên ý nghĩa căn cội sáng sủa của xưa cũ nữa. Trong trò chơi vừa nhảy vừa nói theo nhịp đó, chúng ta thường gặp rất nhiều trường hợp tương tự như vậy…

Có thể chấp nhận rằng, thoạt kỳ thủy những trò chơi đó do tính ưa thích âm thanh thuần túy mà nhiều nhà thơ lớn đã minh chứng cho biết bao tỉ dụ.

Cũng có thể những trò chơi đó là những sáng tạo của người lớn, và sau đó trẻ con nương theo mà áp dụng và chuyển hóa dần để thành trò riêng của chúng. Nên nhớ rằng, thủa nhỏ lũ trẻ thích chơi trò kết hợp những thanh âm đơn giản như : nghĩ-thanh-từ, nhại lặp những âm thanh giống hay gần giống nhau. Tất cả những nhà chuyên môn về ngôn ngữ trẻ em đều chứng minh rằng những em, dù còn rất nhỏ, đã thực sự thích sử dụng “cơ bắp”, như lời A. Spire đã nói, để đọc liên hồi tiếp trận những âm thanh giống nhau hay khác nhau chút đỉnh. Trong vai trò vừa chơi vừa nhảy vừa bập bẹ theo nhịp, hẳn là các em cảm thấy khoái chí ghê lắm :

Du bibi – du lolo – carafe – carafo – du triage –du coco…

Người ta có thể nói rằng, trò chơi vừa nhảy vừa nói cho ta thấy nơi trẻ em những khả năng rất thích hợp với nền nhạc đó; và người ta có thể nghĩ tuổi thơ đã thực hiện biết bao nhiêu biến hóa cho những trò chơi đó, để sau cùng người lớn sáng tạo và nhuần nhị hóa lại.

Nhưng niềm vui sắc nét nhất mà chúng ta cảm thấy khi gặp lại những chuỗi từ ngữ vô nghĩa mà chúng ta đã đọc như tụng kinh thời thơ ấu, chính đó cũng là niềm vui mang đậm chất văn hóa. Khi Fague hay Michaux sáng tạo lại những trò chơi vừa nhảy vừa nói theo nhịp, hai ông đã thông suốt và cặn kẽ những điều mình làm : họ ý thức nối lại tuổi thơ và kéo dài những trò chơi của mình. Cũng phải luôn thừa nhận rằng trò chơi vừa nhảy vừa nói theo nhịp, trong thuở nhỏ, cũng đơn thuần như bao trò chơi khác.

Và tôi cũng tin rằng chúng ta cảm thấy trong một số trò chơi vừa nhảy vừa nói theo nhịp, tính chất ma thuật của ngôn ngữ dưới hình thức giảm thấp mà người ta không sao hiểu nổi. Chính vì vậy mà ta đã gặp một số lớn những biến hóa quanh những công thức có liên hệ từ lâu với nhũng thực tập huyền bí, như bài A bra ca da bra, sau:

A bra ca da bra
Catedra nostra
Capitum nostrum
Carillonne
[6]

Hoặc như trong bài Am stram gram chẳng hạn.

Cũng vậy, người ta thu nhập được một số lớn những trò chơi vừa nhảy vừa nói theo nhịp đượm nét hài hước, trào lộng. Nhưng nét trào lộng ít được thấy trong ý nghĩa từ ngữ mà phần lớn là cách đặt kề sát hai thực tại khác nhau, tỉ dụ như:

Con bọ chét trong cái bầu sành
Nó cười nắc nẻ đến ngộp thở
Người ta đưa nó đến nhà thương
Với ba mươi sáu cây nạng
Lão bác sĩ chăm sóc nó
Và lão ta cũng là một tên ngố nghệch
Như mày vậy.
[7]

Nét hài hước trong bài này cũng như nhiều bài khác, dường như không hề có dụng ý rõ rệt nào. Sức mạnh của một số Thơ Ca trào phúng nổi tiếng có được là do nét xấc xược nhẹ nhàng, không cố ý quan trọng hóa ( xem Prévert, Tardieu,…).

Trong đại đa số trường hợp, yếu tố chính trong trò chơi vừa nhảy vừa nói theo nhịp là thị giác. Một hình ảnh cho ra, thường là hình ảnh quen thuộc và đơn giản. Rất nhanh, hình ảnh này chịu một hay nhiều hóa thân : nó kết hợp với nhiều hình ảnh khác thuộc về một loại hạng khác hẳn, và đem lại kết quả một biến cố khác thường, phi lý và…bất ngờ.

Lỗ hổng
Một quả anh đào nhỏ
Bên bờ một dòng suối
Và tè xuống nước.
[8]

Trò chơi dựng lên một ảo tưởng bên cạnh một thực tại, cái mới rợi đứng bên cái cũ mèm quen thuộc, tạo thành một bức tranh chết cười kỳ cục.

Người ta có thể nhận ra ở đó một phương thức, kể từ Lewis Carroll tới trường phái siêu thực, đã là động cơ cho cả một cuộc vận động Thơ Ca. Nhưng kể cả ở đó nữa, trò chơi mới là điều quan trọng, và người ta tìm trong mức độ đó sự khích động trí tưởng tượng, mà niềm thích thú xếp đặt vô chứng những thực tại hay những sự kiện mà những đầu óc nghiêm trang cử nghiệp luôn đòi hỏi phải có đầu đuôi, mạch lạc… các thứ.

Yếu tố thứ ba: Sự chờ đợi hay những câu chuyện.

Sau cùng, rất nhiều trò chơi vừa nhảy vừa nói theo nhịp kể những câu chuyện nhỏ và chứa đựng, dưới đề tài này, một hay nhiều yếu tố – ngày nay thường gọi là “ sự ngưng đọng lại “- không hoàn toàn biến khỏi Thơ Ca.

Chính tính chất của trò chơi vừa nói vừa nhảy theo nhịp luôn luôn bao hàm yếu tố chờ đợi, vì trò chơi này chỉ cốt chỉ định “ ai là người phải dính vào đó “. Trong những trường hợp đặc biệt hơn đang được chú ý hiện nay, sự chờ đợi này chứa đựng ngay trong câu chuyện được kể. Thường thì yếu tố này luôn kết hợp với những chuyển hóa dị thường của hình ảnh( yếu tố thứ ba ), để phát sinh một hiện tượng mà cchu1ng ta nhấn mạnh sự quan trọng đặc biệt về việc tìm đọc Thơ Ca : Khi nghe câu chuyện nhỏ trong trò chơi vừa nhảy vừa nói theo nhịp, các em đặc biệt chú ý những âm thanh và hình ảnh tuần tự xuất hiện với thời gian, các em không cần biết đến tình tiết hay thứ tự xảy ra có hợp lý hay không, miễn sao nó liên lĩ chạy dọc theo thời gian, còn các thứ khác thì, tính sau. Thơ Ca, đôi khi há chẳng là cái gì đó xảy ra trong thời gian hoặc làm đầy thời gian hay sao ? Trong trò chơi vừa nhảy vừa nói theo nhịp sau đây, những biến cố tiếp nhau đều do tưởng tượng, và trong những lời nhắn nhủ của bà mẹ hiếm có này thoáng gợn một nét lo lắng nhỏ, không phải là không khích động các em một cách thích thú :

Một thỏi sô-cô la
Lên đường ra trận,
Nói với lũ con rằng:
Các con hãy coi sóc nhà cửa
Nếu có ai tới,
Hãy cho họ một cái gì
Nếu kẻ trộm lẻn vào
Hãy cắm lưỡi dao vào tim nó.
– Ồ không đâu, Mẹ ơi, không phải thế Mẹ ạ
Vì Thượng Đế nhân từ sẽ trừng phạt chúng ta
[9]

Những nhân vật trong trò chơi vừa nhảy vừa nói theo nhịp thường là những nhân vật lịch sử hay hoang đường. Và thường cũng chính các em đảm nhiệm thủ diễn các thứ luôn…

Thêm một vài yếu tố thường gặp trong trò chơi nay là những câu hỏi, câu thơ, câu đố, ẩn ngữ, vở kịch nhỏ kèm theo với mọi điệu bộ cần thiết, không chỉ là bài học thuộc lòng đơn thuần. Bắt buộc ở đây phải có sự dàn cảnh với những nghi lễ, tập tục hẳn hoi.

Nơi mọi người khi dùng tới ngôn ngữ Thơ Ca đều ẩn tiềm một em bé đang chơi, nghĩa là làm đầy đủ và cực kỳ nghiêm túc những bộ điệu vô ích vô cớ vô ý các thứ…nhưng được coi là cần thiết. Cuối bản phân tích này sẽ cho chúng ta thấy lại lý thuyết của Huizinga. Với tác giả này, ở mọi giai đoạn sáng tạo Thơ Ca, đều có sự can thiệp của một vị thần-tinh-nghịch dẫn dắt kẻ nói(hơn là kẻ viết) đừng cả tin vào sự hữu hiệu trực tiếp vật chất của những gì mình phát tiết, phát minh. Phải có một khoảng cách để nhà thơ nhìn được và nghe được những gì mình đã sáng tạo và cảm thấy sướng khoái như trẻ thơ trong những trò chơi đầy hứng khởi của chúng. Việc này vẫn đúng kể cả khi nhà thơ miêu tả những cảnh buồn thảm nhất, những tình cảnh cô quạnh nhất. Ở đề tài này, Thơ Ca sẽ là một trong những ngành hoạt động hiếm hoi nói lên khả năng vĩ cuồng ngông chướng của con người :

“Khi nền văn minh càng mở rộng trên bình diện vật chất và tinh thần, thì những lãnh vực mà nét ngông chướng không lộ liểu mấy càng mở rộng nếu trò chơi được phép bung mở thả dàn. Nhìn tổng quát nền văn minh trở nên nghiêm túc hơn. Luật pháp và chiến tranh, kỹ thuật và khoa học hình như liên hệ hơn với những trò chơi. Kể cả việc thờ cúng xưa là cả một môi trường rộng lớn biểu lộ nét ngông chướng trong hành động thiêng liêng, hình như cũng theo hướng tiến triển này. Chỉ có Thơ Ca vẫn còn nguyên là thành trì của một trò chơi phồn thịnh”.[10]

Đạt tới giới hạn, trò chơi này chỉ khả thủ với những ai biết tới luật lệ của nó. Chính vì vậy mà Huizinga giải thích tính cách khép kín của một số khuynh hướng Thơ Ca hiện đại. Những phong trào này không hề phủ nhận chính tinh túy của Thơ Ca trong lịch sử tiến triển của nó, trong những đặc tính của nó, mà còn là hiện thân của thành tựu của Thơ Ca : “Những trào lưu trữ tình hiện đại, phát triển trong lãnh vực của cái khó hiểu, giấu giếm ý nghĩa trong ngôn ngữ bí hiểm, chính là để tỏ ra trung thành với những gì là tinh túy của nghệ thuật vậy”.[11]

 

4. BÀI THƠ

Những dòng trên đây của nhà triết học Hòa Lan cũng giống như những nhận xét của chúng ta đã nói về sự tiến triển của Thơ Ca qua một số lãnh vực được chọn lựa : huyền thoại, tôn giáo, triết học, đời sống thường ngày, những tình cảm,…

Chúng ta đã thấy Thơ Ca, ngôn ngữ của trí nhớ, do nhiều lý do mà trở thành nghệ thuật của ngôn ngữ.

Sự chuyển hóa hết sức phức tạp này và không thể liên hệ được với một niên-đại-học chính xác, chúng ta chỉ muốn nhấn mạnh cho rõ những nét chính yếu trước khi đặt câu hỏi về Thơ Ca trong lãnh vực tự trị của nó.

1/ Thơ Ca, khi tự phân biệt với văn xuôi, đã để mất đi những lãnh vực thích hợp, và chính trong những lãnh vực đó, văn xuôi tỏ ra hữu hiệu hơn, chẳng hạn như lãnh vực triết học, lịch sử,…

2/ Thơ Ca, từ truyền khẩu chuyển sang ghi chép bằng chữ viết đã đánh mất một số lớn thính giả, nhưng cũng đã phải buộc lòng chắt chiu những hình thức gọt giũa hơn, đặc dị hơn.

Đứng trên phương diện này, việc chế tác ra máy in, phải được ghi nhận là một bước ngoặt phát triển quan trọng, vì đã từ lâu lắm rồi số người biết đọc quá ư là ít ỏi, cho tới những thập niên cuối cùng gần đây, tất cả những nỗ lực của các nhà thơ thành đạt trong việc chiếm cứ lại số quần chúng đã bị mất đều ở mức độ chữ viết. Lãnh vực của lời nói (truyền khẩu) bành trướng rộng lớn với phương tiện truyền thanh, truyền hình, và các đĩa thu thanh, có thể từ quan điểm này, Thơ Ca dần chinh phục lại quần chúng.

3/ Cuộc tiến triển đã rất gấp gáp vào thế kỷ XIX với phong trào lãng mạn, ít ra là tại Âu Châu, và đặc biệt tại Pháp : “ Thơ Ca cổ điển chỉ được cảm nhận như một biến dịch trong túi của văn xuôi, sự kết trái của một nghệ thuật (nghĩa là của kỹ thuật), không bao giờ là một ngôn ngữ khác hay như một sản phẩm của một cảm xúc đặc biệt(…)”.

“ Kể từ đó ( kể từ Rimbaud ), các nhà thơ đã thiết chế ngôn ngữ của họ như một tự-nhiên-tính khép kín, bao gồm cả tác dụng lẫn cấu trúc của ngôn ngữ. Thơ Ca từ đó không cỏn là một thứ văn xuôi được trang trí hay bị phế bỏ tự do “[12]

Ngôn ngữ này sẽ là linh hồn của linh hồn, khích động tất cả, hương thơm, âm thanh, màu sắc, từ tư tưởng bám vào tư tưởng và níu kéo liên hồi (Athur Rimbaud, Lettre à Izambard).

Tác phẩm thuần túy ngầm ý tiết giảm cách ăn nói của các nhà thơ, nhường sáng kiến cho từ ngữ bởi sự va chạm những chênh lệch được sử dụng; chúng tự thắp những tia sáng giao thoa như một đường sáng tiềm năng trên những hạt đá quý, thay cho những hơi thở có thể nhận thấy bằng hơi thở cũ hay chiều hướng hào hứng riêng của câu nói “ (Stéphane Mallarme) [13]

Đây chẳng phải là muốn gây lại cuộc tranh cãi của Những-Người-Cũ và Những-Người-Mới. Tất cả không bắt đầu ở điều mà Roland Barthes gọi là Thơ Mới.

Theo chung cục của một cuộc phát triển đầy phức tạp, quả Thơ Ca đã phải chịu trải qua một cuộc biến thiên , và có thể đó là một trong những lý cớ của cuộc khủng hoảng mà chúng ta đã gợi ý trong cuốn sách này, ngay từ đầu. Cuộc biến thiên này không bùng phát một cách thô bạo, cũng không hề là hệ quả của một phép lạ nào, nó là chung số biến chuyển tự nhiên về uy lực mạnh mẽ trong trong ngôn ngữ Thơ Ca có vần điệu ban đầu của nền văn minh ngôn ngữ…

Thơ Ca không là một sự kiện văn hóa bí hiểm. Nó chính là sản phẩm của con người, và cho con người.

… “Thơ Ca, trước khi hiện hữu cho chúng ta, đã là mười sự vật khác, một loại kinh lễ, một cuốn bách khoa …. Vào thời trung cổ, Thơ Ca là thứ nhật báo mà mỗi tiết mục tương ứng với một đề mục trên báo chí của chúng ta ngày nay (cũng có những bài xã luận, mục cáo tố tương tự mục lượm lặt hàng ngày; Anh hùng ca tương đương với các tiểu thuyết đăng thường kỳ mỗi ngày,…). Rất chậm chạp, có thể là đến sau thế kỷ XVI, người ta mới ý thức và tìm thấy chất bổ tươi mát trong Thơ để biết gửi chút lòng ưu ái với cái gọi là “Thơ Ca”.

Và tất cả nghệ thuật Thơ Ca – từ Racine tới phong trào siêu thực – có vẻ như đã biết luôn luôn tìm kiếm chất cô đọng ngày một cao hơn trong yếu tố đặc biệt của mọi thể loại Thơ Ca (yếu tố loãng nhạt trong các thơ xưa cũ). Bằng cách loại trừ những ý đồ nhằm giáo huấn, những mục tiêu kể lể dông dài, mọi cứu cánh răn dạy luân lý hoặc chỉ bảo về Tu-từ-học, cũng như mọi loại có mục đích về thuật ký ức, Thơ Ca dần dần và tuần tự trở về với Thơ Ca”.[14]

Và cuối cùng, điều cốt yếu là biết Thơ Ca cho chúng ta, những con người của thế kỷ XX, XXI…phải như thế nào. Vì trước một bài thơ, trước một nhà thơ, chúng ta không thể có thái độ quyết đoán của một nhà sử học, đòi đặt định lại những sản phẩm của con người vào khung xã hội, kinh tế, ngữ học từng đã chứng kiến sự xuất hiện của chúng. Liệu người ta có chắc chắn biết những người đồng thời với Homère thưởng thức những khúc ca của ông ra sao, hoặc những bạn hữu đồng hành cùng Villon tiếp nhận thơ ông thế nào, và yêu thơ Ronsard ở những điểm nào,…? Liệu biết các điều đó có giúp được gì cho chúng ta thưởng thức trọn vẹn, đến nơi đến chốn với Thơ Ca ? Dĩ nhiên có những người có khả năng ngoài việc thuởng thức những nét đẹp trực tiếp của bài thơ còn có cái nhìn rất sử học, thưởng thức thêm nhiều khía cạnh mà người khác không mấy tỏ tường. Nhưng cũng lắm khi, vì quá chú tâm đặt thi phẩm vào đúng hoàn cảnh của nó, khiến ta bỏ sót khá nhiều phần chuỗi rung động trực tiếp với vẻ đẹp mà bài thơ tỏa ra.

Những tác phẩm Thơ Ca từ thời xa xưa còn được lưu truyền tới nay, qua bao dâu bể, biến cố và đảo lộn, hẳn phải có một sức mạnh, một nét đẹp quyến rũ hơn cả những gì trong sử lịch. Có thể chúng ta ngày nay đọc Odyssée sẽ nhạy cảm và tận hưởng nét nhạc cảm hơn những người đồng thời với Homère. Mỗi thời đại có cách nhìn riêng khác về Homère. Và mỗi cá nhân cũng thế. Ngày nay người ta khám phá những khuôn mặt mới của Nerval, của Hugo. Người ta xây quanh A.Rimbaud cả một “huyền thoại”. Mallarmé là đối tượng của biết bao lời chú giải, biện cách, phán xét. Những người mê say Thơ Ca thực sự thì, Homère, Nerval, Hugo, Rimbaud, Mallarmé,…sở dĩ còn trường tồn cho đến ngày nay, vì chính họ thoạt cái, đã là…Thơ Ca.

Đúng như lời của Roger Caillois từng nói : “Tín cậy vào Thơ Ca, tôi nghĩ, chính là lòng tín cậy vào một cái gì đó, chung nhất giữa Homère và Mallarmé.”

“Cái gì đó” chính là cái mà giờ đây ta phải đạt tới.

 

 


[1] .Trésor de la Poésie Universelle, tr 517

[2] .Johan Huizinga, Homo Ludens, bản dịch của Cécile Seresia, Paris Gallimard, tr 210

[3] .Paul Éluard, Les Sentiers et les Routes de la Poésie, Paris Gallimard, tr 70

[4] .Les Sentiers et les Routes de la Poesie, tr.62

[5] .Jean Bacaumont, Les Comptines de la Langue Francaise, Paris, Seghers, tr 8

[6] .Trích trong Bourbonnais, Jean Bacaumont, Les Comptines de langue Francaise, tr 100

[7] .Brindilles, tr 4

[8] .Brindilles, tr 4

[9] .Brindilles, tr. 10

[10] .Johan Huizinga, Homo Ludens, tr 220

[11] .Sách đã dẫn.

[12] .Roland Barthes, Le Degré Zéro de L’écrtiure, Paris Seuil, tr 63

[13] .Stéphane Mallarmé, OEvres Complètes, Paris,Seuil, tr 366

[14]. Georges Mounin, Poésie et Société, tr 86

bài đã đăng của Huy Tưởng


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch