Trang chính » Biên Khảo, Dịch Thuật, Nhận Định, Sang Việt ngữ Email bài này

Thơ ca: Ký ức của ngôn ngữ


♦ Chuyển ngữ:
3 bình luận ♦ 10.09.2015

Vì thiếu và chưa có chữ viết, mọi sự dạy dỗ hay bài diễn từ có ích trong việc gìn giữ và truyền đạt sao cho khỏi bị sai lệch theo thời gian, thì cách phổ biến nhất là dùng thơ-văn-vần cho dễ ghi nhớ. Và lãnh vực của Thơ Ca bao trùm lên lãnh vực diễn đạt.

Nếu Thơ Ca có vẻ như gắn kết khăng khít với những thần chú hay những lời khấn nguyện, không phải vì có những phù trợ bí ẩn của tiết điệu với ma thuật, mà vì trước hết khi đọc các thần chú tuyệt nhiên không được phép đọc nhầm, dù chỉ một vần. Chính vì đấy là những công thức cần giữ bí mật, đến nổi rằng, kể cả khi đã có chữ viết rồi, người ta cũng chưa chịu truyền tải bằng văn bản viết tay “[1]

 

1. THƠ CA, NGÔN NGỮ ĐẦU TIÊN VÀ KÝ ỨC ĐẦU TIÊN

Từ căn cội, Thơ Ca đã là nơi chống đỡ ước lệ, nhưng vững chắc cho những gì mà con người không được phép lãng quên.

“Không chắc chắn chút nào là, Thơ Ca được sinh ra trên cõi đời này lại do nhân danh bởi Thơ Ca, trái lại chính là để vươn tới với Thơ Ca, nếu người ta biết cách thu nhập những yếu tố về nguồn gốc xa xôi nhất của mọi thể loại Thơ Ca. Chúng ta sẽ tìm thấy những công thức thuộc về nghi lễ, những thần phổ, những phổ hệ của các vị anh hùng, những niên đại học, những biến thức bách khoa truyền miệng. Đặc tính chung đầu tiên của loại “Thơ Ca” xưa cũ này là phải có một cứu cánh rõ ràng, không dính dáng gì đến phạm trù thẩm mỹ, chỉ có tính cách ma thuật, lịch sử, tố tụng, giáo khoa. Tính cách chung thứ hai cũng cho loại “Thơ Ca” xưa cũ là đạt tới cứu cánh này (duy trì những tập tục, những phổ hệ, những kiến thức nông nghiệp, hàng hải, luật pháp,…) bằng phương tiện rất rõ ràng, kỹ thuật trí nhớ, nghĩa là thuật-ký-ức (mnémotechniques).

Cái mà chúng ta gọi là Thơ Ca không phát sinh như một niềm vui thích mà như một phương tiện, một công cụ. Tất cả lịch sử sau này về Thơ Ca chỉ là lịch sử của sự đổi thay cách dùng của công cụ này “[2].

Vậy nên, Thơ Ca thoạt đầu là một thứ trí nhớ. Nó có trước chữ viết. Nó là lời nói, và với tư thế đó, ngày nay chúng ta thấy lại Thơ Ca tại khắp các loại xã hội cổ xưa sử dụng bằng các thứ tiếng của bản xứ. Vì thế, những tỉ dụ chúng tôi nêu ra về những chức vụ khác nhau của lời nói cấu thành như ký ức đều được trích dẫn từ những nền văn minh đã biến mất cũng như những nền văn minh loại truyền thống còn hiện hữu đến bây giờ.

Những nhiệm vụ đặc biệt của Thơ Ca không phải là đã không thay đổi các phương thức, thay đổi âm giai, ngữ pháp và cả ý nghĩa,…do đó ngôn ngữ đã vượt qua nhiệm vụ đầu tiên như một phương tiện truyền thống.

Lịch sử của ngôn ngữ như vậy không sao tránh được việc phải thiết lập một thứ liệt kê những phương thức mà, do đâu ngôn ngữ đến với Thơ Ca, điều này giúp chúng ta nắm vững ở chương mục kế tiếp, vì sao nhà thơ đã vượt khỏi cách sử dụng bình thường, phương tiện ngôn ngữ như một dụng cụ đơn thuần để tiến tới sử dụng nó theo tinh túy của sáng tạo.

 

2. NHỮNG THẦN THOẠI, TRUYỀN KỲ

“Những thần thoại, những truyền kỳ kể lại mẩu chuyện thiêng liêng, truyện thuở sơ đầu khai thiên lập địa. Nói khác đi, thần thoại kể lại nhờ những kỳ tích của các đấng siêu phàm mà một thực tại đang hiện hữu, dù đó là thực tại toàn thể như vũ trụ hay chỉ một phần nào đó, như : một hòn đảo, một giống loài thảo mộc, một chế độ,…Trong phần lớn những trường hợp biết thấu thậm nguồn gốc cũng chưa phải là đủ, mà còn phải kể chuyện về nó, công bố một cách khoa học của ngành nghề. Và phải chứng minh nữa”[3]

Ở đây, chúng ta không nhất thiết phải cần biết đến ý nghĩa của các thần thoại, nhưng chúng ta cùng ghi nhận với Mircea Eliade rằng, thần thoại phải được kể nghe, nghĩa là “một sử dụng đặc biệt của lời nói”. Và có thể, như Malinowski đã viết :”Thần thoại diễn tả, đề cao và pháp điển hóa những tín ngưỡng”.

-Nhiệm vụ thứ nhất của lời nói trong thần thoại là diễn đạt, nghĩa là thay thế nền tín ngưỡng mà mình biết rằng, nền tín ngưỡng ấy được thiết định bởi một pháp sư hay một thi sĩ anh hùng ca (thi sĩ hát rong).

– Nhiệm vụ thứ hai là đề cao tín ngưỡng, nghĩa là người kể chuyện với chất giọng đặc biệt của mình sẽ phải đem lại cho câu chuyện một thứ ánh sáng rực rỡ cần thiết, một cường độ tân kỳ khác hẳn những câu chuyện thường tình hằng ngày. Trong câu chuyện về đấng thượng đế Taaroa ( Tahiti ) sáng tạo thế gian, lời nói (Ngôi lời trong Kinh Thánh) kể tên những yếu tố, và rơi theo một tiết điệu :

Taaroa là sự sáng sủa,
Taaroa là chính tâm,
Taaroa là căn lý
Taaroa là không thể hư mất
Taaroa là sức tráng kiện
Đã từng tạo nên vũ trụ,
Vũ trụ rộng lớn và thiêng liêng
Chỉ là vỏ cứng của Taaroa
Chính Taaroa đã làm cho nó trở nên linh hoạt và hòa điệu…[4]

Trong ngôn ngữ này, không hề có hậu ý thẩm mỹ, chỉ có những nhịp điệu nhắc đi nhắc lại một số thanh âm nào đó, một yếu tố gần như bất biến, qua đó người ta thấy từ Taaroa được nhắc đi nhắc lại để mau chóng trở thành một thứ nhịp ngắt đều đều từng đoạn, dễ nhớ.

– Sau cùng, trong lời nói, thần thoại pháp điển hóa những tìn ngưỡng, nghĩa là cú pháp của lối nói diễn tả thần thoại là cú pháp hết sức cô đọng, một cú pháp mà câu nói tự tổ chức thành những mệnh đề vô ngã, thường là cách đặt câu đối xứng, hay đối ngẫu mà cách sử dụng thường rất giống nhau. Do hình thức Thơ Ca, việc nhắc đi nhắc lại từ lâu đã mang tính đơn điệu, tỉ như những chương tiết trong Thánh Kinh. Lời kể lể và cả trong thi phẩm Ève của Péguy.

Thần thoại với nhiều ý nghĩa lồng vào nhau là điển hình của lời nói cùng một lúc mang nhiều ý nghĩa. Ở đây, chúng ta không nhấn mạnh về những nhiệm vụ giải thích, đạo đức, giải phóng, và cả phân tâm học nữa của những thần thoại xưa và nay, nhưng chú ý nhấn mạnh vào sự kiện rằng, những tác dụng này có thể hiện hữu bên trong cùng một thần thoại và do đó ngôn ngữ diễn đạt thần thoại, nói như Mallarmé, nó khoác nhiều ý nghĩa.

Sau cùng, đặc tính của thần thoại là thể nhập vào hình ảnh. Không có thần thoại trừu tượng. Tính chất của thần thoại là hình ảnh và, nếu chúng ta chuẩn nhận thần thoại cổ hay kim mang dáng dấp Thơ Ca, chính vì trong tính chất Thơ Ca, hình ảnh là chính yếu.

Sự khác biệt lớn – nhưng là điều cơ bản – là trong thần thoại hình ảnh thiết lập một thực tại biểu tượng, trong khi tại Thơ Ca hình ảnh luôn luôn cấu thành những thực tại mới, khép kín, chẳng có cứu cánh nào khác hơn là, chính nó.

Chúng ta thấy hình ảnh Thơ Ca thật sự đề kháng lại cách giải thích luận lý đến mức nào, và sẽ lầm lẫn biết bao cho những ai nói rằng hình ảnh nơi Thơ Ca tự phô diễn như hình ảnh ban đầu của thần thoại.

 

3. ẢO THUẬT

Thơ Ca cũng là một phương tiện ưu tiên của ảo thuật ngôn ngữ vì, Thơ Ca có ưu thế hơn văn xuôi trong việc gắn vào trí nhớ những công thức mà ảo thuật có quyền năng.

Ngoài ra, ảo thuật có kỳ vọng tác động lên các sinh vật và vật thể do trung gian những miêu tả tượng trưng của chúng. Người thợ săn tiền sử làm tổn thương trước hình tượng con vật mà họ săn đuổi. Người ta nghĩ rằng những bích họa súc vật hoành tráng trong các hang động xưa có một tác dụng nhiệm mầu giữa người thợ săn và con mồi. Không đẩy sự so sánh đi quá xa, người ta có thể nói rằng các pháp sư, các thầy phù thủy đã có tác động lên hình ảnh tượng trưng cho sinh vật hay vật thể trước khi tấn công thực sự.

Bởi vậy, trong bài ca Flatterie au Poison Kazama ( Bài tang ca thuốc độc Kazama, của sắc tộc sống dọc theo sông Niger thuộc Tây Phi ) nói lên sự linh nghiệm cuả thuốc độc có được và so sánh. Con ruồi với con ngựa, người đàn bà mang thai, khẩu súng,…, những hình ảnh này không có chút giá trị thẩm mỹ nào với người phù thủy. Chúng chỉ có tác dụng cho các công năng cần thiết mà thôi.

BÀI TÂNG CA THUỐC ĐộC KAZAMA,

Thuốc độc làm cho đầu óc quay cuồng
Xiềng xích ngăn cản việc ra đi
Nếu như người ta bắn vút một mũi tên
Và nếu mũi tên trúng đích
Đúng như con ruồi với con ngựa
Còn ruồi đã chích vào con ngựa
Sẽ chích tiếp vào con ngựa khác
Mũi tên tựa như người đàn bà mang thai:
Bà ta yêu thịt sống
Dù mũi tên không xuyên qua sườn, người ta vẫn chết,
Nếu nó cắm sâu một chút, người ta chết
Nếu nó chỉ lướt qua một chút rồi rơi xuống đất,
Người ta chết…[5]

Lời phán quyết, câu thần chú trừ tà, công thức,…, đều là “ những lời nói mang theo quyền uy “ buộc ngôn ngữ phải tạo ra một thực tại để nó có thể tác động ; Thơ Ca ở cấp độ ma thuật chính là ngôn ngữ, hay đúng hơn lời nói trong hành động.

Nhưng chúng ta sẽ thấy đó chỉ là tham vọng của một số nhà thơ lớn từ Michaux đến René Char ( Cũng vì thế cho nên Michaux đã chọn tựa đề cho tập thơ của ông là Épreuves, exorcismes – Thử thách, Thần chú ).

 

4. TÔN GIÁO VÀ LỜI KHẤN NGUYỆN

“ Trong lời khấn nguyện có một tác động đầy ma lực “, Baudelaire đã viết như vậy. Giữa ý nghĩa ma thuật với ý nghĩa tôn giáo là cả một khoảng cách lớn, ở đây ta thấy không cần thiết phải đề cập đến vấn đề rộng lớn và phức tạp này nữa : giữa điều mà Baudelaire gọi là “ cuộc hành binh kỳ ảo “ với nghi lễ tôn giáo thiếu gì những nét tương tự và đặc biệt những gì liên quan đến ngôn ngữ.

Tất thảy những tôn giáo, những tôn giáo gần với thần thoại cũng như những tôn giáo đời xa thần thoại nhất, những tôn giáo theo thuyết linh hồn cũng như những tôn giáo theo thuyết duy tâm đều dùng ngôn ngữ để vươn khỏi cái cụ thể hòng đạt tới một hay nhiều thần linh : “ con người cầu nguyện mà trước hết là con người tự diễn đạt mình hướng đến thần linh, liên hệ qua lời nói với những uy lực vũ trụ. Do đó, thái độ của con người cầu nguyện chủ yếu là thái độ đối với ngôn ngữ. Ngôn ngữ này kể từ đó có hai nhiệm vụ : một, để thỉnh nguyện, và một để thờ phụng. Sở nguyện của con người và sự tôn thờ. Bản thể đã giữ vai trò thường xuyên trong lời cầu nguyện, như vậy là có một sự trùng hợp nào đó về tính chất và nhiệm vụ giữa lời cầu nguyện và thơ ca. Nhà thơ ( không có thành kiến về đức tin tôn giáo của riêng ông ) cũng như người đang cầu nguyện là người hoàn toàn thả mình vào ngôn ngữ để thổ lộ những ước mơ và sở dục của mình, đồng thời khích lệ sự thăng hoa ngôn từ của Thực Tại “[6].

Thật ra kích thước Thơ Ca trong những lời cầu nguyện chỉ đóng một vai phụ, trừ khi nó xuất hiện dưới cái nhìn của các bậc đại thi hào như Chateaubriand ( Génie du Christianisme ) hay như thi hào Tagore, Claudel, vị sau này đã cho Thơ Ca và lời cầu nguyện lẫn vào vùng linh khí gợi hứng và có ý thức.

Với phần lớn các tín đồ trong mọi tôn giáo, hình thức Thơ Ca trong lời cầu nguyện là điều cần thiết để giúp cho dễ nhập tâm – nhất là vào các thời cổ xưa – với sự yểm trợ bắt buộc của âm nhạc và ca từ. Những hình thức Thơ Ca rất chuẩn xác, như câu thơ Pháp, được sinh ra như vậy do một chuỗi những hiện tượng xã hội và tôn giáo như G. Mounin đã diễn tả trong những tác phẩm cực kỳ quan trọng của Georges Lote về Nguồn Gốc Câu Thơ Pháp (L’ Ogirine du vers Francais ).

“ Từ thuở cao trào nhất kỷ nguyên cơ-đốc”, dân chúng tham dự vào những cuộc tế lễ thờ phụng, và sự hợp tác đó của họ mãi đến thế kỷ XII mới ngưng lại. Với nhà thơ, thật ra điều cốt yếu là kéo giãn dân chúng ra khỏi những thú vui ngoại đạo, ca hát nhảy múa phàm tục, với những bù đắp xứng đáng. Công cuộc đã đạt được kết quả tốt đẹp. Đám đông đã biết yêu âm nhạc và đồng thời tuân thủ theo những gợi ý luân lý và tôn giáo toát ra từ những bảng kính thư. Có nhiều bằng chứng cho chúng ta thấy sự hứng khởi của tín đồ đã khích lệ việc sùng kính các cơ sở.

Những nơi tín đồ gia nhập đều có những bài ca lễ chế đơn giản, rất dễ hát để cho những ai chưa được tập luyện mà không vấp phải một trở ngại nào “[7].

“Ở đây, cần hết sức nhấn mạnh vào đặc tính thứ hai của Thơ Ca ngay từ những bước đầu : chia thành từng âm là một cách truyền miệng, cơ bản dùng cho đám dân chúng không biết chữ. Đó là phương pháp hoàn toàn chỉ dùng trí nhớ. Khởi từ đó, chúng ta dễ hiểu những đặc tính của từng chỗ ngắt hơi và vần điệu để tính ra số vần trong câu thơ”[8].

Những điều kiện xã hội và sự cần thiết nhạc điệu trong những lời cầu nguyện, nói chung, đã khích lệ việc phát sinh ra ngôn ngữ Thơ Ca ; rồi tới những giai đoạn sau đây mà chúng ta sẽ thấy, Thơ Ca mất đi tính cách lễ chế, để trở thành một ngôn ngữ tự khởi, tự sáng lập.

 

5. TRUYỆN TRUYỀN KỲ VÀ ANH HÙNG CA

Ngôn ngữ và Thơ Ca, trí nhớ và ca từ, những hình ảnh liên hệ với lời ca nhanh chóng tràn thoát ra khỏi lãnh vực huyền thoại và tôn giáo. Cùng một lúc ngôn ngữ Thơ Ca dùng làm điểm tựa cho lời cầu nguyện và phương tiện chuyên chở huyền thoại, ngôn ngữ Thơ Ca bảo trì giá trị dĩ vãng của dân tộc. Thi sĩ du ca Hy Lạp, những pháp sư Phi Châu, các thi sĩ hát rong của những xứ thuộc tộc người Celtes đã dùng lời nói có tiết điệu để ngợi ca những chiến công, những cuộc phiêu lưu của các vị anh hùng. Nguồn gốc của tất cả những anh hùng ca đều có một số sự kiện lịch sử mà khoa học, khảo cổ học hiện đại có thể miêu tả lại phần nào chính xác. Người ta đã so sánh tất cả sự khác nhau giữa những cuộc chiến có thực của người Achéens tại thành Troie với những chuyện kể của Homère; giữa những chiến tích của Charlemagne tại Tây Ban Nha với tác phẩm Chanson de Roland. Nhưng, thi sĩ du ca, thi sĩ anh hùng ca bắt buộc chỉ được kể thuần những biến cố do trí nhớ, và đó cũng chính là để cho thính giả khỏi phải chuyên chở nặng nề quá sức. Chính vì lẽ đó nên phải bi tráng hóa những sự kiện, lượng ước chiều ngắn dài của lời kể. Vì những biến cố này được truyền từ miệng qua tai, chúng bị biến dạng hoặc đơn giản hóa, hoặc trái lại, phức tạp hóa ít nhiều. Nhạc cụ buông những hòa âm theo dấu nhấn, uốn giọng, lặp đi lặp lại tiết nhịp và âm cảm phát ra. Vì thế mà những chuyện kể của Homère, anh hùng ca, chuyện kể về các triều đại lớn ở Châu Phi, các thi tập Tây Ban Nha…đều có những âm luật riêng, thích hợp cho từng thể loại.

Mặt khác, anh hùng ca kể lại những chuyện có thật tự thuở xa xưa, không có một điểm tựa thực mục sở thị nào hoàn toàn ở trong nền văn minh truyền khẩu. Anh hùng ca phải “cho thấy”những chuyện đó bằng xảo thuật lời nói và chúng ta thấy hình ảnh ; hình ảnh này trong anh hùng ca có nhiệm vụ giúp thính giả làm sống lại nơi mình câu chuyện được nghe kể; Thơ Ca của Homère là vậy đó. Hình ảnh Homère gợi lên, hơn bất kỳ nhà thơ anh hùng ca nào, giúp cho giấc mơ của thính giả trào dâng:

“Từ mảnh khảnh chưa thể nói lên điều gì, hoặc ít ra cũng chưa phải là một từ hùng biện cho lắm, khi chưa có một hình ảnh nào len vào để nâng đỡ ý nghĩa. Nhưng nếu tôi nói mảnh khảnh như một cây gồi, như Ulysse đã nói với Naucicaa, thì tất cả những ai đã từng biết đến cây gồi, sẽ dễ dàng hiểu ý tôi muốn diễn đạt. Cũng có thể có lợi hơn nếu chỉ nêu ý mảnh khảnh mà không phải nêu hẳn tên, chỉ nói tới cây gồi không thôi, vì chính thính giả phải tự khám phá, tự hình dung, tự lục lọi tìm kiếm lấy tận đáy kỷ niệm và mơ mộng về những đường nét duyên dáng, thanh thoát mà tôi muốn gợi lên trong họ” [9].

Những bản anh hùng ca lớn đều có liên hệ với những nền văn minh của lời nói. Chữ viết cho phép duy trì những bản anh hùng ca ( cũng như những thần thoại ) dưới hình thức văn chương và đã truyền tới chúng ta trong một khuôn mẫu giết chết từng phần những bản anh hùng ca đó : “có sự chiến thắng của cuốn sách với truyền thống truyền khẩu – chiến thắng của tài liệu, nhất là tài liệu viết với kinh nghiệm sống chỉ có được những phương tiện truyền thông thời-tiền-văn-chương.“[10]

Từ anh hùng ca thực sự (truyền khẩu) sang thời anh hùng ca có ghi chép để được đọc nhiều hơn được nghe kể, sẽ thấy rõ trong hoàn toàn văn bản Hy Lạp-La Mã chẳng hạn, khi người ta đề cập tới tác phẩm Énéide sau những bài thơ của Homère. Thơ trong Énéide thuộc loại thơ chỉnh đốn : không kém đẹp, nhưng ở đó xuất hiện cái mà Yvon Bélaval gọi là “ lời thần chú tình cảm “, nghĩa là rất hữu tình. Trong khi biết bao nhiêu công cuộc nghiên cứu, biết bao nhiêu giả thiết đã được nêu lên về cá tính của Homère, riêng với Virgile, ông đặt vấn đề với những nhà chú giải về sự tương đối giữa con người và tác phẩm. Trong cuốn tiểu thuyết thành công La Mort de Virgile ( Cái chết của Virgile ) của mình, Herman Broch đã có thể y cứ vào tác phẩm Énéide và cả một lô tài liệu chính xác để suy nghiệm thật kỹ về công cuộc sáng tạo Thơ Ca và ý nghĩa của nó”.[11]

Một tín hiệu khác nữa : những bản dịch về Homère hay nhất bằng Pháp ngữ đều do những nhà nghiên cứu ngôn ngữ tài danh Hy Lạp thực hiện, như Paul Mazon hay Victor Bérard. Virgile đã làm xiêu lòng các nhà thơ, nhà văn hiện đại như Paul Valéry, Pierre Klossowsky,…

Những thi phẩm anh hùng ca như Énéide, La Chanson de Roland tại Pháp, Thi Tập của Tây Ban Nha, Les Lusiades, L’Ameau de Niebelungen, những thiên anh hùng ca lớn của Ba Tư, Ấn độ, La Divine Comédie,…với cách diễn tả tiền-văn-chương, hay văn chương là những tác phẩm xuất hiện khoảng cuối thời Trung cổ và đầu thời Phục hưng. Với đà văn minh chữ viết ngày một phát triển, thì anh hùng ca – như vừa miêu tả ngắn gọn – cũng vừa cáo chung.

Tại Pháp, nhiều nhà thơ muốn tìm lại nguồn thi hứng của Virgile. Ronsard, với tác phẩm La Fraciade ( chưa viết xong ), chỉ là thực hiện một áng văn buồn nản không có sức sống để vươn cao.

Mặc dầu Boileau đặt anh hùng ca ngang hàng với bi kịch, người ta chỉ viết được trong lãnh vực này những gì được coi là dở tệ. Và Voltaire với tác phẩm La Henriade đã đào sâu và hoàn toàn chôn chặt thể loại này, tác phẩm La Légende des Siècles gồm một chuỗi bài thơ đã được Hugo đặt tên là “ Những Tiểu Anh Hùng Ca “.

Và Roger Caillois đã viết “ Tác phẩm tương xứng hiện đại với Iliade là một trường thiên tiểu thuyết chứ không phải một anh hùng ca diễn đạt bằng Thơ, đó là cuốn Chiến Tranh Và Hòa Bình “.[12]

 

6. SỰ MINH TRIẾT

Là phương tiện chuyên chở huyền thoại và lịch sử, ngôn ngữ Thơ Ca cũng là phương tiện chuyên chở luân lý, siêu hình và khoa học.

Ngày nay, Raymond Queneau viết Petite Cosmogonie Portative, và khi ông làm một cuộc bình chú bằng Thơ về cuốn phim của Alain Resnais : Le Chant du Styrène, ông đã nhẹ nhàng làm sống lại những tập quán mà Thơ Ca đã đánh mất từ lâu.

Chính bằng cách đó, Parmémide, Empédocle đã diễn đạt những hệ thống triết học bằng Thơ. Những tư tưởng cô đọng và khép kín này, ngày nay quyến rũ chúng ta một cách lạ thường, vì chúng đã tiếp nhận những điều đó bằng những bài thơ.

Đọc một vài bản văn còn lại của Paménide, sự cô đọng khiến ta liên tưởng tới René Char :

Không sao có thể chia cắt được, vì đây là toàn thể, là nguyên vẹn, là thuần nhất, ở đấy cũng chẳng thêm thắt một điều gì vì sự liên lĩ của nó[13], ở nơi kia cũng không thể bớt bỏ một chút gì : tất cả đều đã tràn đầy thực thể. Như vậy, mọi sự đều liên tục : thực thể ép chặt lấy thực thể…[14]

Người ta có thể đọc qua Đạo Đức Kinh của Lão Tử, Bhagavad-Gita, hay một số lớn Thơ Ca Ả Rập, hoặc gần với nền văn minh của chúng ta, là bài thơ lớn của Lucrèce De Natura rerum, tác phẩm của Lucrèce trong giới hạn của Thơ Ca giải thích và Thơ Ca giáo huấn là một tỉ dụ rõ ràng về Thơ Ca giáo huấn mà truyền thống đã bị mai một và mất tích chóng vánh.

Vả chăng, nền văn xuôi trong văn minh mới, nhất là nền văn xuôi được ghi lại bằng chữ viết, trở nên mềm mại hơn, có khả năng phân tích và đạt được những gì thuộc về trừu tượng, và đó là lý cớ để các loại thơ giáo huấn ngày một phai mờ mai một dần. Nhiều nhà triết học muốn nương dụng nhịp điệu hay hình ảnh trong Thơ Ca để nêu lên, để vận động cho những khảo cứu hay những trầm tư của mình. Và thường thì các vị đó đều thất bại, và nếu như có đôi ba vị thành công trong lãnh vực khó khăn này, đó là nhờ trước hết các vị đó đã là thi nhân rồi. Như Rilke trong những bài bi ca Élégies de Duino,

Đôi khi cả Brecht nữa – hình ảnh có trước hoặc hình ảnh ý nghĩa.

Nhưng đó chỉ là những biệt lệ hiếm hoi.

Bachelard đã minh chứng điều này trong một số tác phẩm của ông : dáng dấp khoa học và dáng dấp Thơ Ca theo những con đường dị biệt. Thơ Ca không có cách nào giúp ta trong việc giải thích khoa học, hay giảng dạy triết học, đạo đức, hay lý giải những cấu trúc phức tạp của thế gian.

Khi Thơ Ca đi vào lãnh vực siêu hình hay đạo đức, tự Thơ Ca sẽ xuất phát điều đó.

Ngày nay, người ta khám phá ra rằng, có một thế giới thực tại còn đáng kinh ngạc hơn cả thế giới mộng tưởng; họ chờ đợi ở Thơ Ca nhiều niềm vui, nhiều hân thưởng hơn là những bài học vật lý khô cứng. Nói tóm lại, những triết học, luận lý học, thánh triết(sapience) đã từ lâu không thể mượn con đường Thơ Ca để minh giải giúp người ta hiểu về mình hơn.

 

7. NHỮNG CÔNG TRÌNH VÀ NHỮNG NGÀY NHỮNG THÁNG

Tự thuở tiền cổ xa xưa, qua mọi nền văn minh, những khoảnh khắc đáng ghi nhớ nhất của một đời người hay một tập thể đều được tán ca bằng những lời lẽ đầy âm điệu trầm bổng nhịp nhàng.

Cũng như âm nhạc và vũ khúc, lời nói có vần điệu đem lại nét rực rỡ cho những khoảng hiện sinh đặc biệt, cho những dáng vẻ khi làm việc, cho những tiếp nối của ngày của đêm, của chuyển nhịp mùa màng, của u nùng thời tiết…

Nó chủ tọa lúc sinh, lúc chết, khi cữ hành hôn lễ. Ngày nay chúng ta còn thấy vậy, ngay giữa trung tâm khu rừng nhiệt đới, trong lời than vãn, kể khổ sau đây của giống người lùn thấp bé Pygmée, nói lên hết lẽ sinh diệt của kiếp người :

Con thú nó chạy, nó qua đi, nó chết. Và trời giá lạnh.
Cái lạnh đại hàn của đêm đen, màu tối đen phủ kín.
Con chim nó bay, nó qua đi, nó chết. Và trời giá lạnh
Cái lạnh đại hàn của đêm đen, màu tối đen phủ kín
Con cá nó bơi chạy trốn, nó qua đi, nó chết. Và trời giá lạnh
Cái lạnh đại hàn của đêm đen, màu tối đen phủ kín
Con người ăn và ngủ. Người chết và trời giá lạnh
Và đó là cái lạnh đại hàn của đêm đen.Màu tối đen phủ kín…[15]

Lời nói có vần điệu nhịp theo những động tác khi làm việc được giúp đỡ và duy trì. Rất nhiều bài hát về nghề nghiệp còn hiện hữu, và không chỉ riêng trong kho tàng mênh mông của thơ truyền khẩu khuyết danh. Có biết bao nhà thơ lớn không ngại ngần cất tiếng hát, ngợi ca những lao tác của con người : “Trong tác phẩm Les Travaux et les jours, Hésiode kéo dài sự hình thành vũ trụ bằng một cuốn niên lịch thông thư về mùa màng.”(R. Caillois).

Hãy chú ý, khi bạn nghe tiếng chim hạc
Vang động trong mấy tầng mây cao, cất tiếng gọi hàng năm của nó :
Đó là tín hiệu của công việc cày bừa và mùa đông đã tới cùng những cơn mưa : Tiếng hạc làm nhói buốt tim gan kẻ không có bò. Vậy phải có cỏ rơm cho bò về chuồng.
Hẳn là thật dễ dàng khi nói: “Hãy cho tôi bò và cả chiếc xe của anh”, và cũng thật dễ dàng khi trả lời :” Có công việc cho những con bò của tôi.”[16]

Ngôn ngữ Thơ Ca bước theo bốn mùa qua lại, cùng những biến cố lớn nhỏ trong đời riêng mỗi cá nhân cũng như trong đời sống cộng đồng, tập thể. Ngôn ngữ Thơ Ca, theo đúng nghĩa của nó, là Thơ Ca của hoàn cảnh, và điều đó tùy hợp với những phương tiện, với những hình thức rất khác nhau để tùy ứng với từng giai cấp trong xã hội. Người ta phác thấy có ít nhất hai dòng thơ trong lãnh vực này.

Trong xã hội quý phái của những người biết đọc chữ, bài thơ cho trường hợp đặc biệt tự khép trong những hình thức chính xác và gọt giũa tỉ mẩn : Bài thơ chúc mừng hôn phối, bài ai điếu trong dịp lễ tang, bài ca khải hoàn trong ngày chiến thắng,…Thơ Ca chốn Triều Đình vi tế và nguồn gốc của những phối hợp tinh anh nhất mà ngôn ngữ có thể cống hiến và thể hiện với chính nó.

Trong hoàn cảnh bình dân, loại thơ vô danh phồn thịnh một cách lạ lùng, sự kiện này phổ biến trong mọi nền văn minh và mọi giai đoạn của sử lịch.

“Những gì mà trí nhớ quốc gia truyền tới cho chúng ta, đó là những gì đã được sàng lọc và gìn giữ. Sự kiện phần lớn dân quê không biết đọc biết viết qua bao nhiêu thế kỷ càng nhấn mạnh về giá trị của cuộc chọn lọc kiên trì đó. Sau đó thì chúng ta đã biết : Trang giấy gánh chịu hết thảy, ghi giữ và truyền đạt vĩnh viễn điều chính yếu cũng như phụ thuộc, cả tuyệt phẩm lẫn tác phẩm tập tàng. Nhưng trí nhớ thì có sự lựa chọn, đòi hỏi cái chính yếu. Trí nhớ làm việc như óc sáng tạo và phê bình.

Trí nhớ vứt bỏ những gì không cần thiết, không nổi bật. Trí nhớ là kẻ a tòng thông thái nhất của thi nhân.”[17]

Một khối phế thải mênh mông xuất hiện. Thơ Ca về công trình, về các ngày tháng…các thứ, Thơ Ca bác học hay bình dân chỉ tồn tại trong chừng mực nào đó khi nó còn là cái gì hơn cái đối vị cho những giai đoạn hiện sinh và những hóa thân của vũ trụ.

Trong những khoảnh khắc lớn, Thơ Ca luôn gửi đi một tiếng nói – dù có được biết đến hay không – gửi đi một rung động duy nhất tới một người nam hay nữ, và những người này – trong trường hợp này cũng như trường hợp lời cầu nguyện hay anh hùng ca – họ khám phá thấy rằng ngôn ngữ do nhịp điệu làm chủ và được phong phú bởi những hình ảnh đã trước hết cho phép diễn đạt chính những thứ ấy.

 


[1] .Roger Caillois, Art poetique, Paris, Gallimard, 1958.

[2] .George Mounin, Poésie et Société, Paris P.U.F.

[3].Mircea Eliade, Aspect du Mythe, Paris, Gallimard(Coll.”Idées)

[4] . Roger Caillois và Jean- Clarence Lambert, Trésor de la Poésie Universelle, Gallimard.

[5] . Trésor de la Poésie universelle, trang 24

[6] . Pìerre Seghers, Lời Nói Đầu của tác phẩm Livre d’or de la Prière của Alfonso M.Di Nola, Verniers(Belgique) Marabout Universite1, 1963, tr.56.

[7] . Georges Lote, Histoire du vers Francais, quyển 1, Paris, Boivin.

[8]. Georges Mounin, Poésie et Société, tr. 82

[9] . Roger Caillois, Art Poetique, tr. 136

[10] .Mircéa Éliade, Aspects du Mythe, tr. 182

[11] .Cuốn tiểu thuyết này do NXB Gallimard ấn hành, có một cái nhìn mới về Thơ Ca.

[12] .Bản dịch của Auguste Dies, trong tuyển tập của Roger Caillois và J.Clarence Lambert, Trésor de la Poésie Universell, tr.204.

[14] . Như chú thích số 18.

[15] .Trésor de la poésie universelle, tr.44

[16] .Hésiode, bản dịch của Pierre Guillon, Encyclopédie dela Pléiade, Paris, Gallimard, tr 375

[17] .Claude Roy, Trésor de la Poésie Populaire Francaise, Paris Seghers, tr 10-11

bài đã đăng của Georges Jean


3 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Ngày nay, người ta khám phá ra rằng, có một thế giới thực tại còn đáng kinh ngạc hơn cả thế giới mộng tưởng; (Bài chủ)

    Thật ra cái thế giới thực tại đó sẽ đáng kinh ngạc hơn khi nó được ngắm nhìn kèm theo trí tưởng tượng. Nếu không còn trí tưởng tượng thì căn bản xem như không còn khoa du lịch, thí dụ. Quý vị sẽ dễ dàng nhận ra rằng những người từ xa xôi đến thăm viếng và viết về một thành phố, nó sẽ gây ngạc nhiên cho chính những người đang sống tại thành phố đó hàng ngày.

    Người ta nói rằng không ai có thể ngăn cản được tưởng tượng. Đúng vậy. Nhưng còn một điều quan trọng hơn nữa đó là sự nuôi nấng nó. Một ngày nắng đẹp trên biển thì rất dễ biến thành thơ ca, với điều kiện là nó từng đã và đang được nuôi nấng trí tưởng tượng. Thử lản vản cái giàn khoan “lạ” ngoài khơi xem, sự tưởng tượng sẽ kết thúc. Và thơ ca cũng sẽ có nhiều phần ngoắc ngoải.

    You can’t depend on your eyes when your imagination is out of focus. Mark Twain

  • black raccoon viết:

    Trí nhớ là kẻ a tòng thông thái nhất của thi nhân (Claude Roy – HT)

    Memory, ký ức, trí nhớ, kỷ niệm, là một đặc trưng quý báu của riêng con người. Người cụt tay cụt chân hay mù mắt, anh ta vẫn có thể còn hữu dụng, thậm chí trở thành những chuyên viên rất giỏi, nhờ ký ức vẫn còn minh mẫn. Vì một lẽ gì đó, trí nhớ anh ta yếu kém, lẫn thẫn, hoặc quên hết, căn bản mà nói, anh ta đã giã từ cộng đồng sinh hoạt của con người.

    kỷ niệm có một đặc tính rất thú vị là khả năng chắt lọc, điều chỉnh, hiệu đính kể cả sáng tạo rất tài tình. Thử nhớ và viết lại một câu chuyện ấn tượng nào đó của mình, mọi người sẽ thấy. Chắc chắn người ta sẽ không viết lại 100% chi tiết. Người ta sẽ “được” ký ức lược dẫn theo một hướng nào đó “hợp” với mình trong hiện tại nhất. Đoạn phim chiếu lại đó không phải tự động. Nó có sự cắt xén sửa chửa của ông đạo diễn là ký ức. Hoặc, sau một chuyến du lịch xa, tháng sau về nhà viết lại, nhất là thơ ca, quý vị cũng sẽ chẳng bao giờ loan báo theo một trình tự ghi nhận như chuyến du hành đã trải qua. Quý vị sẽ viết lại với sự “đồng ý” của ký ức.

  • Nguyễn Nhân Trí viết:

    “Với phần lớn các tín đồ trong mọi tôn giáo, hình thức Thơ Ca trong lời cầu nguyện là điều cần thiết để giúp cho dễ nhập tâm… Có nhiều bằng chứng cho chúng ta thấy sự hứng khởi của tín đồ đã khích lệ việc sùng kính các cơ sở… Những nơi tín đồ gia nhập đều có những bài ca lễ chế đơn giản, rất dễ hát để cho những ai chưa được tập luyện mà không vấp phải một trở ngại nào… ”

    Phải chăng điều nầy thể hiện qua nhiều bài kệ trong Phật Giáo được ê a dưới dạng lục bát (là một trong các thể thơ dễ lôi cuốn và dễ nhớ nhất vì vần điệu sẵn có của nó)?

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)