Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu, Tư Liệu Email bài này

Thanh Việt Nghị Hòa- Chương VI: Tiễn Khách- Chương VII: Thành Quả Bang Giao

CHƯƠNG VI

TIỄN KHÁCH

Sau khi làm lễ xong, Thành Lâm hỏi han về tình hình trong nước thì vua Quang Trung nói là nước vốn 13 đạo, nay 12 đạo qui phụ chỉ còn đạo Cao Bình còn do cựu thần nhà Lê chiếm giữ.[1] Về việc gặp gỡ với Nguyễn Quang Bình, Thành Lâm trong lời khai với Quân Cơ đại thần khi được triệu lên kinh nguyên văn như sau:

Tuân chỉ tra hỏi Thành Lâm khai rằng khi tương kiến với Nguyễn Quang Bình thì Nguyễn Quang Bình nói y [vua Quang Trung] ở Quảng Nam xa xôi nóng nực chưa từng đến nội địa nhưng nghe rằng đại hoàng đế lên ngôi đã 54 năm, bốn biển thăng bình, trong ngoài nhất thống, kể cà văn đức võ công đều vượt lên hơn mọi đời trước. Thánh thượng nay đã đến tuổi bát tuần nhưng vẫn an khang mạnh khoẻ người ở xa không biết, nay xin được nghe cho tỏ tường.

Thành Lâm nhân thế mới cho hay rằng đại hoàng đế kính trời, chăm lo cho dân, ngày ngày coi sóc mọi việc không hề bê trễ, tuy ở ngôi cao đã 54 năm mà cũng như một ngày, vạn quốc cửu châu đâu đâu cũng thành tâm quay về.

Hoàng thượng có đủ cả ân uy, những kẻ không chịu ở yên như Y Lê, Hồi bộ Lưỡng Kim Xuyên thì ra quân hỏi tội, giáo trời chỉ xuống thì đều quét sạch, mở đất khai cương hơn hai vạn dặm khiến cho bờ cõi rộng lớn sử sách ít khi nghe tới. Đến như tấu thư chương sớ, công việc của bề dưới trong triều ngoài tỉnh, lớn nhỏ cũng đều xem hết, đích thân phê đáp.

Còn như các nghề thêm vào, thơ văn ngự chế đến mấy vạn thiên, không bài nào mà không lo lắng đến dân, quan hoài đến chính vụ. Đến nay thánh thọ bát tuần, tinh thần vững chãi, thiên nhan chẳng khác gì lúc tráng thời. Mỗi năm cử hành điển lễ thu tiển [秋獮- đi săn mùa thu] cưỡi ngựa vây bắt, đích thân cung tên, bắn trúng như thần. Đến kỳ tế lễ giao miếu cũng đều tự mình hành lễ, đăng hiến nghi văn đều nghiêm trang kính cẩn đủ biết thánh thượng khang cường, kiện hành bất tức [健行不息][2]. Lại thêm năm đời một nhà, cháu chắt đầy đàn, thật là việc thịnh từ xưa chưa từng có.

Nguyễn Quang Bình nghe xong rất là hân hoan, vui mừng quả là chí thành lộ ra hỏi lại về gia thế, niên kỷ của Phúc Khang An cùng con cái thế nào, đang giữ chức gì.

Thành Lâm cho biết Phúc Khang An là cháu [thân điệt – cháu gọi bằng cô hay dì] hoàng hậu Hiếu Hiền, là con trai của đại học sĩ Trung Dũng Công Phó Hằng [傅恒] nhân vì xuất sư Kim Xuyên bình định giặc Hồi được phong Gia Dũng Hầu. Năm ngoái đem binh vượt biển tiêu diệt tặc phỉ Đài Loan nên được tấn phong công tước, năm nay 36 tuổi, có 1 con trai còn nhỏ.

Nguyễn Quang Bình thấy Phúc Khang An vốn dòng dõi công thần lại mấy lần lập được công lao, còn chuyện bình định Đài Loan thì Quảng Nam đường biển tương thông nên cũng đã từng nghe rồi.

Thành Lâm xem sắc mặt thấy có vẻ kính phục sợ hãi nên cũng hứa sẽ tâu lên lòng cung thuận thay y. Nguyễn Quang Bình tỏ vẻ cảm kích lại hỏi đến gia thế tuổi tác Thành Lâm, có con cái chưa?

Thành Lâm nói rằng tôi là người Mãn Châu, 38 tuổi, cha là Hạc Niên [鹤年], anh là Quế Lâm [桂林] cũng đều từng làm việc dưới quyền tổng đốc Lưỡng Quảng.[3]

Thành Lâm sau đó cùng quan lại nước ta đến tế các tướng sĩ trận vong ở miếu mới lập ở phía nam bờ sông. Cũng nhân dịp này, nhà Thanh cũng thoả hiệp với nước ta để đem các thi thể binh sĩ nhà Thanh tử trận đem về nước chôn cất [câu 43-4].

CHƯƠNG V

TÁI LẬP BANG GIAO

Ngày 17 tháng Mười năm Kỷ Dậu [3-12-1789], phái đoàn phong vương của Thành Lâm từ Thăng Long lên đường về nước. Theo lời tâu của Thành Lâm thi khi hai bên cáo biệt, vua Quang Trung “chắp tay đưa tiễn, ra chiều lưu luyến”, sai con là Nguyễn Quang Thùy cùng văn võ đại viên đưa ra đến ngoài 15 dặm, còn Ngô Văn Sở thì tiễn đến ngoài 20 dặm.[4]

Nhân dịp này, vua Quang Trung sai Thanh Tiết Hầu Nguyễn Hoành Khuông (清節侯阮宏匡) làm chánh sứ, Hiển Trạch Bá Tống Danh Lãng (灦澤伯宋名郞), Lê Lương Thận (黎梁愼) làm phó sứ mang tờ biểu tạ ơn vua Càn Long đã ban cho và sứ bộ tuế cống do Trần Ðăng Thiên [陳登天] làm chánh sứ, Nguyễn Chỉ Tín [阮止信], Nguyễn Ðề [阮偍] làm phó sứ cùng đi với phái đoàn nhà Thanh đem 3 biểu văn tạ ơn và lễ vật sang Quảng Tây.

BIỂU TẠ ƠN VÀ TRẦN TÌNH[5]

Nguyên văn

新封安南國王臣阮光平謹奏,為恭謝聖恩敬陳下悃仰祈睿鑒事:

臣安南五服之外屛也。自前代丁氏啟宇,內屬受封,從此世代相因,迭膺封爵之命。

然而地僻桂郊,天遠楓陛,天朝以化外外之。

宋皇所賜黎王桓之書,元朝所徵陳王烜之詔。

千年信史,事猶可徵。

大抵秋肅之意多,春温之澤少,祗以函封請命,姑賜回容,固未有恩施稠叠,珍珠偕玉諭而寵頒,宸翰煇煌,御詩並勅書而榮錫,如今日大皇帝之隆恩,與臣光平此番之遭遇者也。

臣本廣南之田舍子爾,天造草昧于黎,阮鄭二强搆兵滋亂,淪胥以敗,交南無主,臣幸為同志所推,叩關請命。雖有恪恭一念之誠,而未得展出入三覲之敬。

臣所遣親姪阮光顯賚遞投順之表[6],身未及闕,而恩賜已施。

臣嗣遣家臣黃道秀獻上謝恩表文,方當候命在關[7],而寵綸旋降。

臣伏讀前後勅書聖天子諄諄以順天而行,播諸溫諭,聖人之心卽天也,栽培傾覆,大都順其自然,造化生機,儘于貞下起元點出。至于手串之珠,天子將賜履焉,欲其合璧聯珠,旋繞北辰,而有綿延不窮之象也。

御賜之詩諄切,以守封疆傳子孫為訓,而且勉之以欽久,道凛持盈,尤欲其競業特守,祗承天厤,以長守南服之侯度也。夫春秋之義大一統,聖天子一視同仁,併包徧覆,恩澤所加,聲敎所暨,卽胥敖蓬艾,咸在蓋容亭育之中。顧臣實寡眛,膺此榮光,由本國黎陳以上,迄于貉龍建國之初,創見而曠聞,何以答高厚始生之萬一。

臣自聞封旨,卽由義安起程,感激歡欣,急願早承恩命,適勞頓感寒,舊疾復作。伏念臣謬膺封爵,卽為南服屏藩,若不自愛其身,病勢增劇,是在臣家國為小,而辜負大皇帝如天之恩,負罪益重。用敢禀明調治,另改宣封日期,焦急呻吟中,感念無量天恩,實為至優極渥。淪肌浹髓,夙恚頓除,于十月十 五日敬謹領受御詩勅書,從此司牧南郊,臣世世子孫,恪遵聖訓,永奉大清。

臣以西山布衣,榮膺封號,自問無可報答,惟于明年三月上旬,起身赴京,瞻仰天顏,恭祝大皇帝八旬萬夀,並得日聆訓諭,稍知政治之本,遵奉施行,俾舉國臣庶蒙庥,實臣之大願望也。

臣仰感隆恩,俯攄衷素,謹奉遴選家臣:阮宏匡,宋名郎,黎梁愼等,賚遞謝恩表文,並謝儀,款關奏進。再奉查照向例,今年正値臣國歲貢之期,任士之禮,不敢稽曠。謹奉接遣家臣:陳豋天,阮止信,阮偍等,將貢儀一併恭遞至關,伏望聖恩曲垂矜字,准賜臣所遣行价等名,恭詣闕庭瞻覲。並將謝儀貢儀上進,庶得恪守舊章,永覃新澤,無缺共球之職,不墜屏翰之修。臣下情無任瞻天仰聖激切願望之至。謹奉表奏進以聞。

Dịch âm

Tân phong An Nam quốc vương thần Nguyễn Quang Bình cẩn tấu,

Vi cung tạ thánh ân kính trần hạ khổn ngưỡng kì duệ giám sự:

Thần An Nam ngũ phục chi ngoại bình dã.

Tự tiền đại Ðinh thị khải vũ, nội thuộc thụ phong, tòng thử thế đại tương nhân, điệt ưng phong tước chi mệnh.

Nhiên nhi địa tích Quế Giao, thiên viễn phong bệ, thiên triều dĩ hóa ngoại ngoại chi.

Tống hoàng sở tứ Lê vương Hoàn chi thư,

Nguyên triều sở trưng Trần vương Huyễn chi chiếu.

Thiên niên tín sử, sự do khả trưng.

Ðại để thu túc chi ý đa, xuân ôn chi trạch thiểu,

Chi dĩ hàm phong thỉnh mệnh, cô tứ hồi dung,

Cố vị hữu ân thi trù điệp, trân châu giai ngọc dụ nhi sủng ban, thần hàn huy hoàng, ngự thi tịnh sắc thư nhi vinh tích, như kim nhật đại hoàng đế chi long ân, dữ thần Quang Bình thử phiên chi tao ngộ giả dã.

Thần bản Quảng Nam chi điền xá tử nhĩ, thiên tạo thảo muội vu Lê, Nguyễn Trịnh nhị cường cấu binh tư loạn, luân tư dĩ bại, Giao nam vô chủ, thần hạnh vi đồng chí sở thôi, khấu quan thỉnh mệnh.

Tuy hữu khác cung nhất niệm chi thành, nhi vị đắc triển xuất nhập tam cận chi kính.

Thần sở khiển thân điệt Nguyễn Quang Hiển lãi đệ đầu thuận chi biểu, thân vị cập khuyết, nhi ân tứ dĩ thi.

Thần tự khiển gia thần Hoàng Ðạo Tú hiến thượng tạ ân biểu văn, phương đương hậu mệnh tại quan, nhi sủng luân toàn giáng.

Thần phục độc tiền hậu sắc thư

Thánh thiên tử truân truân dĩ thuận thiên nhi hành,

Bá chư ôn dụ, thánh nhân chi tâm tức thiên dã,

Tài bồi khuynh phúc, đại đô thuận kỳ tự nhiên,

Tạo hóa sanh cơ, tẫn vu trinh hạ khởi nguyên điểm xuất.

Chí vu thủ xuyến chi châu, thiên tử tương tứ lý yên, dục kỳ hợp bích liên châu, toàn nhiễu bắc thần, nhi hữu miên diên bất cùng chi tượng dã.

Ngự tứ chi thi truân thiết, dĩ thủ phong cương truyền tử tôn vi huấn, nhi thả miễn chi dĩ khâm cửu, đạo lẫm trì doanh, vưu dục kỳ cạnh nghiệp đặc thủ, chi thừa thiên lịch, dĩ trường thủ nam phục chi hầu độ dã.

Phù xuân thu chi nghĩa đại nhất thống, thánh thiên tử nhất thị đồng nhân, tính bao biến phúc, ân trạch sở gia, thanh giáo sở kỵ, tức tư ngao bồng ngải, hàm tại cái dung đình dục chi trung.

Cố thần thật quả muội, ưng thử vinh quang, do bản quốc Lê Trần dĩ thượng, hất vu hạc kiến quốc chi sơ, sang kiến nhi khoáng văn, hà dĩ đáp cao hậu thủy sinh chi vạn nhất?

Thần tự văn phong chỉ, tức do Nghĩa An khởi trình, cảm kích hoan hân, cấp nguyện tảo thừa ân mệnh, thích lao đốn cảm hàn, cựu tật phục tác.

Phục niệm thần mậu ưng phong tước, tức vi nam phục bình phiên, nhược bất tự ái kỳ thân, bệnh thế tăng kịch, thị tại thần gia quốc vi tiểu, nhi cô phụ đại hoàng đế như thiên chi ân, phụ tội ích trọng.

Dụng cảm bẩm minh điều trị, lánh cải tuyên phong nhật kỳ, tiêu cấp thân ngâm trung, cảm niệm vô lượng thiên ân, thật vi chí ưu cực ác.

Luân cơ tiếp tủy, túc khuể đốn trừ, vu thập nguyệt thập ngũ nhật kính cẩn lĩnh thụ ngự thi sắc thư, tòng thử ti mục Nam Giao, thần thế thế tử tôn, khác tuân thánh huấn, vĩnh phụng Ðại Thanh.

Thần dĩ Tây Sơn bố y, vinh ưng phong hào, tự vấn vô khả báo đáp, duy vu minh niên tam nguyệt thượng tuần, khởi thân phó kinh, chiêm ngưỡng thiên nhan, cung chúc đại hoàng đế bát tuần vạn thọ, tịnh đắc nhật linh huấn dụ, sảo tri chính trị chi bản, tuân phụng thi hành, tỉ cử quốc thần thứ mông hưu, thật thần chi đại nguyện vọng dã.

Thần ngưỡng cảm long ân, phủ sư trung tố, cẩn phụng lấn tuyển gia thần: Nguyễn Hoành Khuông, Tống Danh Lang, Lê Lương Thận đẳng, lãi đệ tạ ân biểu văn, tịnh tạ nghi, khoản quan tấu tiến.

Tái phụng tra chiếu hướng lệ, kim niên chánh trị thần quốc tuế cống chi kỳ, nhiệm sĩ chi lễ, bất cảm kê khoáng.

Cẩn phụng tiếp khiển gia thần: Trần Ðăng Thiên, Nguyễn Chỉ Tín, Nguyễn Ðề đẳng, tương cống nghi nhất tính cung đệ chí quan, phục vọng thánh ân khúc thùy căng tự, chuẩn tứ thần sở khiển hành giới đẳng danh, cung nghệ khuyết đình chiêm cận.

Tịnh tương tạ nghi cống nghi thượng tiến, thứ đắc khác thủ cựu chương, vĩnh đàm tân trạch, vô khuyết cộng cầu chi chức, bất trụy bình hàn chi tu.

Thần hạ tình vô nhiệm chiêm thiên ngưỡng thánh kích thiết nguyện vọng chi chí. Cẩn phụng biểu tấu tiến dĩ văn.

Dịch nghĩa

Quốc vương mới được phong nước An Nam là Nguyễn Quang Bình kính cẩn tâu lên để mong thánh thượng trông xuống xem xét cho tấm lòng thành của thần.

Ðất An Nam của thần vốn là che chắn bên ngoài ngũ phục[8]. Từ triều đại Ðinh mở nước ngày trước thì đã nội thuộc thụ phong. Tuy náu ở đất Quế, đất Giao, xa cách thiên triều bệ ngọc, thành ra ở ngoài vùng giáo hoá nhưng sắc thư nhà Tống phong cho vua Lê Hằng (Hoàn?), nhà Nguyên phong cho vua Trần Huyễn vẫn còn, mười năm tín sử, có thể làm bằng chứng.

Nói chung mùa thu tiêu điều nhưng ý vẫn nhiều, mùa xuân ấm áp nhưng ân thấm cũng không được mấy. Thế mà thần vừa xin phong hỏi mệnh, đã được trả lại, thi ân lớp lớp, nào là trân châu, nào là ngọc đẹp, sủng ban dụ xuống, nét bút huy hoàng, ngự bút kèm theo sắc thư mà vinh tích, long ân như đại hoàng đế ngày hôm nay thật quả là tao ngộ của thần Nguyễn Quang Bình vậy.

Thần là con nhà điền dã đất Quảng Nam, vì trời khiến cho nhà Lê mờ tối, cường thần làm loạn, lênh đênh bại vong khiến cho đất Giao ở phương nam vô chủ, thần may gặp những người cùng chí hướng thúc đẩy, gõ cửa khuyết thỉnh mệnh. Tuy có lòng thành khác cung nhưng chưa tỏ kính vào triều tam cận. Thần đã sai cháu ruột là Nguyễn Quang Hiển dâng biểu đầu thuận tuy thân chưa đến được cửa khuyết, vậy mà ơn đã ban xuống rồi.

Thần lại sai gia thần Hoàng Ðạo Tú dâng lên biểu văn tạ ơn, còn đang đợi lệnh ở cửa quan thì sủng ân đã đến. Thần quì đọc thánh dụ sắc thư trước sau, khăng khắng theo lẽ trời, lời lời ôn tồn, lòng của bậc thánh nhân quả là lòng trời, vun đắp ngả nghiêng, cốt thuận với tự nhiên, sinh cơ tạo hoá, theo chữ trinh xuống cho dân, đi từ thuở ban đầu. Lại còn vòng đeo tay bằng ngọc trai, thiên tử ban cho, đúng là liên châu hợp bích, là tượng rực rỡ không cùng của sao Bắc Thần vậy.

Còn bài thơ ngự tứ, khắng khít nhắc việc truyền tử lưu tôn giữ lấy bờ cõi, lại phải luôn luôn tuân theo đạo để được lâu dài, chăm chăm như bưng bát canh đầy, nơm nớp lo giữ lấy nghiệp nước, kế thừa mệnh trời để trường kỳ giữ phận nơi nam phục.

Phàm nghĩa lớn của Xuân Thu ấy là nhất thống, thánh thiên tử đãi ai cũng đồng nhân, bao phủ hết cả mọi nơi, ân trạch thấm nhuần thanh giáo, nên những nước nhỏ thấp hèn cũng được ở dưới bóng râm của mái đình nên dù thần đức kém, ngu muội cũng được hưởng vinh quang. Còn bản quốc từ Lê, Trần trở về trước đến tận vua Lạc Long dựng nước, ít thấy mà cũng không được nghe, biết làm sao để báo đáp ơn cao dầy một phần trong muôn vạn?

Thần nghe tin chỉ được phong, lập tức từ Nghệ An khởi trình, sung sướng cảm kích, mong sớm được nhận ân mệnh, nào ngờ lao lực mệt nhọc nên cảm hàn, bệnh cũ trở lại. Trộm nghĩ thần được phong tước rồi, ấy là phên dậu ở cõi nam, nếu không biết yêu lấy thân mình để cho bệnh thêm nguy kịch thì đối với nhà với nước của thần là chuyện nhỏ nhưng phụ ơn như trời của đại hoàng đế đó mới thật là tội lớn nên đành phải tâu lên rõ ràng về việc điều trị, xin thay đổi nhật kỳ tuyên phong.

Trong lúc vội vã rên xiết, nghĩ đến thiên ân vô lượng, ấy thực là dày rộng, phủ ngoài da, thấm vào tuỷ khiến cho bệnh tật biến mất. Ngày 15 tháng Mười, kính cẩn lãnh thụ ngự thi và sắc thư, từ nay chăn dắt đất Nam Giao, thần đời đời con cháu, tuân theo thánh huấn, phụng sự nhà Ðại Thanh.

Thần vốn chỉ là kẻ áo vải đất Tây Sơn, được vinh dự phong hiệu, tự biết không thể nào báo đáp được, chỉ mong thượng tuần tháng ba sang năm, khởi thân lên kinh, chiêm ngưỡng thiên nhan, chúc mừng đại hoàng đế bát tuần vạn thọ, mong được ngày ngày nghe lời thánh dụ, biết qua căn bản chính trị, tuân phụng thi hành, dân chúng thần tử trong nước cũng được nhờ ấy là đại nguyện của thần vậy.

Thần cảm kích ơn đức sâu dày, chỉ có chút mọn đạm bạc, kính cẩn sai kẻ gia thần thân tín là Nguyễn Hoành Khuông, Tống Danh Lang, Lê Lương Thận đem biểu văn tạ ơn và chút lễ dâng lên. Lại tra theo lệ, năm nay đúng là kỳ hạn tuế cống của nước thần, lễ thổ sản không dám thiếu sót, kính cẩn sai gia thần là Trần Phong Ðại [đúng ra là Trần Đăng Thiên], Nguyễn Chỉ Tín, Nguyễn Ðề đem cống nghi đến cửa quan.

Trộm mong ơn thánh soi xuống kẻ dưới, chấp thuận cho những người thần sai đi được cung kính đến nơi cửa khuyết chiêm cận, để được dâng lên cống vật tạ ơn, lòng thành giữ theo lệ cũ mãi mãi được thấm nhuần ân trạch, không thiếu bổn phận kẻ cộng cầu, không rơi nhiệm vụ làm phên dậu. Hạ thần không được chiêm ngưỡng thiên nhan, thánh thể, nhưng thật hết dạ cầu mong.

TẠ ÂN BIỂU

Nguyên văn

新封安南國王阮光平謹奏上言:

茲欽奉特頒恩命敕書,並賞賜御製親筆詩章,綸綍煇煌,宸奎璀璨,蓋自白雉賓周以後,指南之嶺嶠重煇,粵從朱鳶屬汗迄今,拱北之星宸增彩,實自天之異數,眞曠古之奇逢。

臣叩首承恩,捫心感德,天地父母之為量,固莫德而形容,塵壤涓滴之至微,實何階而報稱?

謹奉表稱謝者:

伏以

太和保合,乾施照龍德之正中,

鄞治流行,晉錫仰洪恩之溥慱,

隆霑逮遠,素悃瞻高。

欽惟大皇帝陛下,豈弟為綱,中和作則。

敬止緝熙穆穆[9],久道而天下化成,

欽明文思安安[10],惇德而蠻夷率服。

北極辰居其所,

南溟波自不揚,

聖心恢綏附懷來,雨露繼風霆而潤澤。

天道體栽培傾覆,山陵因淵谷以推移,

蓋洪鈞陶鑄之至公,斯皇極馴彝之無黨。尺札十行天詔,賜臣以藉寵靈而資鎭撫,風行融液之奏,一章八句宸翰,勉臣以謹特守而保封疆,日朗光明之燭。

恩旨降而榮回梅驛,德音宣而慶溢桂郊,臣敢不祗奉聖謨,恪遵侯度,天顏咫尺,期明年身親鳳闕之鈞韶,地面十三,願奕世永執象方之玉帛。臣下情無任瞻天仰聖不勝激切感戀之至,謹奉表稱謝以聞。

一,謹遣奉貢家臣三名:阮宏匡,宋名郎,黎梁愼。

一,奉進恭謝儀物:金子二十鎰,銀子一百鎰,土絹一百疋,羅紈一百疋,象牙三對,該重二百斤。

Dịch âm

Tân phong An Nam quốc vương Nguyễn Quang Bình cẩn tấu thượng ngôn:

Tư khâm phụng đặc ban ân mệnh sắc thư, tịnh thưởng tứ ngự chế thân bút thi chương,

Luân phất huy hoàng,

Thần khuê thôi xán,

Cái tự bạch trĩ tân Chu dĩ hậu, chỉ nam chi Lĩnh Kiệu[11] trùng huy,

Việt tòng Chu Diên thuộc hãn hất kim, củng bắc chi tinh thần tăng thải,

Thật tự thiên chi dị số,

Chân khoáng cổ chi kỳ phùng.

Thần khấu thủ thừa ân,

Môn tâm cảm đức,

Thiên địa phụ mẫu chi vi lượng, cố mạc đức nhi hình dung,

Trần nhưỡng quyên tích chi chí vi, thật hà giai nhi báo xứng!

Cẩn phụng biểu xưng tạ giả:

Phục dĩ

Thái hòa bảo hiệp, can thi chiếu đức chi chính trung,

Ngân trì lưu hành, tấn tích ngưỡng hồng ân chi phổ đoạn,

Long triêm đãi viễn,

Tố khổn chiêm cao.

Khâm duy đại hoàng đế bệ hạ,

Khởi đễ vi cương,

Trung hòa tác tắc,

Kính chỉ tập hi mục mục, cửu đạo nhi thiên hạ hóa thành,

Khâm minh văn tư an an, đôn đức nhi man di suất phục.

Bắc cực thần cư kỳ sở,

Nam minh ba tự bất dương,

Thánh tâm khôi tuy phụ hoài lai, vũ lộ kế phong đình nhi nhuận trạch.

Thiên đạo thể tài bồi khuynh phúc, san lăng nhân uyên cốc dĩ thôi di,

Cái hồng quân đào chú chi chí công, tư hoàng cực tuần di chi vô đảng.

Xích trát thập hàng thiên chiếu tứ thần, dĩ tạ sủng linh nhi tư trấn phủ,

Phong hành dung dịch chi tấu, nhất chương bát cú thần hàn, miễn thần dĩ cẩn đặc thủ nhi bảo phong cương, nhật lãng quang minh chi chúc.

Ân chỉ giáng nhi vinh hồi mai dịch, đức âm tuyên nhi khánh dật Quế Giao, thần cảm bất chi phụng thánh mô, khác tuân hầu độ,

Thiên nhan chỉ xích, kỳ minh niên thân thân phượng khuyết chi quân thiều,

Ðịa diện thập tam, nguyện dịch thế vĩnh chấp tượng phương chi ngọc bạch.

Thần hạ tình vô nhiệm chiêm thiên ngưỡng thánh, bất thắng kích thiết, cảm luyến chi chí, cẩn phụng biểu xưng tạ dĩ văn.

– Cẩn khiển phụng cống gia thần tam danh: Nguyễn Hoành Khuông, Tống Danh Lang, Lê Lương Thận.

– Phụng tiến cung tạ nghi vật : kim tử nhị thập dật, ngân tử nhất bách dật, thổ quyên nhất bách thất, la hoàn nhất bách thất, tượng nha tam đối, cai trọng nhị bách cân.

Dịch nghĩa

Quốc vương mới được phong nước An Nam là Nguyễn Quang Bình kính cẩn tâu lên rằng:

Thần được đặc ân ban cho sắc thư, lại được thưởng thơ ngự chế do đích thân hoàng đế viết,

Lời lẽ huy hoàng, nét bút sáng sủa.

Từ khi chim trĩ trắng cống cho nhà Chu trở về sau, kim chỉ nam đưa về đất Lĩnh Kiệu mới lại được sáng thêm lần nữa. Nước Việt từ khi còn là Chu Diên tới giờ, tinh tú chầu về phương Bắc càng thêm rực rỡ, ấy là ơn hiếm có của thiên triều, thực xưa nay khó mà gặp được.

Thần khấu đầu nhận ơn, trong lòng cảm đức,

Lượng trên quả lớn như trời đất cha mẹ, nên không sao có thể hình dung,

Phận nhỏ nhoi như hạt bụi, như mạt nước biết làm sao báo đáp.

Kính cẩn dâng biểu cảm tạ:

Phục dĩ[12]

Bảo hợp thái hoà[13], đạo càn lấy long đức chính trung làm gốc

Chư hầu hội hợp, trông hồng ân ban xuống khắp mọi nơi

Ân trạch thấm tới tận nơi xa

Ngẩng lên cao mong tưới xuống

Khâm duy đại hoàng đế bệ hạ, mối giềng rộng mở, phép tắc trung hoà

Luôn luôn kính ngưỡng, đạo bền giáo hoá cho thiên hạ

Văn tư an an, lấy đức để thu phục man di

Sao sáng nơi cực Bắc

Sóng lặng tại biển Nam

Lòng thánh vỗ về người xa đến, sau sấm chớp ơn mưa móc lại đầy tràn[14]

Ðạo trời tài bồi kẻ ngả nghiêng, non cao với vực sâu nay đổi chỗ

Việc rèn đúc quả thật công bằng, phép hoàng cực không hề phe đảng

Mười dòng chữ trên thiên chiếu ban cho, dặn dò thần việc trấn phủ

Chuẩn cho lời tâu, lại thêm một chương tám câu thần

Dặn thần gắng sức giữ gìn bảo vệ phong cương, thật sáng láng như ánh đuốc

Ân chỉ đưa xuống do ngựa trạm đưa về, đức bề trên tràn đầy đất Giao, đất Quế

Những lời chỉ dạy của thánh thượng, thần xin cung kính tuân theo.

Mặt rồng chỉ trong gang tấc, đến sang năm đích thân sang nơi cung phượng để nghe khúc quân thiều,

Ðất mười ba đạo, nguyện đời đời luôn được mang ngọc lụa sang triều cống [ ý nói chung sống hoà bình, ngọc lụa thay gươm giáo]

Thần chưa có dịp chiêm ngưỡng thiên [nhan], thánh [thể], không khỏi bồn chồn, hết sức lưu luyến, kính cẩn dâng lên biểu văn tạ ơn này.

Kính cẩn sai ba gia thần đem cống phẩm là Nguyễn Hoành Khuông, Tống Danh Lãng, Lê Lương Thận.

Phụng tiến các vật tạ ơn: hai mươi dật[15] vàng, một trăm dật bạc, lụa một trăm tấm, sa một trăm tấm, ba đôi ngà voi nặng tổng cộng hai trăm cân.

TUẾ CỐNG BIỂU

Nguyên văn

新封安南國王阮光平謹奏上言:

兹臣欽奉恩旨,勅封為安南王,奉照向例,今年正値臣國歲貢之期。

竊維旅百實庭,會同乃明堂之制,譯三獻篚,供斯侯度之常。

幸沐恩光,叨膺穹爵。

樹之司牧,承天莫狀於宏休,

陳其物宜,任土恪循於舊典。

謹奉表上進者:

伏以

厥中允執[16],衣裳感仰于堯明,

惟正之供[17],玉帛虔修于夏貢。

抬頭見日,叩首焚香。

欽惟大皇帝陛下:

福德聖人,綱常宗主。

夀考為綱為紀,出乎震,見乎離,說乎兌,勞乎坎[18],範圍在久之美成,

言行是訓是彝,漸于東,被于西,暨于朔,訖于南,規矩祗先之德化。

蓋亭育丕恢于聖度,而寂敷仰體于天心。

輸誠曲軫微衷,不忍限暄和于銅柱,

作屏寵頒新命,遂獲登猥陋于寳書。

誠泰山滄海之難量,

豈勺水涓塵之能報。

仰蒙陶造,劇切戴親。

共球恪展微儀,正忻九千里海山之初達,

冠帶願偕盛會,厪[廑]祝億萬年日月之長輝。

下情無任瞻天仰聖不勝激切翹望之至,謹奉上進以聞。

一,謹遣奉貢家臣三名:陳登天,阮止信,阮偍。

一,奉進歲貢儀物:金香爐花瓶四對,該重二百九兩,折作金子二十錠[19],銀盆十二口,該重二百九兩,折作銀子六十九錠,沉香八百十二兩,速香一千九十五兩。

Dịch âm

Tân phong An Nam quốc vương Nguyễn Quang Bình cẩn tấu thượng ngôn:

Tư thần khâm phụng ân chỉ, sắc phong vi An Nam vương, phụng chiếu hướng lệ, kim niên chánh trị thần quốc tuế cống chi kỳ.

Thiết duy lữ bách thật đình, hội đồng nãi minh đường chi chế, dịch tam hiến phỉ, cung tư hầu độ chi thường.

Thần

Hạnh mộc ân quang,

Thao ưng khung tước,

Thụ chi ti mục, thừa thiên mạc trạng ư hoành hưu,

Trần kỳ vật nghi, nhiệm thổ khác tuần ư cựu điển.

Cẩn phụng biểu thượng tiến giả:

Phục dĩ,

Quyết trung doãn chấp, y thường cảm ngưỡng vu Nghiêu minh,

Duy chánh chi cung, ngọc bạch kiền tu vu Hạ cống.

Sĩ đầu kiến nhật,

Khấu thủ phần hương.

Khâm duy đại hoàng đế bệ hạ,

Phúc đức thánh nhân,

Cương thường tông chủ,

Thọ khảo vi cương vi kỉ, xuất hồ chấn, kiến hồ ly, thuyết hồ đoài, lao hồ khảm, phạm vi tại cửu chi mỹ thành,

Ngôn hành thị huấn thị di, tiệm vu đông, bỉ vu tây, kỵ vu sóc, cật vu nam, quy củ chi tiên chi đức hóa.

Cái đình dục phi khôi vu thánh độ,

Nhi tịch phu ngưỡng thể vu thiên tâm.

Thâu thành khúc chẩn vi trung, bất nhẫn hạn huyên hòa vu đồng trụ,

Tác bình sủng ban tân mệnh, toại hoạch đăng ổi lậu vu bảo thư.

Thành Thái Sơn thương hải chi nan lượng,

Khởi chước thủy quyên trần chi năng báo,

Thần

Ngưỡng mông đào tạo,

Kịch thiết đái thân.

Cộng cầu khác triển vi nghi, chánh hãn cửu thiên lý hải sơn chi sơ đạt,

Quan đái nguyện giai thịnh hội, cần chúc ức vạn niên nhật nguyệt chi trường huy.

Thần hạ tình vô nhiệm chiêm thiên ngưỡng thánh,

Bất thắng kích thiết

Kiều vọng chi chí,

Cẩn phụng thượng tiến dĩ văn.

Cẩn khiển phụng cống gia thần tam danh : Trần Ðăng Thiên, Nguyễn Chỉ Tín, Nguyễn Ðề.

Phụng tiến tuế cống nghi vật :

– kim hương lô hoa bình tứ đối, cai trọng nhị bách cửu lượng,

– chiết tác kim tử nhị thập đĩnh, ngân bồn thập nhị khẩu, cai trọng nhị bách cửu lượng,

– chiết tác ngân tử lục thập cửu đĩnh,

– trầm hương bát bách thập nhị lượng,

– tốc hương nhất thiên cửu thập ngũ lượng.

Dịch nghĩa

Quốc vương mới được phong nước An Nam là Nguyễn Quang Bình kính cẩn tâu lên rằng:

Từ khi thần được ân chỉ của bệ hạ, sắc phong làm vua nước An Nam, chiếu theo thể lệ cũ, năm nay chính là đến kỳ tuế cống.

Trộm nghĩ thần đã được dự vào chốn thực đình, thì cũng phải theo chế độ của minh đường, qua ba lần dịch để dâng lên.

Thần may mắn được tắm gội ân quang, ban cho vương tước, cho làm ti mục, vâng theo mệnh trời rộng lớn, có chút phẩm vật, theo điển cũ để tỏ lòng thành kính. Cho nên dâng biểu lên thánh thượng:

Cúi lạy:

Khăng khăng giữ điều trung, ngẩng lên xem đức sáng của vua Nghiêu

Chỉ nhận cho vừa đủ, đem ngọc lụa để cống vua Hạ Vũ.

Rập đầu thấy trời, cúi xuống đốt hương.

Kính xin đại hoàng đế bệ hạ

Phúc đức của bậc thánh nhân

Mối giềng của đấng tông chủ

Sống thọ để sắp đặt cương kỷ, ra ngoài theo quẻ chấn, xét việc như quẻ ly, nói năng như quẻ đoài, nỗ lực như quẻ khảm, để mọi việc tốt đẹp dài lâu.

Lời nói việc làm đều dạy bảo, khuôn phép, thu góp ở đông, hoàn bị ở tây, khởi đầu ở bắc, kết thúc ở nam, mực thước lấy chi [cung kính] lấy đức hoá.

Nghiệp lớn được trở lại cũng là nhờ thánh thượng độ cho, ban bố khắp bốn phương cũng là do lòng thiên tử.

Vì thành thực qui phục bằng tấm lòng trung, nên không giới hạn trụ đồng mà không toả ánh nắng ấm,

Nhận làm phên dậu nên yêu ban mệnh mới, lại thương mến không nệ hủ lậu mà cho thêm bảo thư.

Lượng trên thật to như biển cả, như Thái Sơn

Tài hèn mọn như thìa, như bụi làm sao báo đáp

Thần,

Ơn trên đào tạo, hết sức hết lòng

Cộng cầu kính đem chút nhỏ mọn, vượt chín ngàn dặm núi biển đến dâng

Nơi triều đình đều là thịnh hội, chúc [thiên tử] sáng mãi như nhật nguyệt

Hạ thần không thể tự mình đến chiêm thiên ngưỡng thánh, mong mỏi không biết chừng nào, kính cẩn dâng lên bài văn này.

Kính sai ba gia thần mang đồ cống là Trần Ðăng Thiên, Nguyễn Chỉ Tín, Nguyễn Ðề

Phụng tiến tuế cống những phẩm vật sau đây: lò hương và bình hoa bằng vàng bốn đôi, nặng cả thảy hai trăm lẻ chín lượng, vàng ròng hai mươi nén, bồn bạc mười hai cái, nặng cả thảy hai trăm lẻ chín lượng, bạc ròng sáu mươi chín nén, trầm hương tám trăm mười hai lượng, tốc hương một nghìn không trăm chín mươi lăm lượng.

LIÊN LẠC VỚI QUAN LẠI NHÀ THANH

Cũng trong dịp này, vua Quang Trung cũng gửi lễ vật tạ ơn Phúc Khang An đồng thời kèm theo quà chúc thọ nhân kỳ sinh nhật của họ Phúc và cũng không quên tạ ơn Lâm Hổ Bảng, Thang Hùng Nghiệp. Những văn thư này còn ghi trong Lịch Triều Tạp Kỷ, quyển VI. Tuy chủ yếu vẫn là văn chương thù tạc, đa hư thiểu thực nhưng qua nội duy chúng ta cũng biết được phần nào giao tình của triều đình Tây Sơn với quan lại nhà Thanh ở biên giới, vốn dĩ là trạm nối liền của Thanh – Việt. Một số chi tiết về việc đàm phán và giảng hoà cũng được nhắc đến như chứng tích về công tác tái lập bang giao.

Vua Quang Trung cũng sai Nguyễn Quang Thùy, Ngô Văn Sở đem một số phương vật cảm tạ những giới chức nhà Thanh.

THÀNH LÂM – VƯƠNG PHỦ ĐƯỜNG

Thiếp gửi đến Thành Lâm và Vương Phủ Đường nội dung như sau:

Nay xe tiên lên đường trở về cửa ngọc [đây chỉ Nam Quan] cùng các hành viên[20] theo hầu vạn dặm. Hạ ấp đơn sơ không kịp chuẩn bị hành lý nên chỉ có 50 dật bạc đưa tặng để nhớ đến người ở xa, mong xem xét nhận cho để tự phân cấp.

Còn hai viên tuần kiểm thì gửi biếu thêm 2 cân nhục quế, mười thiên bả tổng 10 cân nhục quế.

Phẩm vật tạ ơn Thành Lâm và Vương Phủ Đường

Vàng

5 dật (鎰)

Bạc

50 dật

Thổ quyên

200 tấm

La hoàn

200 tấm

Ngà voi

2 đôi

Hoa tê giác

1 cái

Ô tê giác

1 cái

Nhục quế Thanh Hoa

40 cân

Huân hương

2 bình

Phẩm vật tạ ơn tổng quản

Vàng

2 dật

Bạc

20 dật

Thổ quyên

100 tấm

La hoàn

100 tấm

Ngà voi

2 đôi

Ô tê giác

2 cái

Nhục quế

10 cân

LÂM HỔ BẢNG

Thư gửi Lâm Hổ Bảng như sau:[21]

Trước đây bản quốc gõ cửa quan xin thần phục, được quí đài phụng mệnh hộ tống trên đường đi, mọi việc đều được bẩm trước cho tỏ tường. Nghĩ đến thịnh tình chiếu cố và truyền đạt tấm lòng nhân của thiên tử vỗ về người ở xa và tỏ cái lòng bao dung của chế hiến tôn đại nhân (tức tổng đốc Phúc Khang An) nên những công văn đệ lên đều được hết sức phi đạt khiến cho tấm lòng cung thuận của kẻ hèn này đã được thiên tử nghe đến.

Chỉ trong một tuần tôi đã nhận được chỉ giáng xuống ban cho phong hiệu, sắc thư rực rỡ, lãnh kiệu sinh huy. Bộc có được sự gặp gỡ hiếm loi kỳ lạ như thế này phần nhiều là nhờ vào sự giúp đỡ của đại nhân vậy.

Kịp khi sứ thần mang cờ tiết xuất quan, mọi việc nghi thức đưa đón lại cũng do quí đài dạy bảo cho biết trước, bản quốc chỉ kính cẩn tuân hành. Việc tiếp đón ở mười dịch trạm thật là qua loa nhưng nhờ tình nghĩ đến nên cũng chu toàn may mà không gây sai sót. Còn như đại điển tuyên phong tuy đã nhận được công văn định ngày nhưng vì bộc bất ngờ bị bệnh nên phải đổi hạn kỳ, trình lên hai vị tướng sự đại viên để đưa lên ngài xem xét.

Vậy nên ngày 15 tháng Mười đã bái lãnh ân của thiên triều gồm sắc thư và ngự thi, mãi mãi làm phiên phục. Nay soạn biểu văn cùng chuẩn bị nghi vật tạ ơn và tiến cống sai bồi thần mang đến cửa quan để đợi tiến cận cùng sai người đem bẩm văn, nghi vật khấu tạ trước viên môn chế hiến tôn đại nhân.

Lần này ngoài người được cử lên hầu mệnh ở ngoài cửa quan, cũng mong được đại nhân dạy bảo để cho mọi sự được hợp với thể thức tỏ tấm lòng cảm ơn vá thành thực của bản quốc.

Kèm theo lá thư này là các phẫm vật tạ ơn Lâm Hổ Bảng

Thổ quyên

50 tấm

La hoàn

50 tấm

Ngà voi

5 đôi

Hoa tê giác

2 cái

Nhục quế hạng nhất

10 cân

THANG HÙNG NGHIỆP

Thư gửi Thang Hùng Nghiệp như sau:

Trộm nghe Kinh Dịch có nói rằng: Hạc minh tại âm, kỳ tử hoạ chi (鶴鳴在陰,其子和之)[22]. Trong Hệ từ Khổng phu tử giảng rằng: Quân tử cư thất, xuất kỳ ngôn thiện tắc thiên lý chi ngoại, ứng chi. (君子居室,出其言善,則千里之外應之)[23] Cho nên âm hoà thì tìm đến nhau là lý tất nhiên của mọi vật, lời thiện ứng với nhau là điều đương nhiên của đạo làm người.

Đầu năm Mậu Thân, bộc đem tình hình trong nước gõ cửa quan xin đầu khoản, nhưng không được quan tổng đốc tiền nhiệm nhận cho, khiến gây ra một phen tranh chấp. Khi ấy tấm lòng tin chưa đệ đạt lên nên tiếng kêu cũng chưa được nghe đến nên dẫu muốn cho tiếng hoạ được ứng theo thì cũng không biết do đâu mà làm vậy. Thành ra chỉ đành ấm ức giữ riêng trong lòng.

Tự nghĩ: Đại hoàng đế như trời. Trời không che chở riêng ai nhưng cũng có chỗ chưa đoái tới. Hay là khi khúc thành có lúc cũng không thấu đến việc nhỏ nhoi nên người nói trước được thắng, còn phong cương đại thần chỉ mới nghe lời dèm pha của một bên mà giúp cho nên mới gửi văn thư cho tổng đốc tiền nhiệm kèm theo bút chú để nhờ trình lên, về sau lại hối vì xem ra cũng chẳng ích lợi gì.[24] Phong thư đó vừa gửi qua lại e rằng một lời mà gây chuyện binh đao, hối hận cũng không kịp.

Thế nhưng chỉ trong một tuần thì nhận được thư của đại nhân khuyên những điều nên tránh, chớ đem giận dữ mà gây thêm rắc rối, sẽ giữ lá thư trước không gửi đi để cho bộc này có thể tự tân rồi sẽ ở bên trong giúp đỡ cho cơ hội ngọc thành.

Bộc nghe lời chỉ bảo đều nhất nhất tuân theo, biết đại nhân ắt có cách đóng mở ảo diệu, nếu không cửa khuyết vạn dặm, dù to như núi Thái hay nhỏ như hạt bụi, một lòng thành kính nếu không ai đề đạt lên cũng chẳng khác gì những việc nhỏ nhoi khác không được biết tới.

Việc bộc này được phụng sự đại hoàng đế, làm bầy tôi phên dậu bên ngoài, từ nay sinh linh bản quốc đều được hưởng phúc, mấu chốt cũng là do một câu “giới nộ” (戒怒) để làm phương thuốc chữa cho cái ngu tối của tôi. Lòng đại nhân thực không khác gì nước mùa thu, lượng của đại nhân chẳng kém gì núi mùa xuân nên đã soi thấu cái lòng kính sợ thiên tử, thờ nước lớn không ra ngoài vòng giáo hoá nên nhân khi đốc bộ đường tiền nhiệm được điều về kinh bệ kiến đã đề đạt lên trước trung đường Phúc công gia, lại hết sức lo liệu không để cho lúc còn mờ mịt mà gạt bỏ.

Công trung đường vốn là tay chân tâm phúc của thiên tử, hoàng thường nguyên cát (áo bào vàng hàng đầu quan lại, chỉ văn quan) dùng mềm dẻo để cai trị vạn bang, xích tích bất hà (mang hia đỏ không tì vết, chỉ võ nghiệp), lấy thư thái mà vỗ về bốn phía. Cho nên trong việc qui phụ này, đại nhân đã nhận soái tiết (lệnh vua làm nguyên soái) đến tận cửa quan, bằng lòng nhận tờ biểu chuyển tấu, cho phép Nguyễn Quang Hiển thay mặt (vua Quang Trung) hành lễ rồi sau đó hoàn thành việc chiêm cận (lên kinh đô triều kiến vua Càn Long), chỉ hơn một tháng, đã khâm phụng sắc thư ngự ban, lại ban cho vòng đeo bằng trân châu cùng thưởng cho cả những người cùng đến nhập cận thiên nhan. Đại nhân lại lãnh mệnh đi cùng lên kinh đô (chỉ Thang Hùng Nghiệp bạn tống Nguyễn Quang Hiển), đường xa gian khổ.

Quả đúng như phong cương đại thần đề đạt lên hoàng thượng, lập tức có lệnh phong vương và được đại hoàng đế ban xuống sắc thư, ngự thi và công trung đường sai bọn Thành đại nhân sang nước tôi tuyên thị.

Ngày vọng tháng Mười (tức 15) hoàn thành đại lễ tuyên phong, vinh dự khác thường, xưa nay chưa từng nghe đến khiến cho tôi hết sức xúc động, không thể nào hình dung cho hết được. Hiện nay ấn vàng và cáo sắc nhà vua ban cho thì Nguyễn Quang Hiển đã về đến nhà, lại đem theo các món thưởng tứ, thật là dồi dào ưu hậu, đủ thấy công ơn trời che đất chở của đại hoàng đế.

Nhành mai nở rộ, biết được gió đông nay hộ trì. Bèo xanh toả sáng, nhận ra thuỷ tê đang dẫn chiếu. Nếu hoạ lại nguyên âm của vũ trụ thì ứng với tiếng của hạc linh. Phàm trong nhà của người quân tử có lời nói lành thì mới được như thế.

Truyện viết:

Một lời có thể làm hưng đất nước, lời nói người nhân thì lợi to lớn là nhường nào.

Người nhân không đòi báo đáp nhưng thói thường không thể không lo đáp đền. Bộc lúc đầu muốn trả ơn thì nghĩ rằng Giao Nam là nơi hoang vắng, quê mùa được lễ nghĩa văn chương Trung Quốc dạy cho, vậy dùng lễ mà báo đáp.

Phép nước không cho vượt biên cảnh, chưa được tham yết nên một tấm vải không đủ gọi là báo đền. Bộc lại nghĩ rằng Giao Nam tuy nhỏ nhưng sản xuất được cả ngũ kim, dùng vật chẳng hay sao? Người quân tử không ham vật lạ, dù có trân châu Hợp Phố, ngọc bích họ Hoà, cũng không đủ để đáp lại. Suy nghĩ thêm nữa thì thịnh đức của đại nhân, sở dĩ ban xuống cho bộc này thật không mỏng. Chỉ có theo phép tắc của thánh nhân, hết lòng cung thuận không thất thố để thờ thiên tử, kính cẩn không lơi là để giữ nước có thế mới không phụ lòng nhân của đại hoàng đế vun trồng cho, báo đáp thịnh tình giúp đỡ của đại nhân, ấy thực là cách trả lại cho người nhân vậy.

Vì thế tôi đã sai nội thư gia lấy lời theo thể Nhạc Phủ ngày xưa để ca tụng công đức rằng:

交之山,有傘圓。石璘峋其體玄。

大人閉虎關以寜邊。納下邑億萬家于管絃。

此功與此山並其高堅。

交之海,有思容。水澎澎其連空。

大人帖鯨浸以朝東。奠新邦億萬年之丕洪。

此德與此海相爲冲瀜。

Núi ở Giao Nam có Tản Viên,

Sắc đá lấp lánh màu đen tuyền.

Đại nhân đóng hổ quan, giữ biên cương được yên.

Giúp dân chúng hạ bang muôn nhà đều quản huyền.

Công đức đó sánh với núi vừa cao vừa kiên.

Biển ở Giao Nam có Tư Dung,

Nước chảy mênh mông đến trời không.

Đại nhân dẹp cá kình, nước chảy về phương đông.

Giữ nền móng cho hạ bang mãi vô cùng.

Công đức đó sánh với biển vượt cùng chung.

Lời lẽ nôm na ca tụng đại nhân được bách phúc. Giấy má xa xôi, cung chúc vinh hỉ.[25]

Nhân dịp chánh sứ Thanh Tiết Hầu Nguyễn Hoành Khuông đem biểu tạ ơn và tiến cống nên vua Quang Trung cũng sai đem tặng cho Thang Hùng Nghiệp như sau:

Bạc

10 dật

Thổ quyên

50 tấm

La hoàn

50 tấm

Ngà voi

2 đôi

Nhục quế hạng nhất

40 cân

PHÚC KHANG AN

Riêng Phúc Khang An là mệnh quan của nhà Thanh, lại là người trung gian công lao rất nhiều nên vua Quang Trung gửi thư cám ơn như sau:

Trộm nghe: Việc cao nhất ở trên đời không gì bằng thi (ân) báo (đáp). Cho nên trời cao vô tình nhưng linh khí đều tụ cả vào đấy. Những bậc cao minh đều theo đường hoà để đạt được thuận.

Vậy nên Kinh Lễ dạy có qua có lại, Kinh Thi ca ngợi việc báo đáp là tình người phải có mà thiên lý cũng là chuyện đương nhiên.

Vừa đây tiểu phiên xin được phong vương, cũng nhờ tôn đại nhân từ đầu chí cuối ngọc thành nên may mắn sớm được ân phong, điển sách long trọng, thật là vinh dự chưa từng có của bản quốc, ngũ quan đều cảm kích bội phục, không sao hình dung cho hết.

Lại được vật quí gồm ba thanh ngọc như ý, một con hùng mã, mười tấm thái đoạn sai tổng quản lão gia đem qua làm quà mừng. Được thi ân mấy đợt, sóng tràn thật nhiều, từ xưa phong cương đại thần của thiên triều đãi ngộ ngoại phiên thực chưa bao giờ lại chăm lo khác thường đến như thế.

Tiểu phiên vốn phận nhỏ bé nghèo hèn, nay được vào hàng mũ đai ở chốn minh đường, Xét kỹ căn do, nếu chẳng được tôn đại nhân chỉ bảo khai sáng thì làm sao đến được cửa trời vạn dặm? Lại còn ban cho tân bang vật hiếm quí trên đời, thấm ướt vượt mức đến khắp hạ ấp. Ngày tiểu phiên được lãnh phong những vật chúc mừng thượng hạng kia đã kính cẩn bái lãnh.

Tự nghĩ mình chỉ nhỏ như một hạt bụi, không biết cách nào báo đáp ơn cao trong muôn một. Chỉ có cách đeo ngọc quỳnh để cảm nhận ân trạch lam điền, cài hoa mai để biết ơn nặng của gió đông. Cái tình nâng đỡ không thể nào quên. Kính dâng lòng thành giãi lên mấy lời trên lụa hiến thọ cẩm đường. Lại sửa soạn chút thổ nghi đưa lên tạ ơn.

Thêm nữa gia điệt là Nguyễn Quang Hiển cung tiến nghi vật thỉnh phong đã được thu nhận, chỉ có vài món quà nhỏ hiện đã trả về. Đây chỉ là chút lòng thành đơn bạc mong được đưa lên bộ đường nên kính cẩn sai gia thần theo hai vị tướng sự đại nhân (tức Thành Lâm và Vương Phủ Đường) cùng đi lên cửa quan trình hiến. Mong được tôn đại nhân soi xét rõ ràng, sương vực bao la mà dung cho tình báo đáp gửi trong lễ vật cho tới trước viên môn để đệ lên những món tạ nghi này, đợi để thu nạp.

Ấy là dẫu chưa đủ lời báo nhưng may mắn tả những lời này đến bậc cao minh, mong nhận chút quà nhỏ mọn.

Ngoài lá thư cám ơn này, vua Quang Trung cũng gửi một bài văn chúc thọ nhân dịp sinh nhật của Phúc Khang An có tên là Hiến Thọ Cẩm Đường Văn (獻夀錦堂文) thêu trên trục gấm như sau:

獻夀錦堂文 (書于錦軸)

恭審。

泰朗開昌。名世應河清之運。

普康蒙錫。下邦覃草潤之私。

仰恩庥而感切五衷。

瞻台座而神馳萬里。

敬惟

督部堂尊大人。

忠賢名世。文武邦基。

銀潢爲帝室腹心。

冠紳弁宣猷二十年來。彰赤舄黄裳之懿爍。

玉鉉應天家喉舌。從臺閣賦政數千里外。

勒滄漠雪窖之崇鴻。

德車留慶於十閩。帥節敷輝於百粵。

體楓陛柔懷至德。幈幪推大厦之仁。

鑒葵心恭順眞誠。風浪息虛舟之怒。

瀝册表旣豋於宣室。飛白書旋降於建章。

輝煌新命賁雙旌。軫翼度芒寒增正色。

優渥先施來百寶。珥瀘江波况自中心。

蓋玉成莫狀於陶鎔。而瓊報何加於封植。

栽培仰天心來復。旣親見色犧一陽初動之春。

芝茁憑晷影照臨。願遙上召虎萬壽無疆之祝。

其詞曰。

宏潤流光。崧高毓德。

宗臣派出仙源。文經武緯。

品望蓋中原。表裏青藩黄閣。

洪謨偉烈賛貞元。眞正是弼星降世。

八斗耀天垣。翰旋參化紐。

春風扇煖。冬日舒温。

神功歸太極。夫子無言。稠疊崑山渥水。

七襄雲錦下天孫。施澤普。遥歌戩款。獻上棨衣轅。

Bản dịch Hoàng Văn Lâu

Ngô Cao Lãng. Lịch Triều Tạp Kỷ [bản dịch Hoa Bằng và Hoàng Văn Lâu] (KHXH, 1995) tr. 675-6

Thái hoà hội mở, danh thế theo vận nước Hoàng Hà trong; tấn phong sắc ban, nước dưới nhận ơn trên nhuần khắp. Ngưỡng phúc ân mà xúc động trong lòng, vọng đài toạ mà hồn bay muôn dặm. Kính nghĩ:

Đốc bộ đường tôn đại nhân, đức trung, hiền nổi tiếng trên đời, tài văn, võ dựng nền đất nước. Tựa Ngân Hà, làm phúc tâm đế thất, đứng đầu các quan, bầy mưu hay hai chục năm nay, rỡ ràng hia đỏ, áo vàng vinh hạnh!

Như đỉnh ngọc, là tai mắt nhà trời, theo hầu đài các, trị nước giỏi bên ngoài ngàn dặm, trấn giữ trời băng, biển thẳm bao la. Xe đức để nguồn vui cho khắp cõi Mân, cờ suý soi ánh sáng mọi miền Bách Việt. Thế đức cưu mang ở nơi thềm bệ, suy lòng nhân che chở tựa nhà to; soi lòng hướng dương cung thuận chân thành, lặng sóng gió dập vùi thuyền giữa bể. Dâng biểu văn tới tận chốn triều đường; truyền sắc mệnh ban từ nơi cửa khuyết.

Huy hoàng lệnh mới sáng nơi nơi, vùng Dực, Chẩn ánh ngời tăng chính sắc; ưu ái ban ngọc châu sang trước, sông Nhị, Lô sóng cuộn tự trong lòng !

Ôi ! công tác thành còn hơn cả đức nhân, mà báo đáp có gì hơn vun xới ! Ơn tài bồi trông lòng trời ban xuống, đã thấy cảnh xuân tươi hưởng nắng của Phục Hi; đức nuôi nấng tựa ánh nhật chiếu soi, dâng chúc lời vạn thọ vô cương đời Thiệu Hổ.

Lời rằng: Ánh soi nhuần khắp, như ngọn Tung sơn chung đúc đức nhân, dòng giống tiên vốn nẩy tự Tống thần; Văn vũ gồm hai, phẩm đức, uy vọng nổi danh khắp cõi, ngoài phiên, trong Các, mưu cao, công lớn vang dội xưa nay.

Thực đúng là sao phụ bật giáng trần, tài đức sáng vòm trời, xoay vần theo tạo hoá. Gió xuân thổi ấm, nắng sưởi ngày đông. Thành công qui về thái cực. Phu tử không lời. Lớp lớp Côn Sơn ân trạch nặng, gấm mây Chức nữ xuống điểm tô. Ban ân khắp, ca bài Phúc lộc dâng tới viên môn.

Việc quốc vương An Nam gửi thư mừng sinh nhật một viên quan nhà Thanh có kèm theo thọ lễ là việc ít xảy ra và cũng là đầu mối của tin đồn là nước ta phải đút lót cho xong việc. Xem những thư này, phần nào có thể hiểu được diễn tiến việc đàm phán trong đó Thang Hùng Nghiệp làm con thoi để giúp cho việc cầu phong được khứng hợp với đòi hỏi và mong đợi của nhà Thanh.

TRÊN ĐƯỜNG LÊN KINH ĐÔ

Ngày 18 tháng 12 năm Kỷ Dậu [2-1-1790] phái đoàn Nguyễn Hoành Khuông [tổng cộng 18 người] được Tống Văn Hình đưa đến Quảng Tây. Việc An Nam hai lần tạ ơn kèm theo cống phẩm, khiến cho vua Càn Long rất xứng ý nhưng cũng phiền trách là làm như thế hao tốn cho tài nguyên[26] nên đã gửi chỉ dụ ra lệnh phải làm sao để phái bộ An Nam lên kinh đô trước ngày 10 tháng giêng ngõ hầu được vào dự yến vào dịp đầu năm.

Phái bộ cũng được tặng cho áo bông, mũ da, giày vớ vì miền bắc đang vào mùa đông, khí hậu giá buốt cần y phục ngự hàn. Tôn Vĩnh Thanh cũng cử hậu bổ đạo Hoàng Phù Thải [黃符綵] và phó tướng Đức Khắc Tinh Ngạch [德克精額] hộ tống lên kinh.[27]

Việc vua Quang Trung gửi ngay phái bộ Nguyễn Hoành Khuông sang kinh đô là một biến cố lớn, đánh dấu việc công nhận nhà Tây Sơn đã hoàn tất. Vua Càn Long nhiều lần gửi thư hoả tốc về hành trình và đã nặng lời khiển trách Tôn Vĩnh Thanh vì viên tuần phủ Quảng Tây đã theo đúng thủ tục chờ cho triều đình chấp thuận mới đưa phái bộ lên kinh đô. Trong dụ chỉ ngày 24 tháng Chạp năm Kỷ Dậu, có đoạn như sau:

… An Nam cống sứ tiến quan đã lâu, Tôn Vĩnh Thanh vẫn không lập tức ra lệnh khởi trình mà cứ giữ tại Thái Bình, Nam Ninh lần lữa, mãi đến đầu tháng Chạp mới từ Quế Lâm ra đi, tính toán hành trình không thể đến kinh trước cuối năm nay mà phải Tết Hoa Đăng sang năm mới đến kinh đô được. Như vậy các sứ thần đó đi đường mệt nhọc cũng vì viên tuần phủ này câu nệ diên trì mà ra.

Tôn Vĩnh Thanh trong nhiệm vụ tuần phủ đã mấy lần sai lầm đáng ra không thể lưu nhiệm nhưng vì Nguyễn Quang Bình đã định sang xuân nhập cận mà Tôn Vĩnh Thanh ở đây chiếu liệu vốn đã thuần thuộc nên không tiện đổi đi, lại cũng dễ khiến Nguyễn Quang Bình sinh nghi …[28]

Tôn Vĩnh Thanh còn bị truất bổng dưỡng liêm và số tiền đó được sử dụng vào việc xây cất nhà cửa, phòng ốc cho nhóm Lê Duy Kỳ được đưa lên kinh đô vào đầu năm Canh Tuất.[29] Cũng theo tài liệu trong cung, vua Càn Long đã ra lệnh cho các tỉnh báo cáo bằng phương tiện hoả tốc đường đi của phái đoàn.[30]

clip_image002 clip_image004

Tấu thư của Tôn Vĩnh Thanh

ngày 18 tháng Giêng năm Càn Long 55

nhận lỗi đã chậm trễ trong việc đưa sứ thần An Nam lên kinh đô

Ngày 13 tháng Chạp, sứ bộ đến Trường Sa, tính toán sẽ có thể đến kinh ngày 12 tháng Giêng.[31] Ngày 21 tháng Chạp, sứ bộ đến Hà Nam, lại nhận được sắc dụ thúc giục phải đi nhanh hơn để đến kịp dịp tết Hoa Đăng.[32] Ngày 25 tháng Chạp, phái đoàn đến Hứa Châu, Hà Nam thì lại nhận được tờ trát thứ ba bảo phải đi gấp để sao cho sáng sớm ngày mồng 6 tháng Giêng đến được kinh đô. Nhưng trong thời gian đó, gió bấc thổi mạnh e rằng không thể vượt qua sông Hoàng Hà nên vua Càn Long gia hạn cho đến mồng 9.[33] Cũng nên thêm rằng khi phái đoàn đến Hà Nam thì đã vào Tết Nguyên Đán nhưng không được ăn tết mà còn cố gắng đi nhanh hơn cho kịp ngày giờ đủ biết vua Càn Long quan tâm đến việc nước ta thần phục biết chừng nào.

Ngày 29 tháng Chạp, phái đoàn đến cảnh giới tỉnh Trực Lệ, ngày mồng 3 tháng Giêng đến Bảo Định và dự tính sẽ đến kinh đô ngày mồng 5 và vào ăn yến ngày mồng 6.[34]

Khuya ngày mồng 5 tháng Giêng, Phúc Trường An tâu lên:

Bọn cống sứ nước An Nam Nguyễn Hoành Khuông ngày mồng 5 giờ Hợi [tức nửa đêm] đã đến kinh đô. Thần lập tức tuân chỉ đến ngay Tứ Dịch Quán để xem và đã phụng dụ chỉ cho biết là quốc vương sai các ngươi tiến cống, tạ ơn đủ biết thành tâm qui phục.

Các ngươi khi đến cửa quan hoàng thượng vốn đã bảo tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh lập tức lo liệu khởi hành để cho đi được thong thả. Thế nhưng Tôn tuần phủ câu nệ diên trì bắt các ngươi phải chờ ở cửa quan khiến cho phải đi gấp mới kịp ăn yến vào đầu năm, đường đi không khỏi khó nhọc. Hoàng thượng đã gửi chỉ nghiêm nghị trách mắng Tôn tuần phủ và sai đến an ủi các ngươi hỏi xem đường đi lao khổ thế nào.

Thần lại bưng biểu văn của Nguyễn Quang Bình có lời châu phê cho các bồi thần được xem và nói rằng hoàng thượng xem tấu biểu của quốc vương các ngươi thấy tình từ khẩn thiết nên hết sức khen ngợi nên đặc biệt dùng bút son phê lên để cho các ngươi đem về trình cho quốc vương xem. Quốc vương các ngươi nhận được những ưu đãi đặc biệt như thế của đại hoàng đế ắt là sẽ rất vui vẻ đến khuyết đình chúc thọ để tỏ lòng thành hầu mãi mãi được hưởng ân quyến.

Bọn Nguyễn Hoành Khuông khấu đầu tạ ơn nói rằng bọn Hoành Khuông nhận lệnh quốc vương Nguyễn Quang Bình sai đem biểu tiến cống khiến cho bồi thần ở nơi hoang viễn được biết đến cảnh thổ Trung Hoa vốn là ân điển đặc biệt của việc chiêm tựu [chiêm vân tựu nhật, ý nói được triều kiến hoàng đế]. Nay tới kinh đô dự yến đầu năm để thấy vạn quốc lũ lượt kéo đến cùng hưởng ân trạch thấm ướt thật vui mừng vượt qua mong đợi nên phải đi đường xa cũng không mệt nhọc chút nào. Huống chi trên đường phu mã cung đốn không đâu không trông lên ân điển nên đã đến kịp thực là vạn hạnh.

Còn như biểu văn của quốc vương Nguyễn Quang Bình lại được đại hoàng đế ngự bút thân phê ưu hậu trông xuống, quả thật ngoại phiên xưa nay hiếm gặp, bọn Hoành Khuông sẽ kính cẩn đem về thì khi quốc vương quì đọc rồi sẽ cảm kích truyền cho con cháu đời đời làm quốc bảo[35]

Ngày 11 tháng giêng, vua Càn Long mở tiệc tại phòng bên phải của Sơn Cao Thuỷ Trường Các trong vườn Viên Minh. Theo lời tường thuật của phái bộ Triều Tiên thì các sứ thần được ngồi cùng với các vương công, chỉ cách chỗ ngồi của vua Càn Long trong gang tấc[36]. Ngoài vương công và đại quan, năm phái đoàn phiên thuộc có mặt là Triều Tiên [nay là Hàn Quốc], An Nam [tức Ðại Việt], Lưu Cầu [tức quần đảo Ryukyu, nguyên là một tiểu quốc, bị sáp nhập vào Nhật Bản từ 1872, nay là Okinawa], Tiêm La [tức Thái Lan ngày nay], và Khuếch Nhĩ Khách [tức Gurkha, tiểu quốc vùng Népal, Bắc Ấn Ðộ].

Theo Hoa Trình Tiêu Khiển Tập [華程消遣集] của Nguyễn Đề thì sứ thần được đích thân vua Càn Long ban rượu và dự Thiên Tẩu Yến [千叟宴] dành riêng cho những người từ 70 tuổi trở lên. Nguyễn Đề, phó sứ nước ta, là người ít tuổi nhất dự đại tiệc này.[37] Phái đoàn cũng được theo hầu vua Càn Long du ngoạn trên thuyền rồng trên hồ tại Viên Minh Viên.

HOẠ THƠ VUA CÀN LONG

Theo Dưỡng Cát Trai Tùng Lục [養吉齋叢錄] của Ngô Chấn Vực [吳振棫][38] thì vua Càn Long ban yến ở ngự viên[39]. Sáu sứ thần nước ta được dự các buổi đại yến vì vua Quang Trung năm đó hẹn sẽ sang dự lễ khánh thọ bát tuần nên hoàng đế Trung Hoa rất lấy làm đắc ý. Theo tường thuật của sứ bộ Triều Tiên, Lễ bộ thượng thư Thường Thanh [常清] đưa từng người lên quì trước ngự toạ [chỗ vua ngồi] để hoàng đế nhà Thanh tự tay rót rượu ban cho và nói vài lời phủ dụ. Việc đích thân nhà vua ban rượu là một nghi lễ đặc biệt của triều Mãn Thanh du nhập từ tập tục của dân du mục, người trên chia xẻ cho kẻ dưới, vốn dĩ trước đây chưa từng có. Chính vì thế, những ai đi sứ được ban ngự tửu đều vinh dự đặc biệt.

Giờ Ngọ hôm đó, vua Càn Long cho tuyên đọc một bài ngự chế thi [thơ nhà vua làm] để cho những sứ thần có thể hoạ lại. Trong dịp này, sứ thần các nước đã dâng lên 9 bài thơ, trong đó có 6 bài do 6 sứ thần nước Nam trổ tài[40].

NGUYÊN THI

Theo Thanh Cao Tông Ngự Chế thi văn toàn tập, tập Ðệ Ngũ, quyển 52, trang 4-5 thì bài thơ của vua Càn Long như sau:

節前御園賜宴席中得句

慶典今年値八旬,祚春華宴那辭頻。

聯茵瀛嶂敶五國,武帳穹窿容百人。

異數特宣首介近,分班各賜手危親。

一家中外真和浃,俶祉胥蒙大造仁[41]

Dịch âm

Khánh điển kim niên trị bát tuần,

Tộ xuân hoa yến nả từ tần.

Liên nhân doanh chướng trần ngũ quốc,

Võ trướng khung lung dung bách nhân.

Dị số đặc tuyên thủ giới cận,

Phân ban các tứ thủ nguy thân.

Nhất gia trung ngoại chân hoà hiệp,

Thục chỉ tư mông đại tạo nhân.

Dịch nghĩa

Lễ mừng khánh thọ năm nay là tuổi tám mươi,

Tiệc tùng liên tiếp nhiều lần để cùng vui.

Chung lại cùng với nhau năm nước phiên thuộc,

Trướng võ khum khum che phủ đủ cho cả trăm người.

Ðặc biệt tuyên gọi các chánh sứ lên tận bên cạnh,

Ban [rượu] cho người nào cũng trịnh trọng nâng lên cao.

Trong ngoài một nhà quả thực là hoà hợp,

Mong phúc đến khắp nơi để tạo được điều nhân.

CÁC BÀI HOẠ LẠI CỦA SỨ THẦN AN NAM

Hình Bộ Hữu Thị Lang [刑部左侍郎] Nguyễn Hoành Khuông [阮宏匡] là chánh sứ tạ ân nước ta hoạ lại như sau:

Nguyên văn

筵開前節值新旬,春暖名園詔問頻。

恩侈帲幪高覆物,澤覃優渥廣同人。

懷侯柔遠天生聖,飽德觀光子慕親。

化外幸陪冠帶會,期頤介壽拜皇仁。

Dịch âm

Diên khai tiền tiết trị tân tuần,

Xuân noãn danh viên chiếu vấn tần.

Ân xỉ bình mông cao phúc vật,

Trạch đàm ưu ác quảng đồng nhân.

Hoài hầu nhu viễn thiên sanh thánh,

Bão đức quan quang tử mộ thân.

Hóa ngoại hạnh bồi quan đái hội,

Kỳ di giới thọ bái hoàng nhân.

Dịch nghĩa

Tiệc vào lúc đầu năm để mở đầu một tuần mới[42]

Mùa xuân ấm áp nơi khu vườn danh tiếng được vua vời lên hỏi mấy lần

Ơn rộng rãi che phủ tất cả mọi vật

Trạch thấm nhuần đều khắp mọi người[43]

Dùng đường lối cai trị mềm dẻo với kẻ ở xa, quả là trời sinh bậc thánh

Ðược đức dầy nên thấy sáng, kẻ làm con cái ngưỡng mộ cha mẹ

Giáo hoá bên ngoài nên may mắn được dự hội của bậc đai mũ

Vào kỳ chúc thọ nay được lạy bậc vua nhân từ

Phó sứ tạ ân An Nam là Ðông Các Học Sĩ [東閣學士] Tống Danh Lang[44] [宋名郎]

虞廷肆覲未盈旬,拜奉天恩灌沃頻。

不限陽春覃異域,式隆膏澤寵來人。

淪肌浹髓知優渥,望日瞻雲妥戴親。

分外帡幪何報答,願將嵩夀祝皇仁。

Dịch âm

Ngu đình tứ cận vị doanh tuần,

Bái phụng thiên ân quán ốc tần.

Bất hạn dương xuân đàm dị vực,

Thức long cao trạch sủng lai nhân.

Luân cơ tiếp tủy tri ưu ác,

Vọng nhật chiêm vân thỏa đái thân.

Phân ngoại bình mông hà báo đáp,

Nguyện tương tung thọ chúc hoàng nhân.

Dịch nghĩa

Ðến triều đình nước Ngu[45] được ban ơn cho triều kiến vào lúc thượng tuần

Bái phụng ơn thiên tử mấy lần ban yến

Mùa xuân ấm áp không vì nơi xứ lạ mà không đầy tràn

Cao trạch bề trên thật ưu đãi kẻ xa đến

Khắp cả thịt da chỗ nào cũng thấm đầy ơn nhà vua

Ðưôc thấy mặt trời và mây [lành] thật thoả lòng

Phận che chắn bên ngoài biết lấy gì báo đáp

Chỉ đành tung hô chúc thọ vị vua nhân từ

Phó sứ tạ ân An Nam Hàn Lâm Viện Ðãi Chế [翰林院待制] Lê Lương Thận [黎梁慎]

天眷皇王啟壽旬,億年聖澤祝聲頻。

御園日暖常佳氣,華宴春濃及遠人。

星度共旋依北極,威顏咫尺仰慈親。

觀光幸綴明堂列,頂踵均沾雨露仁。

Dịch âm

Thiên quyến hoàng vương khải thọ tuần,

Ức niên thánh trạch chúc thanh tần.

Ngự viên nhật noãn thường giai khí,

Hoa yến xuân nùng cập viễn nhân.

Tinh độ cộng toàn y bắc cực,

Uy nhan chỉ xích ngưỡng từ thân.

Quan quang hạnh chuế minh đường liệt,

Ðính chủng quân triêm vũ lộ nhân.

Dịch nghĩa

Trời ngó xuống bậc hoàng đế vui mừng vào thọ tuần

Ơn của vua thánh hàng vạn năm biết bao lời chúc tụng

Ánh mặt trời ấm áp ở ngự viên đầy khí tốt

Tiệc thịnh soạn mùa xuân ban cho kẻ ở xa

Ngôi sao xoay quanh thật không khác gì Bắc Thần[46]

Mặt rồng ở gần trong gang tấc khiến cho ngưỡng mộ như người thân

Ðược vinh hạnh dự vào trong minh đường

Từ trên xuống dưới chỗ nào cũng thấm ướt đức nhân mưa móc

Chính sứ tiến cống An Nam Hàn Lâm Viện Thị Ðộc [翰林院侍讀] Trần Ðăng Thiên [陳登天]

虞階何待舞經旬,玉帛初通雨露頻。

煦育肯分千里外,綏懷渾似一家人。

幸陪周宴清光接,近挹堯樽咫尺親。

新寵歸來分海國,共將華祝頌皇仁。

Dịch âm

Ngu giai hà đãi vũ kinh tuần,

Ngọc bạch sơ thông vũ lộ tần.

Hú dục khẳng phân thiên lý ngoại,

Tuy hoài hồn tự nhất gia nhân.

Hạnh bồi Chu yến thanh quang tiếp,

Cận ấp Nghiêu tôn chỉ xích thân.

Tân sủng quy lai phân hải quốc,

Cộng tương hoa chúc tụng hoàng nhân.

Dịch nghĩa

Bệ Ngu đâu cần phải đợi múa vài ba tuần

Các đại thần đã được nhiều lần hưởng ơn mưa móc

Ân cần vồn vã đâu phân biệt kẻ xa hàng nghìn dặm

Vỗ về như thể người cùng trong một nhà

May mắn được ngồi trong tiệc nhà Chu để hưởng thanh quang

Nhà vua rót rượu ban cho đứng gần trong gang tấc

Là kẻ mới được sủng ái cùng với những nước khác

Cùng nhau chúc tụng bậc vua nhân từ

Phó sứ tiến cống An Nam Ðông Các Học Sĩ [東閣學士] Nguyễn Chỉ Tín [阮止信]

華旦欣逢萬壽旬,春巵祝廑叩筵頻。

象方玉帛聯王會,鹿宴笙簧慰遠人。

望日有年陶煦暖,朝天何幸妥尊親。

南歸願即呈黃耇[47],早拜丹墀仰至仁。

Dịch âm

Hoa đán hân phùng vạn thọ tuần,

Xuân chi chúc cận khấu diên tần.

Tượng phương ngọc bạch liên vương hội,

Lộc yến sanh hoàng ủy viễn nhân.

Vọng nhật hữu niên đào hú noãn,

Triều thiên hà hạnh thỏa tôn thân.

Nam quy nguyện tức trình hoàng cẩu,

Tảo bái đan trì ngưỡng chí nhân.

Dịch nghĩa

Ngày xuân may thay được gặp tuần vạn thọ

Chén mùa xuân chúc nhà vua khấu đầu mấy lần

Các đại thần cùng các sứ thần cùng trong một vương hội

Yến tiệc và tiếng nhạc uỷ lạo kẻ từ xa đến

Ngước nhìn nhà vua tuổi cao ban cho chén rượu ấm

Triều kiến hoàng đế may mắn được gần gũi

Khi về nam nguyện sẽ trình lên vua nước tôi

Mau sớm sớm đến thềm son bái kiến bậc chí nhân[48]

Phó sứ tiến cống An Nam Hàn Lâm Viện [翰林院] Nguyễn Ðề [阮偍][49] hoạ lại như sau:

九十韶光甫二旬,靈園鶯燕報春頻。

星馳輪轡趨行殿,雲集衣冠拜聖人。

仰見英君德得壽,可知天命敬惟親。

金章玉席洪恩浹,瀘傘難酬頂踵仁。[50]

Dịch âm

Cửu thập thiều quang phủ nhị tuần,

Linh[51] viên oanh yến báo xuân tần.

Tinh trì luân bí[52] xu hành điện,

Vân tập y quan bái thánh nhân.

Ngưỡng kiến anh quân[53] đức đắc thọ,

Khả tri thiên mệnh kính duy thân.

Kim chương ngọc tịch hồng ân tiếp,

Lô Tản nan thù đính chủng nhân.

Dịch nghĩa

Chín mươi ngày mùa xuân nay đã được hai tuần rồi

Trong vườn ngự uyển chim oanh chim yến đã báo xuân mấy lần

Ngày đêm rong ruổi xe đến nơi hành điện

Các đại thần tụ tập đông đảo để bái kiến bậc thánh nhân

Ngưỡng mộ bậc anh quân vì có đức nên được đại thọ

Ðủ biết mệnh trời kính và rất thân

Thơ trên giấy vàng là hồng ân của nhà vua ban xuống chiếu ngọc

Ðức nhân của nhà vua rót ruợu ban cho người ở sông Lô núi Tản

BAN THƯỞNG

Theo danh sách ở Việt Nam Tập Lược (Từ Diên Húc, đời Thanh) quyển 42 được Lý Quang Ðào chép lại trong Ký Càn Long Niên Bình Ðịnh An Nam Chi Dịch (Ðài Bắc, 1976) tr. 170-1 thì sứ bộ Nguyễn Hoành Khuông trong chuyến đi này đã nhận được năm lần ban thưởng như sau đây:

Quốc vương (5 lần)

– Lần thứ nhất: Như ý bằng ngọc, Quan Âm bằng ngọc, triều châu bằng thuỷ tinh màu xanh lục, bình thuỷ tinh, bình sứ đỏ mỗi món một cái. Hộp đan bằng sợi bạc (2 cái), cẩm đoạn (3 tấm), giấy hoa tiên (3 cuộn).

– Lần thứ hai: Mãng đoạn [mãng là rồng chân có bốn móng, dành cho bậc thân vương], thiểm đoạn, thô đoạn mỗi thứ hai tấm.

– Lần thứ ba: Trà Trịnh Trạch (4 hộp), trà Phổ Nhĩ (4 bánh) , trà cao (2 hộp), bình ngửi [tị yên là loại bình đựng hương liệu của quí tộc] (2 cái), phật thủ (1 mâm).

– Lần thứ tư: Như ý, bình ngửi, bát bằng gỗ sơn mài, chén pháp lang [chén theo kiểu Âu Châu chế tạo, tráng men] mỗi thứ một món. Ðoạn thêu nhiều màu sắc, chương nhung [một loại vải] mỗi thứ 3 tấm.

– Lần thứ năm: Bình sứ lớn, đĩa sứ lớn, đĩa sơn mài, bát, lò hương mỗi thứ hai cái, dao nhỏ (một cái).

Chánh sứ (5 lần)

– Lần thứ nhất: Như ý bằng ngọc, Quan Âm bằng sứ, bình thuỷ tinh [mỗi thứ một món], cẩm đoạn (2 tấm), hộp đan bằng sợi chỉ bạc (2 cái), giấy hoa tiên (2 cuộn).

– Lần thứ hai: Ðoạn nhiều màu, đoạn dệt bằng 8 loại tơ [mỗi thứ 2 tấm], sa cuộn nhỏ [bốn cuộn]

– Lần thứ ba: Trà Liên Tâm (một bình), trà Tử Dương (một hộp), trà cao (2 hộp), trà Phổ Nhĩ (4 bánh), bình ngửi (1 cái), chén sứ, bình sứ (mỗi thứ 1 cái), phật thủ (1 mâm).

– Lần thứ tư: Như ý (1 cái), đoạn màu, chương nhung (mỗi thứ 2 tấm), bình ngửi (1 cái), hà bao (1 đôi).

– Lần thứ năm: Bình hoa bằng sứ, đĩa lớn bằng sứ, tô sơn mài, dao nhỏ, bình sứ nhỏ (mỗi thứ một món).

Phó sứ (5 lần)

– Lần thứ nhất: Như ý bằng ngọc (một cái) , hộp đan bằng tơ bạc (hai cái), cẩm đoạn (2 tấm), giấy hoa tiên (2 cuộn).

– Lần thứ hai: Ðoạn nhiều màu, đoạn dệt bằng 8 loại tơ (mỗi thứ 1 tấm), đoạn dệt bằng 5 loại tơ (6 tấm).

– Lần thứ ba: Trà cao (1 hộp), bình nhiều màu (1 cái), trà Phổ Nhĩ (4 bánh), phật thủ (2 mâm).

– Lần thứ tư: Ðoạn (3 tấm), Như ý (1 cái), hà bao (1 đôi), bình ngửi bằng sứ (1 cái).

– Lần thứ năm: Ðĩa sứ lớn, bát sứ, dao nhỏ (mỗi thứ 1 món)

Hành nhân [người nhà đi theo để sai phái] năm người, mỗi người được thưởng 10 lượng bạc, tòng nhân [người đi theo mang vác đồ đạc] 10 người, mỗi người 5 lượng bạc.

Ngày 11 tháng Giêng, vua Càn Long lại chiếu theo lệ cũ ban thưởng cho vua Quang Trung một chữ Phúc do chính tay ông viết. Vua Càn Long cũng cho biết sẽ đặc biệt dùng lễ bão kiến thỉnh an để đón vua Quang Trung. Những sứ thần hoạ thơ cũng được thưởng vải vóc, bút mực, ngọc như ý và các loại đồ sứ.[54]

Quốc vương

Ngự bút chữ Phúc

 

1 tờ

Ngọc như ý

 

1 thanh

Giấy có in hình chữ Phúc vuông

 

100 tờ

Ngọc khí

 

2 món

Đồ sứ

 

4 món

Pha lê

 

4 món

Giấy lụa lớn nhỏ

 

Mỗi thứ 4 tờ

Mực

 

3 hộp

Bút

 

3 hộp

Nghiên

 

2 cái

Hộp sơn mài

 

4 cái

Thưởng các sứ thần hoạ thơ (mỗi người)

Đại đoạn

 

1 tấm

Bút

 

2 hộp

Mực

 

2 hộp

Giấy hoa tiên

 

2 cuộn

Ngày 17 tháng Giêng, vua Càn Long lại ra một đặc chỉ cho phép các sứ thần nước ta được trả lời thư của vua Quang Trung [do Tôn Vĩnh Thanh chuyển]. Lá thư đó được gửi về Quảng Tây để quan nhà Thanh đưa đến Nam Quan chạy trạm về Thăng Long.

Nguyên trước đây, khi phái bộ Nguyễn Hoành Khuông đã sang Quảng Tây, vua Quang Trung có gửi theo một tờ thư dặn trình lên về việc xung đột giữa Xiêm La và An Nam để xin vua Càn Long cứu xét.[55] Quân Cơ Xứ cũng trỉnh lên một tấu thư về việc đó như sau:

… Cứ như bọn Nguyễn Hoành Khuông quì tâu rằng vua nước tôi Nguyễn Quang Bình nhận được ơn điển vượt mức của thiên triều thật là to lớn. Nguyên trước đây đã từng gây hấn với Xiêm La nên giao binh nên sợ rằng sứ thần nước Xiêm khéo lời trình lên tố cáo với thiên triều nên quốc vương Nguyễn Quang Bình đã gửi thư cho Hoành Khuông thành thực tâu lên nguyên do hai bên tranh chấp. Mong đại hoàng đế sắc dụ quốc vương và sứ thần cùng đứng trong triều ban điển nghi nghiêm chỉnh không để hai bên lời qua tiếng lại mà như vô sự.

Thể chế thiên triều không hỏi đến việc riêng của ngoại phiên, hoàng đế vỗ về trong ngoài đều cùng như nhau vậy nên quốc vương Nguyễn Quang Bình nhận được lời của thiên tử sáng sủa ắt là bao nhiêu nghi ngại đều tiêu giảm từ nay đối với lân bang tốt đẹp để cùng tắm gội ơn trên.

Còn như quốc mẫu tuổi cao, khí thể hơi suy nên quốc vương có ra lệnh cho Hoành Khuông mua nhân sâm để phụng dưỡng nên đại hoàng đế thể tuất thưởng cho một cân nhân sâm. Vì quốc vương chưa khởi trình đến cửa quan nên theo đường dịch 600 dặm gửi cho để thoả lòng hiếu thảo sớm có thể lên đường nhập cận. Ấy là ân quyến khó gặp lại thêm tạ ân biểu lần trước có châu phê cũng gửi lại cả kèm với lời tra hỏi bọn Hoành Khuông và lời bẩm lên phụ vào.

Đại hoàng đế ân trạch dày, lòng nhân sâu không chỗ nhỏ nhoi nào không xét đến, quốc vương Nguyễn Quang Bình quì lãnh rồi không biết sẽ cảm kích đến chừng nào sẽ chạy đến khuyết đình tạ ơn sủng quyến.

Bọn Hoành Khuông cũng hết sức vui sướng nói rằng họ đã soạn thư gửi quốc vương nay sẽ viết lại cho rõ ràng để sớm giao cho đem đi …[56]

Nhân việc vua Quang Trung sai bọn Nguyễn Hoành Khuông mua nhân sâm cho mẹ, Phúc Khang An cũng lấy sâm trong kho của mình gửi sang. Ngày mồng 2 tháng 2, Phúc Khang An viết lá thư sau đây:

Về việc tiếp đón, thì theo bản văn nhận được của quốc vương gửi hồi đầu tháng giêng năm nay, nên trả lời kỹ càng mọi việc. Từ khi nghe tin quốc mẫu cần phải có sâm linh để tẩm bổ, (tôi đã) lấy sâm chi đang dùng, đem giao cho Tả Giang Thang (Hồng Nghiệp) đem gấp xuống Lạng Sơn, giao cho trấn mục quí quốc chuyển cho quốc vương. Sau đó lại nghe Ngô Văn Sở nói với Tả Giang đạo là xin cho được theo quốc vương tiến kinh, mong được thánh thượng thương tình mà cho phép, nhưng y là người đắc lực ở trong nước, quốc vương nhập quan triều cận thì nên ở lại để trông coi để không xảy ra chuyện gì trục trặc, và đã vội vã sức cho tuần phủ Minh Tích lo liệu việc đó, lần này không nên đi theo, đủ biết tấm lòng quyến cố không phải bình thường, ắt quốc vương trước sau đã nhận được đầy đủ.

Năm trước bọn uỷ viên tuyên phong họ Thành (tức Thành Lâm) trở về rồi, hoàng thượng quan tâm tình hình quý quốc, giáng chỉ ra lệnh cho sắp xếp việc tiến kinh, hỏi han kỹ lưỡng rồi ra lệnh cho khởi hành sớm sủa. Cứ như Thành Lâm từ kinh về cho biết, sau khi được hoàng thượng triệu vào hỏi là năm nay mùa màng thuế má thu được ra sao? Quốc vương tuổi tác bao nhiêu? Trước đây đau ốm nay đã khỏi chưa? Sau khi được phong vương sắp đặt thế nào? Dùng người trong việc hành chính có thích hợp không? Lòng người có theo về hay chăng? Mười ba đạo địa phương có yên tĩnh không? Mọi việc nhà vua hỏi han rất kỹ, Thành Lâm nhất nhất tâu lên, thánh tâm cực kỳ vui vẻ.

Về sau khi hoàng thượng nghe tin quốc vương đã định ngày nhập cận (vào yết kiến vua Thanh) là tháng ba, nên lại hỏi han thêm mũ đai ăn mặc ra sao, Thành Lâm tâu rõ ràng, liền sức cho tỉnh thần Giang Nam[57] dệt tạo, sắp xếp các loại tơ lụa, hàng thêu, mãng bào, mũ miện rồng vàng, đai đeo màu kim hoàng để ban cho.

Hoàng thượng cũng dụ rằng đợi đến khi quốc vương đến kinh đô, sau khi làm lễ bão kiến thỉnh an xong rồi, sẽ thưởng thêm đai màu kim hoàng, để tăng thêm việc ưu đãi người ở nơi xa, cũng nhân việc đã uỷ thác cho cống sứ Nguyễn Hoành Khuông dâng thư trình lên để mong thánh chúa ngó xuống, quốc mẫu nay niên kỷ đã cao, cần có thuốc men tẩm bổ, quốc vương nghĩ đến công lao nuôi dưỡng, nên đặc biệt ban cho một cân nhân sâm trong nội phủ, lại soạn một đạo sắc thư, cùng ngự bút châu phê trên biểu văn sai dịch trạm giao cho phủ bộ Quảng Tây lập tức chuyển đệ.

Những ân sủng khác thường như thế, không chỉ phiên thần thuộc quốc chẳng dám mơ tưởng, ngay cả người thân quý của thiên triều cũng không mấy ai được, quốc vương từ năm ngoái đến nay, ân sủng mấy phen, quả là chưa từng có, lại được cả bút mực của hoàng thượng ngõ hầu yên lòng mà tới. Ðến như xin gì được nấy, cầu phong được phong, chỉ trong vài tháng, được ban cho danh phận chính thức của phiên vương, mở cửa ải cho buôn bán, ban lịch cho đúng ngày tháng, mấy lần được ban ơn, thật quả là thánh chúa lấy lòng trời mà chăn dắt, theo lòng dân mà đãi người hiền, ân trạch khắp vạn phần, quang vinh cũng hơn từ nghìn xưa trở lại.

Bản tước các bộ đường thay mặt quốc vương nhận những ân điển đó, trong lòng cảm kích lại thêm kính sợ, thấy rằng chịu ơn thì dễ mà báo đáp khó biết là nhường nào. Nếu chưa đáp đền được thì lúc ăn, lúc nghỉ, lúc ngủ, lúc thức, ắt có chiều áy náy không an, chỉ có cách sớm chạy đến bệ rồng, chiêm ngưỡng thiên nhan, để được nghe lời giáo huấn, dẫu những ơn kia không thể báo đáp, cũng là nghĩ đến báo đáp vậy.

Quốc vương ở đất Giao (Chỉ) xa xôi phương nam, chắc không thông hiểu cách thức của thiên triều. Phàm các bầy tôi vào triều cận, thường là nghi lễ bình thời, (còn như) bão kiến thỉnh an, ấy là vượt hẳn điển lệ, trước đây chỉ có tướng quân Triệu Công khi bình định Hồi bộ trở về, và tướng quân A Công, khi bình định hai Kim Xuyên xong, ca khúc khải hoàn vào triều kiến hoàng đế, hoàng thượng muốn tướng sĩ ra sức, khi đó mới cho thi hành đại lễ này. Còn như ban cho đai màu kim hoàng, thì cực kỳ phi thường, đến như ngự bút viết bằng chữ son, thuộc quốc lại càng khó được. Thế mà ngày nay quốc vương ở phương nam mới thần phục, mọi thứ đều được cả, thật là khó gặp ai được vinh sủng đến thế.

Khi quốc vương khởi trình đi lên kinh đô, có thể cứ dùng đai màu đỏ, đợi đến khi triều kiến hãy thay đổi qua đai được thưởng. Còn như nhân sâm là kết tụ sơn xuyên linh tú của đất Thịnh Kinh, phẩm chất thật là quí giá, không phải chỉ hiếm có ở đất An Nam mà ngay trong nội địa cũng khó mà kiếm được.

Trước đây có nghe Nguyễn Quang Hiển tìm mua ở kinh đô, đã định đợi khi quốc vương đến cận chúc, khi đó (tôi) sẽ thay mặt mà xin hoàng đế ban cho, nhưng cứ theo lời bẩm của Tả Giang đạo mới hay quốc vương đã khiến Nguyễn Hoành Khuông tìm mua rồi, bản tước bộ đường mới lấy bốn lượng sâm chi đang dùng, phẩm chất chỉ là loại trung bình thôi, không được như sâm trong nội khố là thứ tuyển chọn trong hàng nghìn cân mới lấy được một.

Ðến nay được hoàng thượng ban cho nhiều đến một cân, quốc mẫu được ân tứ thấm đến, cả nhà được hưởng ơn trên, thật là vô cùng vô lượng, quốc vương trong lòng thơ thới, khi vào triều cận không băn khoăn về chuyện ở nhà, tâm thái thân vinh, cũng đều do hồng ân ban cho, phàm là phận bầy tôi ai ai cũng đều vui thích, huống hồ là người được hưởng thì còn biết như thế nào.

Quốc vương mới khai ấn tín, ắt sẽ dâng biểu cung tạ sắc ấn thi chương kèm theo cống vật, khi đó sẽ sai sứ mang theo trên đường đi, hiện nay tôi đã phụng chỉ đợi khi biểu văn, cống vật đến cửa ải, sẽ lập tức thu nhận ngay, lại hộ tống bồi thần tới kinh đô, sắp đặt mọi việc tiếp đón.

Lại thêm việc quốc vương trong thư có bảo Nguyễn Hoành Khuông cứ thực trình bày việc xích mích giữa Tiêm La và An Nam, sau khi nguyên thư trình lên, hoàng thượng thấy quốc vương cẩn thận cung kính, nên cũng đã lo liệu mọi việc thật chu đáo. Hiện giờ bồi thần của cả hai nước cùng nhập triều, cùng ăn tiệc với nhau, chuyện nọ kia đều không nhắc đến, cũng không để lộ hình tích, lá thư cũng đã đưa cho Nguyễn Hoành Khuông được đọc.

Còn như việc hai nước trước đây có sự bất hoà, khi quốc vương tiến kinh, nên để Ngô Văn Sở ở lại trong nước, lo việc trấn thủ, đến lần tiến cống sau hãy đi, nhà vua cũng đã chỉ dụ cho bản tước các bộ đường rất minh bạch, sự lo lắng của bậc thánh minh ban xuống hết việc này đến việc khác, vậy hãy cố gắng mà noi theo Ân đức thiên triều rải ra khắp chốn, ban cho vạn quốc, đông tây nam bắc, tất cả đều nhận được, đến dịp bát tuần vạn thọ của hoàng thượng, ngũ đại nhất đường, thuyền bè xe cộ từ bốn biển kéo đến, ắt đầy cung khuyết.

Quốc vương khởi nghiệp ở Tây Sơn, nay được phong tước chẳng khác nào xem mây thấy mặt trời, đến triều kiến chúc thọ, thi hành lễ huân quí, thật là vinh hạnh biết bao, lại được quang sủng ân vinh đầy đủ, bản tước các bộ đường cũng được dự phần vào việc tao ngộ vui mừng của quốc vương.

Mưa thuận gió hoà, nay đã trọng xuân, bấm đốt ngón tay, ngày quốc vương nhập quan chẳng còn mấy chốc, bản tước các bộ đường đến cuối tháng hai sẽ lên đường về phương tây, đợi ở cửa quan để gặp gỡ, và tiếp đón ngài.[58]


CHƯƠNG VII

THÀNH QUẢ BANG GIAO

KẾT QUẢ ĐẦU TIÊN

Theo lời tâu của Thành Lâm thì sau lễ phong vương vua Quang Trung thỉnh cầu vua Càn Long chấp thuận cho ba việc:

  1. Ban cho chính sóc
  2. Xin dời đô
  3. Xin tái lập thông thương ở biên giới

LỊCH THỜI HIẾN

Nhà Thanh từ năm 1644 làm chủ Trung Nguyên thay lịch Đại Thống nhà Minh bằng lịch Thời Hiến là lịch do giáo sĩ Thang Nhược Vọng (Adam Schall) tính toán từ cuối đời Minh nhưng chưa áp dụng nhưng phải đến năm 1669 mới triệt để theo tân pháp.[59] Năm 1674, vua Khang Hy sai soạn Lịch Tượng Khảo Thành.

Về phần nước ta, dưới đời Lê dùng lịch Đại Thống của nhà Minh và có thể cả đời Tây Sơn nên đôi khi lịch nước ta và lịch Trung Hoa có sự khác biệt. Việc được ban cho lịch Thời Hiến cũng là việc được công nhận trong quĩ đạo Trung Hoa. Theo lời tâu của Thành Lâm thì sau khi được phong vương, vua Quang Trung đã xin được ban lịch Thời Hiến nhà Thanh:

… Cứ theo lời Nguyễn Quang Bình thì nước y mới dựng việc hàng đầu là thụ sóc [授朔],[60] trước đây có lối tính riêng,[61] vì ở khuất một cõi tây nam nên thiên triều chưa từng có lệ ban sóc, trong nước lại không có người thâm hiểu thiên văn, tôi đã từng tìm hiến thư[62] của nội địa thỉnh thoảng lưu truyền một hai bản rồi theo đó san khắc để dùng thành ra lắm chỗ sai ngoa, lộn xộn, tứ thời tiết khí, có nhiều lầm lẫn. Nay mong thánh chúa cách ngoại long ân, ban cho để dùng thì toàn cõi Nam Giao nhân dân cày cấy gieo trồng có tiết khí làm chuẩn. Việc có được khâm định thời hiến thư không biết tâu xin thánh ân có được không? Nếu được thì từ nay mỗi khi mùa đông đến xin đại hoàng đế ban cho vài mươi bản, nhờ Tả Giang đạo gửi trát báo cho bản quốc tôi sẽ sai người đến cửa quan kính cẩn nhận lãnh để tiện tuân theo.

Bọn thần tra xét đạo lập quốc việc đầu tiên là đặt nặng mùa màng của dân, nay quốc vương vừa dựng nước đã xin thiên triều ban sóc, coi đó là việc cần kíp nhất. Bọn Thành Lâm đã nhận lời chuyển bẩm, lại đem về một bản hiến thư san khắc của nước đó. Bọn thần xem trang bìa có đề Càn Long thứ 54 hiến thư, đủ thấy có lòng chăm chú theo lịch nhưng khí hậu bốn mùa, trước sau lộn xộn sai lầm rất nhiều.[63]

Vua Càn Long đã chấp thuận lời thỉnh cầu và ra lệnh kể từ cuối năm Càn Long 54 (Kỷ Dậu – 1789), mỗi năm bộ Lễ sẽ theo lệ ban cho Triều Tiên mà ban cho An Nam 20 bản lịch Thời Hiến của nhà Thanh giao cho tỉnh Quảng Tây rồi đem xuống Nam Quan cho nước ta. [64]

DỜI ĐÔ

Một trong những lý do để vua Quang Trung thoái thác việc nhà Thanh làm lễ phong vương tại Thăng Long là cố đô nay đã hết “vượng khí”. Lý do đó có thể được hiểu theo nhiều cách, vì Nguyễn Quang Bình không muốn đóng đô tại một nơi mà dân chúng còn lưu luyến cựu triều, cũng có thể quan niệm về tổ chức chính trị của ông bị ảnh hưởng văn minh Nam Á nên khi thiết lập một triều đại cần có một kinh đô khác với trước kia. Việc thay đổi kinh đô theo triều đại là một tập quán áp dụng ở nhiều nơi mà gần nhất là các nước Xiêm La, Chân Lạp hay Chiêm Thành vốn dĩ ảnh hưởng sâu đậm đến người dân Đàng Ngoài thời đó.

Nghiên cứu về văn minh và lịch sử Champa, Xiêm La, Chân Lạp chúng ta thấy họ thay đổi nhiều kinh đô và mỗi thời kỳ ngoài kinh đô chính có những kinh đô phụ, có chính vương và phó vương, chia đất thành những khu vực để cho anh em, con cháu mỗi người cai trị một vùng rất tương cận với việc vua Thái Đức chia cho các em hay vua Quang Trung chia cho các con mỗi người đứng đầu một cõi.

Quan niệm về vũ trụ và con người của các dân tộc Ðông Nam Á rất gần với khái niệm “thiên nhân tương dữ” của Trung Hoa khi cho rằng các tinh tú và thiên thể có liên quan trực tiếp đến sự thịnh vượng và an lạc của nhân loại. Kết cấu và sinh hoạt xã hội của con người ở trần gian phải phù hợp với vận hành của trời đất nên một vương quốc càng gần với hình ảnh của vũ trụ càng tốt. [65]

Theo triết học Ấn Ðộ thì thế giới là những vòng tròn đồng tâm bao gồm một đại lục ở giữa hình tròn tên là Jambudvipa, bao quanh là bảy đại dương và bảy lục địa. Xa hơn nữa là những dãy núi cao.[66] Ngay chính giữa đại lục Jambudvipa là ngọn núi Meru[67] có mặt trời, mặt trăng và các tinh tú xoay quanh. Ðỉnh ngọn Meru là nơi các thần linh ngự trị có 8 vị Lokapalas trấn giữ chung quanh.

Từ ý niệm nguyên thuỷ đó, những dân tộc chịu ảnh hưởng văn minh Ấn Ðộ đều coi việc xây dựng kinh đô là công tác tối quan trọng, không phải chỉ là một trung tâm văn hoá và chính trị mà còn là một linh địa qui tụ mọi tú khí của quốc gia. Việc chọn một khu vực làm đế kinh luôn luôn gắn liền với những huyền thoại siêu nhiên để tăng gia mức quan trọng của nó mặc dầu không thể không kèm theo những thuận lợi khác về phòng ngự cũng như về kinh tế.

Cũng tương tự như quan niệm của Trung Hoa coi nhà vua như vì sao Bắc Ðẩu để các tinh tú chầu vào, bốn phía kinh đô cũng có các thị trấn quan trọng do những cận thần hay người trong hoàng gia cai quản. Kinh đô thường vây quanh một vùng đất cao tượng trưng cho núi Meru. Kinh đô Angkor của Cambodia chẳng hạn, là một thành trì hình vuông, mỗi chiều hai dặm rưỡi, chính giữa là Phnom Bakheng, một ngọn núi nhỏ.

Việc tổ chức triều đình cũng dựa trên khuôn mẫu tương tự. Vua Miến Ðiện có bốn chính hậu (principal queens) và bốn thứ phi (secondary rank). Bốn chính cung được đặt tên là Bắc Cung Hoàng Hậu, Nam Cung Hoàng Hậu, Ðông Cung Hoàng Hậu, Tây Cung Hoàng Hậu tượng trưng cho bốn phương chính còn bốn thứ phi được đặt tên theo bốn phương bàng[68]. Nhiều tài liệu cho thấy vào thời xưa, cung điện của các hậu phi được bố trí chung quanh cung vua theo các hướng. Triều đình cũng có bốn đại thần tượng trưng cho tứ thiên vương trong giáo lý Phật giáo. Mô hình này hiện hữu tại Xiêm La, Chân Lạp, Java. Ở Chân Lạp, bốn đại thần được mệnh danh là “tứ trụ” và theo truyền thống, những viên quan đó không phải chỉ nắm giữ trọng quyền mà còn có nhiệm vụ bảo vệ bốn phương chính.[69]

Tại khu vực Bắc Thái và vùng đất thuộc Ai Lao hiện nay, vào thời đó các tiểu quốc được gọi là các muang (mường), chúa tể các mường gọi là chao (chậu), thường được dịch ra tiếng Hán Việt là chiêu. Những tiểu quốc đó thần phục một quốc gia lớn như những cánh hoa nên được đặt tên là mandala[70] và có nghĩa vụ thần phục nhưng cũng được bảo vệ một khi bị xâm lấn. Theo O. W. Wolters thì:

Mandala tượng trưng cho một tình trạng chính trị đặc biệt và thường không cố định về một khu vực địa lý không có ranh giới rõ rệt mà các trung tâm nhỏ có khuynh hướng tìm an toàn từ mọi hướng… Mỗi trung tâm lại có nhiều lãnh địa phụ thuộc và khi có cơ hội thì những lãnh địa này cũng tách ra để nổi lên thiết lập một hệ thống thuộc địa cho chính mình.[71]

Tương quan giữa nhị hoa (trung ương) và cánh hoa (địa phương) đó cũng gần giống như hình thức thiên triều và phiên thuộc của Trung Hoa nhưng linh động hơn và hai bên có những giao kết để tuân thủ những nghĩa vụ, chế tài và liên minh (obligations, sanctions, and allegiance).

Ràng buộc chặt chẽ nhất của hai bên là nghi lễ thần phục (ritual of submission), tương tự như cầu phong và triều cống mà Trung Hoa đòi hỏi các tiểu quốc ở chung quanh phải thi hành. Riêng ở Xiêm La, những nước chịu nhận họ làm thượng quốc thì hàng năm phải cho người đem sang một cây vàng bạc (gold and silver tree) kèm theo sản vật, tiền bạc, món quí giá… để biểu lộ sự trung thành. Ngược lại vua Xiêm cũng tặng lại những vật phẩm khác thường là có giá trị hơn những gì các tiểu quốc triều cống họ.

Chế tài là quyền “trừng phạt” một khi hạ quốc không làm tròn những nghĩa vụ đối với thượng quốc. Một người soán ngôi vua thường không được công nhận và có thể còn bị đem quân chinh phạt. Cho nên việc phong tước cũng là một cách để ràng buộc các nước nhỏ trung thành với nước lớn.

Quan trọng hơn hết trong tương quan nước lớn nước nhỏ là mỗi khi có việc binh đao, nếu được yêu cầu, nước lệ thuộc phải gửi quân đội, tàu bè, khí giới đến giúp nước lớn đánh trận. Ngược lại nước lớn cũng có nhiệm vụ bảo vệ nước nhỏ khi bị xâm lăng và hoặc trực tiếp gửi quân đội, khí giới đến giúp, hoặc điều động các tiểu quốc khác đem quân hỗ trợ.

Chính từ những giao ước về các nghĩa vụ và quyền lợi song phương, chúng ta có thể có những nhận định minh bạch hơn về liên hệ giữa Việt Nam và Xiêm La trong một bố cục chung của cả vùng. Những liên hệ đó thay đổi liên tục nên lắm khi chúng ta không thấy có những ranh giới rõ rệt để xem xét vấn đề cho chính xác.

2. Chân mệnh đế vương

Từ quan niệm về tổ chức theo khuôn mẫu của vũ trụ, những quốc gia lớn tự đặt vào vị trí trung tâm một mandala. Trung tâm đó không phải chỉ là một vị trí chính trị mà cũng thường đóng vai một trọng điểm kinh tế. Trong nền kinh tế nông nghiệp, các vua chúa khi thấy đất đai ở kinh đô đã kém màu mỡ, vấn đề buôn bán qua lại kém sầm uất (mà họ cho rằng đã hết vượng khí) thường đi tìm một kinh đô mới tốt đẹp hơn. Những vùng đất mới đó thường là ở các cửa sông đổ ra biển, tàu bè ghé lại dễ dàng, đất tân bồi phì nhiêu hơn vì người ta cho rằng bao nhiêu linh khí của thượng nguồn sẽ đổ xuống hạ lưu và các tiểu quốc ở vùng núi cao phải thần phục.

… Các lãnh chúa dần dần hạn chế bớt quyền lực của các vùng cao nguyên và tạo ảnh hưởng bằng cách kiểm soát các khu vực hạ nguồn hay vùng đồng bằng trồng lúa đất đai màu mỡ. Bản đồ các con sông tự nhiên trở thành một biểu kế đo lường quyền thống trị. Giới sử gia đã tìm thấy sự tương quan rõ rệt giữa việc kiểm soát các con sông và hệ thống sông đào với sự gia tăng chuyên chế tại Ðông Nam Á.[72]

Nắm được khu vực huyết mạch này có thể coi như một ân sủng đặc biệt mà nhiều khi người ta lẫn lộn giữa giả và thật. Vua chúa thường xưng là Phật vương (cũng như văn hoá Trung Hoa coi vua là con của trời – thiên tử) và được củng cố khi có những điềm lành [chẳng hạn như săn bắt được voi trắng]. Chính sử Xiêm La, Miến Ðiện thường ghi chép rất kỹ về những biến cố đặc biệt này. Ðể đánh dấu mỗi triều đại, nhiều đền đài dinh thự được xây cất bằng nhân công[73] từ các tiểu quốc đến phục dịch và khi xẩy ra chiến tranh, những công nhân này cũng được điều động tham gia quân đội.

Trong những nghi lễ chính của một triều đại, việc lên ngôi được đặc biệt chú trọng. Nghi lễ này luôn luôn được cử hành trên một vùng đất cao với một ngai vàng cho nhà vua tượng trưng núi Meru, chung quanh là 8 tu sĩ tượng trưng cho 8 thiên vương[74]. Nhiều dân tộc còn tin rằng nhà vua chính là thần Siva hay thần Vishnu giáng trần. Những chi tiết này được tìm thấy trong nhiều kinh văn khắc trên đá của người Chăm, người Java, người Chân Lạp. Ngôi đền nổi tiếng Angkor Wat do vua Suryavarman II của Cambodge dựng nên hồi thế kỷ XII là để kỷ niệm thần Vishnu mà ông cho rằng đã hiện thân. Việc thần thánh hoá các vị vua cũng có thể là một phương cách để hợp thức hoá những quá khứ không lấy gì làm minh bạch tương tự như kiểu người Trung Hoa cho rằng ngôi vua về tay những người có chân mệnh đế vương, chân long thiên tử.

Trong lịch sử các quốc gia Ðông Nam Á, việc tạo nên những huyền thoại để củng cố uy tín và xác định sự chính thống của một triều đại là điều rất phổ biến. Những cuộc nổi dậy để giành chính quyền luôn luôn được yểm trợ bởi các dật sự ly kỳ, sấm vĩ, đồng dao…

3. Ranh giới linh động

Một đặc điểm đã được nhiều nhà nghiên cứu nêu lên là sự bất minh về ranh giới giữa các quốc gia được mệnh danh là vùng ảnh hưởng (sphere of influence), co dãn và thay đổi liên tục tuỳ theo tình hình chính trị, kinh tế.

Người Tây phương cho rằng lãnh thổ của một quốc gia kéo dài đến biên giới của nước láng giềng thì ở Ðông Nam Á lại luôn luôn có một “khoảng trống” giữa hai bên, vùng đất này không thuộc một quốc gia nào cả và nhiều khi đóng vai một trái đệm. Nếu người Tây phương dựng lên một bức tường vô hình và canh chừng để không ai có thể vi phạm thì biên giới các xứ ở Ðông Nam Á lại”xốp” không ngăn cấm dân chúng qua lại.[75]

Ảnh hưởng của trung ương có mức độ khác nhau, có những vùng hoàn toàn dưới quyền kiểm soát, kể cả thừa kế hay lãnh thổ (cho thêm hoặc rút bớt) nhưng cũng có những nơi xa xôi hơn, thần phục chỉ là danh nghĩa qua một số cống phẩm hay triều kiến. Những khu vực đó thường được ghi lại dưới cái tên khu tự trị (autonomous regions), chẳng hạn vùng Bắc Lào bao gồm một vùng đất rộng bao phủ cả một phần bắc Việt Nam ngày nay.

Cũng như trong thời kỳ phong kiến ở Âu Châu, một vương quốc Ðông Nam Á là những vùng ảnh hưởng không rõ rệt, bao gồm lãnh thổ riêng của nhà vua mà ông ta hoàn toàn kiểm soát được, ra xa hơn nữa là những vùng phải triều cống được áp đặt bằng nhiều mức độ quyền hành. Bên ngoài nữa là những khu vực có vương quyền riêng mặc dù không hoàn toàn tự trị. Những vùng đó bị lệ thuộc vào một hay nhiều vương quốc, bắt buộc phải tiến cống và không được làm điều gì ngược lại với quyền lợi của thượng quốc.[76]

Những quan niệm chặt chẽ về biên cương hành chánh, trước đây là của Trung Hoa và sau này là của Tây phương du nhập vào khu vực này đã tạo ra rất nhiều nghi vấn vì quan niệm hai bên hoàn toàn khác hẳn. Khi nghiên cứu về các bản đồ cổ của vùng Ðông Nam Á, những đường ranh giới biến dạng rất khó hiểu theo mỗi thời kỳ và nhiều câu hỏi về sự bành trướng của mỗi dân tộc được đặt ra dựa trên sự hiểu biết của chúng ta về địa lý hiện tại, lắm khi được củng cố bằng những lý thuyết đấu tranh trong thế kỷ XX.

MỞ CỬA THÔNG THƯƠNG

Theo lời tâu của Phúc Khang An [tổng đốc Lưỡng Quảng] và Tôn Vĩnh Thanh [tuần phủ Quảng Tây] tháng 12 năm Kỷ Dậu (1789) thì:

Lại theo quốc vương kia nói thì Giao Nam sản vật vốn ít, lại thêm nhiều năm binh lửa, nên vật lực suy kiệt, đại hoàng đế che chở cho quần sinh như ánh sáng mùa xuân chiếu xuống vạn vật, mong hoàng thượng ngó xuống đất viêm hoang ở bên ngoài cũng là con dân mà chuẩn cho mở lại cửa Thủy Khẩu để buôn bán qua lại, như thế thì sinh linh toàn cảnh An Nam đều được lợi và có đồ dùng. Bọn thần tra thấy An Nam vốn mậu dịch thông thương nhưng từ khi có lệnh cấm đến nay thì hàng hóa ở nội địa khó mà đến Nam Giao được, chẳng hạn thuốc men, trà lá là những thứ mà nước này cần dùng, gần đây cầu xin nhiều lần nhưng chưa được chấp thuận.[77]

Trong lời tâu này, Phúc Khang An đề nghị đợi vua Quang Trung khi sang Trung Hoa dự lễ bát tuần khánh thọ sẽ xin và chấp thuận như một ân điển đặc biệt nhưng vua Càn Long đã bác khước giải pháp này và truyền chỉ lập tức mở cửa lại để hai bên thông thương:

…Còn các cửa quan Thủy Khẩu ở Việt Tây có đường thông thương, nếu không thuận cho ngay e rằng hóa vật ở nước đó khan hiếm, người dân không có mà dùng, xem ra không phải là ý nhất thị đồng nhân, thể tuất ngoại phiên của trẫm.

Nay trẫm đã minh giáng dụ chỉ, chuẩn cho mở cửa quan, thông thương chợ búa [開關通市], không cần phải đợi đến khi quốc vương lai kinh, tận mặt cầu khẩn, khi đó mới bằng lòng.[78]

Khi đọc về việc mở cửa thông thương, chúng ta thấy sự việc có vẻ giản dị nhưng thực ra đòi hỏi nhiều nỗ lực để thi hành. Tuy nhiên, đây là một thỏa hiệp song phương – nói theo ngôn ngữ thời nay là một hiệp ước thương mại mà cả hai bên đều có nhiệm vụ thi hành nghiêm chỉnh nên ảnh hưởng của nó liên quan đến không phải chỉ nước ta mà cả vùng nam Trung Hoa.

Trước đây khi có chiến tranh với Miến Điện, vì thua trận nên vua Càn Long đã ra lệnh phong quan, nghiêm cấm mọi việc buôn bán qua lại vùng tây nam, trong đó có cả những cửa khẩu sang nước ta. Theo tài liệu nhà Thanh, dọc theo biên giới Việt Hoa có bách ải, tam quan là những nơi có thể qua lại. Tuy nhiên, việc buôn bán chỉ tập trung ở ba cửa lớn có đóng trọng binh là Trấn Nam, Bình Nhi và Thủy Khẩu. Ba cửa quan này một bên là phủ Thái Bình (Quảng Tây, Trung Hoa) một bên là hai trấn Cao Bằng (Thủy Khẩu, Bình Nhi) và Lạng Sơn (Trấn Nam) thuộc nước ta.

Khi mở cửa quan để buôn bán trở lại, mỗi bên thiết lập một nơi tập trung hàng hóa để kiểm soát và phân phối, bên phía nhà Thanh gọi là xưởng còn bên nước ta gọi là chợ [thị]. Ở Cao Bằng, chợ họp tại Mục Mã còn ở Lạng Sơn thì tập trung tại Kỳ Lừa thuộc Ðồng Ðăng. Vì khu vực Nam Quan có nhiều con buôn từ xa đổ đến nên tại Kỳ Lừa chia thành hai khu, một khu gọi là Thái Hòa cho dân từ Quảng Ðông đến, một khu gọi là Phong Thịnh cho người Quảng Tây đến. Mỗi khu vực lại có nhân viên quản lý và bảo vệ. Trấn Nam Quan không mở ra cho dân chúng qua lại mà chỉ khi nào có sứ thần thì binh lính canh gác mới mở để cho qua, đôi khi còn làm khó thử tài văn chương nữa. Tuy nhiên ở gần đó có một ải gọi là Do Thôn là nơi khách thương qua lại và hàng hóa theo đường này.

Tuy không có số liệu cụ thể, việc mở cửa lại các cửa quan đã ảnh hưởng lớn đến việc giao thương ở miền Bắc, vực dậy một khu vực bị chiến tranh và nạn cát cứ tàn phá trong một thời gian dài. Chỉ ba năm sau, Thành Lâm [khi đó là đồng tri Ninh Minh] đã tâu lên vua Càn Long:

Từ năm 56 được thánh ân chuẩn cho nước An Nam thông thị đến nay, lúc đầu các loại hàng hóa xuất khẩu chỉ có các loại dầu, đồ sứ, giấy bản, nồi gang… đều là những món nặng nề, thô kệch.

Gần đây, dân chúng nước ấy vui vẻ làm ăn nên những đồ cần dùng gia tăng gấp bội khi trước, nô tài qua lại Trấn Nam Quan mục kích trên đường đến ải Do Thôn hàng hóa xuất khẩu cuồn cuộn không dứt.

Tra hỏi họ đem những hàng hóa gì thì biết là có vải tơ, trà thơm và những món hàng không nặng lắm. Còn Bình Nhi, Thủy Khẩu hai cửa thuộc đồng tri Long Châu kinh lý, cách Trấn Nam Quan khá xa, hỏi ra thì đồng tri Vương Khẳng Ðường cũng nói rằng gần đây hàng hóa xuất khẩu so với khi mới mở chợ, mỗi ngày một nhiều…[79]

GIAO THIỆP SAU LỄ PHONG VƯƠNG

Nhận sắc ấn: Việc đầu tiên vua Quang Trung cần phải hoàn tất là nhận sắc ấn của nhà Thanh do Nguyễn Quang Hiển đem về. Theo tấu thư của tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh thì ngày 12 tháng chạp năm Kỷ Dậu, vua Quang Trung cùng các vệ sĩ lên đến Nam Quan.

Ngày 13 tháng Chạp vua Quang Trung sai hai bồi thần là Nguyễn Văn Danh và Ngô Văn Sở sang Chiêu Đức Đài (tức phía Trung Hoa) để làm lễ nhận sắc ấn. Theo lời Ngô Văn Sở thì quốc vương đã định rằng trong khoảng tháng Ba sẽ lên đường phó kinh để dự lễ Vạn Thọ và Ngô Văn Sở xin được cùng đi cho thoả lòng chiêm cận rồi trình lên biểu văn ta ơn của nước ta.

Ngày mồng 5 tháng Giêng năm Canh Tuất, khi nhận được biểu văn này, vua Càn Long hết sức mừng rỡ phê lên trên biểu: “Ta rất vui mừng xem biểu này. Khi bồi thần khanh sai đến đây sẽ lập tức giao cho mang về để khanh xem châu phê của trẫm mà thêm hoan hỉ. Sắp gặp nhau rồi, trẫm cũng ân cần nghĩ đến như khanh vậy” (欣悅覽之。卿所使陪臣適至卽交彼持囘。卿閱朕硃批益當歡喜。相見在卽。同此殷念也。)

Cũng trong dịp này, sứ thần nước ta là Nguyễn Hoành Khuông vừa tới Bắc Kinh nên được xem biểu văn có châu phê để mang về nước. Về việc vua Quang Trung có đến Nam Quan hay không thì ngoài lời tâu của Tôn Vĩnh Thanh (dựa theo lời của Thang Hùng Nghiệp) nên chúng ta cũng đoán là y bịa ra cho vua Càn Long vui lòng chứ thực sự chỉ có Ngô Văn Sở và Nguyễn Văn Danh. Sau này trong một tờ biểu khác, Phan Huy Ích cũng nói rằng Nguyễn Quang Hiển về đến Thăng Long mới gặp vua Quang Trung vào ngày 18 tháng Chạp.

Sau khi nghi lễ hoàn tất, việc giao thiệp với nhà Thanh trở nên nhộn nhịp. Ngoải các nghi lễ vốn là một phần trong tương quan thiên triều – phiên thuộc mà nước ta phải thi hành như tuế cống, tạ ơn … như đã nói ở trên thì vấn đề qua lại, thù tạc với các quan nhà Thanh ở sát biên giới điển hình là tổng đốc Lưỡng Quảng và các quan cấp dưới nhất là sau chuyến đi của Nguyễn Quang Hiển.

Mùa xuân năm đó, vua Quang Trung sai Vũ Huy Tấn viết văn thư cám ơn tổng đốc Phúc Khang An (Tạ Phúc tước các bộ đường khải), đề đốc Hải Lộc trông coi binh bị hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây thay thế Hứa Thế Hanh đã tử trận (Tạ Hải đề đốc khải), tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh (Tạ Tôn bộ viện khải), Thang Hùng Nghiệp (Tạ Tả Giang binh bị đạo Thang khải), Vương Lâm (Tạ Hữu Giang Vương đô đốc phủ khải).[80]

Nhân dịp sinh nhật Phúc Khang An, vua Quang Trung cũng sai người đem quà mừng (Tạ Phúc tước các bộ đường thọ đản khải). Nước ta cũng làm giỗ cho các tướng sĩ nhà Thanh tử trận để chứng tỏ cho mọi người biết hai bên đã tái lập bang giao.

Hiện nay trong Hoa Nguyên Tuỳ Bộ Tập còn ghi lại bài văn tế của Vũ Huy Tấn nhưng có lẽ không phải trong dịp Thành Lâm qua nước ta (vì khi đó họ Vũ tham dự phái bộ Nguyễn Quang Hiển còn đang trên đường về nước) mà có lẽ trong dịp đầu năm khi kỷ niệm trận đánh. [81] Ngoài ra còn có một bản văn Nôm tế tướng sĩ nhà Thanh Bài văn có tên là “Thiên Triều Văn” được Tạ Ngọc Liễn phát hiện và phiên dịch “Phát hiện tài liệu Nôm thời Tây Sơn: Văn cúng quân Thanh chết trận Đống Đa”.[82]

Việc Vũ Huy Tấn chủ trì một số liên lạc sau lễ phong vương cho thấy ông cũng là nhân vật có nhiều tin tức nhất về nhà Thanh sau chuyến đi cùng với Nguyễn Quang Hiển. Trong hoàn cảnh đó, họ Vũ đã đóng vai cố vấn quan trọng về việc bang giao và có một tiếng nói quan trọng trong quyết định của vua Quang Trung dẫn đầu một phái đoàn sang Bắc Kinh chúc thọ năm Canh Tuất. Chỉ ba tháng sau khi về đến nhà, một lần nữa ông lại đóng vai trò tuỳ viên trong phái đoàn Quang Trung, một vinh dự hầu như độc nhất vô nhị đời Tây Sơn.


CHƯƠNG VIII

KẾT LUẬN

Điểm lại các công trình cũ, hầu hết những biên khảo về thời kỳ Tây Sơn chỉ chú trọng đến cuộc giao tranh xảy ra rất ngắn cuối thế kỷ XVIII nhưng lại không quan tâm đến việc giao thiệp với Trung Hoa ở mười năm kế tiếp. Trong kho tài liệu của cả Trung Hoa lẫn Việt Nam, số lượng văn thư của cả hai bên còn lưu trữ rất nhiều nhưng vì chưa có dịp đối chiếu và tổng hợp nên hầu hết chỉ mới nói lên được một mặt của vấn đề.

Trong khi đáng án của Thanh triều tập trung trong công văn bao gồm thượng dụ, chiếu biểu, tấu triệp thì các tài liệu nước ta nằm trong di cảo tư nhân, điển hình là những sĩ phu tham gia đàm phán. Ngoài văn kiện chính thức trong giao thiệp với nhà Thanh (Dụ Am Văn Tập, Đại Việt Quốc Thư, Bang Giao Hảo Thoại, Tây Sơn Bang Giao Tập …) chúng ta cũng còn được đọc nhiều thơ văn miêu tả các cuộc hành trình sang Trung Hoa của Vũ Huy Tấn, Nguyễn Đề, Ngô Thì Nhậm, Đoàn Nguyễn Tuấn … và thỉnh thoảng những tường thuật ghi chép (Từ Hạo Tu, Liễu Đắc Cung…) của Triều Tiên.

Việc so sánh để tìm những góc khuất trong nghị hòa không dễ dàng vì triều đình Trung Hoa chỉ lưu trữ những lá thư nặng phần ngoại giao, ca công tụng đức theo khuôn mẫu cổ còn nước ta lại nhấn mạnh vào việc cung ứng, tiếp đãi như một yêu sách phải đáp ứng.

Trên liên hệ giữa hai nước, việc triều đình Trung Hoa chấp nhận và cho người sang tuyên thị vẫn được nước ta coi như truyền thống. Chính vì thế, vua Quang Trung xin nhà Thanh phong tước không có gì phải ngạc nhiên. Tuy nhiên, muốn biết những đặc điểm nổi bật của thời kỳ này, chúng ta cần so sánh với những thời đại khác để thấy được sự bất thường trước nay hầu như không mấy ai quan tâm.

Dưới đời Lê, sau khi đánh thắng quân Minh, Lê Thái Tổ cầu phong (1429) – lấy cớ là họ Trần không còn ai – nhưng cũng phải đến ba năm sau (1431) nhà Minh mới sai Từ Kỳ mang ấn sang cho Lê Lợi “quyền thự quốc sự” [tạm quyền coi việc nước]. Tuy thế, cái danh hàm ấy còn kéo dài đến mấy đời, đến năm Thái Hoà thứ nhất (1443), nhà Minh mới chính thức phong cho vua Lê Nhân Tông làm An Nam quốc vương.[83]

Đầu đời Mạc, nhà Minh nhân cớ Mạc Đăng Dung tiếm ngôi nên đem quân sang hỏi tội. Mạc Đăng Dung và Mạc Phúc Hải phải tự trói ra hàng ở Nam Quan, tình nguyện giao “bốn động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát” về châu Khâm [Quảng Đông] cho nhà Minh lại dâng thêm “bảy châu Quảng Lăng và các trại Hồng Y cùng một vài nơi phụ cận” nhập về Vân Nam.[84] Tuy chấp nhận phục tùng như thế, họ Mạc chỉ được phong Đô Thống Sứ, ấn bạc nha môn tòng nhị phẩm, đổi nước ta thành An Nam đô thống sứ ty, coi như một phần đất trực thuộc Trung Hoa.[85]

Khi nhà Lê trung hưng, năm Quang Hưng 20 (1597) vua Lê sai Phùng Khắc Khoan đem người bằng vàng sang cầu phong, thay cho họ Mạc chờ ở Yên Kinh đến mấy tháng, tranh biện nhiều lần thế mà cũng chỉ được vua Minh phong cho làm An Nam Đô Thống Sứ ngang với nhà Mạc nghĩa là trên hình thức không coi là một phần đất độc lập. Nước ta còn nhiều lần sang yêu cầu cải danh nhưng nhà Minh lần lữa, lấy cớ không có điển lệ để tra nên không phong vương mà chỉ ban sắc khen thưởng mà thôi. Năm Dương Hoà 3 [1637] đời Minh Sùng Trinh (1627-1644), sứ thần nước ta Giang Văn Minh ngang bướng cãi lại, vua Minh sai mổ bụng xem gan lớn bậc nào.

Khi nhà Minh bị quân Thanh đuổi chạy xuống phương nam, thế lực suy yếu có bụng nương cậy nước ta nên cho người sang cầu viện. Đến khi đó vua Minh mới phong cho Lê Thần Tông [khi ấy đã chết] làm An Nam quốc vương (1646). Năm năm sau (1651), nhà Minh lại phong cho Trịnh Tráng làm phó quốc vương.

Khi nhà Minh mất hẳn, vua Khang Hi phong cho vua Lê Huyền Tông làm An Nam quốc vương (1667) nhưng bắt phải đem sắc ấn cũ của nhà Minh nạp cho nhà Thanh.

Đời Lê Hi Tông, vua Khang Hi ban cho vua nước ta bốn chữ ngự bút “Trung Hiếu Thủ Bang” (1683). Sang đời Lê Dụ Tông, nhà Thanh bắt nước ta phải theo điển lệ của họ, khi thụ phong phải hành lễ “tam quị cửu khấu” (ba quì chín rập đầu) và đời sau vẫn theo lệ đó.

Trong nhiều đời vua, khi thụ phong vua nước ta phải lên tận Nam Quan để làm lễ, chỉ từ trung điệp nhà Lê sứ thần Trung Hoa mới xuống Thăng Long. Chính vua Gia Long cũng định lên Nam Quan nhận sắc ấn nhưng Phan Huy Ích và Ngô Thì Nhậm nói rằng “không có lệ đó”.[86] Xem như thế, nếu xét toàn bộ quá trình giao thiệp của Trung Hoa với nước ta, việc nhượng bộ của triều đình Bắc Kinh đời Quang Trung thực chưa từng có trong lịch sử.

Ngay từ đầu Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn … đã nhận thức được rằng quốc thể là yếu tố hàng đầu và phải được dùng như một lợi khí khi giao thiệp với nhà Thanh. Các nhà nho nước ta cũng sử dụng lễ nghĩa để ràng buộc đối phương vào những nguyên tắc mà chính họ nêu cao nên không bị kém thế chút nào. Bỏ ra ngoài những ngôn từ khiêm tốn vốn là hình thức chung trong các văn thư ngoại giao, việc giao thiệp với Trung Hoa đời Tây Sơn là một khuôn mẫu làm xương sống để chỉ đạo các chính sách.

Trong tiến trình công nhận triều đại Tây Sơn, chính sách của Thanh triều – hay nói đúng hơn, chủ trương của vua Càn Long – không thuần nhất mà thay đổi theo từng giai đoạn, từng biến cố theo kiểu mềm nắn rắn buông, nếu ta nhún nhường thì họ lấn tới, nếu ta cứng rắn thì họ đấu dịu, làm lành. Nhiều sự việc tưởng như mâu thuẫn và bất nhất nhưng thực tế chỉ là nhân quả cần phải đi vào chi tiết để hiểu cách phản ứng của nước ta.

Điều quan trọng hơn cả, những yêu cầu tưởng như vô lối của phía Trung Hoa thực ra đều dựa trên những cơ sở trong quá khứ. Với chủ trương tiến hai bước lùi một bước, nhà Thanh tin rằng về lâu về dài ít nhiều họ cũng được lợi. Về phía nước ta, việc cầu phong trong bất cứ triều đại nào cũng vẫn phải coi như ân huệ từ thiên triều ban phát cho nước nhỏ, tiến hành nhanh hay chậm, đi tới đâu là tùy ở người. Riêng lần này, hai bên có những trao đổi và cùng phải nhượng bộ để đi tới đồng thuận nên qui tắc ứng xử có khác trước nhất là nước ta lại có một lợi thế lớn là càng kéo dài thì đối phương càng sốt ruột và chính thời gian là một yếu tố quan trọng đặt trên bàn hội nghị.

Trước đây, khi ghi lại việc vua Quang Trung cầu phong, sử nước ta – do sự sai lầm có chủ ý của triều Nguyễn – đã coi như một thái độ trí trá, không phải chỉ một lần mà liên tục cho đến khi Tây Sơn bị diệt. Cách ứng xử đó không những nhằm hạ thấp đối phương, nêu cao chính thống mà còn là một cách để người ngoài tưởng rằng những thành quả ngoại giao sau này mà họ có được là do uy tín tự thân của triều đại Nguyễn Gia Miêu. Thực ra, vua Gia Long được công nhận chưa hẳn đã vì thiên mệnh đã đổi ở phương Nam mà chính vì sự sự ghen tức ngấm ngầm của vua Gia Khánh (còn là hoàng tử) khi vua Quang Trung được vua Càn Long ưu đãi như một thân vương sáng giá nên việc đổi triều đại cũng là một cơ hội để hiện thực tâm tư đố kỵ đó.

Việc phong vương cho vua Quang Trung là một tiến trình cam go không chỉ thu hẹp trong việc nhà Thanh chấp nhận một An Nam quốc vương mà là một cuộc đấu trí để đi đến một “win-win solution” như lối nói ngày nay. Thành quả của đường lối ngoại giao này hoàn toàn không chỉ do đút lót cho Phúc Khang An như vài hàng trong sử triều Nguyễn chép.[87]

Trong khi nhà Thanh chia nhỏ mục tiêu của họ thành từng giai đoạn để đòi hỏi nước ta nhượng bộ, triều đình Tây Sơn cũng từng bước yêu cầu đối phương công nhận, trước là sự chính thống, sau là hợp thức hoá những gì họ đồng ý. Chúng ta thấy có một nghi vấn trong sử nhà Thanh: Phúc Khang An được bổ nhiệm làm tổng đốc Lưỡng Quảng từ ngày 24 tháng Giêng [ngay sau khi vua Càn Long nghe tin Tôn Sĩ Nghị bại trận] nhưng mãi đến ngày 16 tháng Ba[88] ông ta mới đến Quảng Tây để nhận nhiệm vụ mới.

Trong thời gian “bản lề” đó, Thanh triều đã có đủ thì giờ để cân nhắc phản ứng và thái độ của nước ta đồng thời trù liệu một kế hoạch cho Phúc Khang An theo đó mà thi hành. Đó cũng là thời gian mà Tôn Sĩ Nghị, Tôn Vĩnh Thanh dùng con thoi Thang Hùng Nghiệp để vận động, sắp xếp những điều kiện thuận lợi nhất cho bàn hội nghị, dọn sạch những chướng ngại cơ bản đáng lẽ Phúc Khang An phải giải quyết.

Những đòi hỏi của Tôn Sĩ Nghị được nước ta đáp ứng tương đối sốt sắng và trên cơ bản nghị hòa, triều đình Quang Trung đã công khai tỏ ra muốn chấm dứt sự căng thẳng để đi vào một bước tiến mới. Lợi thế của nước ta là nắm giữ trong tay khoảng 800 tù binh coi như điều kiện sơ khởi để trao đổi nhưng thực sự cũng không biết đối phương sẽ ra tay hành động như thế nào?

Trong thời gian đó, tin đồn về việc Phúc Khang An được đưa tới để điều động binh mã bốn mặt giáp công vẫn tiếp tục loan truyền rộng rãi. Trên cơ sở hội nghị, nước ta cũng biết rằng đối với Thanh triều việc bắt giữ vài trăm binh sĩ không phải là một “con tin” lớn, giữ lâu cũng chẳng ích lợi gì và nếu cần vua Càn Long có thể hi sinh không thương tiếc.

Việc nhanh chóng giao trả tù binh đã được đối phương đánh giá là thành thực, thủ tín và cũng tạo cơ sở để công nhận nhà Tây Sơn thay thế nhà Lê, vốn dĩ không phải là mục tiêu đầu tiên của Thanh triều. Chính từ một cơ sở đồng thuận, Phúc Khang An đã thay mặt triều đình bước vào bàn đàm phán để từng bước đưa ra những yêu sách thăm dò.

Việc công nhận Tây Sơn được không chỉ nhằm thay đổi người cầm đầu của một tiểu quốc mà còn những mục tiêu khác quan trọng hơn. Ngoài chủ trương tái lập bang giao, Phúc Khang An còn làm sao ép được quốc vương An Nam sang dự lễ Bát Tuần Khánh Thọ, một dự tính mà trước đây Tôn Sĩ Nghị đã đề xướng khi tái lập vua Chiêu Thống ở Thăng Long.

Như một viên tướng phường tuồng, Phúc Khang An xuất hiện với đầy đủ lỗ bộ và trên thư từ giao thiệp ông ta luôn luôn ghi rõ mọi danh hiệu,[89] chức hàm nhằm phô trương và trấn áp đối phương. Phúc Khang An cũng mang ảo tưởng là nước ta sợ hãi khi nghe tin một danh tướng Mãn Châu được bổ nhiệm làm tổng đốc Lưỡng Quảng nên đưa ra nhiều đòi hỏi hơn yêu cầu cơ bản mà Tôn Sĩ Nghị gợi ý cho vua Càn Long (trao trả tù binh và lập miếu cho những quan binh tử trận). Ngược lại triều đình Quang Trung cũng nhân thế đứng mới mà đòi hỏi được công nhận như một triều đại chứ không chỉ hạn chế vào mục tiêu ban đầu là giảng hoà với nhà Thanh rồi dần dần từng bước xin thay thế cựu triều như thời Trần, Hồ, Lê, Mạc.

Từ trước đến nay, việc vua Quang Trung trì hoãn ra Thăng Long làm lễ vẫn bị suy đoán một cách chủ quan là coi thường nên “không thèm” nhận và cho người giả ra thay. Thái độ đó có thể được hiểu rõ ràng hơn nếu chúng ta biết rằng lễ nghi và việc danh chính ngôn thuận là tiêu chí hàng đầu của nho gia nên khi thấy phái đoàn Thành Lâm không mang sắc ấn, triều đình nước ta không khỏi nghi hoặc.

Một chi tiết nữa cũng cần xem xét đến. Đó là trước khi tiến quân, Tôn Sĩ Nghị đã gửi thư cho Xiêm La yêu cầu trợ giúp để ngăn chặn Nguyễn Huệ đào tẩu bằng đường biển hay đường núi. Khi nhận được tin này, Xiêm vương đã yêu cầu chúa Nguyễn Ánh – khi ấy đã chiếm lại Gia Định – đem quân tiếp ứng giữ các hải đạo và chính sử triều Nguyễn cũng chép rằng họ đã gửi gạo giúp quân Thanh. Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Đệ Nhất Kỷ, quyển V chép về Thế Tổ Cao Hoàng Đế nhà Nguyễn (tức vua Gia Long) có đoạn như sau:

… [Tháng Bảy năm Canh Tuất, 1790] Sai cai cơ Nguyễn Đình Đắc đi dò xét đất Bắc Hà. Nguyên mùa hạ năm Kỷ Dậu [1789], nhà vua nghe rằng người Thanh vì họ Lê đem binh hai tỉnh Quảng chinh thảo giặc Tây (tức Tây Sơn) nên sai sứ thần là Phan Văn Trọng và Lâm Đề mang thư ra hướng đông (tức đường biển) đem theo 50 vạn cân gạo (khoảng 225 tấn ngày nay) để giúp quân lương (cho quân Thanh) nhưng bị bão chìm cả xuống biển, lâu ngày không nghe tin tức. Sau lại nghe rằng quân Thanh bị giặc đánh bại nhưng không những không phục thù mà lại nghe theo phong cho [làm vương]. Vì thế mới sai Đình Đắc đi nghe ngóng tin vua Lê đồng thời chiêu dụ hào kiệt Bắc Hà …

clip_image005clip_image006clip_image007clip_image009

Đại Nam Thực Lục, đệ Nhất kỷ, quyển V

Lá thư Tôn Sĩ Nghị gửi Xiêm vương như sau:

Lưỡng Quảng tổng đốc kiêm Quảng Ðông tuần phủ toàn hạt vì hịch mà biết được việc rằng quí quốc vương ở một góc biển, vẫn thường ngưỡng mộ điều nghĩa, nên được đại hoàng đế đãi ngộ hậu hĩ, đặc biệt sách phong nên mới có thể cai trị, vỗ về nhân dân ở nơi đó, mãi mãi được vui vẻ lợi lộc, nên quí quốc vương cực kỳ cảm kích, không biết bao nhiêu cho hết.

Gần đây nhân nước An Nam có nghịch thần là Nguyễn Huệ, đuổi chúa, chiếm lấy đất đai nên thân tộc họ Lê đã đầu phục qua Trung Quốc. Vì thế bản đôác bộ đường theo lệnh chỉ đích thân thống lãnh đại binh đến hỏi tội, chẳng khác gì sấm ran gió cuốn, thế như chẻ tre, Nguyễn tặc ắt sẽ bị bắt trong nay mai.

Ta cũng biết rằng tên giặc Nguyễn hùng cứ nơi đất Quảng Nam, vốn đường biển ngay sát với Xiêm La, chạy trốn rất dễ, Nguyễn tặc cũng hẳn biết rằng tội ác khó dung, gặp lúc cùng đường ắt sẽ bỏ chạy để mong lấy chút hơi tàn.

Quí quốc vốn thờ phụng thiên triều, chịu ơn thật nặng, theo lẽ thì phải hết sức ra công, nên vì thế phải phái binh ra, đến duyên hải Quảng Nam để hỗ trợ phòng khi bọn chúng đào tẩu. Nếu như tên giặc Nguyễn đi theo đường biển chạy sang Xiêm La, quí quốc vương hãy tìm cách bắt lấy y, dùng chính pháp mà xử tử như thế thì công lao không biết là nhường nào. Vả lại quí quốc cùng Nguyễn tặc đã đánh qua đánh lại, nay Nguyễn tặc tự tìm chỗ diệt vong mà phải chạy thoát thì quốc vương nếu bắt được tên giặc cùng đường này cũng để rửa được mối hờn, lại cũng là cách thiên triều vỗ về ngoại phiên luôn thể. Nước An Nam có nghịch thần thì cũng không khác gì Xiêm La có nghịch thần vậy.

Nguyễn tặc hiếp chúa làm loạn luân thường, có ý soán nghịch, đại hoàng đế vì nghĩ đến tình An Nam thần phục đã lâu, xưa nay rất cung kính thuận tòng, nên mới đặc khiến đại binh sang để khôi phục lại, cốt lấy lại quốc đô cho họ Lê, tuyệt nhiên không có ý dòm ngó đất đai, quả là hết sức nhân nghĩa, vượt quá cổ kim, phàm là thuộc quốc nên nghĩ đến như thế mà thêm cảm kích.

Xiêm La đất đai liền với An Nam, trông thấy thiên triều làm những điều đó, thì cũng nên nghĩ đến việc có chung mối thù, lại chẳng là món thưởng lớn hay sao? Nay truyền hịch này đến quốc vương lập tức một mặt phát binh chặn đường, một mặt chờ bản bộ đường xong việc rồi sẽ tâu lên đại hoàng đế, ắt sẽ hết sức khen ngợi là quốc vương vì ngưỡng mộ lòng quyến cố, lại hiểu đại nghĩa nên trợ điều thuận bỏ điều nghịch, hãy nên gắng sức làm theo điều hịch này.[90]

Lá thư đến tay vua Xiêm lúc nào thật khó biết nhưng tháng Tám năm Kỷ Dậu, Phúc Khang An nhận được một lá thư của Xiêm vương Trịnh Hoa (Rama I) nói rằng vào tháng Năm đã sai bang trưởng Quảng Nam Ông Chính Sử (廣南翁正史) [Ông Chính Sử là phiên âm ba chữ Ông Thượng Sư mà người Âu Tây viết thành Ong Chiang Su tức chúa Nguyễn tự xưng khi còn làm chủ Nam Hà] điều 6 vạn tinh binh đem quân chặn các nơi hiểm yếu kèm theo một văn thư để chúa Nguyễn mang sang cho Tôn Sĩ Nghị.

Trong dụ chỉ ngày 28 tháng Tám năm Kỷ Dậu, vua Thanh nói rằng ông chưa nhận được tin gì về chuyện này và ra lệnh nếu khi nào thư đó đến thì phải trình ngay lên Nhiệt Hà (là nơi ông nghỉ tránh nắng mùa hè) để ông xem xét.[91] Trong thư Phúc Khang An trả lời Xiêm vương có đoạn như sau:

Ngày mồng 8 tháng này (tháng Tám) thông sự của quí quốc là Tạ Thượng Kim có đem đến một lá thư của quốc vương và bản tước các bộ đường cùng phủ bộ viện (tức Tôn Vĩnh Thanh, tuần phủ Quảng Tây) đã xem kỹ, thấy trong đó nói về việc xử lý thư của tiền Tôn đốc bộ đường (tức Tôn Sĩ Nghị, nguyên tổng đốc Lưỡng Quảng), Đồ phủ bộ viện (tức Đồ Tát Bố, tuần phủ Quảng Đông) khi đem binh tiễu trừ Nguyễn Huệ hồi mùa đông năm ngoái có yêu cầu quốc vương đem quân đến vùng duyên hải Quảng Nam rồi lên tiếng thanh viện để phòng y chạy trốn. Quốc vương nhận được thư đó liền lập tức điều binh chặn các nơi yếu hại …[92]

Phối hợp chi tiết của triều Nguyễn, Xiêm La và nhà Thanh chúng ta biết rằng quả thực Tôn Sĩ Nghị có gửi thư cho vua Xiêm cuối năm Mậu Thân và vua Xiêm đã yêu cầu [mà ông ta nói rằng ra lệnh] chúa Nguyễn – khi đó mới khôi phục lại được khu vực Gia Định từ tay Nguyễn Lữ và Phạm Văn Tham – đem quân ngăn chặn vùng bờ biển. Chúa Nguyễn cũng [không biết có do ý kiến của Xiêm La hay không] giúp cho quân Thanh 50 vạn cân gạo.

Một chi tiết cũng đáng lưu tâm là ngày mồng 4 tháng Tám năm Kỷ Dậu (Càn Long 54) vua Càn Long có gửi một văn thư mật, do chính đại học sĩ Hòa Thân viết tay (tự ký) gửi tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc (Khang An) và tuần phủ Phúc Kiến Từ (Tự Tăng – 徐嗣曾) để chỉ thị về việc thự tri huyện Chương Phố (漳浦) là Trình Gia Toản (程嘉瓚) trình lên việc một thương gia người Việt (đây là người Quảng Đông, không phải người nước ta) tên là Trương Hợp Hưng (張合興) đi thuyền sang An Nam buôn bán có đưa về Phúc Kiến 20 binh sĩ Bành Hồ do Lý Vinh Quang (李榮光) chỉ huy bị bão trên biển và một số người Nam Hà có trình lên một tấu thư của Nguyễn Phúc (阮福)[93] tố cáo Nguyễn Huệ là một đứa em hư (nghiệt đệ – 孽弟) quấy phá nơi nơi nên hai bên thành ra cừu địch. Vua Càn Long nay đã nhận cho Nguyễn Huệ H “thâu thành nạp khoản”, lại phong vương tước nên không còn xét hỏi làm gì và ra lệnh cho các tổng đốc giữ kín đừng để lộ ra ngoài (密而不露).[94]

Như vậy, trong khoảng 7 tháng đầu năm Kỷ Dậu, khi nghe tin nhà Thanh sắp sửa thông hiếu, các thế lực đối nghịch với Nguyễn Quang Bình (chúa Nguyễn Ánh, Nguyễn Nhạc …) ráo riết tấn công ông bằng nhiều hình thức. Khi chưa biết tin quân Thanh bại trận thì chúa Nguyễn gửi gạo sang giúp, đến khi biết quân Thanh đã thua chạy và nhà Thanh công nhận triều đình Quang Trung thì lại tung ra những lời dèm pha để dao động triều đình Trung Hoa. Tuy những việc đó không làm xoay chuyển cuộc diện nhưng cũng đưa đến những trở ngại ảnh hưởng đến việc phong vương. Tin tức về thuyền bè đe dọa vùng biển Thuận Hóa hay việc Phúc Khang An đổi kế hoạch của Thành Lâm có thể cũng liên quan với những chi tiết mơ hồ này.

clip_image011clip_image013

Thượng dụ ngày mồng 4 tháng Tám gửi Phúc Khang An và Từ Tự Tăng

Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng, quyển XV, tr. 136-7
NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NGOẠI GIAO THỜI TÂY SƠN

Thời gian nhanh nhất

Trong lịch sử giao thiệp với Trung Hoa, từ khi cầu phong đến khi được triều đình Trung Hoa cho người sang làm lễ phong vương dù bình thường cũng mất nhiều tháng nhiều năm. Trong trường hợp thay đổi một dòng họ, việc qua lại còn kéo dài nhiều hơn nữa và thiên triều ngoài việc hoạnh hoẹ nọ kia còn tìm đủ mọi cách để o ép nước ta cả trên danh vị lẫn tiền của. Trường hợp nhà Tây Sơn là một ngoại lệ và nếu không có những trở ngại gây trì hoãn thì tình hình từ lúc ngỏ lời cầu phong đến khi được chính thức công nhận chỉ trong khoảng 3 đến 4 tháng trời.

Nghi lễ trang trọng nhất, qui mô nhất

Nếu tính riêng về nghi lễ, ý định của Thanh triều [đúng hơn là của vua Càn Long] bao gồm hai giai đoạn: thông báo đã chấp thuận và đưa người sang phong vương. Tuy có sự tiết giảm vì hoàn cảnh bất đắc dĩ nhưng chưa bao giờ việc công nhận tân vương của Trung Hoa [không phải chỉ đối với nước ta mà với mọi quốc gia phiên thuộc] lại phức tạp và hậu hĩnh đến thế. Trước khi chính thức công nhận, vua Thanh đã ban tặng nhiều quà cáp, sau lại đặc biệt gia ân ban cho nhân sâm, ngự thi, triều châu, hà bao …, chưa kể ý định sẽ sai Phúc Khang An sang làm lễ cho thật trịnh trọng.

Lần đầu trong lịch sử có sự tranh biện

Trong những triều đại trước, việc biện giải nếu có đều chỉ tập trung vào việc từ chối một đòi hỏi quá đáng của đối phương. Riêng lần này, vị thế hai bên đã thay đổi. Việc đạt tới đồng thuận không phải thuần tuý do lý luận của bên ta sắc bén mà còn khai thác được hoàn cảnh thực tế khiến nhà Thanh phải nhượng bộ.

Lần đầu chúng ta đứng ngang với Trung Hoa trong lập trường

Sau khi thất trận, mối quan tâm to lớn nhất của vua Càn Long là làm sao không bị mất mặt và giải thích cho xuôi việc nối lại bang giao. Thay vì dùng những tù binh như một món hàng trao đổi, nước ta biết rằng sinh mạng của vài trăm người không có thể ép nhà Thanh nhượng bộ. Sự thành tín và sốt sắng trả về Trung Hoa 800 người bị bắt đã làm dịu tình hình và mở ra một cánh cửa ngoại giao.

Lần đầu ta ở trong thế đối phương phải cầu khẩn

Từ trước tới nay, việc xin phong vương – dù là mở nước hay chỉ để thay một ông vua mới – cũng đều mất nhiều thì giờ. Vốn dĩ là một nghi lễ nặng phần hình thức, thông thường hầu như không có một hạn định thời gian nên thường phải mất nhiều tháng, nhiều năm.

Riêng lần này, việc phong vương phải tổ chức càng sớm càng tốt để vua Quang Trung có thể sắp xếp cuộc du hành sang Trung Hoa và nhà Thanh cũng yên tâm tổ chức nghi lễ đón tiếp nên chính đối phương phải thúc giục cho việc mau tiến hành đưa tới những nhượng bộ mà trước đây không có được.

Coi như khuôn mẫu ngoại giao cho tương lai

Nghi thức và thủ tục tuy không ghi thành điển lệ nhưng đây cũng là lần đầu được lưu trữ tương đối kỹ lưỡng kể cả những văn thư không mấy quan trọng. Chính các tài liệu này là văn thư căn bản để được soạn thành lớp lang, thứ tự trong Lịch Triều Hiến Chương Loai Chí (LTHCLC) và Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ (KDDNHDSL), qui định chi tiết việc tiếp đón sứ đoàn, các dịch trạm và cung ứng mỗi nơi từ ăn nghỉ đến phương tiện sinh hoạt.

Việc tổ chức chu đáo đó không những làm tôn vinh phái đoàn Trung Hoa mà còn tỏ ra nước ta là một quốc gia có văn hiến, nghi lễ chu đáo không kém gì đại quốc. Dưới quan điểm cổ thời, nghi lễ, y phục, văn tự là thước đo của văn minh nên công việc tổ chức tiếp đón trong bang giao là một thể hiện quan trọng cho quốc thể.

Xét về lịch sử giao thiệp với Trung Hoa, việc nhà Thanh công nhận triều đại Tây Sơn có thể coi như một trường hợp hành chánh điển hình mà trong khi đàm phán hai bên đều có những điểm mạnh, điểm yếu để khai thác, khác hẳn với những lần khác đặt trọng tâm vào thủ tục. Những cường và nhược điểm ấy thuộc đủ mọi phạm vi, từ chính sách đến thực tế xã hội, kể cả vai trò cá nhân của mỗi người. Một bàn cờ phức tạp như thế không thể thu gọn trong vài hàng, lại càng không thể suy luận một cách dễ dãi. Với qui mô như vậy, chúng ta không thể chỉ giới hạn vào đấu tranh ngoại giao thuần tuý mà phải mở rộng đến mọi vấn đề, kể cả những định luật giữa các khu vực mới manh nha của thời đại.

Trước đây, sử nước ta hầu như thu hẹp cơ chế đàm phán, chỉ tập trung vào việc bắt liên lạc và “ngoại giao gầm bàn” với Thang Hùng Nghiệp hay Lâm Hổ Bảng. Hạn chế đó chính vì đối phương không muốn ta biết nhiều hơn, và đưa ra một cấp nhỏ làm trung gian cũng dễ cho họ xoay chuyển theo tình hình. Trong khi nước ta đưa ra những danh nho bậc nhất chờ đợi ở Nam Quan (Ngô Thì Nhậm, Vũ Huy Tấn, Phan Huy Ích …) thì đối phương lại chỉ đưa ra vài cấp đạo, phủ để dò xét nghe ngóng. Tuy nhiên đó chỉ là chỏm của tảng băng còn theo thư từ qua lại bên trong nội bộ nhà Thanh, thực tế họ vận dụng toàn bộ lực lượng, ngoài các cấp tổng đốc, tuần phủ ở địa phương mà ngay tại trung ương hầu như cả triều đình đều tập trung vào “kinh lý” việc An Nam.

Chúng ta thấy hầu như mọi cơ nghi mà địa phương thực hiện đều nhận chỉ thị từ hoàng đế, khi nắm khi buông, lớn như việc ép vua Quang Trung sang chúc thọ, nhỏ như việc khống chế vua Chiêu Thống đều phải được sự chấp thuận của Bắc Kinh. Ngay cả một việc không mấy quan trọng là thưởng một cái lông chim cài trên mũ cho Thang Hùng Nghiệp mà vua Càn Long cũng bác, nhắc rằng đừng để cho nước ta biết sợ đoán ra rằng nhà Thanh muốn gấp rút cho mau xong. Chính vì thế, chúng ta thấy mọi việc họ đều có bài bản nên không thể chỉ dựa vào một vài nhượng bộ hay hoà hoãn bên ngoài để đánh giá toàn cục.

Như chúng tôi từng đề cập trong những biên khảo khác, đến cuối thế kỷ XVIII, khu vực Đông Á đã có những thay đổi lớn song hành với tiến bộ kỹ thuật. Nhiều quốc gia đã đạt được những bước nhảy vọt trong kỹ thuật phòng thủ, quân sự, xã hội, kinh tế, chính trị … để chuyển sang một xã hội có nhiều định chế văn minh hơn.

Dưới con mắt của nho gia, thời gian này là lúc miền bắc nước ta lên cao đến tột đỉnh – quốc thể tăng trọng – như đã tự hào và từ một mảnh đất nơi góc biển nóng nực, xa xôi nay đã đứng vào vương hội, bắc cầu cho những liên minh mà tâm điểm là Trung Hoa. Tuy nhiên khi nhìn ở một qui mô lớn hơn, giai đoạn nặng phần thù tạc, lễ nghi này cũng tách Bắc Hà ra khỏi mẫu số chung đang năng động và biến đổi từng ngày.

Trong khi vua Quang Trung và đình thần bận rộn với việc học tập điển lệ nhà Thanh sao cho không lạc điệu, quà cáp qua lại … cho xứng với vị thế mới thì mọi canh cải xã hội hầu như chựng lại. Suốt hai triều Quang Trung lẫn Cảnh Thịnh hầu như không có một biến chuyển nào đáng kể ngoài một vài thay đổi cục bộ về nội chính.

Trong khi đó, đối thủ của ông là chúa Nguyễn Ánh thì lại dốc toàn tâm toàn lực vào việc canh tân, cố gắng thủ đắc những tiến bộ của Tây phương nên từ một khu vực hoang vu chẳng bao lâu đã vươn lên thành một sức mạnh mới, tiến ra bắc thống nhất đất nước trong một thời gian kỷ lục. Cuộc chiến tuy giới hạn trong phạm vi quốc gia nhưng cũng là một trắc nghiệm mới về liên minh và tương trợ quốc tế với nhiều điểm cần nghiên cứu. Trên nhiều mặt, bài học lịch sử của hơn 200 năm trước vẫn còn nhiều điều đáng học hỏi cho đến tận hôm nay.

Tháng 12-2014


CHỮ VIẾT TẮT

ANKL

An Nam Kỷ Lược

 

TSLT

Thanh Sử Luận Tập XVIII: Thanh Cao Tông sách phong An Nam quốc vương Nguyễn Quang Bình thuỷ mạt

Trang Cát Phát

DVQT

Đại Việt Quốc Thư

 

DAVT

Dụ Am Văn Tập

Phan Huy Ích

DHTL

Đông Hoa Tục Lục

 

TDD

Thượng Dụ Đáng XIV

 

CLDT

Càn Long Hoàng Đế Đại Truyện

Chu Viễn Liêm

TTVC

Thanh Cao Tông Thập Toàn Võ Công Chi Nghiên Cứu

Trang Cát Phát

TTL

Thanh Cao Tông Thuần Hoàng Đế Thực Lục

 

BGHT

Bang Giao Hảo Thoại

Ngô Thì Nhậm toàn tập III, KHXH, 2005

LTTK

Lịch Triều Tạp Kỷ

Ngô Cao Lãng

TSBN

Thanh Sử Biên Niên

Lý Văn Hải

CLTT

Càn Long Hoàng Đế Toàn Truyện

Quách Thành Khang

CTD

Cung Trung Đáng Càn Long Triều Tấu Triệp

Tập XIV, XV, Đáng Án xbx, 1991

BAVH

Bulletin des Amis du Vieux Hué

 


TÀI LIỆU THAM KHẢO

HOA VĂN

Bá, Dương (柏楊). Trung Quốc Lịch Sử Niên Biểu (中國歷史年表) (thượng và hạ) (6th ed.) Ðài Bắc: Tinh Quang xbx, 1986.

Bá, Dương (柏楊). Trung Quốc Nhân Sử Cương (中國人史綱) (thượng và hạ, tu đính bản). Ðài Bắc: Tinh Quang xbx, 1996.

Bạch, Thọ Di (Bai Shouyi – 白壽彝) (chủ biên). Trung Quốc Thông Sử (中國通史) (12 quyển, 22 tập). Thượng Hải: Thượng Hải Nhân Dân xbx, 2000.

Bạch, Thọ Di (白壽彝) (chủ biên). Trung Quốc Thông Sử Cương Yếu (中國通史綱要). Bắc Kinh: Trung Quốc Quốc Tế Thư Ðiếm, 1982. (bản Anh Ngữ Bai Shouyi. An Outline History of China. Beijing: Foreign Languages Press, 1982)

Cao, Dương (高陽). Thanh Triều Ðích Hoàng Ðế (清朝的皇帝) ba quyển. Ðài Bắc: Viễn Ảnh xb Sự Nghiệp Công Ty, 1989.

Chiêu, Liên (昭槤). Khiếu Đình Tạp Lục (嘯亭雜錄) 10 quyển. Thượng Hải: Thượng Hải Cổ Tịch xbx, 2002.

Chiêu, Liên (昭槤). Khiếu Đình Tục Lục (嘯亭續錄) 3 quyển. Thượng Hải: Thượng Hải Cổ Tịch xbx, 2002.

Chu, Thành Như (朱诚如) chủ biên. Thanh Sử Đồ Điển (清史图典): Thanh Triều Thông Sử Đồ Lục (清朝通史图录) [12 tập] Bắc Kinh: Tử Cấm Thành xbx, 2002.

Chu, Ưng (朱鷹) (chủ biên). Lễ Nghi (禮儀). Bắc Kinh: Trung Quốc Xã Hội, 2005.

Chu, Viễn Liêm (周遠廉). Càn Long Hoàng Ðế Ðại Truyện (乾隆皇帝大 傳) Hà Nam: Hà Nam nhân dân xbx, 1996.

Cố Cung Bác Vật Viện [故宮博物院]: Cố Cung Bác Vật Viện Bát Thập Niên Đản Ký Quốc Tế Thanh Sử Học Thuật Nghiên Thảo Hội Luận Văn Tập [故宮博物院八十华诞暨国际清史学术研讨会论文集]. Bắc Kinh: Tử Cấm Thành xbx, 2006.

Ðàm, Kỳ Tương (潭其驤) (chủ biên). Trung Quốc Lịch Sử Ðịa Ðồ Tập (中國歷史地圖集) (8 tập). Bắc Kinh: Trung Quốc Ðịa Ðồ xbx, 1996.

Dương, Kim Ðỉnh (chủ biên). Trung Quốc Văn Hoá Sử Ðại Từ Ðiển (in lần thứ ba). Ðài Bắc: Viễn Lưu xbx, 1987.

Hoằng Hoa Văn (弘華文) chủ biên. Yên Hành Lục Toàn Biên (燕行錄全編) 12 quyển. Quế Lâm: Quảng Tây Sư Phạm đại học xbx, 2010.

Hứa, Văn Đường (許文堂), Tạ Kỳ Ý (謝奇懿). Đại Nam Thực Lục Thanh Việt Quan Hệ Sử Liệu Vựng Biên (大南實錄清越關係史料彙編). Đài Bắc: Trung Ương Nghiên Cứu Viện, 2000.

Lã, Tông Lực (呂宗力) chủ biên. Trung Quốc Lịch Ðại Quan Chế Ðại Từ Ðiển (中國歷代官制大辭典) (2nd ed.). Bắc Kinh: Bắc Kinh xbx, 1995.

Lam, Ngọc Xuân (藍玉春). Trung Quốc Ngoại Giao Sử – Bản Chất dữ Sự Kiện, Xung Kích dữ Hồi Ứng (中國外交史- 本質與事件,衝擊與回應). Ðài Bắc: Tam Dân thư cục, 2007.

Lưu, Gia Câu (劉家駒). Thanh Sử Bính Đồ (清史拼圖). Ðài Bắc: Viễn Lưu 2003.

Lưu, Ngạn (劉彥). Trung Quốc Ngoại Giao Sử (中國外交史). Ðài Bắc: Tam Dân thư cục, 1990 (in lần thứ tư).

Lý, Quang Ðào (李光濤). Ký Càn Long Niên Bình Ðịnh An Nam Chi Dịch (記乾隆年平定安南之役 ). Ðài Bắc: Trung Ương Nghiên Cứu Viện Lịch Sử Ngữ Ngôn Nghiên Cứu Sở, 1976.

Lý, Quang Ðào (李光濤). Minh Thanh Ðáng Án Luận Văn Tập (明清檔案論文集). Ðài Bắc: Liên Kinh, 1986.

Lý, Văn Hải (李文海) chủ biên. Thanh Sử Biên Niên (清史編年)”Càn Long Triều“ (乾隆朝),quyển VI. Bắc Kinh: Trung Quốc Nhân Dân Đại Học, 1991.

Lý, Vân Tuyền (李雲泉). Triều Cống Chế Ðộ Sử Luận (朝貢制度史論): Trung Quốc Cổ Ðại Ðối Ngoại Quan Hệ Thể Chế Nghiên Cứu. Bắc Kinh: Tân Hoa, 2004.

Lý, Xuân Quang (李春光) Thanh Ðại Danh Nhân Dật Sự Tập Lãm (清代名人軼事 輯覽). Bắc Kinh: Trung Quốc Xã Hội Khoa Học xbx, 2004.

Nguỵ, Nguyên (魏源). Thánh Vũ Ký (聖武記). Ðài Bắc: Thế Giới Thư Cục, 1980.

Phan, Huy Ích (潘輝益). Dụ Am Văn Tập (裕庵文集). Bản chép tay Viện Hán Nôm Hà Nội (A.604/1-3)

Phan, Thúc Trực (潘叔直). Quốc Sử Di Biên (國史遺編) (nguyên bản Hán Văn). Hương Cảng: Viện Nghiên Cứu Ðông Nam Á, 1965.

Phó, Khải Học (傅啟學). Trung Quốc Ngoại Giao Sử (中國外交史) thượng-hạ. Ðài Bắc: Ðài Loan thương vụ, 1972.

Phương Lược Quán (方略館). Khâm Ðịnh An Nam Kỷ Lược (欽定安南紀略) 31 quyển. Cố Cung Bác Vật Viện (故宮博物院) tàng bản. Hải Khẩu: Hải Nam xbx, 2000.

Quách, Thành Khang (et al.) (郭成康). Khang Càn Thịnh Thế Lịch Sử Báo Cáo (康乾盛世历史报告). Bắc Kinh: Trung Quốc Ngôn Thực xbx, 2002.

Quách, Thành Khang (郭成康), Càn Long Hoàng Đế Toàn Truyện (乾隆皇帝全传) Bắc Kinh: Học Uyển, 1994.

Quốc Lập Cố Cung Bác Vật Viện (國立故宮博物院). Cung Trung Đáng Càn Long Triều Tấu Triệp (宮中檔乾隆朝奏摺). Quyển 71-2. Đài Bắc: Quốc Lập Cố Cung Bác Vật Viện, 1988.Doãn, Lộc (Thanh) (允祿). Hoàng Triều Lễ Khí Đồ Thức (皇朝禮器圖式) (in lần thứ hai). Dương Châu: Quảng Lăng thư xã, 2005.

Sái, Ðông Kiệt (蔡東杰). Trung Quốc Ngoại Giao Sử (中國外交史). Ðài Bắc: Phong Vân Luận Ðàn, 2000.

Tạ, Quang Phát (dịch). Tây Sơn Thuật Lược (西山術略). Saigon: Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hoá, 1971.

Tạng, Vinh (藏嶸). Trung Quốc Cổ Đại Dịch Trạm Dữ Bưu Truyền (中國古代驛站與郵傳). Bắc Kinh: Thương Vụ Ấn Thư Quán, 1997.

Tây Phương Nhân Bút Hạ Đích Trung Quốc Phong Tình Hoạ (西方人笔下的中国风情画). Thượng Hải: Thượng Hải Hoạ Báo xbx, 1997.

Thanh Sử Biên Toản Uỷ Viên Hội (清史編纂委員會) Thanh Sử (清史) (8 volumes) Ðài Bắc: Quốc Phòng Nghiên Cứu Viện (國防研究院), 1961.

Thanh Thực Lục (清實錄): Cao Tông Thuần Hoàng Ðế Thực Lục (高宗純皇帝實錄). Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 1986

Trang, Cát Phát (莊吉發). Thanh Cao Tông Thập Toàn Võ Công Nghiên Cứu (清高宗十全武功研究). Ðài Loan: Cố Cung Tùng San, Giáp Chủng số 26, tháng 6 năm 1982.

Trang, Cát Phát (莊吉發). Thanh Sử Luận Tập 清史論集(quyển XII) “Thanh Cao Tông Sách Phong An Nam Quốc Vương Nguyễn Quang Bình Thuỷ Mạt” 清高宗冊封安南國王阮光平始末. Ðài Bắc: Văn Sử Triết, 2008.

Triệu, Nhĩ Tốn (趙爾巽) (soạn). Thanh Sử Cảo (清史稿), in lần thứ 5 (529 quyển, 48 sách) Bắc Kinh: Trung Hoa thư cục, 1996.

Trịnh, Thiên Đĩnh (郑天挺), Ngô Trạch (吴泽), Dương Chí Cửu (杨志玖) (chủ biên). Trung Quốc Lịch Sử Đại Từ Điển (中国历史大辞典) (thượng và hạ). Thượng Hải: Thượng Hải Từ Thư xbx, 2000.

Trung Quốc Đệ Nhất Lịch Sử Đáng Án Quán (中国第一历史档案馆). Thanh Cung Nhiệt Hà Đáng Án (清宮热河档案), quyển 6-7-8. Thừa Đức: Trung Quốc Đáng Án xbx, 2003.

Trung Quốc Đệ Nhất Lịch Sử Đáng Án Quán (中国第一历史档案馆). Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng (乾隆朝上諭檔) quyển 14-16. Bắc Kinh: Đáng Án xbx, 1991.

Trung Quốc Xã Hội Khoa Học Viện Lịch Sử Nghiên Cứu Sở (中国社会科学院历史硏究所) Cổ Đại Trung Việt Quan Hệ Sử Tư Liệu Tuyển Biên (thượng và hạ) (古代中越关系史资料迭编). Bắc Kinh: Trung Quốc Xã Hội Khoa Học xbx, 1982.

Trung Tâm Nghiên Cứu Biên Cương Trung Quốc. Trung Việt Biên Giới Lịch Sử Tư Liệu Tuyển Biên (中越邊界歷史資料選編) (thượng và hạ). Xã Hội Khoa Học Văn Hiến xbx, 1992.

Trương, Tác Diệu (张作耀) (chủ biên) Trung Quốc Lịch Sử Từ Ðiển (中国历史辞典). Bắc Kinh: Văn Hóa, 1991.

Trương, Tú Dân (張秀民). Trung Việt Quan Hệ Sử Luận Văn Tập (中越關係史論文集). Ðài Bắc: Văn Sử Triết, 1992.

Trương, Tường (张翔) (chủ biên). Thanh Quý Nội Các Đáng Án Toàn Tập (清季内阁档案全辑) quyển 11, 12. Bắc Kinh: Học Uyển xbx, 1999.

Viện Hán Nôm Hà Nội (cộng tác với Phục Ðán đại học Trung Quốc). Việt Nam Hán Văn Yên Hành Văn Hiến Tập Thành 越南漢文燕行文献集成 (toàn bộ 25 quyển) Bắc Kinh: Phục Ðán đại học xbx, 2010.

Viện Nghiên Cứu Lịch Sử Vân Nam (云南省歷史研究所). Thanh Thực Lục: Việt Nam, Miến Ðiện, Thái Quốc, Lão Qua sử liệu trích sao (清實錄: 越南緬甸泰國老撾史料摘抄). Côn Minh: Vân Nam nhân dân xbx, 1985.

Vương, Mộng Âu (王夢鷗) (chú dịch), Vương Vân Ngũ (王雲五) (chủ biên). Lễ Ký Kim Chú Kim Dịch (禮記今註今譯) thượng hạ [tái bản]. Đài Bắc: Đài Loan Thương Vụ Ấn Thư Quán, 1977.

Vương, Nhung Sinh (王戎笙) (chủ biên). Thanh Đại Toàn Sử (清代全史) [10 quyển]. Thẩm Dương: Liêu Ninh Nhân Dân xbx, 1995.

VIỆT VĂN

Bảo Tàng Lịch Sử TP HCM. Cổ Vật Thời Tây Sơn: Kỷ niệm 240 năm phong trào Nông dân Tây Sơn bùng nổ (1771-2011). Bảo Tàng Lịch Sử TP HCM, 2011.

Bế, Lãng Ngoạn (Sông Bằng). Việt Hoa Thông Sứ Sử Lược. Hà Nội: Quốc Học Thư Xã, 1943.

Đại Việt Quốc Thư (大越國書) (6 quyển). Bản chép tay, số hiệu A.144 Paris EFEO MF II.85 (bản dịch NDC, chưa xuất bản)

Đặng, Xuân Bảng (鄧春榜). Việt Sử Cương Mục Tiết Yếu (越史綱目節要). Hoàng Văn Lâu dịch và chú giải. Hà Nội: KHXH, 2000.

Ðồng Khánh Ðịa Dư Chí (同慶地輿志). Ngô Ðức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin biên tập. (ba tập) Hà Nội: Thế Giới, 2003.

Hoa Bằng. Quang Trung Nguyễn Huệ, Anh Hùng Dân Tộc 1788-1792. Saigon: Hoa Tiên, 1950.

Hoàng, Văn Hoè (dịch). Ðại Việt Quốc Thư. Saigon: Trung Tâm Học Liệu Bộ Giáo Dục, 1972.

Hoàng, Xuân Hãn. Chinh- Phụ -Ngâm Bị -Khảo. Paris: Minh Tân, 1953.


[1] KDANKL, q. XXIII tr. 20-1

[2]周易: 天行健,君子以自强不息 (quẻ Càn). Lời trong Kinh Dịch: Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức. Trời hành động mạnh mẽ, người quân tử cũng vươn lên không nghỉ. Ý ca tụng vua Càn Long là bậc thiên tử làm việc không ngừng.

[3] Càn Long Triều, Thượng Dụ Đáng q. XV [882] tr. 387-8

[4] KDANKL, q. XXIV, tr. 7-9

[5] dựa theo nội dung của biểu văn, những tiêu đề do chúng tôi đặt. Văn bản này cũng còn được sao lại trong Minh Thanh Sử Liệu, Canh Biên, đệ Nhị bản, trang 144. Trương Tường (张翔) (chủ biên). Thanh Quý Nội Các Đáng Án Toàn Tập (清季内阁档案全辑) (1999) (q. 11, 12) tr. 4264-5.

[6] sách in sai là đầu đệ thuận chi biểu [投遞順之表], chúng tôi sửa lại theo Dụ Am Văn Tập (tr. 51)

[7] đối chiếu với bản của Việt Nam thì là quan [關]. Chi tiết này hợp lý và chính xác hơn và chúng tôi cho rằng đây là lỗi xếp chữ vì hai chữ khuyết [闕] và quan [關] mặt chữ rất giống nhau.

[8] Thời xưa tính từ kinh đô ra cứ 500 dặm là một phục, từ gần đến xa bao gồm hầu phục, điện phục, tuy phục, yếu phục, hoang phục. Xa hơn nữa coi như đã ở ngoài vương hoá.

[9] Thiên Ðại Nhã trong Thi Kinh có câu “mục mục Văn vương, ư tập hi kính chỉ” [ 穆穆文王、於緝熙敬 止] nghĩa là tư tưởng của Văn vương sâu xa thay, khiến cho chúng ta phải luôn luôn kính ngưỡng. Ở đây bài biểu ca tụng đức của vua Càn Long sánh ngang với Văn vương [một vi thánh vương đời nhà Chu]

[10] đây là những đức tính của vua Nghiêu [trích từ Nghiêu Ðiển]

[11] Tên chỉ vùng Lĩnh Nam

[12] là tiếng khiêm cung của người dưới trình tâu lên người trên được dùng trong văn cổ để chuyển đoạn từ ca công tụng đức sang trình bày một việc gì đó, là ý chính của tác giả trong một bài biểu. Hai chữ này chúng tôi không tìm được từ ngữ tương đương trong tiếng Việt đại để là “cúi lạy mà tâu rằng”.

[13] đây là chữ trong kinh Dịch [] nói về bốn đức tính của bậc đế vương.

[14] Ý chỉ hoà hoãn sau chiến tranh Việt – Thanh

[15] 24 lượng là một dật, người sau nhầm thành 20 lượng (Từ Nguyên, in lần thứ 5, Ðài Loan Thương Vụ, 1980) q. hạ, tr. 2184

[16] Chữ trong Kinh Thư, Ðại Vũ Mô: 人心惟危,道心惟微,惟精惟一,允執厥中 (Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhất, doãn chấp quyết trung) Lòng người nghiêng ngả, lòng trời huyền ảo, phải hết sức tinh thuần và chuyên nhất, quyết giữ cho ở đạo trung

[17] Chữ trong Thượng Thư, thiên Vô Dật [tương truyền của Chu Công soạn]: 文王不敢盤於游田,以庶邦惟正之供 (Văn Vương bất cảm bàn ư du điền, dĩ thứ bang duy chính chi cung) Vua Văn Vương chẳng ham săn bắn, có nhận đồ cống của thứ bang cũng chỉ cần cho chừng mực

[18] Lời Khổng Tử trong Thuyết Quái [Kinh Dịch]

[19] đĩnh là nén, trọng lượng không nhất định, 5 hay 10 lượng [Từ Nguyên, sđd. tr. 2174]. Có lẽ cống phẩm dùng loại vàng 10 lượng.

[20] Bao gồm tuần kiểm (2 người), lễ sinh (2 người), thiên bả tổng (2 người), tài quan (9 người)

[21] Trình Lâm đại nhân giản văn (Lịch Triều Tạp Kỷ, q. VI)

[22] Con chim hạc hót dưới bóng cây thì con nó phụ hoạ theo. Kinh Dịch, quẻ Trung Phu, hào Cửu Nhị

[23]Người quân tử ở trong nhà nói lên lời thiện thì ắt có người ở ngoài nghìn dặm lên tiếng hưởng ứng

[24] Đây là nói về lá thư sau chiến thắng gửi trách nhà Thanh kèm theo những tờ hịch Tôn Sĩ Nghị gửi qua.

[26] Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng, q. XV (1991) [663] tr. 289

[27] Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng, q. XV (1991) [838] tr. 368

[28] Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng, q. XV (1991) [870] tr. 380

[29] Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng, q. XV (1991) [928] tr. 412

[30] Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng, q. XV (1991) [888] tr. 392

[31] Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng, q. XV (1991) [887] tr. 391

[32] Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng, q. XV (1991) [889] tr. 392

[33] Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng, q. XV (1991) [898] tr. 398

[34] Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng, q. XV (1991) [911] tr. 404

[35] Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng, q. XV (1991) [915] tr. 406

[36] 禮部引臣等入幕内王公之列,皇帝御座,不過咫尺 – Lễ bộ dẫn thần đẳng nhập mạc nội vương công chi liệt, hoàng đế ngự toạ, bất quá chỉ xích. Ngô Hàm: Triều Tiên Lý Triều Thực Lục Trung Ðích Trung Quốc Sử Liệu q. 9-12 (Bắc Kinh: Trung Hoa Thư Cục, 1980) tr. 4802-3

[37] Năm đó Nguyễn Đề mới 30 tuổi [ta].

[38] Tự Nghi Phủ [宜甫], hiệu Trọng Vân [仲雲], người đất Tiền Ðường, Chiết Giang [nay là Hàng Châu] đỗ tiến sĩ dưới triều Gia Khánh, nhận chức Biên Tu. Sang thời Ðạo Quang, Hàm Phong được bổ tri phủ Ðại Lý, Vân Nam, rồi tri phủ Ðăng Châu, Sơn Ðông, tri phủ Phượng Dương, An Huy. Sau đó ông giữ chức coi về lương thực ở Quí Châu, lên đến tổng đốc Tứ Xuyên, tổng đốc Vân Nam.

[39] Ðây là Viên Minh Viên, ngoại thành Bắc Kinh.

[40] Nguyên văn 9 bài thơ này trích từ Ngô Chấn Vực (吳振棫). Dưỡng Cát Trai Tùng Lục (養吉齋叢錄) (Bắc Kinh: Bắc Kinh Cổ Tịch, 1983) tr. 166-167. Trong dịp này, chánh sứ Lưu Cầu Hướng Xứ Trung (向處中) và chánh phó sứ Xiêm La không biết làm thơ nên không hoạ lại. Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng, q. XV (1991) tr. 416 [938]

[41] Trong nguyên bản bài ngự thi tại Thanh Cao Tông Ngự Chế Thi Văn Toàn Tập, q. 52 trang 5 có chú thích bằng chữ nhỏ như sau:

Mỗi năm trước khi cử hành lễ tiết [sinh nhật vua], thết yến các thân vương, quận vương, chư phiên Mông Cổ [thủ lãnh các nhóm Mông Cổ, cũng được phong vương tương đương với vua các nước nhỏ khác] và các đại học sĩ được vời đến trước ngự án ban rượu. Năm nay là lễ Bát Tuần đại khánh, Triều Tiên, An Nam, Lưu Cầu, Tiêm La, Khoách Nhĩ Khách năm nước sai sứ đến triều chúc thọ nên ngày hôm đó cũng được dự yến. Chánh sứ các nước đều nâng chén lên cao để tỏ lòng vui mừng đón nhận ân điển và việc hiếm có năm nước gặp nhau.

[42] ngày xưa tuổi cứ 10 năm gọi là một tuần, lục tuần [60-69], thất tuần [70-79], bát tuần [80-89]…Vua Càn Long năm Canh Tuất [1790] là 80 tuổi, bắt đầu bước vào bát tuần.

[43] chỗ này tác giả chơi chữ. Bình mông vừa ý nghĩa che chở vừa miêu tả cái lều tròn [hoa cái] vua Càn Long dùng làm hành tại để tiếp phiên vương và sứ thần [thường là cho các phiên thuộc Mông Cổ, Tân Cương vùng quan ngoại]. Ân trạch thấm khắp mọi người ám chỉ việc vua Càn Long tự tay ban rượu cho các sứ thần.

[44] Có nơi chép là Lãng 朗

[45] Triều đại vua Thuấn đời xưa

[46] theo quan niệm của người xưa, các tinh tú chầu quanh sao Bắc Cực nên cũng ví như nhà vua có các thần tử hướng về

[47] chữ cổ đời Hán, chỉ vua nước Việt Thường. (Hậu Hán Thư, “Nam Man Tây Nam Di Liệt Truyện – 南蠻西南夷列傳”)

[48] nhắc đến việc vua Quang Trung sẽ sang dự lễ Bát Tuần Khánh Thọ.

[49] Nguyễn Đề là anh của Nguyễn Du.

[50] Bài này có ghi trong Hoa Trình Tiêu Khiển Tập (HTTKT), YHVH VIII tr. 137-8

[51] HTTKT viết là ngự [御]

[52] HTTKT viết là dư [輿]

[53] HTTKT viết là long nhan [龍顏]

[54] Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng, q. XV [939] tr. 416-7

[55] Bang Giao Hảo Thoại ““Ký Chuyển Quốc Thư dữ bồi giới Nguyễn Hoành Du” (寄轉國書與陪价阮宏猷) Ngô Thì Nhậm tác phẩm I (2001) nguyên văn chữ Hán tr. 707

[56] Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng, q. XV [944] tr. 419

[57] Vải dùng để may áo cho triều đình đều Nội Chức Nhiễm Cục (內織染局) đảm trách nhưng dệt tại các công xưởng ở Giang Nam (Hàng Châu, Từ Châu, Giang Ninh) Schuyler Cammann, China’s Dragon Robes, 1952 tr. 116.

[58] Cung Trung Ðáng, hòm số 2778, bao 163, số hiệu 39095, văn thư về việc tiếp đãi vua Quang Trung đề ngày mồng 2 tháng 2 năm Càn Long 55 (1790) của Phúc Khang An. Trang Cát Phát, TTVC tr. 399-401

為照會事,照得本年正月初旬接到國王來函,當即繕 寫照會寄覆,嗣聞國母須藉參苓頤養,隨以自用參枝,並繕照會發交左江湯道馳送諒山,交該鎮目轉齎,嗣復奉旨因吳文楚向左江道面懇隨同國王進京,仰蒙聖慈格 外體恤,以彼係國內得力之人,國王入關朝覲,應令在國居守,庶無牽罣,是以諄諄諭飭巡撫部院明晰照會,令其此次毋庸隨同前來,宸衷眷顧優渥殊常,想國王先 後均經接到矣。

上年宣封委員成道等進關後,皇上軫念該國一切情形,降旨令其馳驛進京,以備垂問,當令迅速起程。玆據成道自京來稟內稱,抵京後屢邀召見,蒙皇上以安南歲收豐歉何如? 國王年已幾何? 前次抱恙曾否全痊,膺封之後如何 感忭? 用人行政是否協宜? 人心如何翕附? 十三道地方可曾平靖? 詳加詢問 ,經成道逐一據實覆奏,聖心甚為喜悅。

又蒙皇上因國王三月入覲之期以定,復相服飾冠帶一一問及,又經成道詳晰奏對,隨命江南省織造緙絲,細繡,莽袍,金龍王帽,真金腰帶,預備頒賜。

嗣又疊奉諭旨,俟國王到京,令行抱見請安之禮,加賞金黃鞓帶,用昭優異,並因國王所寄貢使阮宏匡等書函進呈,仰蒙聖垂鑒,國母現已年高,需用藥物滋培,國王色養情殷,睿懷嘉予,特頒內府人參一觔,並撰勅書一道,同御筆硃批表文由驛發交廣西撫部院迅速轉遞。

凡玆異數隆恩,不但屬國藩臣夢想不到,即天朝親 貴,亦不能倖邀,國王自上年納款已來,即蒙寵錫便蕃,不可勝紀,璽封宸翰,絡釋而來。而且求款得款,求封得封,數月之間,藩服早膺得正名分,開關以通巿 易,頒朔以正日時,疊次隆施,無非聖主體天心以立牧,順民心以建賢,恩澤加至萬分,光榮邁於千古。

本爵閣部堂代國王恩之,於欣感之中彌懷敬畏,蓋受恩易而報恩難,因至於莫可名報,則食息寢興,必惄然有所不安,惟有早趨宸陛,早覲天顏,始可欽承睿訓,式搆鞏圖於無可報答中,勉思報答也。

國王遠處炎交,或未深悉天朝制度,大凡人臣朝覲,自有常儀,抱見請安,乃係逾格曠典,從前惟平定回部將軍兆公,平定兩金川將軍阿公,凱旋入覲,皇上郊勞將士,始命恭行此禮,而金黃鞓帶,賜出非常,御筆硃批,屬國尤所難得,今國王以南服新藩,種種仰邀異數,實為難覯寵榮。

至國王起程赴京,仍應繫用紅帶,恭俟面覲時賞換。 再人參為盛京山川靈秀所鍾,品質珍貴,不特安南稀有,即內地亦不易購求。前聞阮光顯在京購買,原擬俟國王進京覲祝時,代懇恩賜,嗣據左江道來稟,知國王字 寄阮宏匡等帶購,本爵閣部堂隨將自用參枝函寄四兩,其品本屬中平,內庫人參係從數十百觔中選擇而出。

今蒙皇上隆恩頒賞至一觔之多,國母叨玆渥賜,資以益壽培元,家慶國恩,無涯無量,國王諏吉揚鑣,涓誠覲聖,不須系念倚閭,心泰身榮,悉出鴻慈所賜,凡在臣工,同聲歡忭,況乎身受感銜,更復何如,國王新正諏詳開用印信,所有恭謝勅印詩章表文及隨表貢物,此時自已(己?)遣使恭齎在途,現奉諭旨俟表貢到關,即當賞收,並令將齎貢陪臣護送進京,俾得仰邀宴賚矣。

再國王寄阮宏匡等書內令將安南與暹羅搆衅緣由據實陳奏,原書呈覽之後,皇上深嘉國王小心恭恪,計慮周詳,現在兩國陪臣同赴朝正,共叨筳宴,彼此俱未提及,亦無纖毫露於形迹,其書函已交阮宏匡等收閱。

惟兩國從前既有此不和之事,國王進京後,必當令吳 文楚居守國中,以資鎮撫,俟下次貢期進京,現奉諭旨令本爵閣部堂再行明白檄諭,聖明優恤,奚啻至再至三,自當欽遵辦理,天朝恩溥德洋,共球萬國,東西南 朔,罔不率俾,玆恭逢皇上八旬萬壽,五代一堂,山海梯航,輿琛輦賮而來者,盈於闕下。

國王崛起西山,甫膺封爵,即得瞻雲就日,叩覲祝釐,行勳貴之禮,極章采之華,光寵無加,恩榮備至,本爵閣部堂惟有預為國王慶遭逢紀殊遇耳。

協風和煦,序入仲春,屆指入關,為期不遠,本爵閣部堂於二月下澣,當鼓檝西行,專俟關前相見也,須至照會者。

[59] Xem Hoàng Xuân Hãn, “Lịch và Lịch Việt Nam”, Tập San KHXH, Paris, số đặc san tháng 2-1982, in lại trong La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập I tr. 916-7

[60] Nhận lịch của Trung Hoa

[61] Đời Lê, nước ta theo lịch Đại Thống của nhà Minh, sang đời Thanh tuy thần phục Trung Hoa nhưng chưa từng được ban lịch chính sóc.

[62] Lịch nhà Thanh [từ đời Càn Long thì chữ lịch 曆kiêng húy tên vua Thanh – Hoằng Lịch 弘曆– nên đổi thành thư書]

[63] KDANKL, q. XXIV, tr. 14-6

[64] Chính vì thời Tây Sơn nước ta theo lịch nhà Thanh nên giáo sư Hoàng Xuân Hãn đã ngạc nhiên khi thấy đời Tây Sơn lịch ở nước ta giống lịch Trung Hoa. Xem La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập I, tr. 943, 1038 …

[65] Robert Heine-Geldern, Conceptions of State and Kingship in Southeast Asia. (New York: Ithaca, Cornell University, 1956) tr. 1

[66] Cho đến gần đây mọi dân tộc trên thế giới, kể cả khu vực Ðông Nam Á, đều cho rằng trái đất là một mặt phẳng.

[67] Núi Meru là một ngọn núi cao trong huyền thoại Ấn Ðộ là nơi ở của thần Visnu và Indra.Vua Xiêm La tự đồng hoá mình với thần linh của Ấn độ giáo. Ta dịch theo tiếng Hán là núi Tu Di (須彌).

[68] Khi lên ngôi, Nguyễn Huệ đã phong cho công chúa Ngọc Hân là Bắc Cung Hoàng Hậu và bà chỉ là một trong nhiều vợ chính thức (không kể cung phi), phải chăng tổ chức chính quyền của nhà Tây Sơn chịu ảnh hưởng của văn minh Nam Á hơn là văn minh Trung Hoa như người Việt? Chúng ta cũng biết ông còn nhiều hoàng hậu khác chẳng hạn như Phạm Hoàng Hậu, Bùi Hoàng Hậu (mẹ Nguyễn Quang Toản)…

[69] Very much the same kind of organization existed in Siam, Cambodia and Java. Again and again we find the orthodox number of four principal queens and four chief ministers, the four “pillars” as they were called in Cambodia. In Siam, as in Burma, they originally governed four parts of the kingdom lying toward the four cardinal points. Robert Heine-Geldern, sđd. tr. 7

[70] Theo Phật giáo thì mandala (Mạn Ðà La, Mạn Ðồ La, Mạn Ðát La, Mạn Nô La…) nghĩa là luân viên cụ túc (tròn trặn viên mãn), một đại pháp môn có đủ vành, nan hoa, trục để thành một bánh xe tròn trặn còn theo triết học Ấn Ðộ thì là một vòng tròn huyền bí lớn (a large circular magical circle) vẽ trên mặt đất.

[71] [The] mandala represented a particular and often unstable political situation in a vaguely definable geographical area without fixed boundaries and where smaller kenters tended to look in all directions for security… Each one contained several tributary rulers, some of whom would repudiate their vassal status when the opportunity arose and try to build up their own networks of vassals. O. W. Wolters, History, Culture, and Region in Southeast Asian Perspectives (Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 1982) tr. 16-7 [trích lại theo Thongchai Winichakul, Siam Mapped: A History of the Geo-Body of a Nation (Honolulu: University of Hawai’i Press, 1994) tr. 82, chú thích 2]

[72]… Rulers secured a gradually diminishing degree of hegemony and influence over the upland regions by controlling the lower reaches of river arteries (this was especially true in the case of insular Southeast Asia) or the rice-fertile lowland regions (more so in the mainland than among the islands). A map of the river was, in effect, a barometer of sovereignty. Historians have drawn clear parallels between the control of rivers and irrigation canals, and the rise of despotism in Southeast Asia. Thomas Suárez, Early Mapping of Southeast Asia (Hongkong: Periplus, 1999) tr. 20

[73] Sau cuộc chiến, nước thắng trận thường bắt đi rất nhiều dân chúng, trai tráng, phụ nữ… từ các xứ bị họ đánh bại về làm nô lệ. Người Xiêm bắt người Lào, người Miên về xây kinh thành Bangkok. Các vua Việt Nam đời Lý, đời Trần, đời Lê… cũng bắt rất nhiều người Chăm về làm nô tì. Các công tác đào kênh khi mới khai khẩn miền Nam ngoài người Việt, người Hoa cũng có rất đông nô lệ người Chân Lạp.

[74] Tục lệ này gợi cho chúng ta hình ảnh lễ đăng quang của vua Quang Trung trên núi Bân, một nghi thức hoàn toàn khác hẳn những vua chúa miền Bắc thường thực hiện trong cung điện.

[75] Whereas European eyes presumed that a country’s possessions extended as far as its border with its neighboring country, in Southeast Asia there were usually spaces in-between, ‘empty’ land, which was not part of any kingdom and which sometimes served as a neutral buffer. And while the European boundary formed an invisible wall that was to be guarded lest anyone attempt to violate it, the Southeast Asia border was porous, and was not intended to keep people either ‘in’ or ‘out’. Thomas Suárez, tr. 20

[76] As in feudal Europe, a Southeast Asian kingdom was an array of imprecisely defined spheres of influence, typically consisting of the king’s immediate territory, over which he had total control, followed by a succession of further and further removed regions from which he might exact tribute and over which he exerted varying degrees of authority. Beyond these would be outlying regions that had their own monarch but which were not entirely autonomous. These regions might be accountable to one or more larger kingdoms, being obliged to pay tribute and never to act in a manner contrary to the large kingdom’s interests. Thomas Suárez, tr. 20

[77] KDANKL, q. XXIV, tr. 16-7

[78] KDANKL, XXIV, tr. 23-4

[79] Xem thêm “Khai Quan Thông Thị” biên khảo của NDC.

[80] YHVH, Hoa Nguyên Tùy Bộ Tập, q. VI tr. 334-7

[81] Xem nguyên văn trong Việt Nam Hán Văn Yên Hành Văn Hiến Tập Thành [đệ Lục sách] tr. 337-9. Văn Học Đời Tây Sơn (2000), q. VII tr. 182-6

[82] Nghiên cứu lịch sử.- 1997.- Số 2 (185) (tháng 3 – 4, 1979) tr. 87-9, 97. Bài này tìm thấy trong sách Cúng Dàng của một gia đình ở huyện Chương Mỹ, Hà Sơn Bình và trong Cung Văn Tạp Lục, lưu trữ tại Thư Viện KHXH (trong phần cúng cô hồn). Bài văn tế này tuy soạn đời Tây Sơn nhưng có lẽ chỉ dùng để đọc trong những dịp cúng hàng năm.

[83] Phan Huy Chú, Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (tập III), 1992 tr. 195-8

[84] Phan Huy Chú, sđd. tr. 204

[85] Phan Huy Chú, sđd. tr. 206

[86] Vua cho rằng giặc Tây Sơn đã diệt, sai gửi thư sang Tổng đốc Lưỡng Quảng nước Thanh hỏi về việc bang giao nên làm thế nào; sai Thiêm sự Lại bộ là Lê Chính Lộ, Thiêm sự Binh bộ là Trần Minh Nghĩa đợi mệnh ở Nam Quan. Lại cho rằng nước nhà mới dựng, muốn tiếp sứ nhà Thanh ở cửa ải, để làm lễ tuyên phong cho đỡ phiền phí, đem việc ấy hỏi Ngô Nhậm và Phan Huy Ích, họ đều nói việc như thế từ trước chưa nghe bao giờ. Bèn thôi. ÐNTL, tập Một [Ðệ Nhất Kỷ, q. XVIII] tr. 510. Khi vua Càn Long nhắn vua Cảnh Thịnh [Nguyễn Quang Toản] lên Nam Quan nhận sắc phong, triều đình nước ta lấy cớ vua còn nhỏ mới lên đậu nên sứ thần Thành Lâm cũng xuống Thăng Long. Thực ra đời Lê trung hưng, một số lần vua nước ta phải lên Nam Quan nhận lễ phong vương, có khi sứ thần Trung Hoa không đến, chờ lâu phải quay về. Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích có lẽ muốn bảo tồn quốc thể mà các ông đã xây dựng được nên không muốn nhà Thanh quay trở lại một số thể lệ cũ.

[87] Thực ra trong giai đoạn này, Phúc Khang An cũng gặp nhiều rắc rối vì liên quan đến một vụ đại án. Nếu không vì việc đang biện lý An Nam, ông ta đã bị cách chức kể cả tước Công, chỏm mũ bảo thạch, tứ đoàn long bổ phục … Chính vì thế Phúc Khang An phải cố gắng bằng mọi giá mời cho bằng được vua Quang Trung sang dự lễ Bát Tuần Khánh Thọ và làm cho mọi việc được xuôi chèo mát mái. Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng q. XV, các văn kiện 1, 2 … (trang 1-3)

[88] KDANKL, q. XVII tr. 18 (Tấu thư của Phúc Khang An đề ngày mồng 5 tháng Tư năm Kỷ Dậu) [bản dịch NDC]

[89] Trên lá thư gửi vua Quang Trung, Phúc Khang An đề là “Ngự tiền đại thần, kinh diên giảng quan, thái tử thái bảo, nội đại thần, nghị chính đại thần, hiệp biện đại học sĩ, lại bộ thượng thư kiêm binh bộ thượng thư, đô sát viện, hữu đô ngự sử, tổng đốc Quảng Ðông – Quảng Tây quân vụ kiêm lương hướng diêm khóa, nhất đẳng Gia Dũng Công Phúc gửi hịch dụ này” …(xem DVQT)

[90] Thượng Dụ Ðáng, CCBVV. Trang Cát Phát, TTVC (1982) tr. 362-3.

[91] Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng, q. XV [386] (1991) tr. 179

[92] Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng, q. XV [382] (1991) tr. 176

[93] Nếu theo nghĩa trong thư thì Nguyễn Phúc là anh Nguyễn Huệ, không biết có phải là một tên khác của Nguyễn Nhạc không? Ngoài Nguyễn Nhạc chỉ có một người anh cả là Nguyễn Quang Hoa nay đã qua đời. Về tên Nguyễn Phúc, trong Nghiên Cứu Chữ Húy Việt Nam Qua Các Triều Đại của Ngô Đức Thọ (Văn Hóa, 1997), trang 108-9 có viết một đoạn về kiêng húy đời Tây Sơn có hai chữ Bình và Phúc. Bình thì là tên vua Quang Trung (Nguyễn Quang Bình) còn Phúc thì chép:

“…Trong Nghệ An ký, kể chuyện Nguyễn Huệ ra Thăng Long lần thứ nhất (7-1786), Bùi Dương Lịch (1758-1828) viết: “Huệ vào điện yết kiến [vua Lê], trình bày ý tôn phù chính thống, xin triệu tất thảy văn võ bá quan về kinh chầu hầu. […] Các giấy tờ bố cáo với người trong nước đều dùng dấu “Ngự tiền chi bảo”. Duy quân lệnh của Tây Sơn thì dùng riêng dấu “Phụng thiên phạt bạo Nguyễn Phúc”…

GS Ngô Đức Thọ giải thích “…chữ Phúc trong tộc danh Nguyễn Phúc trở thành một từ nói về kẻ thù địch của triều Tây Sơn …”. Khi đọc được chi tiết từ thượng dụ của nhà Thanh, chúng tôi tự hỏi liệu Nguyễn Phúc có thực sự chỉ chúa Nguyễn (khi đó đang bôn tẩu ở Xiêm La) hay không? Sách vở thời Tây Sơn viết không theo diễn tiến thời gian, nhiều việc chép chung một đoạn nhưng thực ra cách nhau hàng năm, có khi nhiều năm, việc trước ra sau, việc sau lên trước … Con dấu Phụng Thiên Phạt Bạo Nguyễn Phúc rất có thể để dùng vào khi hai anh em Nhạc Huệ hiềm khích, từ ruột thịt nay thành tử thù và Nguyễn Phúc cũng chính là một tên khác của Nguyễn Nhạc. Xin ghi ra để tồn nghi. Cũng có thể những người này là do chúa Nguyễn sai đi và lá thư là một mạo tín nhằm gây chia rẽ giữa nhà Thanh và Nguyễn Huệ.

[94] Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng, q. XV [289, 290] (1991) tr. 136-7

bài đã đăng của Nguyễn Duy Chính


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch