Trang chính » Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Truyện ngắn Email bài này

Biển Lặng Một Mùa Nào Đó


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 25.08.2015

 

Nguyên tác: IN A SEASON OF CALM WEATHER (1957)

figures-at-the-seasideVợ chồng George và Alice Smith xuống tàu ở Biarritz một trưa hè và trong vòng một giờ đã chạy băng từ khách sạn ra bãi biển nhào xuống sóng nước rồi quay lại phơi mình trên cát.

Nhìn George Smith nằm dài, người đỏ hồng, hẳn bạn sẽ cho rằng anh ta chỉ là một du khách mới đến châu Âu lần đầu và chẳng bao lâu sẽ quay về chốn cũ. Nhưng đây là một con người yêu hội hoạ còn hơn cả cuộc đời này.

– Thế đấy… – George thở dài. Thêm một chút mồ hôi nữa chảy dài trên ngực anh. Hãy đun cho sôi cạn nguồn nước máy Ohio trong người, anh nghĩ thầm, rồi uống cho đầy loại rượu Bordeaux ngon nhất. Hãy để cho cặn rượu nồng đất Pháp ngấm trong máu để ta có thể nhìn thấy bằng đôi mắt dân bản xứ!

Tại sao? Sao lại phải ăn, uống, hít, thở mọi thứ của Pháp chứ? Phải làm thế để anh có thể thật sự hiểu được thiên tài của một con người duy nhất, nếu có thời gian.

Môi anh mấp máy hình thành một cái tên.

– George? – Bóng vợ anh chờn vờn bên trên. – Em biết anh đang nghĩ gì rồi. Em biết anh thầm gọi ai.

Anh nằm yên như tượng, đợi chờ.

– Ai?

– Picasso.

Anh nhăn mặt. Rồi có ngày vợ anh phải học cách gọi cái tên ấy.

– Thôi mà, – vợ anh nói. – Thoải mái đi anh. Em biết anh đã nghe tin đồn ấy sáng nay, nhưng giá như anh thấy được ánh mắt của chính mình… Anh lại bồn chồn rồi kìa! Được rồi, Picasso đang ở đây, xuống dưới kia mấy dặm, ông ta viếng thăm bạn bè tại một làng chài nhỏ nào đó. Nhưng anh phải quên chuyện ấy đi chứ không thì uổng phí cả kỳ nghỉ mát của chúng ta.

– Ước gì anh đừng bao giờ nghe tin đồn ấy, – anh nói thật lòng.

– Giá như anh yêu thích các hoạ sĩ khác.

Những người khác? Đúng, còn nhiều người khác. Anh có thể dùng bữa sáng hết sức tương đắc với những bức tĩnh vật Caravaggio vẽ những trái lê mùa thu và những quả mận nửa khuya. Cho bữa trưa: mấy đoá hướng dương Van Gogh oằn oại như những con giun căng phềnh, phụt lửa, những đoá hoa mà một người mù cũng nhìn thấy được chỉ bằng cách vuốt nhanh mấy ngón tay nóng bỏng dọc theo khung vải rực cháy. Nhưng còn đại tiệc? Còn những bức tranh mà anh đã dành cho một khẩu vị riêng? Kia, tràn lấp chân trời như thuỷ thần Neptune đội sóng, tóc vướng rêu rong, cẩm thạch, san hô, mớ bút vẽ lăm lăm như những cây đinh ba trong hai nắm tay móng sừng, và với chiếc đuôi cá mênh mông đủ sức quật tung những cơn mưa rào mùa hạ trên khắp eo biển Gibranta. Còn ai nữa ngoài người sáng tạo ra Guernica và Cô Gái Trước Gương Soi?

– Alice ơi, – anh nhẫn nại nói, – làm sao anh giải thích được? Bước chân xuống ga là anh đã nghĩ ngay: Trời ơi, đúng là xứ sở Picasso!

Nhưng có thực vậy chăng? Anh băn khoăn. Trời này, đất này, những con người này, những viên gạch hồng màu má thắm ở đây, những ban công bằng thép lá cuộn vòng ánh biếc xanh nằm kia, cây đàn măng-đô-lin mọng tròn như trái chín hằn in cả ngàn dấu tay ai đó, những tờ thông cáo rách tơi bay tung trong gió đêm như công-fet-ti rơi – còn bao Picasso, còn bao George Smith đang nhìn thế giới với đôi mắt Picasso? Không làm sao anh trả lời được. Ông già ấy đã chưng cất trọn tinh tuý của dầu thông và nhựa lanh qua con người George Smith để hình thành nên sự sống của chính anh, trọn Thời Kỳ Xanh chạng vạng, trọn Thời Kỳ Hồng hừng đông.

– Anh cứ suy tính mãi, – anh nói lớn, – nếu như ta đã dành dụm…

– Chúng ta chả bao giờ có được năm nghìn đô-la.

– Anh biết, – giọng anh trầm lại. – Nhưng cứ nghĩ là một ngày nào đó ta sẽ xoay xở được cũng thích chứ. Sẽ tuyệt vời biết bao nếu như ta có thể bước thẳng tới trước mặt ông ta và nói “Pablo ơi, năm nghìn đô-la đây! Hãy cho chúng tôi đại dương, bãi cát, bầu trời, hay bất cứ thứ cũ kỹ nào ông muốn, chúng tôi sẽ rất vui sướng…”

Sau một lúc im lặng vợ anh nắm lấy cánh tay anh.

– Em nghĩ anh nên xuống tắm biển thì hay hơn.

– Ừ, thà là thế, – anh lẩm bẩm.

Những tia lửa trắng tung toé lên khi anh lao mình xuống nước.

Suốt buổi chiều George Smith lại đi ra biển, hoà mình trong dòng chuyển động tràn ngập, bao la của đám người hết phơi nắng lại xuống nước; những kẻ cuối cùng cũng lê bước trở về các khách sạn cao tầng lúc mặt trời xế bóng, tấm thân đỏ hồng màu tôm luộc hay nâu dòn màu gà rán.

Bãi biển nằm hoang vắng hàng dặm chập chùng chỉ còn lại hai người. George Smith là một; khăn tắm choàng vai, anh sùng kính dạo quanh một lần chót. Cách đó một khoảng, một người đàn ông khác, vóc người thâm thấp, mặc quần bơi, lang thang một mình trong tiết trời yên ả. Da nhuộm thâm màu nắng, mặt trời hun đỏ mái tóc húi cao, và trên gương mặt ông là đôi mắt trong sáng như mặt nước.

Thế là một kịch trường đã được dựng lên trên bãi biển, và trong một vài phút nữa hai người ấy sẽ gặp nhau. Một lần nữa, Định Mệnh đã ấn định khuôn thước cho bao sửng sốt cùng ngạc nhiên, bao lần ra đi và về đến. Trong khi đó, hai kẻ lang thang cô độc kia không một phút nào nghĩ tới sự ngẫu nhiên – cái dòng chảy vô hình đưa đẩy bước chân mỗi người trong mọi đám đông trong mọi phố phường. Họ cũng không nghĩ rằng nếu một người dám lao mình vào dòng chảy ấy, hắn sẽ vồ được trong mỗi bàn tay một sự diệu kỳ. Giống như mọi người, họ nhún vai trước những trò điên rồ như thế rồi đứng tránh thật xa trên bờ kẻo Định Mệnh sẽ xô nhào họ xuống.

Người lạ mặt đứng một mình. Đảo mắt một vòng, ông nhìn sự đơn độc của mình, nhìn những con sóng trên vịnh biển yêu kiều, nhìn vầng dương đang buông trôi những sắc màu cuối cùng trong ngày, và rồi, dợm quay lưng, chợt bắt gặp một que gỗ nhỏ trên cát. Nó chẳng lớn hơn gì chiếc que mảnh dẻ cắm vào một miếng cà-rem hương chanh ngon ngọt đã tan chảy từ lâu. Mỉm cười, ông nhặt chiếc que lên. Thêm một lần nữa đảo mắt nhìn quanh để yên tâm là vẫn một mình, ông lại khom người, nhẹ nhàng cầm giữ chiếc que. Bằng những đường múa bay bổng của bàn tay, ông bắt đầu làm điều duy nhất trên đời ông biết cách làm hoàn hảo nhất.

Ông bắt đầu vẽ những đường nét lạ thường dọc theo bờ cát. Ông phác hoạ một hình tượng rồi nhích người sang một bên, mắt vẫn cúi nhìn xuống, bây giờ hoàn toàn tập trung vào công việc, vẽ thêm xuống cát hình thứ hai, thứ ba, và cứ thế vẽ mê mải hình thứ tư, thứ năm, thứ sáu.

George Smith bước đi, bàn chân in dấu trên bãi biển, mắt dõi nhìn đây đó và trông thấy người đàn ông ở phía trước. Tiến lại gần, anh nhận ra vóc dáng lom khom của người đàn ông da sạm nắng. Gần hơn nữa, giờ thì đã rõ ông ta đang làm gì. George Smith cười thầm. Tất nhiên, tất nhiên… dọc theo bãi cát, người đàn ông ấy – bao nhiêu tuổi nhỉ? Sáu mươi lăm? Bảy mươi? – đang hí hoáy, nguệch ngoạc vẽ. Ôi, cát biển tung bay! Ôi, những bức chân dung man dại ném mình ra phô bày trên bờ biển! Ôi…

George Smith tiến thêm một bước và dừng lại, đứng lặng.

Người lạ mặt kia vẫn vẽ mãi không thôi, dường như chẳng hề nhận biết có ai đó đang đứng ngay sau lưng ông và cái thế giới ông đang hoạ hình trên cát. Đến lúc này thì niềm sáng tạo cô độc đã cuốn hút ông ta miệt mài đến độ những quả bom có nổ tung trong lòng vịnh cũng không thể ngăn được bàn tay bay bổng của ông hay buộc ông phải ngoái nhìn lui.

George Smith cúi nhìn xuống cát. Và sau một hồi lâu nhìn ngắm, anh bắt đầu run rẩy.

Vì trên bờ biển phẳng phiu kia là hình tượng của những con sư tử Hy Lạp và đàn dê Địa Trung Hải; những trinh nữ thịt da bằng cát mịn óng vàng; những dương thần thổi chiếc tù và gọt đẽo thô sơ; bầy trẻ nhỏ đang nhảy múa, đang rải hoa dọc theo bờ cát với đàn cừu lon ton theo sau; rồi tới các nhạc công nhảy nhót theo tiếng đàn lyre, đàn harp; lũ kỳ lân đuổi theo đám thanh niên về đồng lúa, rừng rú xa xôi; những hoả diệm sơn cùng bao thành quách điêu tàn. Dọc theo bờ biển này, bàn tay, chiếc que gỗ của người đàn ông đang cúi gập trong cơn sốt và suối mồ hôi nhễ nhại, cứ không ngừng chuyển động, vẽ, vạch, ngoằn ngoèo, vút ngang, xổ dọc, vào, ra, nhấn nhá, vuốt ve, trì hoãn, rồi hối hả bay tiếp như dường cơn say sưa phiêu lãng này phải bùng vỡ đến tận cùng trước khi mặt trời chìm lún trong lòng biển.

Hai mươi, ba mươi thước hay còn hơn thế, các nữ thuỷ thần và những rặng sồi và những nguồn suối mùa hè hiện ra trong những ký tự tượng hình tách bạch. Bãi cát trong ánh nắng hấp hối ánh rực lên màu đồng nung chảy, trên mình cát giờ đây đã được rạch sâu một thông điệp mà bất kỳ ai, vào bất kỳ lúc nào, cũng có thể đọc và nghiền ngẫm cả đời. Mọi vật quay cuồng, lửng lơ bằng chính luồng gió và trọng lực tự thân. Này rượu vang đang bị nghiền nát dưới những bàn chân tươm máu nho của đám con gái người buôn rượu đang nhảy múa, này biển cả mịt mù đã khai sinh ra những con quái vật phủ giáp đồng trong khi những cánh diều đầy hoa rải rắc hương thơm trên mấy tầng mây phiêu bạt… này… này… này…

Người hoạ sĩ ngừng tay.

George Smith thối lui và tránh xa một khoảng.

Người hoạ sĩ ngước lên, ngỡ ngàng khi nhận ra có kẻ đứng kề bên. Rồi ông chỉ đứng đó, hết nhìn George Smith lại quay sang nhìn những sáng tạo của mình ngổn ngang như những dấu chân tha thẩn trên cát. Sau cùng ông nhún vai và mỉm cười như muốn nói: Hãy xem tôi đã làm trò gì kia; thật trẻ con quá phải không? Anh thứ lỗi cho tôi nhé? Đôi khi tất cả chúng ta đều cư xử như những kẻ ngốc… Cả anh có lúc cũng thế…? Vậy bỏ qua cho lão già ngốc này nhé? Tốt! Tốt!

Nhưng George Smith chỉ có thể đứng nhìn người đàn ông thấp bé kia, nhìn màu da sạm nắng, nhìn đôi mắt tinh anh, và thầm gọi tên ông chỉ một lần, rất khẽ, cho riêng mình.

Họ cứ đứng như thế một hồi lâu. George Smith đăm đăm nhìn xuống mặt cát và người hoạ sĩ quan sát anh với vẻ tò mò thích thú. Môi George Smith mấp máy không nên lời, bàn tay anh đưa ra rồi ngượng ngùng rụt về. Anh tiến đến gần những bức tranh rồi lại lùi xa. Sau đó anh lại đi men theo những hình tượng trải dài trên cát như một người đang chiêm ngưỡng một sưu tập quý báu toàn những pho tượng cẩm thạch bị phế bỏ trong chốn điêu tàn cổ đại nào đó trên bãi biển này. Đôi mắt anh không chớp, bàn tay khao khát được chạm vào nhưng không dám. Anh muốn bỏ chạy nhưng vẫn đứng đó.

Anh đột ngột nhìn về khách sạn. Chạy mau, đúng! Chạy mau! Làm gì? Vớ lấy một cái mai, cái xẻng nào đó, đào, quật, cứu lấy một tảng cát quá đỗi mong manh này? Tìm một người thợ gốm, xua anh ta tới đây với bột thạch cao để đổ khuôn lưu lại một phần nhỏ nhoi của những hình tượng này? Không, không. Ngớ ngẩn, ngớ ngẩn. Hay là…? Mắt anh liếc nhanh về hướng cửa sổ khách sạn. Máy ảnh! Mau, chạy đi, mang nó lại đây rồi cuống cuồng men theo bờ cát, bấm máy, thay phim, bấm máy, cho đến khi…

George Smith quay phắt lại đối diện với mặt trời. Nắng tà đang tàn lụi trên mặt anh, châm bừng hai ngọn lửa cỏn con trong đôi mắt. Mặt trời đã chìm nửa thân dưới sóng, và khi anh ngoái nhìn, nó vội ngụp lặn mất tăm trong khoảnh khắc.

Người hoạ sĩ bước lại gần anh và bây giờ đang đăm đăm theo dõi nét mặt George Smith với vẻ thân thiện tột cùng chẳng khác nào ông đã đoán được mọi ý nghĩ trong tâm trí anh. Giờ ông gật đầu khẽ chào. Giờ chiếc que kem hững hờ rơi tuột qua mấy ngón tay ông. Giờ ông ta đang nói lời tạm biệt, tạm biệt. Giờ ông ta đã bỏ đi, quay ngược lại theo bãi biển xuôi về hướng nam.

George Smith đứng lặng nhìn theo. Rồi sau đó, anh không còn biết làm gì hơn là quay lại chỗ bức tranh kỳ ảo đầu tiên vẽ các dương thần và trinh nữ tắm trong rượu nho, vẽ lũ kỳ lân nhảy nhót và đám trai trẻ thổi sáo. Và anh cứ chậm rãi men theo bờ biển. Chân cứ bước, mắt cứ nhìn xuống niềm say mê phóng túng chảy tràn dưới cát. Khi đã đi tới những con người, con thú cuối cùng, anh lại quanh lưng và bắt đầu đi ngược lại, mắt vẫn đăm đăm nhìn xuống cứ như anh vừa đánh mất vật gì mà không biết phải tìm kiếm nơi đâu. Anh cứ đi đi lại lại như thế cho đến khi không còn ánh sáng trên bầu trời hay trên bãi cát để soi rọi cho anh nhìn thấy.

Anh ngồi vào bàn ăn.

– Anh về muộn quá, – vợ anh nói. – Em đành phải xuống đây một mình. Em đói lắm rồi.

– Không hề chi, – anh nói bâng quơ.

– Đi dạo có gì thú vị không, anh?

– Không.

– Trông anh lạ thật đấy, George, anh không có bơi ra quá xa đấy chứ, không suýt chết đuối đấy chứ? Nhìn mặt anh là em biết ngay mà. Đúng là anh đã bơi ra quá xa, phải không?

– Ừ, – anh đáp gọn.

– Này, – vợ anh nhìn chăm chú. – Đừng có dại thế nữa nhé. Nào…, anh dùng món gì đây?

Anh cầm tờ thực đơn lên định đọc rồi bất giác ngồi yên.

– Có chuyện gì thế? – Vợ anh hỏi.

Anh nghiêng đầu và nhắm mắt hồi lâu.

– Nghe kìa.

Vợ anh lắng nghe.

– Em có thấy gì đâu nào? – Vợ anh thốt lên.

– Không à?

– Không. Cái gì vậy?

– Thuỷ triều đấy mà, – anh trả lời sau một lúc im lặng ngồi đó, mắt vẫn nhắm nghiền. – Chỉ là một cơn thuỷ triều đang tiến vào bờ.

 

© TĐT

 

 

hình ảnh: “Figure at the Seaside” (1931)- Picasso

bài đã đăng của Ray Bradbury


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)