Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu, Tư Liệu Email bài này

Thanh Việt Nghị Hòa- Chương IV: Đại Lễ Phong Vương (tiếp theo): Phái Đoàn Thành Lâm/Phân Phối và Điều Động Nhân Sự/ Nghi Lễ của Nhà Tây Sơn/ Nghi Lễ Sắc Phong/ Tiễn Khách

PHẦN II: PHÁI ĐOÀN THÀNH LÂM


THỦ TỤC PHONG VƯƠNG NHƯ THẾ NÀO?

Nhà Thanh là triều đại lễ nghi phức tạp hơn hết trong lịch sử Trung Hoa. Mọi sinh hoạt đều được qui định rất chi tiết nên chúng ta có thể hiểu được nhiều ẩn dấu nội bộ khi quan sát cặn kẽ từ bên ngoài. Sự phân biệt về màu sắc, y phục, hay những vật dụng nho nhỏ tưởng như đồ trang sức thực ra đều có ý nghĩa riêng. Thứ tự trong danh sách ban thưởng hay sắp đặt chỗ ngồi trên bàn tiệc phản ảnh rõ rệt vị thế và uy vọng của từng người. Ngay cả cách dùng chữ, cách xưng hô cũng được qui định rất chặt chẽ. Vua Ung Chính đã từng khiển trách một viên quan người Hán vì tự xưng “nô tài” là danh hiệu chỉ người Mãn mới được dùng. Vua Quang Trung trước khi được phong vương chỉ dám nhận là “tiểu phiên” chứ không dám xưng ‘thần” và nhà Thanh cũng chỉ gọi ông là “quốc trưởng” chứ không gọi là “quốc vương”.

Theo Lễ Chí (禮志), phần Phiên Quốc Lễ (藩國禮) trong chương Tân Lễ (賓禮) thì “[…] Từ khi quốc gia kiến tạo đến nay, cả đức lẫn uy đều lan rộng, thanh giáo tràn tới nên không đâu là không đến triều đình … chiếu theo sách cũ cũng đều coi như nhau.” Cũng theo Phiên Quốc Lễ, Thanh triều qui định rằng việc sách phong cho phiên thuộc thì sẽ sai đại thần mang “ tín ước”(信约) sang, khi [sứ thần] đến biên giới của nước đó sẽ kiểm tra (验视) tín ước cùng chức danh của đại thần phụng sai cùng nghi lễ sách phong phi báo cho thủ lãnh [quốc trưởng] nước đó. Quốc trưởng nước kia sẽ ra tới nơi cách năm dặm, xuống ngựa quì ở bên phải đường đi, đợi khi chế sách đi qua sẽ cưỡi ngựa tuỳ hành.[1]

Sứ thần cùng đi đến phủ đệ của thủ lãnh kia, bày hương án, sứ thần bưng chế sắc để trên hương án, thủ lãnh làm lễ tam quị cửu khấu [ba lần quì, chín lần rập đầu], nghi độc quan [viên quan được chỉ định đọc tờ sắc] sẽ đọc tờ chế phong, thủ lãnh kia lại làm lễ tam quị cửu khấu lần nữa, sau đó quay qua cùng sứ thần hai người làm lễ nhị quị lục khấu [hai lần quì, sáu lần rập đầu], ấy là hoàn tất nghi thức sách phong. [2]

Cũng trong sách này, việc sách phong cho hai nước Lưu Cầu, An Nam được chép như sau:

Định chế đời Sùng Đức [1636-1643], một khi ngoại bang qui thuận thì đều ban sách phong tích tước vị để khi có điều gì tâu lên được dùng niên hiệu Đại Thanh. Nếu nước triều cống không có người nối ngôi thì phải sai bồi thần sang xin phép thiên triều, khi đó bộ Lễ sẽ tâu lên để sai một chánh, một phó sứ mang cờ tiết sang phong vương. Được đặc biệt ban cho triều phục nhất phẩm có thêu kỳ lân để chuyến đi thêm long trọng.

Đến ngày đi, bộ Công sẽ cấp cho kỳ trượng (旗仗 –cờ và các món binh khí trang sức), bộ Binh cấp cho thừa truyền (乘传 –xe dành riêng cho người đi xa), phong sứ sẽ đến bộ Lễ, một viên quan thuộc Nghi Chế Ty sẽ cầm cờ tiết, một người cầm chiếu sắc trao cho quan lớn của bộ [Lễ] để trao lại cho chánh , phó sứ quì nhận lấy, đứng lên. Hai người đi ra thay chinh y, ngồi xe lên đường. Khi đến cảnh giới nước kia thì kẻ biên lại nước ấy đã chuẩn bị xe ngựa phu dịch sẵn sàng, những nơi nào phải đi ngang qua đều có viên chức quì đón cùng bồi thần của người được nối ngôi nghinh tiếp, làm lễ tam quị cửu khấu, sứ giả sẽ đáp lại nhất quị tam khấu, sau đó mới vào trong quán. Sau khi đã trần thiết các loại cờ tiết long đình rồi, mọi người hành lễ theo nghi thức, ai đến yết kiến sứ thần thì khấu đầu ba lần, sứ thần không phải đáp lễ.

Đến ngày làm lễ phong vương, nhà vua đem bồi thần đến quán, làm lễ [kiến diện] xong, vua về trước. Khi rước long đình đi thì có cờ quạt và nhạc công đi đầu, phong sứ đi theo sau. Vào trong cửa bày ra ở chính giữa, sứ giả và người đi theo xuống ngựa. Chánh sứ cầm cờ tiết, phó sứ bưng chiếu sắc, vào trong điện để lên trên án, lui ra đứng ở bên cạnh phía đông.

Nhà vua dẫn trăm quan đứng quay mặt về hướng bắc làm lễ tam quị cửu khấu, đứng lên đi đến vị trí phong vương rồi quì xuống. Phó sứ bưng chiếu thư giao cho tuyên độc quan (viên quan đọc chiếu). Đọc xong, nhà vua hành lễ, làm như lúc trước sau đó ra khỏi điện. Sứ giả đi ra, các quan quì tiễn rồi đãi tiệc ở công quán. Khi sứ giả trở về triều, nhà vua soạn biểu văn cùng các phương vật sai bồi thần đến cửa quan tạ ơn.[3]

Chính vì những qui định chặt chẽ như thế, chúng ta có thể nhận ra một số chi tiết không đúng cách khiến cho quan lại nước ta đặt thành nghi vấn chẳng hạn sứ giả không phải do hoàng đế chỉ định [qua sự đề nghị của bộ Lễ và sự sắp xếp của bộ Công, bộ Binh] trong khi Thành Lâm lại đi từ Quảng Đông, không đem theo sắc thư, bảo tỉ mà mang ngự thi, đặc dụ …

Thoạt đầu, Phúc Khang An cử Thành Lâm, một viên ngoại lang đang đi thanh tra và chờ bổ nhiệm coi một đạo [đơn vị nhỏ hơn tỉnh] là người Mãn Châu duy nhất có mặt tại địa phương đem tờ đặc dụ và bài ngự thi sang cho vua Quang Trung. Có lẽ cũng nhận ra rằng nếu tổ chức rềnh rang như ý muốn của vua Càn Long [cho một sứ bộ sang báo tin và thanh tra các dịch trạm, công quán trước rồi một phái đoàn phong vương sang sau] thì Phúc Khang An phải chờ cho Nguyễn Quang Hiển về đến Quảng Tây rồi sẽ cùng sang An Nam làm lễ. Việc hai sứ đoàn không những gây tốn kém, khó nhọc lại mất thì giờ và thêm phức tạp nên sau đó chính Phúc Khang An đã ngầm tâu lên để gộp lại làm một gây quan ngại cho nước ta đã đành mà còn khó khăn trong việc tổ chức nghi lễ.

Chúng ta không biết quyết định thay đổi đó xảy ra lúc nào – có lẽ trong khoảng cuối tháng Tám và chi tiết [nếu có] cũng nằm trong những tấu triệp mật viết bằng Mãn văn chúng tôi chưa được tham khảo. Cũng vì sự thay đổi gấp rút và nhiều vấn đề chưa giải quyết thoả đáng nên Phúc Khang An phải gửi riêng một đặc sứ [tổng quản] đi cùng với phái đoàn để bàn luận về việc Nguyễn Quang Bình sang chúc thọ vua Càn Long.

Chính vì có sự lấn cấn và phải trì hoãn ngoài ý muốn nên Thành Lâm đến Quảng Tây từ tháng Bảy nhưng phải đến tháng Chín mới làm lễ mở cửa đi sang nước ta còn triều đình Quang Trung thì chưa thấy Nguyễn Quang Hiển trở về nên cũng nghi ngại khi một thủ tục dạo đầu nay trở thành lễ phong vương mà lại không có sắc ấn.

Do đó, vua Quang Trung tuy đã thụ phong từ ngày 15 tháng Mười nhưng đến tháng Chạp thì ấn và sắc mới về đến Thăng Long nên các tờ biểu gửi lên vua Càn Long cũng phải chờ đến sau lễ khai ấn đầu năm Canh Tuất mới chính thức áp triện An Nam quốc vương.

ĐẶC DỤ

Tờ đặc dụ[4] của vua Càn Long [mà Thành Lâm mang sang cùng với bài thơ ngự chế] nguyên văn ghi lại trong KDANKL (quyển XXII) như sau:

Dịch nghĩa

Theo như Hiệp Biện đại học sĩ tước công là tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An tâu lên thì trong biểu tạ ân ngươi đã giãi bày thành thực mọi điều. Trẫm phê duyệt biểu văn thấy lời lẽ khẩn khoản, lại xin được sang năm tiến kinh nhập cận chúc thọ, ân cần tha thiết, thực là cung cẩn. Những cống vật mà ngươi mang tới trẫm đã gửi dụ ra lệnh thu nhận để toại lòng dâng tiến những món quà nhỏ mọn[5] của ngươi.

Trong biểu cũng xin được gia ân vượt mức ban cho phong hiệu để có danh phận cưu tập tiểu bang. Nước An Nam trước đây Lê Duy Kỳ tầm thường kém cỏi không có tài năng nên trời ghét bỏ, quốc tộ cáo chung. Ngươi hiện đã hối tội đầu thành, sai cháu ruột là Nguyễn Quang Hiển mang biểu chiêm cận, cầu xin khẩn thiết đến mấy lần.

Trẫm thuận theo trời mà làm, có phế có hưng điều gì cũng đều đại công chí chính. Trước đây vốn định rằng đợi sang năm khi ngươi thân hành khấu cận sẽ thưởng cho tước vương. Thế nhưng khi xem những điều ngươi viết trong biểu, là lúc mới tạo bang nên cần được vinh sủng của thiên triều mới có thể giá ngự được dân chúng.

Lại nghĩ nước ngươi vừa trải qua nhiều cơn binh lửa, dân chúng chưa an cư tập hợp, nếu không được phong hiệu của thiên triều, thì e rằng gọi không có người thưa, tình hình quả như thế, ngươi đã cứ thực mà trình bày, không vẽ vời chút nào, trẫm rất là khen ngợi.

Vả lại bậc vương giả chia đất nhưng không chia dân, An Nam tuy ở nơi viêm hoang xa xôi nhưng cũng đều là con đỏ của trẫm cả, trung ngoại cũng đều như nhau. Ngươi phải dựa vào ân sủng của thiên triều mới có thể vỗ về sắp đặt để cho dân gian trong nước ai nấy an ninh làm ăn, đó là thâm nguyện của trẫm vậy.

Vì thế nay giáng ân luân, phong ngươi làm An Nam quốc vương để có danh hiệu mà cai trị vỗ về, lại đích thân làm một bài thơ ban cho ngươi để làm quốc bảo truyền đời. Từ nay mỗi khi trình tiến biểu từ cùng hành văn trong nước đều chuẩn cho viết theo danh hiệu quốc vương. Còn việc phát cấp ấn tín, sắc thư, hiện trẫm đã giao cho các nha môn soạn văn đúc triện, đợi cháu ngươi Nguyễn Quang Hiển đến kinh, giao cho đem về.

Về việc các đề trấn đại viên của thiên triều, bỏ mình trong khi lâm trận, trong nước ngươi đã lập miếu thờ cúng đủ biết đã hối tội sợ hãi nên xin quan hàm húy hiệu, trẫm cũng đã sắc cho bộ ban phát sau. Vậy ngươi hãy chăm lo kính sợ, giữ phận phiên phong để mãi mãi thừa hưởng ân quyến.

Ðặc dụ.

NGỰ THI

Bài thơ ngự chế do chính vua Càn Long viết để ban cho vua Quang Trung như sau:

三藩耆武匪佳兵,昨歲安南重有征。

無奈復黎黎厭德,爰教封阮阮輸城。

守封彊勿滋他族,傳子孫恆奉大清。

幸沐天恩欽久道,不遑日監凜持盈。

Dịch âm

Tam phiên kỳ võ phỉ giai binh,[6]

Tạc tuế An Nam trọng hữu chinh.

Vô nại phục Lê Lê yếm đức,

Viên giao phong Nguyễn Nguyễn thâu thành. [7]

Thủ phong cương vật tư tha tộc,

Truyền tử tôn hằng phụng Ðại Thanh.

Hạnh mộc thiên ân khâm cửu đạo,

Bất hoàn nhật giám lẫm trì doanh.

Dịch nghĩa

Ba phen dụng binh không phải là chuyện tốt lành,

Năm ngoái đem quân sang nước Nam cũng chỉ để chinh phạt.

Không nề lấy lại nước cho nhà Lê nhưng nhà Lê thiếu đức,

Giao lại cho nhà Nguyễn (Tây Sơn) vì đã thành tâm qui phục.

Cố gắng giữ gìn đừng để rơi vào tay họ khác,

Truyền cho con cháu giốc lòng phụng nhà Thanh.

May mắn được tắm gội ơn trời cho lâu dài,

Ngày ngày phải kính cẩn như bưng bát nước đầy.

Trong dịp bệ kiến ở Nhiệt Hà, Vũ Huy Tấn đã hoạ bài thơ này được nhà vua khen ngợi và thưởng cho một hộp mười cây bút Khuê Tảo Long Chương [奎藻龍章].

聖世衣裳代甲兵,服人言正匪言征。

未能寸土供常貢,早荷重天監至誠。

伊昔海瀕猶附國,如今藩服屬皇清。

鴻私深覺無階答,臣子長孚易缶盈。

Dịch âm

Thánh thế y thường đại giáp binh,

Phục nhân ngôn chính phỉ ngôn chinh.

Vị năng thốn thổ cung thường cống,

Tảo hạ trùng thiên giám chí thành.

Y tích hải tần do phụ quốc,

Như kim phiên phục thuộc hoàng Thanh.

Hồng tư thâm giác vô giai đáp,

Thần tử trường phù dị phẫu doanh.

Dịch nghĩa

Đời thánh nhân lấy y thường thay cho binh giáp,

Hàng phục bằng lời nói chính đáng chứ không phải bằng chinh phạt.

Chưa từng lấy một tấc đất để thay việc triều cống,

Sớm đem gánh nặng thiên tử để xét cho dạ chí thành.

Như xưa kia nước ở góc bể cũng cho phụ vào,

Thì hôm nay phên dậu cũng thuộc nhà Thanh.

Ơn to lớn biết rằng không có thể đáp đền được,

Đạo tôi con tin tưởng lâu dài chẳng khác gì chum đầy.

PHÀN III

SỰ CHUẨN BỊ CỦA NƯỚC TA


SƠ LƯỢC VỀ GIAO THIỆP VỚI TRUNG HOA

Nước ta là nước nhỏ ở cạnh một nước lớn thường xuyên bị xâm lấn nên trong việc đối xử với Trung Hoa luôn luôn phải nhún nhường nhưng lúc nào cũng thận trọng cảnh giác. Nhờ vị trí địa lý cách bức với lục địa bằng những dãy núi hiểm trở, lại thêm tính khí quật cường nên sau hàng nghìn năm nội thuộc ông cha ta vẫn giành lại được quyền tự chủ. Phan Huy Chú chép trong LTHCLC, quyển XLVI, mục Bang Giao Chí như sau:

Nước Việt ta có cả cõi đất phía nam mà thông hiếu với Trung-hoa, tuy nuôi dân dựng nước có quy mô riêng, nhưng ở trong thì xưng đế, mà đối ngoài thì xưng vương, vẫn chịu phong hiệu, xét lý thế thực phải như thế. Cho nên lễ sách phong, lễ cống sính, việc bang giao các đời đều xem là quan trọng. Kỳ gian thể lệ có khinh có trọng, có giản có phiền, trước sau hoặc có khác nhau, không thể không cho biết rõ.[8]

Khi mới được độc lập, vua nước ta đời Đinh, Lê chỉ được phong là Giao chỉ quận vương, cuối đời Lý mới được phong An Nam quốc vương.

Năm Thiên-cảm-chí-bảo thứ 2 [1175] (ngang với năm Thuần-hy thứ 2 nhà Tống), nhà Tống phong vua làm An-nam quốc vương. Bấy giờ sứ nước ta tự xa đến sính, vua Tống rất vui lòng, lại cho là vua được phong nối ngôi đã lâu ngày, biệt đãi bằng lễ khác thường, bèn chiếu cho các quan bàn bạc điển cố về việc cho tên nước mà tâu lên. [Vua Tống] đặc cách cho tên là An-nam quốc, ban ấn vàng quốc vương. Nước ta xưng là An-nam bắt đầu từ đấy.[9]

Khi nhà Tống sắp sửa diệt vong, nhà Nguyên đang mạnh, không đợi nước ta cầu xin, cả hai triều đình nhà Tống và nhà Nguyên đều cho người sang phong cho vua Trần Thánh Tông làm An-nam quốc vương. Phan Huy Chú nhận định rằng:

Các vua nhà Trần được nhường ngôi, chưa từng cầu phong ở Trung-quốc. Nhân-tông được lập, nhà Nguyên thường cho sứ sang trách là không xin mệnh mà tự lập, dụ vào chầu, nhưng Nhân-tông không nghe, cho nên Nguyên Thái-tổ chứa giận đã lâu, bèn muốn sinh sự. Năm ấy [tức là năm Trùng-hưng thứ 2,1286] muốn đưa Trần Ích Tắc về nước không được, mới đem quân xâm lược, nhưng rốt cuộc bị thua. Vì nhà Nguyên rất bất bình với nhà Trần, cho nên về sau dù có sính sứ đi lại, mà lễ sách phong suốt đời nhà Nguyên không thi hành nữa.[10]

Khi nhà Minh mới lập, vua Trần Dụ Tông sai sứ sang Trung Hoa, sau đó Minh Thái Tổ cho thị độc học sĩ Trương Dĩ Ninh và điển tịch Ngưu Lượng sang phong cho vua Trần làm An Nam quốc vương, ban cho quả ấn bằng bạc mạ vàng, núm hình lạc đà nhưng sứ giả chưa đến thì nghe tin vua Dụ Tông mất nên lại trở về.

Sang đời Lê, sau khi đánh đuổi được giặc Minh, Lê Lợi giả lập Trần Cảo làm vua dâng biểu cầu phong, nhà Minh không thuận nên lại phải gửi thư trần tình và xin nạp người vàng thế thân. Vua Minh bằng lòng sai Lý Kỳ mang chiếu dụ và sắc phong Trần Cảo làm An Nam quốc vương.

Sau khi Trần Cảo qua đời [1428], Lê Lợi trình rằng con cháu nhà Trần không còn ai để xin phong vương nhưng mãi đến 3 năm sau [1431] mới được nhà Minh mang ấn sang cho “quyền thự An Nam quốc sự” nghĩa là chỉ tạm thời trông coi việc nước mà thôi. Phan Huy Chú nhận xét:

Buổi đầu nhà Lê, sau khi đã bình giặc Ngô, chưa tiện nói rõ cầu phong, bấy giờ phải quyền nghi cho xong việc, cho nên trước hết giả lập con cháu họ Trần, dùng lời nói dịu dàng mềm dẻo để nhà Minh thôi việc binh mà nhận việc hoà hiếu. Đến khi Trần Cảo đã chết mới lại một phen bày tỏ, nói rõ cầu phong, thế mà vua Minh hãy còn lần lữa chưa cho trải ba năm mà mới cho tạm quyền việc nước, chưa chính thức phong vương vị. Như thế cũng đủ thấy sự thể bấy giờ là khó.[11]

Năm 1434, vua Lê Thái Tông sai sứ sang báo tang vua Thái Tổ nhưng nhà Minh cũng vẫn chỉ phong cho vua Lê làm “quyền thự quốc sự”. Đến năm 1443, sau khi vua Thái Tông mất, nhà Minh khi đó mới chính thức phong cho vua Lê Nhân Tông làm An Nam quốc vương. Từ đó về sau các vua nhà Lê đều được phong làm quốc vương.

Khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi, truyền đến đời cháu là Mạc Phúc Hải, năm Gia Tĩnh 19 (1540) nhà Minh thuận cho đầu phục nhưng không phong vương mà chỉ cho làm An Nam đô thống sứ, đổi nước ta thành đô thống sứ ti coi như một phần đất nội thuộc. Đô thống sứ ti là chức vụ ngang hàng tòng nhị phẩm nhưng được thế tập, ấn bằng bạc. Mạc Đăng Dung phải dâng cho nhà Minh bốn động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát thuộc về Khâm Châu và bảy châu Quảng Lăng và các trại Hồng Y và những nơi phụ cận thuộc về Vân Nam cùng đúc người vàng thế mạng. Trong tờ chiếu của vua Minh Thế Tông có đoạn như sau:

[…] Đất An-nam nhà ngươi, ở cõi Nam xa, đời đời chức cống, nhưng gần đây không đến triều cống, trẫm đã xét ra duyên do tội đó là ở ông ngươi là Đăng Dung, cho nên đã phái quan sang khám xét và đánh dẹp. Vì ông ngươi đã biết ăn năn sửa lỗi, dâng biểu xin hàng, nhận tội tự tiện truyền nối, xin hiến đất và dân, để tuỳ lệnh triều đình phân xử. Thượng thư Mao Bá-ôn tâu báo, Binh bộ đã họp bàn và đề thỉnh nói rằng ông ngươi là Đăng Dung đã biết sợ oai xin hàng và thực tình đợi tội. Trẫm trên thể theo đức hiếu sinh của thượng đế, dưới thuận theo tình muốn yên của nhân dân, tha cho hết cả mọi tội, nhưng bỏ quốc hiệu và tước vương, cho chức Đô thống sứ, và ấn bạc nha môn tòng nhị phẩm để theo chính sóc và giữ triều cống, con cháu được nối đời giữ đất[12]

Tới năm Vạn Lịch 25 (1597) khi vua Lê Thế Tông đã dẹp được nhà Mạc mới sai Phùng Khắc Khoan sang xin phong vương, biện bạch mãi nhưng cũng chỉ được phong làm An Nam đô thống sứ, ban cho ấn bạc mang về nước. Trải qua các đời vua Thế Tông, Kính Tông, Thần Tông đều chỉ được ban cho chức Đô thống sứ. Mãi đến năm 1647, khi nhà Minh bị quân Thanh đánh bại phải chạy về Vân Nam, cần nương cậy vào nước ta thì mới phong cho vua Lê Chân Tông làm An Nam quốc vương rồi sau đó lại phong cho chúa Trịnh Tráng làm An Nam phó quốc vương đại nguyên soái tổng quốc chính Thanh vương.[13] Phan Huy Chú nhận xét rằng:

Nhà Lê buổi đầu trung hưng cầu phong vương luôn luôn mà nhà Minh chưa cho. Đến đây nhà Minh đã phong quốc vương, lại có mệnh phong phó quốc vương và phụ chính vương cho Trịnh, sứ giả sách phong sang luôn không ngớt, so với trước thực khác hẳn. Đó là bởi bấy giờ nhà Minh phải chạy về phương Nam, sự thế cùng quẫn, muốn cầu cứu ở nước ta, sớm chiều mong mỏi, cho nên ân mệnh ban nhiều, không ngại gì phiền nhảm. Nay cứ đọc tờ cáo sách cũng có thể tưởng tượng biết được tình trạng đó, mà vận hội thịnh suy của nhà Minh, cũng thực đáng than.[14]

Khi nhà Thanh lấy được trung nguyên, đời Thanh Thuận Trị có đưa sắc thư sang dụ nước ta nạp ấn sắc nhà Minh ban cho nhưng lúc ấy vua Lê mới được nhà Minh phong vương nên không nhận. Khi nhà Minh hoàn toàn bị diệt, nước ta mới đem giao nạp ấn cũ và được vua Khang Hi sai bảng nhãn Trình Phương Triều và hoàng giáp Trương Dịch Bí sang phong cho vua Huyền Tông làm An Nam quốc vương, ban cho ấn bạc mạ vàng, làm lễ ở kinh đô (1667).

Năm Quí Hợi (1683), vua Khang Hi sai Ô Hắc và Chu Xán sang phong cho vua Hi Tông làm An Nam quốc vương, lại ban cho bốn chữ ngự bút đại tự “Trung Hiếu Thủ Bang” (忠孝守邦) để ban khen.

Lễ nghi nước ta tuy cũng có tham bác điển lệ nhà Thanh để hai bên không lệch nhau nhưng có qui định riêng cho đúng thể thống. Nhà Thanh đặt trọng tâm vào việc phải đón rước bất cứ những gì được ban cho như chính hoàng đế ở trước mặt nên phải làm lễ “tam quị cửu khấu” là lễ triều kiến nhà vua. Ngoài ra, mỗi hành động, mỗi giai đoạn đều có qui luật sao cho đúng với điển lệ không thể sai sót. Dưới triều Lê hai bên đã tranh biện nhiều lần về thể thức, có khi tranh cãi đến hàng tháng vẫn chưa đi đến thoả hiệp.[15]

Về việc này sử Trung Hoa chép:

Vua Càn Long nghe thế rất khó chịu nói rằng:An Nam nhiều đời là thuộc quốc, mỗi khi gặp sứ thần của triều đình đến sách phong thì phải tuân theo lễ ba quì chín rập đầu, có điều vua nước kia quen thói nước nhỏ kiến thức thô lậu … là ngoại phiên không biết thể chế, vậy bộ thần [quan bộ Lễ] phải dự bị mà bảo cho biết trước để về sau khi có việc sách phong cho An Nam thì đem điển lễ phải làm gì, cái nào trước cái nào sau nghi tiết quì lạy cho chánh phó sứ biết để mãi mãi từ nay tuân hành.”[16]

NGHI LỄ TRIỀU TÂY SƠN

Trước khi cử phái đoàn sang nước ta, quan nhà Thanh gửi thư hỏi thủ tục nghi lễ nước ta thế nào, và triều đình Tây Sơn trả lời như sau:

Trước đây chúng tôi có nhận được trát sức cho bản quốc tra chiếu điển lễ sách phong và chương trình đón tiếp các loại sự nghi gửi triệp bẩm lên để đưa tới đài chế hiến tra xét.

Theo như thế chúng tôi kê cứu rõ ràng. Điển cố bản quốc từ khi binh lửa về sau không còn gì nữa. Duy có năm Tân Tị (Càn Long 26, 1761), khâm phụng sắc phong cho vua Lê trước đây là Duy Đoan thì điển lễ còn có thể khảo được 1, 2 phần…[17]

Năm Nhâm Ngọ Càn Long 27 (1762), vua Thanh sai sứ thần là Đức Bảo và Cố Nhữ Tu sang sách phong cho Lê Duy Đoan (tức vua Hiển Tông) làm An Nam quốc vương. Nước ta xin được làm lễ “ngũ bái sự thiên[18] (五拜事天- năm vái thờ thiên tử) để thay cho lễ tam quị cửu khấu (三跪九叩) nhưng sứ nhà Thanh không đồng ý.

Nguyên từ năm Canh Thân (1740), Trịnh Doanh ép vua Ý Tông truyền ngôi cho cháu là vua Hiển Tông để lên làm Thái Thượng Hoàng nhưng đến năm Kỷ Mão (1759), thượng hoàng Ý Tông mất mới sai Trần Huy Mật và Lê Quí Đôn sang tiến cống và cáo ai để xin phong vương cho vua Hiển Tông. Thành thử khi được phong vương thì vua Lê đã lên ngôi hơn 20 năm rồi.[19]

Tính đến năm Kỷ Dậu (1789), tài liệu này là điển lệ gần nhất được dùng làm nghi thức tham chiếu và chuẩn bị cho nghi lễ phong vương cho vua Quang Trung. Tuy mấy tháng trước đây, Tôn Sĩ Nghị có làm lễ phong vương cho vua Chiêu Thống nhưng chỉ làm cho có lệ để báo cáo về triều đình nên không theo điển cũ.

Theo như thế, điển lễ nước ta mỗi kỳ lại thay đổi nên Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích phải soạn thành chương trình mới để gửi lên cho Phúc Khang An. Chúng ta cũng có thể đoán được đại lễ phong vương soạn minh bạch và ghi lại chi tiết trên giấy trắng mực đen trong Đại Việt Quốc Thư là do hai ông Phan, Ngô đã châm chước những tài liệu cũ mà biên soạn cho đầy đủ. Việc này cũng cho chúng ta biết điển lễ được biên chép cho rành mạch thành nguyên tắc là từ đời Tây Sơn, sau đó đời Nguyễn kế thừa di sản này qua công trình của hai họ Phan Huy, Ngô Thì. Vì nước ta là thuộc quốc, việc ghi chép chú trọng vào đón tiếp cung ứng sao cho phải đạo, còn nghi lễ thường phải tuỳ thuộc vào sứ thần và đòi hỏi của Trung Hoa như GS Hoàng Xuân Hãn nhận xét.

Sứ thần Trung Hoa sang phong vương khi trở về đều ghi lại chi tiết và hành trình để tâu lên vua Thanh, nước ta cũng có khi tường thuật nhưng không mấy tỏ tường, thường nặng về tranh biện ngoại giao và thơ văn xướng hoạ. Dựa theo điển lệ và những công văn còn lưu lại, việc phong vương năm Kỷ Dậu đánh dấu một thịnh sự của nước ta.


LỄ PHONG VƯƠNG CHO VUA QUANG TRUNG

PHÂN PHỐI VÀ ĐIỀU ĐỘNG NHÂN SỰ

Chính vì đặt nặng vấn đề tiếp đón nên nhiều trọng điểm ngoại giao không được quan tâm, hậu nhân khó có thể biết được lập luận của người xưa như thế nào về những việc hai bên không đồng ý. Điều may mắn cho người nghiên cứu là chính Phan Huy Ích lại trông coi việc giao thiệp với nhà Thanh đầu triều Nguyễn vốn căn cứ vào các cuộc tiếp sứ đời Lê, đời Tây Sơn nên chúng ta có thể dựng lại khá rõ ràng về tổ chức mặc dầu không nhiều về sự kiện. Cứ như các công văn qua lại trong Đại Việt Quốc Thư chúng ta biết được việc phân phối nhân sự đại lược như sau:

TRUNG ƯƠNG

Trong khi tiến hành đại lễ phong vương, vua Quang Trung tuy có qua lại giữa các trung tâm Phú Xuân, Nghệ An và Thăng Long nhưng phần lớn ông lưu ngụ tại Nghệ An là kinh đô mới chọn và đang xúc tiến việc xây dựng thành quách, cung điện. Khi mới lên ngôi, vua Quang Trung có sử dụng một số văn quan đóng vai trò cố vấn trong đó Nguyễn Thiếp chuyên về phong thuỷ, đạo thuật liên quan đến kiến trúc tân đô ở Nghệ An, Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích lo việc từ hàn giao thiệp với Trung Hoa ở Thăng Long còn Trần Văn Kỷ lo việc nội trị và hành chánh chủ yếu ở Phú Xuân.

Trước đây, GS Hoàng Xuân Hãn – dựa trên vài lời khen ngợi trong một số văn thư – có khuynh hướng cho rằng Nguyễn Thiếp là cố vấn cho vua Quang Trung về sách lược [một mẫu hình quân sư trong tiểu thuyết chương hồi], nhưng cũng chỉ là suy đoán, không có chứng cớ gì rõ rệt. Xét trên tài liệu còn để lại, Nguyễn Thiếp không hẳn đã thân cận hơn Phan Huy Ích, Ngô Thì Nhậm, Vũ Huy Tấn … nên những gì đề cao xem ra chỉ là những văn sức ngoại giao thường thấy trong thư từ ngày trước.

Theo sử triều Nguyễn và nhiều chi tiết trong gia phả họ Phan, vua Quang Trung uỷ nhiệm toàn quyền về liên lạc với nhà Thanh và điều động nhân sự trong đại lễ phong vương cho hai ông Ngô Thì Nhậm[20] và Phan Huy Ích.[21] Đại Việt Quốc Thư cũng còn một lá thư Ngô Văn Sở gửi cho Ngô Thì Nhậm bằng chữ nôm như sau:

大都督振郡公肅詞于吏部左侍郎晴派侯照灼。自忝職回朝奉侍。如役使内地。饒柬扎往復。具賢侯啟禀時忝㐌面奏德皇上御覽耒。吏判咧賢侯。忝㐌群當朝直。雙貞役使內地貝謁望賢侯。

丕沛敬修夬扎。以德聊情。如例役内地固柬牒之。賢侯沛朱歇飭。善於辭命。可經則經。可權則權。爫牢濟國事。時賢侯料理朱十分穩當。耒遲急蔑。忝職拱羅妬同憂國事。關山萬里心事半箋兹詞。

光中二年七月十七日。

Đại đô đốc Chấn Quận Công kính gửi đến Lại Bộ Tả Thị Lang Tinh Phái Hầu được rõ:

Từ khi thiểm chức về triều phụng thị, những việc lo liệu cho sứ thần nội địa, thư từ qua lại và những điều hiền hầu khải bẩm thì thiểm chức đã diện tấu hoàng thượng ngự lãm rồi.

Hoàng thượng lại ban lời hiền hầu, vì thiểm chức còn đương chầu chực nên riêng việc lo liệu cho sứ thần nội địa thì trông vào hiền hầu cả.

Vậy phải kính sửa giấy trát lấy đức liệu tình, như rầy [từ nay] việc nội địa có thư từ đưa sang, hiền hầu phải cho hết sức, khéo ở từ mệnh, cần kinh thì kinh, cần quyền thì quyền. Làm sao xong việc nước thời hiền hầu liệu lý cho thập phần ổn thoả, rồi sớm muộn độ một hai tháng, thiểm chức cũng ra đó cùng lo quốc sự. [22]

Quan san vạn dặm, tâm sự bán tiên, nay có mấy lời.

Quang Trung năm thứ hai, ngày mười bảy [17] tháng Bảy.[23]

Theo phối hợp hàng ngang, Ngô Thì Nhậm ở lại Thăng Long lo chuẩn bị nghi lễ ở Lễ Bộ Đường trong kinh thành và trạm đón khách ở Kiên Nghĩa Đình[24] ở bờ sông Nhĩ Hà [còn gọi là Phú Lương giang]. Phan Huy Ích lo liệu việc tiếp đón phái đoàn Thành Lâm ở Nam Quan rồi cùng đi từ Lạng Sơn về kinh đô. Về hàng võ, tại Thăng Long có đại tư mã Ngô Văn Sở (tước Chấn Quận Công), nội hầu Phan Văn Lân (tước Mưu Lược Hầu) cung ứng nhân sự, vệ sĩ và binh mã.

Trong dịp này, triều đình Quang Trung cũng lập riêng một bộ lấy tên lả Sách Phong Bộ (Đại Việt Quốc Thư, tr. 226), một dạng cơ quan đặc nhiệm nhằm phối hợp và điều động văn võ các cấp từ trung ương đến địa phương để lo công việc này từ lúc chuẩn bị cho đến khi hoàn tất. Theo các văn thư trong Đại Việt Quốc Thư thì hai người được coi như chủ trì là Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm mặc dù sau này vua Quang Trung có sai Nguyễn Quang Thuỳ thay mặt quốc vương ra Thăng Long đón các sứ thần thì tuy là người đứng đầu mọi sự nhưng chỉ trên danh nghĩa.

HOÀNG THÀNH THĂNG LONG

Tháng Tám năm đó, trung thư tỉnh lại Nguyễn Chí gửi văn thư cho các huyện Cẩm Giang, Đường An, Đường Hào triệu tập các quan văn võ cựu triều như Nguyễn Đình Huấn, Nguyễn Đình Bưu, Ngô Trọng Cẩn, Nguyễn Thực Uyên, Lê Hữu Thể phải chuẩn bị áo mũ đến ứng trực ở kinh đô để diễn tập nghi lễ. Những quan văn phải mặc áo thanh cát (áo dài màu xanh đen), khăn đội đầu (lương cân) và giày vớ là y phục khi vào chầu trong phủ chúa trước đây. Những chi tiết đó cho thấy y phục và đội ngũ nghinh đón sứ thẩn theo lễ nghi nước ta cũng không khác gì các đời trước. GS Hoàng Xuân Hãn chép về nghi lễ tại hoàng cung trong kỳ tiếp sứ năm Quí Hợi (1683) như sau:

… Ngày 15 (tháng Mười) các quân bộ và thủy dàn bày trận theo đồ thứ. Hai bên đường sứ đi, bày lính, voi, long kỳ, ngũ kỳ và vải mầu. Từ cửa Tam môn trở vào, thì dùng áo và mũ bằng nỉ đỏ; từ ngoài cửa Tam môn trở ra thì dùng áo vải cát bá xanh và mũ nỉ đỏ. Các quan quản binh thì từ thự vệ trở lên đã có phẩm phục, còn những người hầu nội điện từ tả hiệu điểm trở xuống thì mặc áo mũ cát bá xanh, để đứng sắp hàng.

Trong điện Kính thiên có 180 lính đứng chực… Đứng đầu về phía nam thì có các quan Đề đốc quận công và Tham đốc quận công. Trên sân điện Kính thiên, có 560 lính đứng hai bên, mỗi bên 4 hàng…

Trong sân điện Thị triều có 760 lính đứng hai bên, mỗi bên 4 hàng… Trong sân cửa Đoan môn có 1064 lính đứng hai bên, mỗi bên 4 hàng … Trong sân điện Triều nguyên có 792 lính đứng 2 bên, mỗi bên 3 hàng.

Từ cửa Tam môn đến cửa Đại hưng, bộ binh sắp hàng hai bên đường, mỗi bên hai hàng. Từ cửa Đại hưng đến dinh Tá lý ở Cấm chỉ cũng vậy. Từ Cấm chỉ đến Hàng Vải dàn 15 cơ đội bộ binh. Từ Ngã ba Hàng Vải đến sông bến Chùa Mọc dàn 27 cơ đội thủy binh.

Cắt 60 quân đội Tả xa và Hữu xa để giữ ba cửa: Đoan môn, Tam môn và Đại hưng, mỗi cửa 20 người đứng hai phía tả hữu ở trong và ngoài cửa.[25]

Xét như thế, việc bài trí, bài binh trong kỳ phong vương cho vua Quang Trung chắc cũng tương tự vì chiếu theo cách thức đón tiếp đời Lê.

Theo Đại Việt Quốc Thư, Thận Đức Hầu (không rõ tên, có lẽ là đô đốc Nguyễn Văn Thận, trấn thủ Nghệ An) được lệnh vẽ bản đồ đường đi từ đình Kiên Nghĩa “theo bờ sông vào cửa Ô Môn đến hàng Mắm, qua hàng Buồm, xuống hàng Áo, đến hàng Đào, rẽ ra hàng Túi, qua ngã ba hàng Gương lên chợ huyện, qua Cẩm Chỉ lên đình Quảng Văn vào cửa Vò Vò lên nội điện[26]

Trong hoàng thành Thăng Long, ngoài điện Kính Thiên là nơi làm đại lễ phong vương còn có điện Cần Chính [ở trước điện Kính Thiên] và điện Tiếp Thụ là nơi các sứ thần và phái đoàn ngừng lại. Theo lệ, sứ giả nhà Thanh tới Nam Môn thì những người đi theo xuống ngựa tới bên ngoài cửa Đông Trường An thì khâm sứ xuống kiệu, vua nước ta đón vào điện Kính Thiên.

Theo Đại Việt Quốc Thư, ngay giữa điện Kính Thiên là nơi để long đình, trước long đình bày hương án, dưới đất trải chiếu hoa cạp điều. Vua Quang Trung sẽ làm lễ ở trước hương án, dưới lót nan tre trải chiếu hoa cạp điều loại tốt.

Khâm sứ nhà Thanh sẽ đứng phía bên trái hương án chếch về hướng bắc, còn nhà vua đứng ở phía bên phải hương án [cùng đều trải chiếu hoa cạp điều loại tốt].

Lại bộ tả thị lang Tinh Phái Hầu (tức Ngô Thì Nhậm) và lang trung bộ Hộ Liên Phong Bá (không rõ tên) hai người đảm trách nhiệm vụ sắp xếp và bố trí mọi việc. Chúng ta thấy trong nghi lễ sách phong những nhân vật sau đây được điều động tại bộ Lễ:

LỄ BỘ ĐƯỜNG

Đảm trách

Số lượng

Nhân vật

Chức vụ

Đổng cán quan

董幹官

2 người

Ngạn Đức Hầu [岸德侯]

Chỉ huy

Long Ngọc Hầu [龍玉侯]

Cai cơ

Tuỳ đổng cán

1 huyện

Thọ Xương [壽昌]

Huyện

Hầu tiếp

1 người

Ngô Thản Quì [吳坦逵]

Cựu thiêm chi hộ phiên

Thư ký

1 người

Kiên Trung Bá Nguyễn Quốc Khuể [堅忠伯阮國]

Cựu Lễ bộ câu kê[27] khâm thủ mật sự

Thành Thăng Long theo Hồng Đức Bản Đồ[28]

clip_image002


clip_image004

Kinh thành nhà Lê (tức Thăng Long)

Tiền Lê Nam Việt Bản Đồ Mô Bản (前黎南越版圖摹本)




Nhiệm vụ

Quan chức

Số lượng

Ghi chú

Điển Nghi (trông coi mọi nghi lễ)

典儀

Cảnh Đức Hầu [璟德侯]

1

Thượng thư Bộ Hộ

Tuyên Sắc (đọc tờ sắc)

宣勅

Xuyên Trạch Hầu [川澤侯]

1

Tham mưu

Triển Sắc

(mở tờ sắc)

展勅

Luận Chính Hầu [論政侯]

Khánh Trạch Hầu [慶澤侯]

2

Phó Tri Hình Phiên

Phó Tri Hình Phiên

Thụ Sắc

(nhận tờ sắc)

受勅

Luận Chính Hầu [論政侯]

1

Phó Tri Hình Phiên

Nội Tán

(xướng lễ trong điện)

內賛

Ngôn Thuận Hầu [言順侯]

Giới Đức Hầu [界德侯]

2

Phó Tri Hộ Phiên

Tham mưu

Củ Nghi

(kiểm soát nghi lễ để chỉnh sửa nếu sai)

糾儀

 

8

 

(kiểm soát xem có ai lầm lỗi)

Chính Củ Nghi

Khánh Xuyên Hầu [慶川侯]

1

Hộ Bộ Tả Thị Lang

Đồng Củ Nghi

 

7

 

Nghị Thành Hầu [誼誠侯]

 

Cai Bạ[29]

Nghi Lễ Hầu [儀禮侯]

 

Cai Bạ

Lãng Nhuận Bá [朗潤伯]

 

Lại Bộ Lang Trung

Liên Phong Bá [蓮峯伯]

 

Hộ Bộ Lang Trung

Phượng Hoa Bá [鳳華伯]

 

Binh Bộ Lang Trung

Hồng Liệt Bá [洪烈伯]

 

Hình Bộ Lang Trung

Ninh Phái Bá [寧派伯]

 

Lại Bộ Viên Ngoại Lang

Ngoại Tán

(xướng lễ ngoài sân còn gọi là thông tán)

外賛

 

8

 
 

Thanh Phái Bá [清派伯]

 

Hộ Bộ Viên Ngoại Lang

 

Gia Đình Bá [嘉亭伯]

 

Binh Bộ Viên Ngoại Lang

 

Từ Xuyên Bá [慈川伯]

 

Hình Bộ Viên Ngoại Lang

 

Đức Xuyên Bá [德川伯]

 

Công Bộ Viên Ngoại Lang

 

Nguyễn Trước [阮著]

 

Cựu Tri Phủ

 

Nguyễn Gia Trữ [阮嘉竚]

 

Cựu Trúng thức

 

Nguyễn Gia Tuy [阮嘉綏]

 

Cựu Tri Huyện

 

Nguyễn Hoành [阮宏]

 

Giám Sinh

ĐIỆN KÍNH THIÊN VÀ ĐIỆN CẦN CHÍNH [敬天勤政殿]


Địa điểm

Nhiệm vụ

Quan chức

Số lượng

Ghi chú

Điện Kính Thiên và điện Cần Chính

Bài trí khâm tiếp

Hoà Đức Hầu [和德侯]

Thanh Xuyên Bá [青川伯]

2

Tham luận

Lễ bộ lang trung


Đảm trách

Số lượng

Nhân vật

Chức vụ

Đổng cán quan

董幹官

2 người

Ngạn Đức Hầu [岸德侯]

Chỉ huy

Long Ngọc Hầu [龍玉侯]

Cai cơ

Tuỳ đổng cán

1 huyện

Thọ Xương [壽昌]

Tri huyện

Hầu tiếp

1 người

Ngô Thản Quì [吳坦逵]

Cựu thiêm chi hộ phiên

Thư ký

1 người

Kiên Trung Bá Nguyễn Quốc Khuể

[堅忠伯阮國]

Cựu Lễ bộ câu kê[30] khâm thủ mật sự


Tên

Chức vụ

Huyện

Nguyễn Bá Sai [阮伯晐]

Cựu tham nghị

Cao Lãm [高覽]

Sơn Minh [山明]

Nguyễn Duy Hinh [阮惟馨]

Cựu tri huyện

Tả Thanh Oai [左青威]

Thanh Oai [青威]

Lê Trần Hạo [黎陳灝]

Cựu tri phủ

Nhị Khê [蘂溪]

Thượng Phúc [上福]

Nguyễn Huy Quýnh [阮輝泂]

Cựu giám sinh

Hoà Triền [禾廛]

Thạch Thất [石室]

Chu Duy Trọng [周惟重]

Cựu giám sinh

Hoà Triền [禾廛]

Thạch Thất [石室]

Hoàng Nguyễn Tuyển [黄阮選]

Cựu giám sinh

Lôi Trạch [雷澤]

Thạch Thất [石室]

Kiều Văn Chí [喬文致]

Cựu giám sinh

Tường Diễm [祥晱]

Thạch Thất [石室]

Khuất Đôn Hiếu [屈惇孝]

Cựu giám sinh

Tường Diễm [祥晱]

Thạch Thất [石室]

Đỗ Toản [杜鑽]

Cựu giám sinh

Canh Lậu [耕]

Thạch Thất [石室]

Nguyễn Duy Cự [阮惟岠]

Cựu giám sinh

Nguyễn Xá [阮舍]

Thạch Thất [石室]

Nguyễn Trù [阮璹]

Cựu giám sinh

Cung Thận [恭慎]

Thạch Thất [石室]


KIÊN NGHĨA ĐÌNH

Kiên Nghĩa Đình theo miêu tả thì ở tả ngạn sông Nhĩ Hà rồi từ đó xuống đò qua sông mới vào hoàng thành. Theo Đại Việt Quốc Thư người trông coi chịu trách nhiệm ở Kiên Nghĩa Đình là đô đốc Đông Lĩnh Hầu (Đặng Tiến Đông?) có đô chỉ huy sứ Diên Xuyên Hầu phụ tá.

Đảm trách

Số lượng

Nhân vật

Chức vụ

Đổng lý quan

董理官

2 người

Đông Lĩnh Hầu [東嶺侯]

Đô đốc, đổng lý

Diên Xuyên Hầu [延川侯]

Đô chỉ huy sứ, phó đổng lý

Tuỳ đổng lý

1 huyện

Quảng Đức [廣德]

2 tri huyện

Hầu tiếp

2 người

Đức Phong Bá Nguyễn Đề

[德峯伯阮偍]

Cựu lang trung

Trần Quang (Huy?) Lịch

[陳光爏]

Cựu tri phủ

Thư ký

1 người

Hồ Trung Hầu [胡忠侯]

Thị nội mật sự

Đồng thư ký

1 người

Gia Trung Bá Nguyễn Khắc Gia

[嘉忠伯阮克嘉]

Hộ bộ câu kê

Tuỳ thư ký

2 người

Hiến Trung Hầu Hoàng Trọng Hiến

[獻忠侯黄仲獻]

Vũ Tá Quỹ [武佐揆]

(cựu) Binh bộ ti lại

Hộ bộ ti lại

TRẤN KINH BẮC

Trấn Kinh Bắc khi đó do trấn thủ Tân Nhuận Hầu Nguyễn Văn Thường và hiệp trấn Giảng Đức Hầu Hoàng Công Phương trấn nhậm. Kinh Bắc từ nam lên bắc bao gồm các công quán là Gia Quất [嘉橘], Lã Khôi [呂瑰], Thị Cầu [巿梂], Thọ Xương [壽昌], Cần Doanh [芹營], Tiên Lệ [先麗].

Công quán

Các huyện phụ trách cung đốn

Ghi chú

Gia Quất

嘉橘

Gia Lâm

嘉林

Võ Giang

武江

Có thêm 3 huyện Lương Tài [良才], Yên Phong [安豊], Kim Hoa [金華] vì sứ thần ở lại thêm nhiều ngày

Lã Khôi

呂瑰

Đông Ngạn

東岸

Văn Giang

文江

 

Thị Cầu

市梂

Siêu Loại

超類

Tiên Du

僊遊

 

Thọ Xương

夀昌

Quế Dương

桂陽

Tiên Phúc

先覆

 

Cần Doanh

芹營

Yên Dũng

安勇

Hiệp Hoà

洽和

 

Tiên Lệ

先麗

Yên Thế

安世

Bảo Lộc

保祿

 

clip_image006

Trấn Kinh Bắc

Hồng Đức bản đồ


Công quán Gia Quất

Gia Quất thuộc huyện Gia Lâm trấn Kinh Bắc là nơi gần kinh đô nên cũng đặc biệt quan trọng trong việc cung ứng và hầu tiếp.

Nhiệm vụ

Quan chức

Số lượng

Ghi chú

Đổng Cán Quan

董幹官

Cai Cơ

 

1

Quí Ngọc Bá [貴玉伯] (Hầu?)

Hiệp Đổng Cán

Cựu Võ Ban

 

1

Xuân Lãnh Bá [椿嶺伯] Nguyễn Duy Xuân [阮惟椿]

Tuỳ Đổng Cán

Câu Kê

Cai Hợp[31]

Thủ Hợp[32]

Thủ Hợp

Công Bộ

4

Nghi Lễ Bá [儀禮伯]

Thuỵ Đức Tử [瑞德子]

Liên (Tuân?) Tài Tử [連才子]

Cận (Tiến?) Đức Tử [近德子]

Tuỳ sai

Gia Lâm [嘉林]

Võ Giang [武江]

Lương Tài [良才]

An Phong [安豊]

Kim Hoa [金華]

5 huyện

2

2

2

2

2

quan huyện (phân tri và phân suất)

quan huyện (phân tri và phân suất)

quan huyện (phân tri và phân suất)

quan huyện (phân tri và phân suất)

quan huyện (phân tri và phân suất)

Tuỳ sai

Ti Lại

Nghi Trung

Trừu Trung

Ti Lại

Cai Hợp

Cai Hợp

Thủ Hợp

Hình Bộ

Công Bộ

2

3

Lê Đình Nghi [黎廷儀]

Nguyễn Đức Trừu [阮德抽]

Tiêu Trung Tử [標忠子]

Điều Trung Tử [條忠子]

Tân (Thực?) Trung Tử [賓忠子]

Hầu tiếp

Đề đốc

Cựu trợ giáo

Cựu trúng thức

Học chính

Quốc Tử Giám

3

Nguyễn Đường [阮棠]

Nguyễn Hiến [阮憲]

Nguyễn Quốc Ninh [阮國寧]

Thư ký

Câu Kê Khâm Thủ Mật Sự

 

1

Tích Thiện Bá Đào Kim Thự

[積善伯陶金曙]

Tuỳ thư ký

Ti Lại

Ti Lại

Hộ Bộ

Hộ Bộ

2

Vân Trung Tử Hoàng Huy Vân

[雲忠子黃輝雲]

Uẩn Trung Tử Hoàng Đức Uẩn

[蘊忠子黃德蘊]


Công quán Lã Khôi

Nhiệm vụ

Quan chức

Số lượng

Ghi chú

Đổng lý

   

1

Tân Nhuận Hầu [賓潤侯]

Tuỳ sai

2 huyện

Đông Ngạn [東岸]

Văn Giang [文江]

 

2

2

quan huyện (phân tri và phân suất)

quan huyện (phân tri và phân suất)

Hiệp với quan huyện thi hành công vụ

Câu Kê

Câu Kê

Thủ Hợp

Bộ Lại và Bộ Công

3

Nguyễn Đăng Hiệu [阮登校]

Phạm Hữu Toại [范有遂]

Đào Phan Ánh [陶潘映]

Thư Ký

Câu Kê

Bộ Hộ

2

Kiện Trung Bá Phạm Kiện

[徤忠伯范徤]

Cảo Trung Bá Lê Thế Cảo

[黎世縞]

Ngoà dụng hai danh sách trên, Đại Việt Quốc Thư cũng có đề cập cựu tri huyện Phạm Hữu Độ và cựu nho sinh trúng thức Lưu Trần Dung điều động dưới danh nghĩa trưng sĩ [nhà nho được vua vời ra].[33]
Công quán Thị Cầu

Nhiệm vụ

Quan chức

Số lượng

Ghi chú

Đổng lý

   

1

Tân Nhuận Hầu [賓潤侯]

Tuỳ sai

2 huyện

Siêu Loại [超纇]

Tiên Du [仙遊]

 

2

2

Huyện quan (phân tri và phân suất)

Huyện quan (phân tri và phân suất)

Ti lại

Thủ hợp

Thủ hợp

Bộ Binh

2

Hiệp với huyện quan tuỳ hành công vụ

Đào Nhữ Đông [陶汝東]

Nguyễn Thọ Vực [阮壽域]

Hầu tiếp

Cựu ti vụ

Cựu huấn đạo

Bộ Công

2

Trịnh Quí Thịnh [鄭貴晟]

Nguyễn Mậu [阮茂]

Thư ký

Sai từ các loại

Ti lại

Trung Thư tỉnh lại

Bộ Hộ

2

Phạm Đình Dục [范廷煜]

Nguyễn Đình Chí [阮廷志]


Công quán Thọ Xương

Nhiệm vụ

Quan chức

Số lượng

Ghi chú

Đổng lý

Trấn thủ Kinh Bắc

 

1

Tân Nhuận Hầu [賓潤侯]

Tuỳ sai

2 huyện

Quế Dương [桂陽]

Tiên Phúc [仙覆]

 

2

2

Huyện quan

Huyện quan

Ti lại

Câu kê

Bộ Hộ

Hiệp Trung Bá [洽忠伯]

3

Hiệp với huyện quan tuỳ hành công vụ

Dương Hữu Bân [楊有彬]

Trần Đình Ban [陳廷班]

Nguyễn Lương [阮樑]

Hầu tiếp

Cựu tự thừa

Cựu giám sinh

 

2

Đặng Công Hạo [鄧公灝]

Vũ Huy San [武輝珊]

Thư ký

Sai từ các loại

Ti lại

Trung Thư tỉnh lại

Bộ Lễ

2

Nguyễn Khắc Nhuệ [阮克銳]

Trần Đình Tại [陳廷在]



Công quán Cần Doanh

Nhiệm vụ

Quan chức

Số lượng

Ghi chú

Đổng lý

Trấn thủ Kinh Bắc

 

1

Tân Nhuận Hầu [賓閏侯]

Tuỳ sai

2 huyện

Yên Dũng [安勇]

Hiệp Hoà [洽和]

 

2

2

Huyện quan

Huyện quan

Ti lại

Ti lại

 

Bộ Lễ

Bộ Công

1

1

Hiệp với huyện quan tuỳ hành công vụ

Lê Đức Yên [黎德煙]

Vũ Trọng Hiểu [武仲曉]

Hầu tiếp

Cựu tri phủ

Cựu tri huyện

 

2

Trương Bá Viện [張伯院]

Nguyễn Danh Diệu [阮名耀]

Thư ký

Sai từ các loại

Ti lại

Trung Thư tỉnh lại

Bộ Lễ

2

Phạm Đăng Viên [范登垣]

Bùi Xuân Tịnh [裴春並]



Công quán Tiên Lệ

Nhiệm vụ

Quan chức

Số lượng

Ghi chú

Đổng lý

Trấn thủ Kinh Bắc

 

1

Tân Nhuận Hầu [賓閏侯]

Tuỳ sai

2 huyện

Yên Thế [安世]

Bảo Lộc [保祿]

 

2

2

Huyện quan

Huyện quan

Câu kê

Cai hợp

 

Bộ Công

1

1

Hiệp với huyện quan tuỳ hành công vụ

Giám Trung Tử [鑑忠子]

Tiêm Trung Tử [暹忠子]

Hầu tiếp

Cựu tri huyện

Cựu nho sinh trúng thức

 

2

Nguyễn Khuê [阮奎]

Lê Đình Nghi [黎廷儀]

Thư ký

Trung Thư tỉnh lại

 

1

Đỗ Đăng Thể [杜登體]

TRẤN LẠNG SƠN

Lạng Sơn là cửa ngõ của nước ta giáp giới Trung Hoa, là nơi nhận tin tức để chuyển về Thăng Long. Dịch phu 1000 người, ngựa 100 con do đô đốc Lê Xuân Tài [黎春材] tuyển mộ đưa đến cửa quan đợi lệnh đón tiếp. Theo thứ tự từ nam lên đến cửa ải nước ta có những công quán và trạm dịch như sau:

Chi Lăng [支棱]

Nhân Lý [仁里]

Thành Đoàn [城團]

Pha Luỹ [坡壘]

Các công quán Thành Đoàn, Nhân Lý, Chi Lăng, Pha Luỹ thuộc địa phương Lạng Sơn, việc chuẩn bị phòng ốc khí dụng các món cung đốn đều giống nhau.

Các dãy công đường thì chính giữa là một toà phương đình là nơi để bày long đình. Nơi nghỉ của quan khâm sứ là 2 dãy, mỗi dãy 5 gian 2 chái. Hai bên tả hữu có 2 dãy nhà xuyên ra, mỗi bên 5 gian. Nhà bếp là một dãy 5 gian, nghi môn một dãy 3 gian.

Chuồng ngựa một tàu 4 dãy, mỗi dãy 3 gian. Chuồng xí 4 nơi, mỗi nơi một gian. Chung quanh có rào thưa và rào mau đều theo lệnh mới làm.

Khí dụng các món đợi đưa lên công đường hai vị khâm sứ đại nhân.

 

Loại

Số lượng

Ghi chú

Công đường hai vị khâm sứ

       
 

Giường

12 cái

 
 

Ghế ngồi

坐椅

4 cái

 
 

Bàn

卓子

4 cái

 
 

Chiếu tre

竹笆

40 cái

 
 

Mâm lớn

大盤

20 cái

 
 

Khay trà

茶盤

20 cái

 
 

Nồi gang lớn

大鉄鍋

40 cái

 
 

Nồi gang vừa

中鉄鍋

14 cái

 
 

Bát lớn

大碗

200 cái

 
 

Bát vừa

中碗

200 cái

 
 

Đĩa

200 cái

 
 

Chén uống trà

茶盃

200 cái

 
 

Chén uống rượu

酒盃

200 cái

 
 

Chiếu

40 đôi

 
 

Chậu rửa

洗盆

16 cái

 
 

Chân đèn

灯檠

40 cái

Có cả đĩa đèn

 

Nến

蠟燭

20 cây

 
 

Đũa

400 đôi

 

Các món cung đốn chờ đưa lên công đường hai vị khâm sứ đại nhân [316]

 

Loại

Số lượng

Ghi chú

Công đường hai vị khâm sứ

       
 

Heo

4 con

 
 

Ngỗng

4 con

 
 

29 con

 
 

Vịt

29 con

 
 

Thịt heo

猪肉

300 cân

 
 

Gạo

700 cân

 
 

Rượu

8 vò

 
 

Dầu

水油

20 cân

 
 

Dấm

20 cân

 
 

Trứng

200 trái

 
 

Trà

20 cân

 
 

Gừng

10 cân

 
 

Hành tỏi

葱,菻

10 cân

 
 

Muối

20 cân

 
 

Củi

柴薪

40 gánh

 
 

Cỏ cho ngựa ăn

馬草

40 gánh

 
 

Thóc nuôi ngựa

飼馬粟子

100 cân

 

clip_image008

Hình 1: Trấn Lạng Sơn

Tiền Lê Nam Việt Bản Đồ Mô Bản (前黎南越版圖摹本)


TRẤN NAM QUAN

Theo Đại Việt Quốc Thư, việc sắp đặt nhân sự ở cửa Nam Quan gồm có:

Trọng chức hàng võ và hàng văn (hai người)

Vũ Vĩnh Thành

武永成

Dũng Phái Hầu [勇派侯]

đô đốc

Phan Huy Ích

潘輝益

Thuỵ Nham Hầu [瑞岩侯]

[Hình bộ] tả thị lang

Hầu mệnh [tuỳ theo việc mà ra lệnh] (bốn người)

Lê Doãn Điều

黎允調

Tô Xuyên Hầu [蘇川侯]

hiệp trấn Lạng Sơn

Phan Tú Đạo

潘秀道

Đạo Thành Hầu [道成侯]

chánh sứ Tạ Ân Bộ

Đào Xuân Lan

陶春蘭

Mi Xuyên Bá [湄川伯]

phó sứ Tạ Ân Bộ

Đoàn Nguyễn Tuấn

段阮俊

Hải Phái Bá [海派伯]

[Hàn Lâm Viện] hiệu thảo

Ngoài ra còn có Duy Thiện Hầu Lê Nho Hứa là trấn thủ Lạng Sơn được cắt đặt đứng ngoài phái đoàn nhưng trông coi mọi việc sắp đặt nhân sự, phương tiện cho cả phái đoàn nước ta lẩn phái đoàn nhà Thanh.


clip_image010

Cửa Nam Quan thông sang nước ta

Hình chụp cuối thế kỷ XIX


clip_image012

Nam Quan thế kỷ XIX

Đằng trước là Ngưỡng Đức Đài và các toà nhà là chỗ ở của sứ thần

clip_image014

Phía Bắc là Chiêu Đức Đài

Cách 10 dặm có một thủ bị đóng quân

Những hình vẽ này trích trong

Bắc Sứ Thuỷ Lục Địa Đồ (北使水陸地圖) năm Canh Thìn (1880) đời Tự Đức

PHẦN IV

NGHI LỄ ĐÓN TIẾP

Trước đây, khi định cử một phái đoàn tiền sát, nhà Thanh theo đúng lệ chuẩn bị mọi phương tiện và chỉ nhờ nước ta điều động một số phu phen, xe ngựa để thay thế khi mệt nhọc.Vì có sự chuyển đổi từ một phái đoàn báo tin thành sứ thần phong vương, việc tổ chức đón rước cũng thay đổi theo, cờ quạt chiêng trống dài đến mấy dặm.

Từ Nam Quan xuống Thăng Long phải đi qua hai trấn là Lạng Sơn gồm 4 trạm và Kinh Bắc gồm 6 trạm rồi mới tới kinh đô. Đường sá nước ta thì 6 trạm đầu [4 trạm Lạng Sơn và 2 trạm Kinh Bắc] là đường núi nên việc đi lại khó khăn, mỗi trạm cách nhau 3 trống canh (tính ra đi khoảng 6 giờ ngày nay) vì dịp này là những tháng mưa dầm, lầy lội nên xa mã không thể đi nhanh. Từ Thọ Xương xuống kinh đô đường sá bằng phẳng rộng rãi nên cần biểu dương cờ quạt tiền hô hậu ủng để dân chúng có dịp chiêm ngưỡng.

Tổ chức nghi lễ

Tổ chức các trạm đón tiếp

Cho đến cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, sứ thần Trung Hoa sang phong vương cho vua nước ta đều làm lễ ở Thăng Long. Việc tiếp đãi và cung đốn cho phái đoàn được điển chế qui định rõ ràng.

Các trạm từ Nam Quan xuống Thăng Long

Trong lễ phong vương cho vua Quang Trung, việc tổ chức các trạm và công quán liệt kê như sau:

Quán dịch

Khoảng cách

Ghi chú

Trấn Nam Quan

     

13 tháng Chín mở cửa ải đến Văn Uyên nghỉ lại

Trấn Lạng Sơn

[諒山]

Văn Uyên

 

10 dặm

1 dặm bằng 270 tầm hay 540 mét

       

14 khởi hành đến Lạng Sơn nghỉ lại

 

Pha Luỹ

[坡壘]

 

Tức Đồng Đăng, huyện lỵ Văn Uyên

 

Thành Đoàn[34]

[城團]

30 dặm

Trấn sở Lạng Sơn và phủ lỵ Trường Khánh

15 khởi hành đến Nhân Lý nghỉ lại

 

Nhân Lý

[仁里]

30 dặm

Huyện lỵ Ôn châu, Quỷ Môn quan có đền thờ Mã Viện

16 khởi hành đến Chi Lăng nghỉ lại

 

Chi Lăng

[支陵]

30 dặm

Phía nam Quỷ Môn quan

17 khởi hành đến Tiên Lệ nghỉ lại

Trấn Kinh Bắc

[京北]

       
 

Tiên Lệ

[先麗]

 

18 khởi hành đến Cần Doanh nghỉ lại

 

Cần Doanh

[芹營]

40 dặm

Huyện Bảo Lộc còn có tên Trà Sơn hay Kép

18 khởi hành đến Thọ Xương nghỉ lại

 

Thọ Xương

[壽昌]

40 dặm

Phủ lỵ Lạng Giang, bờ bắc sông Thương

19 khởi hành đến Thị Cầu nghỉ lại

 

Thị Cầu

[巿梂]

40 dặm

Trấn sở Kinh Bắc, phía nam sông Cầu

20 khởi hành đến Lã Khôi nghỉ lại

 

Lã Khôi[35]

[呂瑰]

10 dặm

Bờ nam sông Thiên Đức

21 khởi hành đến Gia Quất nghỉ lại

Công quán

Gia Quất

[嘉橘]

5 dặm

22 tháng Chín đến Gia Quất

Huyện Gia Lâm

Kinh đô Thăng Long

       
 

Kiên Nghĩa Đình

[堅義亭]

 

Bên bờ sông Nhĩ Hà

 

Lễ Bộ Đường

[禮部堂]

 

Trong quốc đô

Làm lễ ngày 15 tháng Mười

Việc cung đốn ở các công quán được ghi lại kỹ lưỡng trong Đại Việt Quốc Thư, tập III. Nói chung, cách thức bài trí, tiếp đãi, sắp đặt và cung ứng cho từng địa điểm được coi như lề luật chung cho mọi thời kỳ. GS Hoàng Xuân Hãn viết như sau:

Phần lớn, trong vùng núi, nhà lợp tranh, chia làm hai khu, có rào kín hai tầng. Vào địa phận Kinh-bắc, trạm thường có nhà gỗ, nhưng khi sứ tới thì làm thêm nhà tre. Các trạm Thọ-xương, Thị-cầu và Lã-côi ở tại những làng lớn, thì dùng đình làng làm nhà chính. Ý chừng Công-quán ở Gia-quất có dinh-thự đàng hoàng vĩnh viễn, cho nên không thấy Phan Huy Chú nói gì tới.[36] Còn dụng cụ thì kể ra cũng thô sơ trừ ở Công quán, nơi các sứ trú lại khá lâu. Ở đấy mỗi Chánh sứ được cấp: 1 bộ đài chén bạc, 1 bình rượu bạc, 6 bát sứ bít bạc, 12 đĩa bít bạc, 2 chậu thau, một bằng thau, một bằng gỗ sơn son, 4 đôi đũa ngà cắm giá khảm xà cừ, 1 ghế tréo sơn son, 1 bàn sơn cánh gián, 1 đẳng, 1 giường, 1 phản đều sơn cánh gián, vân vân … Tại các trạm, có lệ cung đốn các thức ăn uống, do các địa phương nộp. Riêng ở Công quán, triều đình thường mời mọc dự yến tiệc [37]

HÀNH TRÌNH CỦA SỨ BỘ

Lễ mở cửa quan

Theo Đại Việt Quốc Thư (tr. 96-101), ngày 13 tháng Chín (Kỷ Dậu), giờ Mùi, hai bên đã làm lễ mở cửa quan để sứ thần Thành Lâm, Vương Phủ Đường và phái đoàn từ Lạng Sơn xuống Thăng Long làm lễ phong vương cho vua Quang Trung. Nghi thức đó được nhà Thanh tường thuật như sau:

Ngày hôm đó văn võ quan viên đã đến cửa quan từ trước. Quan binh người Hán đã sắp hàng chỉnh tề thành đội ngũ. Chấp sự các ti ai vào việc nấy đợi đại nhân từ mạc phủ khởi hành, trước hết báo hiệu đã qua núi rồi đến nghi trượng của đội đi đầu, chiêng trống đưa tòa long đình, hai đôi lính cầm giáo, ngựa và lọng quạt các loại, sau đó đại nhân [tức sứ thần nhà Thanh Thành Lâm] qua cửa quan.

Nhạc trổi lên rồi nổ ba tiếng pháo bắn lên trời. Các quan viên văn võ ở Chiêu Đức đài [昭德臺] quì xuống đón tiếp long đình vào trong đài xếp đặt. Sau đó mời đại nhân tiến vào trong các an tọa.

Đến giờ tốt bẩm sự quan mời sứ thần rời Chiêu Đức đài cùng các quan văn võ đứng hầu bên trái phải long đình.

Bẩm sự quan xướng:

– Tế thổ thần, quan thần [thần đất và thần coi cửa Nam Quan]

Lễ sinh dẫn quan viên tế thổ thần. Lễ xong, bẩm sự quan quì dưới đài xướng:

– Phát cổ lôi [đánh trống]

Quan đánh trống gióng ba hồi. Bẩm sự quan lại xướng:

– Cổ báo tất [trống báo hiệu đã xong]

Rồi ở dưới đài bẩm xin lệnh vua để mở cửa quan. Hai viên hoàng lệnh quan quì dưới đài xướng:

– Lãnh hoàng lệnh [nhận lệnh vua]

Hai viên quan phát hoàng lệnh bưng hoàng lệnh đưa cho chấp hoàng lệnh quan nhận chìa khóa [鎖鑰 –tỏa dược] quì xuống dưới đài xướng:

– Tỏa thược phát [đưa chìa khóa]

Viên tỏa thược quan đưa chìa khóa cho viên lãnh tỏa thược quan rồi cùng với chấp hoàng lệnh quan cầm lệnh vua đến mở cửa quan. Lễ sinh lại xướng:

– Khai quan [mở cửa]

Lãnh tỏa dược quan cầm chìa khóa mở cửa. Nhạc trổi lên. Ba tiếng pháo lệnh. Quan binh người Hán đâm nhứ ba lượt giáo. Lãnh tỏa dược quan và quan cầm hoàng lệnh đều quay về dưới đài chia ra đứng hai bên tả hữu. Lãnh tỏa dược quan lại xướng:

– Kiểu tỏa dược [cất chìa khóa]

Viên quan giữ chìa khóa nhận lại để lên bàn. Bẩm sự quan quì dưới đài xướng:

– Mời hoàng lệnh đưa di quan nhập quan.

Hai viên chấp hoàng lệnh quan cùng đem hoàng lệnh tới cửa quan, dụ cho hai người thông sự ra khỏi cửa quan đưa các di quan vào, tới dưới đài hướng về long đình hành lễ. Nhạc lại trổi lên, lễ sinh xướng:

– Bài ban, ban tề [xếp thành hàng ngang, quay mặt vào long đình]

Sau đó làm lễ tam quị cửu khấu [ba lần quì, chín lần khấu đầu là lễ bái kiến hoàng đế. Ở đây tuy không có vua Thanh nhưng sắc thư cũng là đại diện của nhà vua].

Chấp hoàng lệnh quan dẫn các di quan [các nước bên ngoài Trung Hoa gọi là di quốc nên quan nước ta họ gọi là di quan] ra khỏi cửa quan đem các đồ dự bị đón long đình vào Chiêu Đức đài, các nghi trượng cũng vào theo. Nhạc lại trổi.

Quan bưng sắc cùng quan bưng ngự thi trao cho di quan. Di quan quì xuống nhận lấy, đứng lên chia ra hai bên, cung kính để lên long đình. Lại ba tiếng pháo thăng thiên [pháo lệnh] nổ, các nghi trượng đi trước, kế đến là văn võ quan viên chia ra hai bên quì xuống đưa tiễn long đình xuất quan.

Đoàn người tạm dừng ở đài Ngưỡng Đức [đài Ngưỡng Đức ở phía nước ta, đối xứng với đài Chiêu Đức ở phía Trung Hoa]. Bẩm sự quan lại xướng:

– Xin đại nhân lên nội các.

Viên thông ngôn dẫn các di quan tiến vào, lễ sinh xướng:

– Làm lễ nhất quị tam khấu đầu.

Đại nhân [tức sứ thần nhà Thanh] đứng dậy chắp tay rồi ngồi xuống ra lệnh cho di quan ngồi trên tấm chăn đỏ trải dưới đất ở phía bên phải, ban cho trà. Uống trà xong, thông sự dẫn di quan đứng lên rồi mời sứ thần lên ngựa ra khỏi cửa quan, những người được sai đi hộ tống cũng ra theo. Các quan văn võ, hai người lễ sinh, hai người thông sự [thông ngôn], các chấp sự, binh dịch mang hành trang xuất quan sau cùng.

Nhạc lại trổi lên, súng bắn lên ba lần, các quan viên văn võ đứng trước cửa quan đưa tiễn xong, những người ra khỏi cửa quan lên đường, Nghi trượng và tiếng hiệu quá sơn, những người tấu nhạc các loại đi đầu, kế đến là long đình, sau nữa là hai chiếc lọng đi ngang bên ngựa. Đi sau là sứ thần rồi đến tọa kỵ các người tùy tòng rồi đến các viên mục đến đón, các vệ sĩ có nhiệm vụ áp tống nghi trượng và viên mục, liền được lệnh đi trước để tiện việc ước thúc binh lính, phu dịch, để không ai đi nhanh lên trước hay lạc ở sau. Còn các thùng hòm hành lý thì đưa cho người mang đi đến các trạm trước, đến trạm sắp đặt cung ứng.[38]

Nghi thức này cũng phù hợp với những thủ tục chép trong sử nước ta đời Lê hay đời Nguyễn. Đại Nam Hội Điển Sự Lệ quyển 129 chép:

Khi tiếp được tin báo ngày mở cửa quan [ngày 13 tháng Chín], lập tức đem số mục nhân viên sứ bộ cùng số rương gánh phi báo cho các địa phương, tề tựu 2 đài Ngưỡng Đức trên cửa quan, bài trí sẵn voi, ngựa, cờ, giáo.

Sứ Thanh đến cửa quan, bắn 3 phát pháo lệnh rồi mở khoá cửa. Bên ta cũng bắn 3 phát pháo lệnh trả lời; quân sĩ mở cờ, đồng thanh dạ ran hưởng ứng. Kế đó súng điểu sang đều bắn 3 phát.

Chờ khi nước Thanh uỷ người đến mời thời quan đón mệnh, quan tỉnh Lạng Sơn cùng các viên thù phụng thư ký đều mặc mũ áo đến trước đài Chiêu Đức làm lễ triều bái. Sứ Thanh mời vào hậu đường thời đưa thơ và phẩm vật ra mừng các viên đi hộ tống sứ bộ, làm lễ chào yết. Chờ họ sai người đem những rương tải đến giao nhận xong, liền sai vệ sĩ đem long đình, hương án, nghi hương, nhã nhạc đến trước đài Chiêu Đức. Sứ nước Thanh bưng cáo văn, sắc thư đặt vào 1 long đình, lại bưng dụ văn đặt vào một long đình nữa.[39] Bên Thanh và bên ta đều bắn 3 phát pháo lệnh rồi qua cửa quan. Quân sĩ đồng thanh dạ ran đều bắn 3 phát điểu sang rồi chiếu theo lệ hành quân, nổi trống lớn tiến hành. Nghi trượng đi trước, nhã nhạc tiếp theo – nhã nhạc rước đi nhưng không cử nhạc – Thứ đến gươm trường, thứ đến long đình, thứ đến kiệu sứ Thanh, thứ nữa đến ngựa nhân viên tuỳ tòng. Võng ngựa các quan đợi mệnh tiếp theo đi hộ tống. Biền binh, voi, ngựa đều lần lượt theo sau. Những viên thù phụng, thư ký đều theo đi. Khi đến công quán Lãng (sic) Mai [Lạng Mai là Mai Pha thuộc Lạng Sơn, tức Đồng Đăng], Các viên đón mệnh đem theo và phẩm vật đến làm lễ chào yết sứ nước Thanh.[40]

Khi qua khỏi Nam Quan, nước ta làm lễ khao thưởng sứ đoàn nhà Thanh, lễ vật bao gồm:[41]

Loại

Số lượng

Nguyên bản

Trâu

1 con

水牛

Heo

2 con

Ngỗng

5 con

Vịt

10 con

1 con

10 con

Chim

10 con

Rượu

2 vò [圩]

Trong tấu thư của Phúc Khang An dựa theo bẩm thiếp của Thành Lâm gửi từ trạm Nhân Lý thì hành trình như sau:

Cứ như bẩm thiếp của Thành Lâm tại trạm Nhân Lý [仁里] nước An Nam gửi đến trong đó định ngày xuất quan là 13 tháng Chín.

Trước đó 12 ngày, quốc vương đã ủy thác cho Lê Xuân Tài đưa một nghìn nhân phu, một trăm con ngựa cùng năm trăm vệ sĩ cung kính dàn nghi trượng ở trước cửa quan, nghinh đón sắc thư và ngự thi.

Lê Xuân Tài tiến quan đến trước long đình đặt ở Chiêu Ðức Ðài hành tam quị cửu khấu lễ rồi lui ra quan ngoại ở đó. Ngày 13 mở cửa xuất quan thấy nghi trượng đầy đủ, di quan văn võ lớn nhỏ suất lãnh vệ sĩ, hộ vệ long đình, kèn trống chấp sự kéo dài đến bảy tám dặm, khi đi ngang qua thôn xã nào thì người dân đỡ già bồng trẻ đứng dọc hai bên đường hoan nghênh.

Ngày hôm đó đến châu Văn Uyên, thấy ngoài thôn dọn sạch một khoảnh đất rộng, thiết lập một tòa công quán cực kỳ sạch sẽ, cung kính rước long đình lên đặt ngay giữa sảnh đường, các quan viên binh biền ở những phòng ốc phía sau và hai bên tả hữu. Theo lời Lê Xuân Tài bẩm xin yết kiến nói rằng quốc trưởng nước tôi được ơn lớn như trời của đại hoàng đế ban cho phong hiệu, toàn dân trong nước ai ai cũng chắp tay lên trán nói rằng bách tính An Nam từ nay được hưởng thái bình mãi mãi.

Ðây là trạm đầu tiên ở ngoài quan ải già trẻ chiêm ngưỡng long đình, ai nấy đều rập đầu tận đất lạy tạ thánh ân. Năm nay nước mưa thu quá nhiều, đường sá lầy lội hiện đang tu sửa gấp gáp nhưng lúc mưa lúc tạnh bất thường.

Từ Lê thành đến Trấn Nam Quan chia ra chuẩn bị mười trạm để phòng giữa đường có trở ngại. Quốc trưởng nước tôi hiện đang từ Nghĩa An trở về Lê thành nên sai chúng tôi đến trước cung kính nghinh đón ân phong và chuẩn bị mọi việc.

Y lại bẩm rằng đã đem đến bò dê gà lợn cùng các loại củi gạo rau xin cho biết cần dùng bao nhiêu để chuẩn bị đem đến. Các ủy viên nói rằng đồ ăn thức uống cùng vật dụng cần dùng hàng ngày cũng đã chuẩn bị mang theo còn củi gạo rau dưa và những nhu cầu bất thường thì có thể mua sắm tại địa phương, các ông không phải lo liệu nhiều.

Bọn họ khẩn khoản nài nỉ nói rằng chúng tôi được sai đến đây chỉ để cung nghinh sắc thư và ngự thi cùng chiếu liệu phu mã trên đường, các đồ ăn uống đã chuẩn bị đầy đủ, nếu không thưởng thu để quốc trưởng biết được thì sẽ khiển trách. Chúng tôi trao trả các loại bò dê và thực phẩm sống, các loại khác mười phần chỉ lấy một hai. Lại xem trong số phu mã xuất quan chọn ra những người ngựa mệt mỏi theo đúng số lượng đổi với họ nhưng cũng thưởng cấp ngân lượng.

Chiều tối hôm đó các di quan nghỉ ngơi ngay bên cạnh long đình. Lê Xuân Tài ở ngoài cửa chỉ huy vệ sĩ bố trí canh gác chung quanh, cực kỳ nghiêm túc. Sáng sớm ngày 14 lại rước long đình ra đi, nghi trượng kèn trống giống như trước, đến Lạng Sơn nghỉ lại. Ngày 15 đến trạm Nhân Lý, nơi đây cũng đã thiết lập công quán.

Quan ngoại từ Lạng Sơn trở về nam hầu hết là núi non, khe suối sông ngòi đều đã dựng cầu, đường đi cũng tu bổ nên không trở ngại. Hỏi thì các di quan nói rằng lúc này đã qua mùa hoàng mao chướng, khí hậu mát hơn xin cứ an tâm mà đi. Sau khi xuất quan hỏi thăm tình hình các nơi trong nước thì đều an ninh.[42]

Sứ thần nhà Thanh ghi chép về việc đi xuống Thăng Long tương đối giản lược:

Nói về long đình cùng đại nhân [sứ thần nhà Thanh] trên đường đi, di quan nghinh tiếp, mỗi khi long đình đến đều ở hai bên đường quỳ đón. Mỗi khi đến quán xá đều đặt ngay tại chính giữa phòng cho tiện việc tiếp đón.

Các viên mục đều làm lễ tam quị cửu khấu thủ [ba lần quì, chín lần rập đầu] nhưng người đi qua thì được miễn. Nếu gặp sứ thần đến thì di mục nghinh tiếp, quì ở bên đường mà đón, đại nhân ngồi trong kiệu chắp tay nói miễn lễ.

Khi đến Lê thành rồi, quốc vương nước này nghinh tiếp long đình đúng như điển lễ đã qui định gửi đến từ trước và kính cẩn tuân theo nghi lễ đã bày ra.[43]

Tính theo hành trình, chúng ta thấy:

13 tháng Chín xuất quan đến châu Văn Uyên

14 tháng Chín đến Lạng Sơn

15 tháng Chín đến Nhân Lý

16 tháng Chín đến Chi Lăng

17 tháng Chín đến Tiên Lệ

18 tháng Chín đến Cần Doanh

19 tháng Chín đến Thọ Xương

20 tháng Chín đến Thị Cầu

21 tháng Chín đến Lã Khôi

22 tháng Chín đến Gia Quất

Ngày 20 tháng Chín, con thứ vua Quang Trung là Nguyễn Quang Thuỳ cùng các đại thần Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm và các viên chức lưu thủ thành Thăng Long là Phan Văn Lân, Nguyễn Văn Danh, Đặng Văn Chân, Nguyễn Văn Dụng … thay mặt quốc vương đến đón sứ thần.

Các văn thư của nước ta cho thấy phái đoàn nhà Thanh có tới ba thành phần đảm trách ba nhiệm vụ khác nhau:

– Thành Lâm đóng vai chính sứ sang trao đặc dụ của vua Càn Long [nhưng nói lấp lửng là sắc thư],

– Vương Phủ Đường mang bài thơ do chính tay vua Càn Long viết [ngự thi],

– Tổng quản thay mặt Phúc Khang An “mang chỉ thừa lệnh công tước các bộ đường[44] và quà riêng của tổng đốc Lưỡng Quảng mừng vua Quang Trung.

Đại Việt Quốc Thư còn lưu một lá thư gửi tới sứ thần nhà Thanh kèm theo lễ vật kiến diện như sau:

Lời thiên tử ban xuống, chín tầng ơn mưa móc khắp nơi

Người đeo lan rạng rỡ, vạn dặm vẻ tốt tươi sông núi.

Ân sáng bạch trĩ, mừng khắp Chu Diên

Cung duy hai vị đại nhân

Vẻ sáng như sao Thai, sao Đẩu

Nguy nga như núi Thái, cây Kiều.

Khí nghiệp vốn cõi trung châu,

Uy nghi ở nơi trâm giải.[45]

Xuống hạ quốc để thành khuôn phép,

Khi ra đi dân vẫn nhớ ơn.

Vốn có lượng khoan hồng hoà dị,

Nên đức nhân rủ xuống rạng vẻ nhu hoài.

Bọn ti chức

Ở gần vẻ sáng, càng thêm kính mộ.

Buộc con ngựa trắng, ngưỡng khúc hoàng hoa.

Đã từ lâu nghe tiếng nhập thất chi hương,

Lấy chút rau dưa tỏ lòng thành ngõ vắng,

Đem gạo thô dâng hiến trước nhà cao.

Cẩn bẩm.[46]

Theo tài liệu nước ta chuẩn bị hai mâm cỗ ngọc và 12 mâm cỗ yến cùng heo quay, xôi và nhiều loại gia súc để đãi sứ đoàn tại Gia Quất.

Trâu

5 con

水牛

 

Heo

5 con

 

5 con

 

Vịt

5 con

 

Ngỗng

5 con

 

Gạo trắng

5 nia [圓箕]

白米

 

Trầu không

1 rổ [簍]

芙留

 

Cau

1 rổ [簍]

檳榔

 

Vì vua Quang Trung chưa ra kịp, phái đoàn nhà Thanh phải ngừng lại ở công quán Gia Quất từ ngày 22 tháng Chín đến ngày 15 tháng Mười. Trong suốt thời gian phải tạm trú tại đây tuy không có biến cố nào lớn nhưng cũng có một vài việc đáng ghi nhận.

Trước hết, việc một phái đoàn tiền hô hậu ủng của nhà Thanh ngừng lại đây trong một thời gian khá dài cũng tạo nên sự tò mò của dân chúng miền Bắc. Coi đây là một hỉ sự muôn đời khó gặp nhiều người ở xa cũng lặn lội đến xem long đình, trong đó có hai viên mục tuổi đã ngoại bát tuần là Đinh Phụ Tể và Cấn Danh Văn.[47] Dân chúng cũng đến mỗi ngày mấy đợt như thói thường của người dân quê nước ta.

Theo báo cáo của quan nhà Thanh, hàng ngày Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm đều đến thăm hỏi và trao đổi tin tức nhưng có lẽ không phải chỉ xã giao bình thường mà đến để biện bác về việc nước ta đòi sứ thần nhà Thanh phải xuống Nghệ An hay Phú Xuân làm lễ cho chính thống. Rất tiếc rằng chúng ta không biết rõ nội dung hai bên đưa ra như thế nào vì chưa tìm thấy những ghi chép về việc này. Năm Quí Hợi (1683) khi nhà Thanh sang phong vương cho vua Lê Hi Tông, hai bên đã tranh luận rất nhiều về việc trả lại ấn cũ, dụ tế và sách phong nhưng vì nước ta có ghi diễn tiến trong một tập hồi ký nhan đề Thiên Triều Khâm Sứ Sách Phong Tứ Tuất Nhị Bộ Lược Biên và quan nhà Thanh có chép nội vụ trong Sứ Giao Kỷ Sự nên chi tiết tương đối tường tận.[48]

Cũng dịp này, nước ta cũng thông báo năm Kỷ Dậu đúng kỳ tuế cống nên dự định sẽ đưa sứ thần đi cùng với phái đoàn tạ ơn sang Bắc Kinh sau khi làm lễ xong.

Ngô Văn Sở cũng xin được tham gia trong phái đoàn đi cùng với vua Quang Trung sang chúc thọ. Đáng để ý hơn cả, vì phái đoàn phải ở lại Gia Quất khá lâu nên không biết vô tình hay có sắp xếp trước, một người đàn bà nước ta tên là Nguyễn Thị Tam đã đến và tặng cho sứ giả một thiên trường thi (không rõ bao nhiêu bài chỉ biết rằng bao gồm cả thể luật thi đời Đường lẫn từ khúc đời Tống), Thành Lâm lấy cớ bận rộn nên chỉ hoạ lại một bài như sau:

嘉橘空摠駐使幢,敢云國士號無雙。

交驩自昔多佳士,文物而今萃此邦。

七字賦成唐律句,片詞羞落宋人腔。

可知聖世文明盛,詩教昭垂到富江。[49]

Dịch âm

Gia Quất đồng song trụ sứ tràng,

Cảm vân quốc sĩ hiệu vô song.

Giao Hoan tự tích đa giai sĩ,

Văn vật nhi kim tuỵ thử bang.

Thất tự phú thành Đường luật cú,

Phiến từ tu lạc Tống nhân xoang.

Khả tri thánh thế văn minh thịnh,

Thi giáo chiêu thuỳ đáo Phú Giang.

Dịch nghĩa

Đi đến Gia Quất sứ thần ngừng lại nghỉ,

Phải nói rằng bậc quốc sĩ quả là vô song.

Giao Châu, Hoan Châu từ xưa vẫn nhiều người đọc sách,

Vì là đất văn vật nên đến nay nước vẫn đông.

Bảy chữ làm thành thơ Đường luật,

Còn lời từ thì người đời Tống cũng không bằng.

Thế mới biết đời thánh nhân nên văn minh thịnh trị,

Thơ ở nơi biên thuỳ tới tận sông Phú Lương.

Xem như thế, có lẽ người nước ta cũng chờ đợi nếu có dịp sẽ thử tài sứ thần Trung Hoa như truyền tụng trong sử sách. Ở đây là một người đàn bà chứng tỏ nữ lưu thời Lê Trịnh cũng có nhiều người được học hành chu đáo. Có lẽ việc thù tạc, trao đổi văn chương khi được truyền ra ngoài đã bị bình dân hoá thành những câu chuyện cười như kiểu Trạng Quỳnh, Đoàn Thị Điểm trong dân gian.

Vì lưu lại lâu, sứ thần nhà Thanh cũng hỏi mượn sách của nước ta để đọc cho qua ngày giờ.[50] Họ cũng tặng cho các quan ta một số trà Tàu và hỏi thăm về tình hình trong nước.

Cũng dịp đó, một đoàn hát gồm 10 người ả đào cũng đến phô diễn những điệu múa của nước ta và được thưởng mỗi người một lượng bạc trong bữa tiệc và sau đó giúp vui nên được thưởng 60 lượng cho cả đội nên có lời tạ ơn như sau:

Con hát Phan Ngọc Đào [蕃玉桃], Trần Cẩm Liên [陳錦蓮], Nguyễn Thuý Tiêu [阮翠綃], Dư Kim Tuyết [余金雪], Đặng Quang Đát [鄧光妲], Lưu Bích Đại [劉碧黛], Phạm Hồng Niễu [范紅裊], Hoàng Cúc Phương [黃菊芳], Trần Lan Anh [陳蘭英], Trịnh Tú Quỳnh [鄭秀瓊] trăm lạy bẩm lên trước trướng các vị đại nhân để soi xét

Bọn tiện thiếp vốn phận liễu bồ, may được dự vào vườn lê, ca hát không uyển chuyển, múa may không đẹp đẽ, nay nhún nhẩy chốn lữ đình trông lên cùng hỉ khánh. Phượng kêu buổi sớm, được ơn ban thưởng.

Bọn tiện thiếp khấu đầu trăm lạy, cung kính giãi bày chút lòng thành để đáp lại thịnh tâm.

Cẩn bẩm.

Số bạc ban thưởng 60 lượng bạc chúng tôi kính cẩn chia đều cho nhau.[51]

Cũng nên biết thêm, người Trung Hoa tuy có các kỹ nữ đánh đàn ngâm thơ giúp vui nhưng trong trình diễn tuồng tích không dùng đàn bà mà do nam nhân đóng giả gái, việc các phụ nữ ca múa hẳn khiến cho các sứ thần Trung Hoa ngạc nhiên và cảm phục.


PHẦN V

NGHI LỄ SÁCH PHONG

Tài liệu duy nhất mà chúng tôi kiếm được là một đoạn ngắn ghi chép lễ sách phong cho vua Quang Trung trong Lịch Triều Tạp Kỷ, quyển VI như sau:

… 十五日。天朝將事使部成大人,王大人,總管老家。恭置勅書,御詩于龍亭。仍自嘉橘公舘帶同部屬進渡珥河。王子阮光垂及文武陪臣。陳列兵船象馬旗鎗儀仗。前後隨行。扈衛入昇龍城内殿宇。該使部奉行宣賜。國王阮光平拜領。禮成。該使部復嘉橘公舘安歇整裝。訂以十七日起程囬國。

Ngày 15. Những người có nhiệm vụ trong sứ bộ thiên triều như đại nhân họ Thành (Lâm), đại nhân họ Vương (Phủ Đường) và ngài tổng quản cung kính đặt sắc thư, ngự thi vào long đình rồi từ công quán Gia Quất dẫn các bộ thuộc vượt sông Nhĩ Hà.

Vương tử Nguyễn Quang Thuỳ cùng văn võ bồi thần bày dàn binh lính, thuyền bè, voi ngựa, cờ súng các loại nghi trượng, dẫn trước và theo sau phái đoàn, hộ vệ tiến vào nội điện thành Thăng Long.

Sứ bộ phụng mệnh làm lễ tuyên phong và ban tứ (ngự thi). Quốc vương Nguyễn Quang Bình bái lãnh. Lễ xong, sứ bộ quay trở về công quán Gia Quất nghỉ ngơi sẽ chuẩn bị hành trang, định ngày 17 sẽ lên đường về nước.

Vì đây là tài liệu duy nhất ghi lại buổi lễ trọng đại này nên chúng ta muốn biết tường tận hơn thì phải tham khảo một số điển lệ khác. Tuy nhiên, theo những tường thuật ngắn ngủi này, vua Quang Trung không đi ra khỏi hoàng thành để đón long đình như qui định trong điển lệ nhà Thanh mà chỉ chờ ở nội điện, tránh được những nghi lễ có thể làm thương tổn đến quốc thể.

Tài liệu qui định các nguyên tắc của triều đình ghi trong bộ Khâm Định Đại Thanh Hội Điển Sự Lệ. Việc giao thiệp với các quốc gia ngoại phiên được qui định trong Lễ Bộ [Triều Cống] từ quyển 502 đến 508. Tuy nhiên lễ sách phong chỉ được chép rất giản lược, có lẽ lễ nghi mỗi nơi một khác ngoại trừ qui định chung là đối với những gì thuộc về hoàng đế nhà Thanh, quốc vương hay bồi thần phải làm lễ tam quị cửu khấu. Từ khi nhà Thanh phong vương cho vua Lê, lễ nghi bấy giờ mới ổn định, cung cách tiếp đón, điển tịch minh bạch được ghi lại rất kỹ càng làm khuôn mẫu cho đời sau.

  1. Đại Việt Quốc Thư: DVQT là một tập hợp các văn thư nước ta trao đổi với Trung Hoa lẫn các trao đổi nội bộ ngắn giống như những “memo” thời nay. Việc sưu tập đầy đủ các văn kiện ghi chép “việc phải làm” và danh sách “cung ứng cho sứ thần” giúp chúng ta biết rằng tập tài liệu này được dùng để tham khảo cho các đại lễ phong vương và tiếp đón sứ thần đời Tây Sơn và sau này.

Qua những văn thư này, chúng ta có thể dựng lại khá chi tiết sinh hoạt và hành trình của sứ thần nhà Thanh cùng diễn tiến việc phong vương cho vua Quang Trung ở Thăng Long năm Kỷ Dậu [1789]. Tuy không hoàn toàn là một loại “thủ sách” (manual) nhưng với lối biên chép kỹ lưỡng, chúng ta có thể phục dựng lại diễn tiến đại lễ này tương đối đầy đủ. Có lẽ chính Phan Huy Ích là người đã sưu tập những văn thư mà ông trực tiếp tham gia trong tiến trình giao thiệp với nhà Thanh trong hai năm Kỷ Dậu và Canh Tuất (1789, 1790). [52]

Khi nghiên cứu về Phan Huy Ích, hầu như các sử gia đã bỏ quên vai trò quan trọng của ông trong những năm đầu triều Gia Long rồi tiếp tục trong đời Minh Mạng. Chính vì vai trò có một không hai này, những văn thư giao thiệp với Trung Hoa đã không bị rơi vào số phận nghiệt ngã như các tài liệu cung đình khác đời Tây Sơn.

Để bổ túc và tìm hiểu cho kỹ lưỡng về việc tiếp đón sứ thần, chúng ta có thể tham khảo thêm hai biên khảo của GS Hoàng Xuân Hãn về nghi thức phong vương, dụ tế … đời Lê-Trịnh:

  1. Cuộc tiếp sứ Thanh năm 1683 (Tập san KHXH, Paris số 3 tháng 11/1977) được in lại trong bộ La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập II (Hà Nội: Giáo Dục, 1998) từ trang 747-827.
  2. Vụ Bắc Sứ năm Canh-thìn đời Cảnh-hưng với Lê Quý-Đôn và bài trình bằng văn nôm đăng trong Tập San Sử Địa Saigon số 6-1967 và 11-1968 (nhưng chưa hoàn tất). Bài này được đăng lại trong La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập II (Hà Nội: Giáo Dục, 1998) từ trang 828-864.

Ngoài hai biên khảo rất công phu nêu trên, hai bộ điển lệ quan trọng khác tuy được soạn dưới triều Nguyễn nhưng nhiều chi tiết, văn kiện ghi lại từ thư tịch các triều đại cũ.

  1. Lịch Triều Hiến Chương Loại Chú do Phan Huy Chú soạn, hoàn thành năm Gia Long 18 (1819) và đem dâng vua Minh Mạng năm 1821 khi làm biên tu ở Viện Hàn Lâm.[53]
  2. Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ do Nội Các Triều Nguyễn soạn đã được dịch Viện Sử Học Hà Nội dịch và ấn hành.[54] Trong bộ sách này, từ quyển 128 đến quyển 131 là điển lệ bang giao riêng với Trung Hoa, ghi rõ chuyện đi sứ và các lễ tuyên phong, dụ tế và các việc ở biên giới … trong giao thiệp với tông chủ quốc là nhà Thanh. Từ quyển 132 đến quyển 136 ghi các điển lệ giao thiệp với các nước chung quanh.[55]

Chúng ta cũng có thể đọc thêm một số chi tiết trong Tang Thương Ngẫu Lục và Vũ Trung Tuỳ Bút của Phạm Đình Hổ để biết rằng nước ta vẫn thường phải tranh luận về nghi lễ với sứ thần Trung Hoa. Riêng việc đón tiếp long đình, sứ nhà Thanh là Chu Xán chép:

至於迎接龍亭必在國門之外。王旣佇立。使者降輿相接。而升階至階下。觀瞻旣肅豫順彌昭。[56]

Còn như nghinh tiếp long đình thì vua đứng chờ ở bên ngoài quốc môn, khi sứ giả xuống kiệu thì nghinh tiếp đưa lên thềm xuống thềm. Người ngoài trông vào thấy nghiêm túc mà cung thuận.

Theo như thế, nhà Thanh không đòi hỏi vua nước ta phải quì đón long đình như Triều Tiên mà chỉ đứng đợi để đón ở ngoài cửa và tương kiến với sứ giả rồi đưa và trong điện làm lễ. Nghi lễ này cũng đúng như đã chép trong Lịch Triều Tạp Kỷ rằng chỉ có vương tử Nguyễn Quang Thuỳ và văn võ quan viên đến Gia Quất đưa phái đoàn đến Thăng Long để làm lễ còn quốc vương không phải ra khỏi thành để nghinh đón như qui định.

LỄ SÁCH PHONG THEO ĐIỂN LỆ

NHỮNG BẤT ĐẲNG TRONG LỄ PHONG VƯƠNG

Từ trước đến nay, các nhà nghiên cứu đều cho rằng việc vua Quang Trung lần khân không chịu ra Thăng Long là do những nghi ngại và hiềm khích, có người còn diễn dịch một cách chủ quan là “không thèm” chịu phong vương.

Nguyễn Thị Tây SơnLiệt Truyện chép như sau:

…惠復上謝表請以開年入覲。清帝信之卽册封爲安南國王命廣西候補成林前往。旣抵關,惠托言昇龍旺氣消歇邀請往富春。成林以非例不肯往。惠遂托病牽延,始以甥范公治詐冒行之…

[…] Huệ gửi biểu tạ ơn, xin được mùa xuân năm sau nhập cận. Thanh đế tin là thật nên lập tức sách phong làm An Nam quốc vương, ra lệnh cho hậu bổ Quảng Tây Thành Lâm đi sang. Khi Thành Lâm đến cửa quan [sang phong vương], Huệ thác rằng Thăng Long vượng khí nay không còn, xin đến Phú Xuân nhưng Thành Lâm cho rằng không đúng thể lệ nên không bằng lòng.

Huệ bèn cáo bệnh để diên trì rồi sai cháu là Phạm Công Trị giả mạo mình thụ phong …”

Lối chép sơ sài không phản ảnh trung thực những biến chuyển phức tạp và sẽ không hiểu được những gì đã xảy ra nếu không quay trở lại các chặng đường phong vương.

THANH TRIỀU

Theo Khâm Định Đại Thanh Hội Điển Sự Lệ (欽定大清會典事例) quyển 502-504 (Lễ Bộ – Triều Cống), nghi lễ sách phong [viết về Triều Tiên nhưng qui định chung cho mọi phiên thuộc] đại lược như sau:

…Nếu nước kia có việc tập phong thì Thanh triều sai chánh và phó sứ đi làm lễ.

Khi qua khỏi biên cảnh rồi thì bồi thần của vua nước ấy đã chờ sẵn, cung nghinh chiếu sắc và long đình về kinh đô. Bồi thần [nước ấy] hành lễ tam quị cửu khấu [ba quì, chín khấu đầu] long đình đựng sắc thư. Hành lễ xong, quay sang gặp sứ thần hành lễ nhất quị tam khấu [một quì, ba khấu đầu]. (đây là lễ giao tiếp, hai bên cùng nhất quị, tam khấu chào nhau bình đẳng)

Đến ngày hành lễ [tại kinh đô] bưng chiếu sắc và các món khí vật ban thưởng đặt tại sứ quán. Sau khi hành lễ, bồi thần nước đó vào yết kiến sứ thần đều làm lễ tam khấu (ba lần khấu đầu). Chánh phó sứ nhận lễ rồi chọn ngày để tuyên đọc chiếu sắc.

Quốc vương dẫn thế tử và bối thần đến công quán nghinh đón. [Sứ thần] bưng chiếu sắc đặt vào long đình, hành lễ xong, quốc vương trở về trước. Chiếu sắc và long đình cùng các món được ban cho sẽ được đưa lên kiệu khiêng đi. Trống nhạc và nghi trượng dẫn đường. Chánh phó sứ đi theo. Đoàn đi theo cửa chính giữa, chánh phó sứ bưng chiếu sắc lên điện, để trên chiếc án thư màu vàng. Các món khí tệ được ban đặt tại bàn bên cạnh.

Quốc vương vào bái vị (nơi quốc vương sẽ quì để nhận lễ sách phong) cùng với thế tử và bồi thần làm lễ tam quị cửu khấu. Đứng lên tới vị trí nhận chiếu sắc quì xuống. Sứ giả tuyên đọc chiếu sắc. Tuyên đọc xong bưng lên để trên án. Quốc vương phủ phục làm lễ tam quị cửu khấu rồi đứng lên. Chánh phó sứ đi ra, quốc vương dẫn thuộc hạ tống tiễn rồi quay vể.

Xem như vậy, điển lệ nhà Thanh chỉ qui định tổng quát về nghi lễ khi tiếp nhận sắc phong, các việc tổ chức đón tiếp khác, yến tiệc, quà cáp, trao đổi thì tuỳ nghi theo từng nơi. Theo qui mô trong việc chuẩn bị công quán, đồ đạc cung ứng cùng nghi vệ trên đường đi cho thấy việc đưa đón sứ thần tuỳ tùng cũng là một cách phô diễn và chứng tỏ văn hiến của nước ta.

NGUYỄN TRIỀU

[…] Ngày Quí Mão, làm đại lễ bang giao. Hôm ấy sáng sớm, đặt lỗ bộ đại giá ở sân điện Kính Thiên đến cửa Chu tước, ngoài cửa đến bến sông Nhị Hà thì bày nghi vệ binh tượng; sai thân thần Tôn Thất Chương đến công quán Gia Quất, Ðô thống chế Phan Văn Triệu, Hộ bộ Nguyễn Văn Khiêm, Tham tri Hộ bộ Nguyễn Ðình Ðức đến nhà tiếp sứ ở bến sông để nghinh tiếp.

Vua ngự ở cửa Chu tước, hoàng thân và trăm quan theo hầu. Sứ giả nhà Thanh đến, vào điện Kính thiên làm lễ tuyên phong. Chưởng Tiền quân Nguyễn Văn Thành sung việc thụ sắc, chưởng Thần võ quân Phạm Văn Nhân sung việc thụ ấn. Lễ xong, mời Bố Sâm đến điện Cần Chánh, thong thả mời trà rồi lui...[57]

Trên đây là trích đoạn trong Đại Nam Thực Lục về lễ sách phong cho vua Gia Long. Trên nguyên tắc, việc sách phong cho vua Quang Trung cũng tương tự vì cả hai đều là người khởi đầu một triều đại, nhận sắc phong và ấn bạc củng một lúc.

Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn nhất là khi Thành Lâm sang nước ta, phái đoàn nhà Thanh không phải là một khâm sai đại thần từ Bắc Kinh đem theo sắc và ấn sang phong vương như Tề Bố Sâm. Thành Lâm chỉ là người do Phúc Khang An cử đi, mang một đặc dụ và một bài ngự thi mà trên danh nghĩa không thể so với một sắc thư phong vương.

Việc phái đoàn không mang theo ấn bạc tạo nên rất nhiều nghi vấn cho các đại thần phụ trách nghi lễ của nước ta đưa đến việc tìm cách diên trì để chờ phái đoàn Nguyễn Quang Hiển về tới cho hợp thể chế. Đó chính là đầu mối của những bất thường khi phái đoàn Thành Lâm tới Thăng Long.

clip_image016Lịch sử nước ta không thấy có tài liệu nào ghi chép diễn tiến buổi đại lễ phong vương cho vua Quang Trung, hoặc vì người nước ta không có thói quen tường thuật những biến cố, nếu có chắc cũng đã bị huỷ hoại theo binh lửa. Tuy nhiên, theo truyền thồng, nghi lễ phong vương của nước ta đã thành định chế từ lâu nên mọi động tác đều có cơ sở. Dưới triều Lê, nhà Thanh cử người sang nước ta làm lễ phong vương nhiều lần, được ghi lại tương đối kỹ lưỡng nên dù không có tài liệu đầu tay (firsthand accounts) nào về thời Tây Sơn nhưng đối chiếu với các đại lễ trước và sau chúng ta cũng có thể hình dung được các chi tiết.

Như đã tường thuật, nghi lễ phong vương về phía nhà Thanh chú trọng vào việc tiếp nhận, làm lễ tam quị cửu khấu như một động thái thần phục thiên triều,[58] trong trường hợp có cả trao ấn và sắc thì phía nước ta phải có hai đại thần đầu triều đứng ra nhận, một người hàng văn nhận sắc, một người hàng võ nhận ấn. Các nghi lễ lỗ bộ và hình thức tiếp đón, yến tiệc, quà cáp để làm cho đại lễ thêm long trọng và huy hoàng chủ yếu là do qui định của nước ta.

Đời Tây Sơn, nghi lễ chủ yếu do hai đại thần là Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích sắp đặt. Vì cận thần của vua Gia Long không có ai quen thuộc với nghi lễ nhà Thanh, hai ông này cũng được dùng làm cố vấn dưới triều Nguyễn. Tuy Ngô Thì Nhậm chết sớm nhưng Phan Huy Ích vẫn trực tiếp trông coi các lễ nghi, từ mệnh không phải chỉ trong đời Gia Long mà tới tận đầu đời Minh Mạng trước khi qua đời.[59] Vai trò của ông đã giúp cho gia đình bảo tồn được gần như đầy đủ các văn thư liên quan đến bang giao thời Quang Trung, Cảnh Thịnh và cả sau này đời Gia Long. Tuy con ông là Phan Huy Chú không đề cập đến nghi lễ đời Tây Sơn nhưng chắc chắn những tài liệu viết về đời Lê cũng tham bác từ chính thân phụ là Phan Huy Ích là người đảm trách nghi lễ triều đại này.

Theo lệ cũ, sáng sớm ngày 15 tháng Mười năm Kỷ Dậu, các quan lo tiếp sứ ở Kiên Nghĩa Đình là Đông Lĩnh Hầu, Diên Xuyên Hầu, Đức Phong Bá (Nguyễn Đề) cùng các quan hầu tiếp đem hương án, long đình, kết giá, tàn vàng, trượng son cùng các lực sĩ qua sông vào công quán Gia Quất đón sứ thần, rước tới bến đò Ái Mộ để xuống thuyền qua sông vào hoàng thành. Khi thuyền đến Bến Mọc thì rước long đình lên đường cái. Đường sá từ bến sông vào nội điện đã sửa sang và phái đoàn đi theo hành trình sau đây:

Quan khâm sứ lên kiệu từ đình Kiên Nghĩa (bến Cầu Cháy) đi tới do quan đề lĩnh và quân lính đi trước phụng nghinh sắc qua cửa hàng Mắm, qua hàng Buồm, xuống hàng Áo, đến hàng Đào, rẽ ra hàng Túi [Đũi?], qua ngã ba hàng Gương (Ngang?), lên chợ huyện, qua Cấm Chỉ, lên đình Quảng Văn, vào qua cửa Vò Vò lên nội điện.[60]

Sách vở không ghi chép rõ và cũng không biết vua Quang Trung ra đón ở bên ngoài hoàng thành hay vào tới điện mới làm lễ nghinh tiếp[61] tuy sau này Thăng Long về báo cáo là đã theo nghi thức mà nhận tuyên phong nhưng cũng có thể ít nhiều tiết giảm nhất là việc điển lệ nhà Thanh đòi hỏi phải quì đón ở ngoài đường, một nghi lễ mà nước ta trước nay vẫn từ chối không thực hiện vì nhẹ quốc thể. Theo nghi lễ các triều trước, quốc vương chỉ làm lễ tam quị cửu khấu khi vào trong điện Kính Thiên.

Về y phục của vua Quang Trung, sử sách không ghi rõ nay chỉ còn biết qua một số hình vẽ và miêu tả từ bên ngoài vào lúc ông sang kinh đô nhà Thanh chúc thọ nên cũng không thực sự biết ông mặc như thế nào khi làm lễ phong vương.[62]

NGHI THỨC SÁCH PHONG

Nghi lễ đời Lê-Trịnh theo Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí [Phan Huy Chú][63]

Trước ba ngày, Thượng thiết ty đặt long đình ở giữa điện Kính-thiên, đặt hương án ở phía nam Long-đình, đặt vị bái của vua ở trước hương án (vị bái dưới dùng chiếu tre, trên trải chiếu cạp), đặt vị đứng của khâm sứ ở trước hương án (hơi về hướng bắc, vị đứng dưới dùng chiếu tre, trên trải chiếu cạp), đặt vị trí đứng của vua ở bên hữu hương án (vị đứng dưới dùng chiếu tre, trên trải chiếu cạp).

Một viên điển nghi, một viên tuyên chiếu, hai viên triển chiếu, đều đứng ở bên tả điện, một viên thự chiếu, hai viên nội tán, đều đứng ở bên hữu điện; tám viên củ nghi, hai viên đứng hai bên tả hữu sân điện, hai viên đứng hai bên tả hữu long trì [thềm rồng, ở trong], hai viên đứng hai bên tả hữu đan trì [thềm son, ở ngoài], hai viên đứng hai bên tả hữu ngoài cửa Đoan-môn; tám viên ngoại tán, hai viên đứng hai bên tả hữu sân điện, hai viên đứng hai bên tả hữu long trì, hai viên đứng hai bên tả hữu đan trì, hai viên đứng hai bên tả hữu cửa Đoan-môn, đều đứng dưới các quan củ nghi.

Trước hai ngày, vua phải ăn chay, cáo tế trời đất, điện Thái-miếu, điện Chí-kính.

Trước một ngày, 36 phố trong kinh đều kết hoa ở đường phố (dùng 50 tấm vừa lụa vàng, lụa đỏ, trồng hai cột sơn đỏ, đầu cột có ngù nhọn). Tự ngoài bến sông cho đến cửa Đông tràng an, đường sá các phường các xứ đều dọn dẹp sửa sang.

Sáng sớm hôm làm lễ, phụng chỉ của chúa, các quan vào đan trì trước. Dự sai ba viên văn võ trọng thần đôn đốc các tướng tá binh mã, nhã nhạc, giáo phường và nghi trượng ra bài trí ở ngoài bến sông; mặc áo mũ theo phẩm tước, đợi khi long đình đến thì làm lễ 5 lạy 3 vái (từ năm giáp dần đã theo làm lễ 3 quì 9 vái).

Làm lễ xong, các văn võ trọng thần đi trước, rồi đến giáo phường, đến nghi trượng, đến nhã nhạc, đến hương án, đến long đình, đến kiệu khâm sứ, đến người ngựa theo hầu khâm sứ.

Khi đến cửa Nam môn người theo hầu xuống ngựa. Đến ngoài cửa Đông tràng-an, viên thông sự mời khâm sứ xuống kiệu. Vua đội mũ xung thiên, mặc áo hoàng bào, đeo đai ngọc, đứng đón ở bên hữu ngoài ba cửa, các quan chia ban theo hầu. Vua gặp khâm sứ vái chào.

Long đình tiến vào theo cửa chính. Khâm sứ tiến vào theo cửa tả. Vua tiến vào do cửa hữu. Khi vào đến điện Kính thiên thì đặt long đình vào vị. Quan điển lễ mời khâm sứ đến vị đứng. Quan nội tán tâu xin vua đến vị đứng, các quan chia ban đứng hai bên tả hữu sân điện, long trì và đan trì, và ngoài cửa Đoan môn. Các viên chấp sự tựu vị, ai giữ việc nấy.

Viên nội tán tâu vua đến vị bái. Ngoại tán xướng: “Bài ban” (các quan đều đứng vào ban), lại xướng: “Ban tề” (các quan quay mặt vào hương án). Nội tán: “Tấu tam bái ngũ khấu đầu”, “hưng”, “bình thân”. Ngoại tán cũng xướng như thế.

Viên điển lễ xướng: “Tuyên chiếu”. Nội tán: “Tấu quỵ”. Ngoại tán cũng xướng như thế. Khâm sứ bưng tờ chiếu trao cho quan tuyên chiếu. Hai viên triển chiếu đến mở tờ chiếu. Viên tuyên chiếu đọc xong, bưng tờ chiếu đặt lên hương án rồi ra đứng ở vị mình.

Quan điển nghi: “Tấu thụ chiếu”. Viên khâm sứ bưng tờ chiếu trao cho vua, vua nhận tờ chiếu, giơ lên ngang trán, rồi trao cho quan thụ chiếu, quan thụ chiếu quỳ xuống nhận tờ chiếu, đứng lên, ra đứng ở chỗ trước. Khâm sứ ra đứng ở chỗ trước. Nội tán: “Tấu phủ phục”, “hưng”, “bình thân”. Ở ngoài cũng xướng như thế. Nội tán: “Tấu phục vị”. Nội tán: “Tấu hành tạ ân lễ ngũ bái tam khấu đầu”. [Tâu làm lễ tạ ơn ba lạy năm vái]. Ngoại tán cũng xướng như thế.

Nội tán: “Tấu lễ tất”. Các quan chia ban đứng hầu. Nội tán: “Tấu hoàng thượng hướng khâm sứ hành nhị ấp lễ” [Tâu hoàng thượng làm lễ vái khâm sứ hai vái]. Khâm sứ xuống điện đi ra.

Vua đến điện Cần-chánh. Vua cùng khâm sứ chia hai phía đông tây cùng ngồi, làm lễ tiếp đãi (uống nước chè, ăn trầu). Xong rồi lại tiễn sứ đến ngoài ba cửa. Vua vái chào xong, khâm sứ đi ra lên kiệu. Sai quan nghinh tiếp khâm sứ vào nhà công quán (ở nha môn Lễ bộ) thết yến. Vua ngự về điện Cần-chánh, các quan theo hầu, Khi đến điện, nội tán tâu vua ngự lên ngai, các quan làm lễ khánh hạ 5 lạy 3 vái. Vua về cung. Các quan lần lượt đi ra.


Ghi chú:

Ngoài ra, khi xem lại một số nghi lễ được ghi lại dưới đời Nguyễn chúng ta thấy việc tuyên phong hầu như có chung một thể thức như dưới thời Lê-Trịnh hay Tây Sơn.- chẳng hạn như:

– Sách phong cho vua Minh Mạng năm Minh Mạng thứ hai do thượng thư bộ Lễ họ Huỳnh, được dịch bởi Hoàng Yến, thông dịch toà Khâm Sứ dưới nhan đề “Minh-Mạng va Recevoir l’Investuture a Hanoi”[64] (Vua Minh Mạng ra nhận lễ tuyên phong ở Hà Nội) do khâm sứ nhà Thanh là Án Sát Quảng Tây Phan Cung Thì (潘恭時) làm lễ ngày 20 tháng Chạp năm Tân Tị (12-1-1822).

– Tường thuật “Comment l’Empereur de Chine conféra l’Investiture a Tu-Duc”[65] (Lễ sách phong của hoàng đế Trung Hoa cho vua Tự Đức như thế nào?) của giám mục Pellerin do linh mục Cadière trong Bộ Truyền Giáo kể lại về lễ sách phong cho vua Tự Đức ở Huế ngày 22 tháng Bảy (AL) năm Kỷ Dậu (10-9-1849) ghi nhận những quan sát từ bên ngoài.

– Cũng lễ này, một tài liệu của thượng thư bộ Lễ ghi lại tương đối đầy đủ và tri huyện Ngô Đình Khôi đã dịch trong “L’Ambassade Chinoise qui conféra l’Investiture a Tu-Duc”[66]

Cũng trong dịp này, Phúc Khang An đã gửi biếu vua Quang Trung ba thanh như ý bằng ngọc, và gấm vóc thêu tuấn mã để chúc mừng nên sau đó nước ta gửi thư cảm ơn kèm một bài từ chúc mừng sinh nhật viên tổng đốc. Lá thư đó còn lưu trong BGHT dưới nhan đề “Mông Tặng Ngọc Như Ý Cung Thượng Thọ Từ Tạ Bẩm” [tr. 696-7] trong đó có đoạn như sau:

… Trước đây tiểu phiên thỉnh phong, từng được đại nhân trước sau ngọc thành cho nên mới sớm được ân phong, điển sách long trọng thực nước tôi từ trước đến nay chưa bao giờ được vinh dự như thế nên vua tôi ai ai cũng cảm kích, không thể nào hình dung cho hết. Lại được ban cho ba thanh như ý bằng ngọc quí, cùng một tấm đoạn màu thêu hùng mã, sai tổng quản lão gia đem sang mừng, ơn thi trùng điệp, sóng vỗ lại nhiều, từ xưa đến nay phong cương đại thần của triều đình Trung Hoa chưa bao giờ đãi kẻ ngoại phiên mà thiết tha ưu dị như thế.

Ngày 27 tháng Mười, vua Càn Long gửi cho Phúc Khang An và Tôn Vĩnh Thanh để hỏi xem việc tuyên phong đã xong chưa? Cũng nhân dịp này ông gửi ban cho vua Quang Trung một chuỗi triều châu bằng san hô, một đôi ngự dụng đại hà bao lớn và 2 đôi hà bao nhỏ để chúc cho ông mau bình phục.

Trong dụ chỉ này, vua Càn Long có hỏi đến việc Ngô Văn Sở xin được cùng đi với vua Quang Trung sang Bắc Kinh vào năm sau và dụ rằng vì nước mới dựng còn nhiều việc phải làm nên nếu Ngô Văn Sở đi theo vua Quang Trung thì không có người cư thủ, vậy hãy đợi khi vua Quang Trung trở về rồi, đến kỳ tiến cống hãy sang triều cận.[67]

Theo BGHT, sau khi vua Quang Trung gặp Nguyễn Quang Hiển ở Thăng Long ngày 18 tháng Chạp ông đã gửi biểu tạ ơn vào đầu năm. Tạ biểu này còn ghi trong KDANKL như sau:

新封安南國王臣阮光平謹奉上言。

玆欽奉諭旨。特賜臣珊瑚朝珠一盤。御用大荷包一對。小苛包二對。為臣偶染疴恙。幸於領封之日。已就痊可。特准部臣題奏。即奉御旨加恩。誌臣安痊之喜。

伏思臣猥由寡昧。忝列藩封。重以爾書敕命。寵以親製詩章。又御賜珊瑚朝珠。及大小荷包。眷顧恩榮。至優極渥。浩浩其天之德。莫可名狀。顧臣菲薄。無階報稱。惟有親覲闕廷。祝萬年於紫陛。世遵侯度。修三譯於清藩。

謹奉表稱謝者。

伏以

峻德克明。薄海仰協和之化。隆施斯普。新邦蒙眷注之私。叩首重霄。捫心萬里。

欽惟大皇帝陛下。克君克長。乃聖乃神。握乾綱而允執厥中。九經八條。作用真如此熟。敷恒德而美成在久。六服群辟。儀刑罔不是孚。柔懷於下國胥同。封植在微臣尤篤。

玉音以保守操持是訓。親愛如家人父子之情。珍物偕服食器用均頒。寵榮曠從古君臣之遇。慶賞既便蕃於行殿。

恩施猶絡繹於即途。臣身幸保康強。不謂嵬瑣玷光明之燭。臣國初蒙啟建。何幸涓微覃浩蕩之波。九重之體悉至宏。

三錫之霑濡更厚。珠串煌煌佛寶。覩聖朝遐邇一串之休風。荷包馥馥天香。見皇極大小併包之盛德。臣敢不承休無斁。述職惟虔。

雲開閶闔拜堯衣。期千秋鑑獻聖壽南山之頌。

日朗都畿環禹服。願九采圖展侯邦北面之恭。

臣下情無任瞻天仰聖。欣忭感激之至。

謹奉表稱謝以聞。

奏入。

奉硃批曰。

欣悅覽之。卿所使陪臣適至。即交彼持迴。卿閱朕硃批。益當歡喜。相見在即。同此殷念也。

Dịch âm

Tân phong An Nam quốc vương thần Nguyễn Quang Bình cẩn phụng thượng ngôn.

Tư khâm phụng dụ chỉ. Ðặc tứ thần san hô triều châu nhất bàn. Ngự dụng đại hà bao nhất đối. Tiểu hà bao nhị đối. Vi thần ngẫu nhiễm kha dạng. Hạnh ư lĩnh phong chi nhật. Dĩ tựu thuyên khả. Ðặc chuẩn bộ thần đề tấu. Tức phụng ngự chỉ gia ân. Chí thần an thuyên chi hỉ.

Phục tư thần ổi do quả muội. Thiểm liệt phiên phong. Trọng dĩ nhĩ thư sắc mệnh. Sủng dĩ thân chế thi chương. Hựu ngự tứ san hô triều châu. Cập đại tiểu hà bao. Quyến cố ân vinh. Chí ưu cực ác. Hạo hạo kỳ thiên chi đức. Mạc khả danh trạng. Cố thần phỉ bạc. Vô giai báo xưng. Duy hữu thân cận khuyết đình. Chúc vạn niên ư tử bệ. Thế tuân hầu độ. Tu tam dịch ư thanh phiên.

Cẩn phụng biểu xưng tạ giả.

Phục dĩ

Tuấn đức khắc minh. Bạc hải ngưỡng hiệp hòa chi hóa. Long thi tư phổ. Tân bang mông quyến chú chi tư. Khấu thủ trọng tiêu. Môn tâm vạn lí.

Khâm duy đại hoàng đế bệ hạ. Khắc quân khắc trưởng. Nãi thánh nãi thần. Ác can cương nhi doãn chấp quyết trung. Cửu kinh bát điều. Tác dụng chân như thử thục. Phu hằng đức nhi mĩ thành tại cửu. Lục phục quần tích. Nghi hình võng bất thị phu. Nhu hoài ư hạ quốc tư đồng. Phong thực tại vi thần vưu đốc.

Ngọc âm dĩ bảo thủ thao trì thị huấn. Thân ái như gia nhân phụ tử chi tình. Trân vật giai phục thực Khí dụng quân ban. Sủng vinh khoáng tòng cổ quân thần chi ngộ. Khánh thưởng kí tiện phiền ư hành điện.

Ân thi do lạc dịch ư tức đồ. Thần thân hạnh bảo khang cường. Bất vị ngôi tỏa điếm quang minh chi chúc. Thần quốc sơ mông khải kiến. Hà hạnh quyên vi đàm hạo đãng chi ba. Cửu trọng chi thể tất chí hoành.

Tam tích chi triêm nhu canh hậu. Châu xuyến hoàng hoàng phật bảo. Ðổ thánh triều hà nhĩ nhất xuyến chi hưu phong. Hà bao phức phức thiên hương. Kiến hoàng cực đại tiểu tính bao chi thịnh đức. Thần cảm bất thừa hưu vô dịch. Thuật chức duy kiền.

Vân khai xương hạp bái nghiêu y. Kỳ thiên thu giám hiến thánh thọ nam san chi tụng.

Nhật lãng đô kỳ hoàn vũ phục. Nguyện cửu thải đồ triển hầu bang bắc diện chi cung.

Thần hạ tình vô nhậm chiêm thiên ngưỡng thánh. Hân biện cảm kích chi chí.

Cẩn phụng biểu xưng tạ dĩ văn.

Xin tâu lên.

Phụng châu phê viết.

Hân duyệt lãm chi. Khanh sở sử bồi thần thích chí. Tức giao bỉ trì hồi. Khanh duyệt trẫm chu phê. Ích đương hoan hỉ. Tương kiến tại tức. Ðồng thử ân niệm dã.

Dịch nghĩa

Thần là An Nam quốc vương mới được phong Nguyễn Quang Bình kính cẩn tâu lên hoàng thượng:

Khâm phụng dụ chỉ đặc biệt ban cho thần một chuỗi triều châu làm bằng san hô, một đôi ngự dụng hà bao lớn, hai đôi hà bao nhỏ.

Vì thần đột nhiên bị bệnh, cũng may đến ngày lãnh phong thì đã thuyên giảm, đặc biệt được bộ thần đề tấu nên lại thêm ngự chỉ gia ân nên thần vui vẻ mà khỏi bệnh.

Cúi nghĩ thần là kẻ kém đức ngu muội, nay được phong làm phiên thuộc, ban cho tỉ thư sắc mệnh, thân chế thi chương, lại ngự tứ san hô triều châu, cùng hà bao lớn nhỏ, quyến cố ân vinh, thật là ưu đãi thương mến đến cùng cực, lồng lộng như đức của trời, không đâu cho xiết.

Vì thần mỏng manh không biết lấy gì báo đáp, chỉ có đích thân nhập cận khuyết đình, chúc vạn niên nơi bệ tía, nguyện đời đời tuân phục mong ba lần dịch để được làm kẻ phiên thần nên nay kính cẩn dâng biểu tạ ơn.

Cúi lạy mà rằng

Ðức đẹp mong được sáng mãi, nơi biển xa kính ngưỡng ơn giáo hoá hiệp hoà. Ơn ban xuống khắp mọi nơi, nước mới mong được trên ngó xuống.

Rập đầu trùng tiêu, dãi lòng vạn dặm

Kính mong đại hoàng đế bệ hạ

Như vua mà cũng như cha. Như thánh mà cũng như thần

Cầm cương càn khôn mà giữ lấy điều trung

Chín kinh tám điều

Tác dụng quả quen như thế

Ðức trải rộng mà đẹp đã từ lâu. Sáu loại chư hầu[68] cùng qui tụ,

Nay nước vừa mới mở, đạo nhu hoài hạ quốc cũng chẳng khác gì

Vun trồng vì nước nhỏ lại càng chăm sóc.

Lời vàng ngọc dạy rằng hãy giữ lấy, tình thân ái có khác gì cha con một nhà.

Món ăn ngon đều chia cho, khí dụng cũng ban xuống. Sủng vinh như thế xưa nay quân thần nào có mấy ai.

Khánh thưởng bao lần nơi hành điện. Lại ân thi cho ngựa chạy đem đến.

Thần may mắn thân thể khang cường, cũng nhờ ánh quang minh cao trên tỏa xuống.

Thần nước vừa mới dựng, sao may được hưởng mênh mông sóng cả bao la.

Cửu trùng thể tất thật lớn rộng, ba lần ơn trên ban thật hậu.

Vòng châu rực rỡ là đồ báu nhà Phật, thấy thánh triều gần xa đều hưởng gió tốt lành.

Hà bao thơm ngát hương trời, thấy hoàng cực lớn nhỏ đều gói tròn trong thịnh đức.

Thần thật nhận ơn mà không chán, chỉ biết chăm chăm gìn giữ.

Cửa rồng mở nên thần được bái áo vua Nghiêu, xin chúc thánh thượng thọ như Nam sơn.

Mặt trời chiếu xuống kinh đô lên y phục vua Vũ, mong các chư hầu cung kính hướng về phương Bắc.

Thần hạ được chiêm ngưỡng thiên nhan, thật vui mừng khôn xiết. Kính cẩn dâng tờ biểu tạ ơn này.

Xin tâu lên.[69]

Hoàng thượng châu phê:

Trẫm đọc rất vui mừng, bồi thần của khanh vừa đến nên giao lại để đem về. Khanh đọc lời phê bằng mực son của trẫm sẽ càng sung sướng. Chẳng bao lâu sẽ gặp, trẫm cũng vui như khanh vậy.

Đây là tờ biểu đầu tiên dùng ấn An Nam quốc vương mới được phong.

Ngoài ra, vua Quang Trung cũng sai Ngô Thì Nhậm viết thư cảm ơn Phúc Khang An, Thang Hùng Nghiệp, Lâm Hổ Bảng …

PHẦN VI

TIỄN KHÁCH

Sau khi làm lễ xong, Thành Lâm hỏi han về tình hình trong nước thì vua Quang Trung nói là nước vốn 13 đạo, nay 12 đạo qui phụ chỉ còn đạo Cao Bình còn do cựu thần nhà Lê chiếm giữ.[70] Về việc gặp gỡ với Nguyễn Quang Bình, Thành Lâm trong lời khai với Quân Cơ đại thần khi được triệu lên kinh nguyên văn như sau:

Tuân chỉ tra hỏi Thành Lâm khai rằng khi tương kiến với Nguyễn Quang Bình thì Nguyễn Quang Bình nói y [vua Quang Trung] ở Quảng Nam xa xôi nóng nực chưa từng đến nội địa nhưng nghe rằng đại hoàng đế lên ngôi đã 54 năm, bốn biển thăng bình, trong ngoài nhất thống, kể cà văn đức võ công đều vượt lên hơn mọi đời trước. Thánh thượng nay đã đến tuổi bát tuần nhưng vẫn an khang mạnh khoẻ người ở xa không biết, nay xin được nghe cho tỏ tường.

Thành Lâm nhân thế mới cho hay rằng đại hoàng đế kính trời, chăm lo cho dân, ngày ngày coi sóc mọi việc không hề bê trễ, tuy ở ngôi cao đã 54 năm mà cũng như một ngày, vạn quốc cửu châu đâu đâu cũng thành tâm quay về.

Hoàng thượng có đủ cả ân uy, những kẻ không chịu ở yên như Y Lê, Hồi bộ Lưỡng Kim Xuyên thì ra quân hỏi tội, giáo trời chỉ xuống thì đều quét sạch, mở đất khai cương hơn hai vạn dặm khiến cho bờ cõi rộng lớn sử sách ít khi nghe tới. Đến như tấu thư chương sớ, công việc của bề dưới trong triều ngoài tỉnh, lớn nhỏ cũng đều xem hết, đích thân phê đáp.

Còn như các nghề thêm vào, thơ văn ngự chế đến mấy vạn thiên, không bài nào mà không lo lắng đến dân, quan hoài đến chính vụ. Đến nay thánh thọ bát tuần, tinh thần vững chãi, thiên nhan chẳng khác gì lúc tráng thời. Mỗi năm cử hành điển lễ thu tiển [秋獮- đi săn mùa thu] cưỡi ngựa vây bắt, đích thân cung tên, bắn trúng như thần. Đến kỳ tế lễ giao miếu cũng đều tự mình hành lễ, đăng hiến nghi văn đều nghiêm trang kính cẩn đủ biết thánh thượng khang cường, kiện hành bất tức [健行不息][71]. Lại thêm năm đời một nhà, cháu chắt đầy đàn, thật là việc thịnh từ xưa chưa từng có.

Nguyễn Quang Bình nghe xong rất là hân hoan, vui mừng quả là chí thành lộ ra hỏi lại về gia thế, niên kỷ của Phúc Khang An cùng con cái thế nào, đang giữ chức gì.

Thành Lâm cho biết Phúc Khang An là cháu [thân điệt – cháu gọi bằng cô hay dì] hoàng hậu Hiếu Hiền, là con trai của đại học sĩ Trung Dũng Công Phó Hằng [傅恒] nhân vì xuất sư Kim Xuyên bình định giặc Hồi được phong Gia Dũng Hầu. Năm ngoái đem binh vượt biển tiêu diệt tặc phỉ Đài Loan nên được tấn phong công tước, năm nay 36 tuổi, có 1 con trai còn nhỏ.

Nguyễn Quang Bình thấy Phúc Khang An vốn dòng dõi công thần lại mấy lần lập được công lao, còn chuyện bình định Đài Loan thì Quảng Nam đường biển tương thông nên cũng đã từng nghe rồi.

Thành Lâm xem sắc mặt thấy có vẻ kính phục sợ hãi nên cũng hứa sẽ tâu lên lòng cung thuận thay y. Nguyễn Quang Bình tỏ vẻ cảm kích lại hỏi đến gia thế tuổi tác Thành Lâm, có con cái chưa?

Thành Lâm nói rằng tôi là người Mãn Châu, 38 tuổi, cha là Hạc Niên [鹤年], anh là Quế Lâm [桂林] cũng đều từng làm việc dưới quyền tổng đốc Lưỡng Quảng.[72]

Thành Lâm sau đó cùng quan lại nước ta đến tế các tướng sĩ trận vong ở miếu mới lập ở phía nam bờ sông. Cũng nhân dịp này, nhà Thanh cũng thoả hiệp với nước ta để đem các thi thể binh sĩ nhà Thanh tử trận đem về nước chôn cất [câu 43-4].


[1] Nhà Thanh gọi là lễ “nghinh tiếp” nhưng nước ta thường tranh biện để không làm lễ này vì quốc vương phải quì ở bên đường đón sắc thư. Xem Hoàng Xuân Hãn, “Cuộc tiếp sứ Thanh năm 1683” La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập II (Hà Nội: Giáo Dục, 1998) tr. 747-827

[2] Cố Cung Bác Vật Viện [故宮博物院]: Cố Cung Bác Vật Viện Bát Thập Niên Đản Ký Quốc Tế Thanh Sử Học Thuật Nghiên Thảo Hội Luận Văn Tập [故宮博物院八十华诞暨国际清史学术研讨会论文集]. Bắc Kinh: Tử Cấm Thành xbx, 2006. Trần Duy Tân [陈维新], “Thanh Mạt Đối Nga Ngoại Giao Nghi Lễ Thể Chế Thất Bại Nguyên Nhân Thám Thảo” [清末对俄外交仪礼体制失败原因探讨] tr. 194

[3] Trần Duy Tân, tlđd tr. 194-5. Thanh Sử (1961) [đệ nhị sách, q. 92, Lễ Chí Thập: Tân Lễ] tr. 1122

[4] Nguyên văn

據協辦大學士兩廣總督公福康安奏。

為爾具表謝恩。展陳覲悃。

朕披閱表內。詞義肫懇。並請於明年進京入覲祝釐祈籲殷切。具見恭謹。所有賫到貢物。已諭令賞收以遂爾芹曝之獻。至表內懇請格外加恩。給以封號。俾得奉有名分。鳩集小邦等語。

安南以黎維祁庸憒無能。天厭其德。國祚告終。爾現已悔罪投誠。遣親姪阮光顯奉表瞻覲。祈求懇切。不啻再三。

朕順天而行。有廢有興。悉歸大功至正。本擬俟明歲親行叩覲時。賞給王爵。

玆閱爾表內所稱。造邦伊始。必須仰賴天朝寵榮。方足以資駕馭。因念爾國甫經兵燹之餘。民人未獲安輯。若不重以天朝封號。恐一切呼應不靈。自係實在情形。爾既據實陳明。並不稍事虛飾。朕深為嘉與。

且王者有分土無分民。安南雖遠在炎荒。皆吾赤子。中外自當一體。爾能憑藉寵靈。撫綏整頓。使國內民庶。悉就安寧。實朕所深願。

用是即降恩綸,封爾為安南國王。俾資鎮撫。並親御制詩章。賜為爾國世寶。

嗣後凡有呈進表詞。及本國行文之處。俱准其書寫國王名號。其應行發給印信敕書。現交各衙門撰文鑄篆。俟爾姪阮光顯到京。交與賷回。

至天朝提鎮大員。臨陣損軀。爾國内立廟享祀。亦足徵悔懼之忱。所請官銜謚號。亦即敕部隨後頒發。爾其益當小心敬畏。恪守藩封。永承恩眷。

特諭。

[5] [芹曝] (cần bộc) món quà nhỏ nhoi không đáng nói tới

[6] Những lời chú để trong ngoặc [] là của chính vua Càn Long trong nguyên thi. [Chú]: Trẫm từ khi lên ngôi đến nay, bình Y Lê, định Hồi bộ, thu Kim Xuyên đều được trời dẫn dắt. Trong ba đại công ấy thực là thuận cơ nên được phù hộ mới thành chứ chẳng phải dùng binh để xâm lấn đất đai.

[7] [Chú]: Quang Bình vốn sang năm nhập cận để cung chúc bát tuần vạn thọ rồi xin phong vương nhưng trong tạ biểu có nói phong hiệu để thu phục lòng người, lời lẽ thật đáng khen. Trẫm đã sắc phong cho làm An Nam quốc vương để đời đời giữ được cương thổ, đóng vai phiên phục.

[8] Phan Huy Chú, LTHCLC (tập III) [bản dịch Viện Sử Học] Hà Nội: KHXH, 1992 tr. 185

[9] Phan Huy Chú, sđd, tr. 189

[10] Phan Huy Chú, sđd, tr. 190

[11] Phan Huy Chú, sđd, tr. 195

[12] Phan Huy Chú, sđd, tr. 206

[13] Phan Huy Chú, sđd, tr. 210

[14] Phan Huy Chú, sđd, tr. 211

[15] Xem Hoàng Xuân Hãn, “Cuộc tiếp sứ Thanh năm 1683” La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập II (Hà Nội: Giáo Dục, 1998) tr. 747-827

[16] Thanh Triều Văn Hiến Thông Khảo, q. 296, tr. 7453, Đại Thanh Hội Điển Sự Lệ, q. 511, tr. 15 (dẫn theo Trần Duy Tân, tlđd tr. 195)

[17] Bang Giao Hảo Thoại, “Phúc Kê Điển Lễ, Lưu Thủ Quan Bẩm”.

[18] Còn gọi là kính thiên ngũ bái vốn là nghi lễ của triều Minh

[19] Cương Mục, q. 42, tr. 12. Đại Thanh Hội Điển, q. 503. Trong nhiều tài liệu dịch của Việt Nam vì không biết trong biểu gửi sang nhà Thanh tên vua Hiển Tông là Duy Đoan nên đoán là Duy Vũ.

[20] Sách vở ghi nhiệm vụ của Ngô Thì Nhậm là “loan hồi đại” [欒回代] không rõ nghĩa là gì. Theo chúng tôi suy đoán, đây có lẽ là một tiếng Mãn Châu được phiên âm ra Hán ngữ. Nghi lễ nhà Thanh thường được cử hành theo tập tục Mãn Châu và người tham gia phải học tập và quen thuộc với một số từ ngữ để khi tán lễ quan xướng lên thì biết mà làm theo. Lý Văn Phức trong Sứ Trình Tiện Lãm Khúc [bài ca đi sứ] viết năm Thiệu Trị thứ 2 (1842) có ghi rằng “khi lư” là khấu đầu, “khô ly” là quì gối, “y ly” là đứng dậy, “bô ti” là lễ xong trở về hàng … (Nam Phong số 99, Sept. 1925 tr. 260).

[21] […] Huệ định được Bắc Hà nhưng trong lòng vẫn còn băn khoăn về việc nội bộ nên để Ngô Văn Sở ở lại giữ Bắc thành, nói rằng: “Phàm việc từ lệnh với triều đình Trung Hoa, ta uỷ cho Ngô Nhậm và Phan Huy Ích lo việc đối đáp, qua lại, tự tiện tuỳ nghi xử trí. Nếu không phải là việc quan trọng thì không cần bẩm báo… ” Nguyễn thị Tây Sơn ký, tr. 62.

[22] Theo lối hiểu ngày nay: “Hoàng thượng lại dặn hiền hầu rằng vì tôi [đại tư mã Ngô Văn Sở] còn đang ở tại triều nên việc lo liệu đón tiếp sứ thần Trung Hoa thì trông vào một mình ông [Ngô Thì Nhậm]. Vậy phải cẩn thận kỹ lưỡng lo việc văn thư uyển chuyển liệu theo tình thế. Nếu từ nay nội địa [Trung Hoa] có thư từ gì gửi sang thì ông cố gắng viết sao cho khéo, cần chính đáng thì chính đáng, cần mềm dẻo thì mềm dẻo miễn sao việc nước ổn thoả mười phần rồi trong khoảng một, hai tháng nữa tôi cũng sẽ ra kinh đô để cùng [với ông] lo quốc sự.”

[23] DVQT, tr. 225-6

[24] Đình Kiên Nghĩa là nơi vua Lê tiếp sứ thần Trung Hoa còn gọi là Cầu Cháy hay Đông Tân là nơi Trương Phụ đời Minh bắc cầu phao để qua sông. Đối diện bên kia sông là bến thuyền, thương khách người Thanh lập thành phố buôn bán, mái ngón san sát. Địa Chí Thăng Long Hà Nội trong thư tịch Hán Nôm (2007) tr. 49

[25] “Cuộc tiếp sứ Thanh năm 1683”. La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập II: Trước Tác (Phần II: Lịch Sử) (1998) tr. 768-9.

[26] DVQT, quyền IV, tr. 293. Theo GS Hoàng Xuân Hãn thì con đường sứ bộ đi có thể là “[…] phố hàng Buồm dọc sông Tô-lịch, phố Phúc-kiến đến Ngã ba hàng Vải; rồi quay bên trái, đi dọc theo thành qua các phố Hàng Gà, hàng Điếu, hàng Da đến dinh Tá-lý tại Cấm-chỉ, ở chỗ giáp phố Hàng Bông và phố Cửa Nam hay cửa Vò-vò. Từ đó tiến về phương Bắc để vào Hoàng-thành qua cửa Đông-tràng-an ở bên trái […] “Cuộc tiếp sứ Thanh năm 1683”. La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập II: Trước Tác (Phần II: Lịch Sử) (1998) tr. 751. Đình Quảng Văn ở bên ngoài Hưng Môn, xây năm Hồng Đức 22 (1491) là nơi công bố pháp lệnh của triều đình, sau bị đốt cháy tới đời Gia Long mới dựng lầu gọi là đình Quảng Minh. Địa Chí Thăng Long Hà Nội trong thư tịch Hán Nôm (2007) tr. 52, 413

[27] Quan lo việc sổ sách kế toán (mandarin comptable). Đặng Phương Nghi, sđd tr. 135

[28] Hoàng Thành Thăng Long (2006) tr. 197

[29] Quan cấp nhỏ lo việc hành chánh (mandarin des services administratifs). Đặng Phương Nghi: Les Institutions Publiques Du Viet-Nam au XVIIIe Siècle (Paris, 1969) Index Alphabétique tr. 135

[30] Quan lo việc sổ sách kế toán (mandarin comptable). Đặng Phương Nghi, sđd tr. 135

[31] Quan lo việc hành chánh

[32] Quan lo việc hành chánh cấp nhỏ hơn Cai Hợp

[33] DVQT, q. 4, tr. 257-8

[34] Theo các sách cũ thì là Mai Pha, có lẽ hai tên là một.

[35] Còn gọi là Lã Côi, Lữ Côi, Lữ Khôi

[36] Công quán Gia Quất theo DVQT thì như sau:

Chính đường : 3 dãy nhà ngói, mỗi dãy 5 gian . Quan khâm sứ nghỉ

Tả liên: 2 dãy, mỗi dãy 7 gian

Hữu liên : 2 dãy, mỗi dãy 7 gian

Bếp 1 dãy, 10 gian lợp tranh

Nghi môn : 1 dãy, 3 gian

Tả hãn môn: 1 dãy 5 gian

Hữu hãn môn : 1 dãy 5 gian

Chuồng ngựa : 2 dãy, mỗi dãy 3 gian

Nhà xí: 8 chỗ, mỗi chỗ 1 gian

Cô đình : 4 toà trên gò đất

[37] Hoàng Xuân Hãn: “Cuộc tiếp sứ Thanh năm 1683”. La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, tập II: Trước Tác (Phần II: Lịch Sử) (1998) tr. 751

[38] DVQT, q. 2 (tr. 95-100) (bản dịch NDC)

[39] Ở đây nói về trường hợp đem sắc phong vua mới và dụ văn để tế vua cũ đã qua đời. Trong trường hợp sang phong cho vua Quang Trung, cũng dùng 2 long đình, một để sắc thư, một để ngự thi [thơ vua Càn Long ban cho vua Quang Trung]. Sắc thư lần này chỉ là bản sao vì bản chính do Nguyễn Quang Hiển nhận cùng với ấn bạc còn đang trên đường chưa về tới Quảng Tây.

[40] DNHDSL [tập IV] (2005) tr. 438-9

[41] DVQT, q. 4, tr. 231

[42] Tấu thư nhận ngày 29 tháng Mười của Phúc Khang An. KDANKL, q. XXIII, tr. 15-8

[43] DVQT, q. III (bản dịch NDC)

[44] DVQT, q. II (thư Nguyễn Quang Thuỳ gửi lên tổng quản thiên triều) tr. 132-4. Viên tổng quản này sau bị bệnh qua đời quan tài đem về Quảng Tây.

[45] Nguyên tác trâm thân [簪紳] là cái kim cài đầu và giải áo, tượng trưng cho gia đình quyền quí, cá nhân khoa bảng

[46] DVQT, q. III, tr. 170-2 (bản dịch NDC)

[47] KDANKL, q. XXIII, tr. 13

[48] Xem “Cuộc Tiếp Sứ Thanh năm 1683” của Hoàng Xuân Hãn. (Tập San KHXH Paris, số 3 11/1977) in lại trong La Sơn Yên Hồ tập II từ trang 747-827.

[49] DVQT, q. III tr. 202

[50] DVQT, q. III tr. 200

[51] DVQT, q. III tr. 173-4

[52] Từ nhiều nguồn khác nhau, việc phục dựng các chi tiết được bổ sung bằng những báo cáo tương đối thường xuyên của sứ thần nhà Thanh vì vua Càn Long muốn theo dõi thật khít khao công tác này và chính Phúc Khang An cũng muốn đóng một vai trò nổi bật trong việc tái lập bang giao với Tây Sơn và mời vua Quang Trung sang dự lễ khánh thọ.

[53] Phan Huy Chú là con trai thứ ba của Phan Huy Ích, thân mẫu là bà Ngô Thị Thục, em gái Ngô Thì Nhậm. Vì hai bên nội ngoại đều là gia đình khoa bảng nên ông có nhiều cơ hội đọc sách vở. Tuy chỉ đỗ tú tài ông vẫn được triệu vào kinh giữ chức biên tu trong trường Quốc Tử Giám. Khi dâng bộ sách này Phan Huy Chú được vua Minh Mạng thưởng 30 lạng bạc, 1 áo sa, 30 cái bút và 30 thỏi mực.

Tuy cuộc đời làm quan ngắn ngủi nhiều lận đận song ông để lại nhiều công trình lớn như Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí, Hoàng Việt Dư Địa Chí, Hải Trình Chí Lược … và nhiều tác phẩm mà hiện nay chưa xác định được còn hay mất.

Về cuộc đời và di sản của Phan Huy chú có thể tham chiếu các tài liệu 1/ Nhiều tác giả. Phan Huy Chú Và Dòng Văn Phan Huy. Hà Sơn Bình: Sở Văn Hoá Thông Tin, 1983, 2/ Nguyễn Ngọc Nhuận (dịch và chú giải), Phan Huy Lê (hiệu đính). Phan Gia Công Phả (潘家公譜) Hà Nội: Thế Giới, 2006, 3/ Phan Huy Long & Phan Huy Uẩn. Gia Phả Họ Phan, tập I (bản in ronéo). Saigon, 1963, 4/ Phan Huy Lê, Claudine Salmon & Tạ Trọng Hiệp (dịch và giới thiệu). Phan Huy Chú – Hải Trình Chí Lược (潘輝注,海程誌畧) [Récit sommaire d’un voyage en mer, 1833]. France: Cahier d’Archipel 25, 1994.

[54] Nội Các Triều Nguyễn. Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ (8 tập) [bản dịch Viện Sử Học Hà Nội]. Huế: Thuận Hoá, 2005.

[55] Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ (2005) tập IV.

[56] Vũ Trung Tuỳ Bút (bản dịch Trần Thị Kim Anh, KHXH, 2003), phần Hán Văn (Sách Phong) tr. 486-7

[57] Ðại Nam Thực Lục, đệ Nhất kỷ, q. XXIII [bản dịch Viện Sử Học] (Hà Nội: Giáo Dục, 2002) tr. 581

[58] Trong quá khứ cũng đã có những tranh biện về nghi thức này, nước ta muốn làm lễ 5 lạy 3 vái theo đời Minh, nhà Thanh muốn phải lễ 3 quì 9 vái theo điển lệ của họ.

[59] Dụ Am Văn Tập, xem phần Giản Trát Loại hạ, đệ Tứ sách

[60] DVQT, q. IV. Đoạn này nguyên văn viết bằng chữ Nôm:

…行,戈行帆,行襖,旦行桃,址行襊,戈我行姜,蓮縣,戈錦紙,蓮廣文亭,戈宇宇蓮内殿。

[61] Theo Vũ Trung Tuỳ Bút của Phạm Đình Hổ (bản dịch Trần Thị Kim Anh, KHXH, 2003) trong bài “Tây Sơn Đắc Địa” có chép là “chúa Tây Sơn đến đón trước ở bến Lã Côi” (tr. 269). Vì không ghi rõ nên không biết chúa Tây Sơn chỉ vua Quang Trung hay nói về lễ sách phong cho vua Cảnh Thịnh sau này. Tuy nhiên theo miêu tả trong Lịch Triều Tạp Kỷ thì vua Quang Trung cho con thứ là Nguyễn Quang Thuỳ và bồi thần sang Gia Quất đón và chỉ gặp phái đoàn khi đã vào trong nội điện.

[62]…Quang Bình cốt cách khá thanh tú, hình dáng bệ vệ ra vẻ hào kiệt đất Giao Nam.

… Hôm đứng vào tế ban ở Tịch Nguyệt Ðàn nơi điện Thái Hoà mới thấy họ [tức sứ đoàn nước ta] mặc y phục bản quốc. Vua của họ đầu bịt khăn lưới, đội mão vàng bảy ngấn, mình mặc long bào bằng gấm màu, đeo đai bằng ngọc trắng. Tòng thần cũng quấn khăn, đội mão đen năm ngấn, thân mặc mãng bào hoặc màu xanh, hoặc màu tía, đeo đai vàng, hình trên áo bác tạp, lạ lùng trông như trong tuồng hát khác xa cổ chế nước An Nam. Từ Hạo Tu (徐浩修): Yên Hành Kỷ (燕行紀) Tuyển Tập V (Soul: Minjok Munhwa Ch’ujinhoe,1976) q. II, phần nguyên tác chữ Hán. Xem thêm “Lễ Bát Tuần Khánh Thọ và Phái Đoàn Đại Việt” biên khảo NDC.

[63] LTHCLC, Bản dịch Viện Sử Học (Hà Nội: KHXH, 1992) tập III: Binh Chế Chí, Văn Tịch Chí, Bang Giao Chí tr. 213-4

[64] BAVH, Avril-Juin 1917, tr. 89-102

[65] BAVH, Juillet-Septembre 1916, tr. 297-308

[66] BAVH, Juillet-Septembre 1916, 309-314

[67] Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng, q. XV (632), tr. 278

[68] [周王畿以外的諸侯邦國曰服。其等次有六:侯服,甸服,男服,採服,衛服,蠻服。]

(Chu vương kỳ dĩ ngoại đích chư hầu bang quốc viết phục, kỳ đẳng thứ hữu lục: hầu phục, điện phục, nam phục, thái phục, vệ phục, man phục) Nhà Chu gọi các nước thần phục mình là chư hầu, chia ra làm sáu loại: hầu, điện, nam, thái, vệ và man.

[69] KDANKL, 26.4 tr. 9-12

[70] KDANKL, q. XXIII tr. 20-1

[71]周易: 天行健,君子以自强不息 (quẻ Càn). Lời trong Kinh Dịch: Thiên hành kiện, quân tử dĩ tự cường bất tức. Trời hành động mạnh mẽ, người quân tử cũng vươn lên không nghỉ. Ý ca tụng vua Càn Long là bậc thiên tử làm việc không ngừng.

[72] Càn Long Triều, Thượng Dụ Đáng q. XV [882] tr. 387-8

bài đã đăng của Nguyễn Duy Chính


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch