Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu, Tư Liệu Email bài này

THANH VIỆT NGHỊ HÒA- CHƯƠNG IV: ĐẠI LỄ PHONG VƯƠNG

 



DIỄN TIẾN

TRÌ HOÃN TRƯỚC KHI THÀNH LÂM SANG

– Thành Lâm đến Nam Quan khoảng cuối tháng Tám năm Kỷ Dậu (Càn Long 54) nhưng phải ngừng lại ở Quảng Tây đến 13 tháng Chín mới qua cửa Nam Quan.

– Trong khoảng thời gian đó, nước ta đưa ra nhiều lý do trì hoãn (vua Quang Trung bị bệnh không thể ra Thăng Long, có tàu ô xâm phạm vùng biển …) và đề nghị sẽ sai Nguyễn Quang Thuỳ, Ngô Văn Sở, Ngô Thì Nhậm ra đón phái đoàn đưa vào Nghệ An rồi cùng vua Quang Trung vào Phú Xuân làm lễ.

Lý do: Không muốn làm lễ mà không có sắc ấn

TRÌ HOÃN SAU KHI THÀNH LÂM SANG

– Sứ thần nhà Thanh từ Nam Quan đi Thăng Long (13 tháng Chín đến 22 tháng Chín) Vì sứ thần nhà Thanh không đồng ý vào Phú Xuân, hai bên qua lại tranh biện nên họ phải ở lại công quán Gia Quất thêm 20 ngày nữa (từ 22 tháng Chín đến 13 tháng Mười) đợi vua Quang Trung ra Thăng Long.

– Đầu tháng Mười, vua Quang Trung từ Nghệ An ra Thăng Long lấy cớ bệnh chưa khỏi hẳn nên di chuyển tương đối chậm. Ngày 14 tới Thăng Long, ngày 15 làm lễ phong vương ở điện Kính Thiên.

Lý do: Đợi cho Nguyễn Quang Hiển đem sắc ấn về nước

NGUYÊN DO

Nguyên nhân chính:

Thanh triều tự ý thay đổi gom việc thông báo tiền sát và phong vương làm một nên nước ta không hài lòng. Vua Quang Trung e ngại việc phong vương ở Thăng Long là một dấu hiệu không tốt theo truyền thống Nam Á và nhất là không có sắc thư và ấn vàng trong đại lễ này.

Nguyên nhân phụ:

Vua Quang Trung bị bệnh và có tàu ô xâm phạm vùng biển.

TÓM TẮT

Phái đoàn Nguyễn Quang Hiển được chuẩn thuận cho đem tờ biểu cầu phong lên Bắc Kinh đưa bang giao Thanh Việt qua một bước tiến mới. Vấn đề nhà Thanh chấp nhận triều đình Tây Sơn coi như đã xong, nay làm sao sớm hoàn tất nghi lễ hầu chuẩn bị cho phái đoàn vua Quang Trung sang chúc thọ.

Để giải thích việc công nhận một dòng họ mới ở An Nam, [và cũng để khỏa lấp cái nhục bại trận] vua Càn Long nêu cao cái tài “thắng mà không cần dụng binh”, qui phục ngoại phiên bằng đường lối nhân trị nên đã khoản đãi trọng thể phái đoàn Tây Sơn ở Nhiệt Hà và sức cho các tỉnh trên đường đi về tiếp đón nồng hậu [tương đương như khi phái đoàn Miến Điện sang thần phục]. Chính sự huê dạng của hoàng đế đã ít nhiều làm kế hoạch khống chế An Nam của Phúc Khang An bị lỡ bước.

KẾ HOẠCH PHÚC KHANG AN

Như đã trình bày, kế hoạch của Phúc Khang An chủ yếu dùng hình thức phong vương để ràng buộc và tiến hành nghi lễ ngay tại biên giới cũng bảo đảm rằng Nguyễn Quang Bình không thể thoái thác việc đích thân sang Bắc Kinh chúc thọ. Trong dự tính đó, Phúc Khang An thực hiện nhiều việc cùng một lúc, lấy việc nọ làm đòn bẩy cho việc kia.

  1. Công khai hoá việc từ bỏ nhà Lê và để ngỏ việc công nhận một triều đại mới.
  2. Dụ dỗ những nhóm còn trung thành với nhà Lê sang Trung Hoa để vừa làm ơn cho vua Quang Trung, vừa giữ những con tin làm sức ép.
  3. Nhân danh chính sách của thiên triều dung chứa những triều đại thất thế để ép vua Chiêu Thống và những người đi sang cạo đầu, đổi y phục.
  4. Dùng lễ phong vương như mặc cả sau cùng để vua Quang Trung không thể thoái thác.

Những hình thức vừa doạ nạt, vừa dụ dỗ ấy được tiến hành có lớp lang mang một chủ đích nhất định. Tuy bề trong nhà Thanh tiếp tục gây sức ép nhưng đồng thời bề ngoài hõ cũng gia tăng mật độ giao thiệp, quà cáp qua lại để triều đình Tây Sơn yên tâm về thiện chí và sự thành thực của thiên triều.

SỰ THAY ĐỔI CỦA VUA CÀN LONG

Tuy kế hoạch của Phúc Khang An khá chu đáo và từng bước lúc nắm lúc buông nhưng ông ta cũng không lường trước được những trở ngại và biến chuyển.

Về phía Tây Sơn, khi thấy Phúc Khang An khăng khăng đòi phong vương ở Nam Quan, vua Quang Trung tìm cách biện bạch rằng khi đến triều đình sẽ “không biết đứng vào đâu” để yêu cầu phải làm lễ cho chính danh trước. Phúc Khang An vội vàng xác định rằng vị thế đã rõ ràng là “trên quận vương, dưới thân vương” tức là tước cao quí nhất chứ không phải kém hơn như đời nhà Mạc, nhà Lê [trung hưng].

Để đáp lại triều đình Tây Sơn cũng ỡm ờ rằng một khi nước ổn định vua Quang Trung sẽ qua triều kiến nhưng không hứa chắc vào lúc nào. Lấy lý do tình hình đất nước là một việc hết sức chính đáng làm gia tăng áp lực đòi hỏi Thanh triều phải công khai từ bỏ ủng hộ nhà Lê, mặt khác cũng làm cho việc chúc thọ thêm bấp bênh vì nếu sau này nước ta không [hay chưa] thi hành thì cũng không phải là bội tín.

Hơn thế nữa, trong hoàn cảnh gấp rút như lửa cháy lông mày, dù vua Quang Trung có thực lòng muốn sang Trung Hoa thì việc chuẩn bị một phái đoàn với nhiều nghi thức, quà cáp, hành trang … thực không dễ dàng mà việc tiếp đón phía Thanh triều cũng không đơn giản.

Trong thế giằng co, tuy không chủ động nhưng nước ta có yếu tố thời gian làm chỗ dựa, chậm một ngày là đối phương bị thất thế thêm một ngày. Đó chính là nguyên nhân gây ra chuyển biến mà Thanh triều phải liên tiếp nhượng bộ, dứt khoát hơn với nhà Lê và cũng khiến Phúc Khang An phải tiến hành một số biện pháp nhằm khai thông những bế tắc để có được sự đồng thuận của phía An Nam.

Khi Nguyễn Quang Hiển đến Quế Lâm, Phúc Khang An được lệnh cho gặp vua Lê và tuỳ tòng đã cắt tóc thay áo nhưng tới lúc đó Thanh triều vẫn chưa nhận được một khẳng định nào rằng vua Quang Trung sẽ qua chúc thọ vào năm sau. Sở dĩ chúng ta biết được điều đó vì trong Đại Việt Quốc Thư vẫn còn lưu hai văn thư của Phúc Khang An và một viên chức họ Ngô bắt ép Nguyễn Quang Hiển phải cho người về yêu cầu vua Quang Trung minh xác sẽ qua chúc thọ trên tờ biểu.[1]

Sở dĩ cần có sự minh xác đó vì trên tờ biểu đem sang không có đoạn nào vua Quang Trung xác nhận việc qua chúc thọ còn khi Phúc Khang An hỏi đến thì Nguyễn Quang Hiển cũng ậm ừ trả lời là ông ta không nhận được lệnh nào chính thức về chuyện này. Phúc Khang An khi đó mới bảo rằng nếu khi hoàng đế hỏi đến mà không trả lời được thì sẽ tưởng đây chỉ là một tiểu lại tầm thường, không xứng đáng với vai trò “tuy đại do thân” nêu ra từ trước. Chính vì vậy, Phúc Khang An mới bắt vệ uý Hồ Văn Tòng phải đem một lá thư của Nguyễn Quang Hiển về Thăng Long yêu cầu vua Quang Trung xác nhận chắc chắn để Nguyễn Quang Hiển tâu lên vua Càn Long khi kiến diện. Để sửa lại sai lầm này, họ Phúc cũng yêu cầu triều đình Tây Sơn viết rõ ràng trên những tờ biểu tạ ơn và trần tình như chúng ta sẽ thấy sau này.

Việc xác định giấy trắng mực đen đó coi như một lời hứa chắc chắn đáp ứng mong mỏi sâu kín khiến vua Càn Long hết sức đẹp lòng nên ông lập tức quyết định phong vương cho vua Quang Trung [thay vì để đến khi sang Trung Hoa như đã đòi hỏi] và ra lệnh cho bộ Lễ đúc ấn, soạn sắc để giao cho Nguyễn Quang Hiển mang về. Thêm một bước, ông lại viết một đặc dụ – một hình thức thư riêng – gửi báo tin cho Nguyễn Quang Bình và ban cho một bài ngự thi giải thích về chuyện đó.

Để khỏi quá lộ liễu khiến nước ta biết được sự khát khao của Thanh triều, vua Càn Long sai Phúc Khang An cử người sang giao tận tay vua Quang Trung ở Thăng Long lấy lý do thanh sát việc chuẩn bị đón tiếp phái đoàn sắp qua làm lễ phong vương. Theo cựu lệ, khi có liên lạc với nước ta Thanh triều chỉ đưa sắc dụ đến Nam Quan giao cho trấn thủ Lạng Sơn chuyển về Thăng Long, nay giao cho một sứ thần đem đi khiến mọi việc trở nên phức tạp. Tuy trong văn thư ngoại giao nước ta vẫn dùng những lời lẽ ôn hoà, nhũn nhặn nhưng thực tế chắc không khỏi khó chịu về nghi lễ phiền toái và tốn kém.

Một trong những sự việc khiến cho triều đình Tây Sơn phải cảnh giác là cũng lúc đó cựu thần nhà Lê tung tin rằng họ sẽ cùng với quân Thanh trở về khi vua Quang Trung sang chúc thọ.[2] Sở dĩ có những tin tức trái ngược nhau cũng vì cùng lúc đó Phúc Khang An bí mật cho người đòi Lê Quýnh sang “bàn quốc sự” mà theo suy luận chủ quan của nhóm nhà Lê thì đồng nghĩa với kế hoạch đưa vua Chiêu Thống về nước. Có lẽ họ cho rằng nhà Thanh đang tính kế “điệu hổ ly sơn”, tìm cách dụ vua Quang Trung ra bên ngoài để bất ngờ đem quân sang. Tin tức ấy lọt ra không khỏi dẫn tới nghi ngại cho triều đình Tây Sơn. Chính những giải thích khác nhau khiến cho sau này Phúc Khang An phải cử một nhân vật thân tín sang để biện bạch cho rõ ràng.

KẾ HOẠCH SAU CÙNG

Theo ý định của vua Càn Long việc phong vương nay tiến triển thành hai giai đoạn:

1. Sai một viên chức cấp nhỏ [quan lại cấp đạo phủ người Mãn Châu] đem sang Thăng Long tận mặt giao cho vua Quang Trung tờ sắc dụ [thông báo đã chấp thuận] và bài ngự thi. Phái đoàn này cũng kiểm điểm việc sắp xếp công quán, tổ chức nghi lễ và dĩ nhiên bàn thảo những thoả hiệp cho việc vua Quang Trung sang Trung Hoa vào năm sau.

2. Một khi phái đoàn Nguyễn Quang Hiển về đến Nam Quan, vua Thanh sẽ cho Phúc Khang An đưa về Thăng Long làm lễ phong vương chính thức, trao sắc ấn cho trịnh trọng. Trước đây vua Chiêu Thống được một tổng đốc [người Hán] làm lễ thì vua Quang Trung phải được một tổng đốc [người Mãn] cho hơn một chút.

ĐẠI LỄ PHONG VƯƠNG

Vì thời giờ gấp rút, kế hoạch rềnh rang của vua Càn Long không thể thực hiện được nên phái bộ Thành Lâm đáng lẽ chỉ đóng vai tiền sát lại phải đảm trách luôn nghi lễ phong vương cho vua Quang Trung. Chính sự bất nhất này đã khiến cho vua Quang Trung cảm thấy bị xúc phạm nên tìm cách trì hoãn, hoặc ít nhất cũng phải vào quốc đô [nay là Nghệ An] hay Phú Xuân [ là cựu đô của chúa Nguyễn mà thành quách còn nguyên vẹn]. Thành Lâm lấy cớ chỉ được lệnh đến Thăng Long nên không đi xa hơn và sau cùng đại lễ phong vương được tổ chức tại đây ngày 15 tháng Mười năm Kỷ Dậu.

Nhân dịp này, triều đình Tây Sơn cũng yêu cầu nhà Thanh mở lại các cửa quan thông qua biên giới và lập những nha hãng để trao đổi thương mại, ban lịch chính sóc và chính thức thông báo từ nay kinh đô mới là Nghệ An.

Nhân dịp này Thành Lâm và phái đoàn nhà Thanh cũng tới tế ở miếu thờ mới xây cho các tướng sĩ nhà Thanh tử trận trong lần giao tranh hồi đầu năm.



clip_image001

Ấn bạc mạ vàng (núm hình lạc đà)

nhà Thanh phong cho phiên thuộc

clip_image003

Dấu An Nam quốc vương chi ấn

do nhà Thanh ban cho vua Quang Trung

clip_image005



PHẦN I

TÌNH HÌNH CHÍNH TRỊ

BƯỚC NGOẶT QUẾ LÂM

Từ trước đến nay việc giao thiệp giữa Trung Hoa với nước ta luôn luôn tuần tự theo một tiến trình, xong việc nọ đến việc kia, thời gian không phải là vấn đề mà nghi lễ mới thực quan trọng. Riêng trong trường hợp phong vương cho vua Quang Trung, một thay đổi nhỏ do vua Càn Long vẽ ra đã làm đảo lộn mọi sắp đặt.

Cùng lúc với việc nhận thư của Nguyễn Quang Hiển và của Phúc Khang An do Hồ Văn Tòng đem về, thì cũng trong khoảng thời gian ấy, ngày mồng 5 tháng Sáu vua Quang Trung đã sai Hoàng Ðạo Tú [黄道秀], Ðào Xuân Lãng [陶春閬][3] đem hai đạo biểu văn và lễ vật sang trần tình về việc can qua và tạ ơn về việc được ban thủ xuyến bằng trân châu [ban cho khi chấp thuận cho phái đoàn Nguyễn Quang Hiển lên kinh đô].

Bản sao hai tờ biểu được Tôn Vĩnh Thanh chuyển ngay lên Phúc Khang An ngày 12 tháng Sáu để trình lên vua Càn Long xin quyết định về việc nhận lễ vật và chấp thuận cho sứ bộ lên kinh đô triều kiến, tuy trên danh nghĩa tạ ơn nhưng đồng thời cũng là dịp để trình bày về khó khăn nếu Thanh triều chỉ làm lễ phong vương khi vua Quang Trung qua chúc thọ.

Ngày 23 tháng Sáu, Lâm Hổ Bảng vội vã thông báo diễn tiến sự việc cho trấn mục nước ta ở Lạng Sơn là Lê Nho Hứa (trấn thủ) và Lê Doãn Điều (hiệp trấn) để báo về Thăng Long.

Hai tờ biểu của vua Quang Trung [KDANKL, quyển XXII][4] như sau:

1/ Biểu tấu sự

Thần là tiểu mục nước An Nam Nguyễn Quang Bình kính cẩn tâu lên mong giãi bầy về việc thành khẩn xin được chiêm cận để mong thánh thượng nghe đến.

Thần khâm phụng sắc thư tuyên dụ rằng đừng mắc những sai lầm cũ, hãy cố sức đổi mới. Ðức của thánh thượng như trời không bỏ sót kẻ hoang vắng, xa xôi. Thần hết sức vui mừng, cảm kích không biết chừng nào.

Kính thay đại hoàng đế bệ hạ, đức sánh với Hi Viêm, đạo cao như Hiên Hạo, là bậc thiên tử thái bình hơn năm mươi năm. Cai trị lớn lao, phúc đức đầy đủ, xưa nay chưa từng có.

Thần sinh trưởng ở đất Quảng Nam, tuy không thông với Trung Hoa nhưng thuyền bè Mân Quảng qua lại tấp nập nên cũng thường nghe đến sự thịnh vượng văn minh của Trung Quốc, lại càng ngưỡng vọng nhân nghĩa đạo đức tràn đầy của đại hoàng đế. Thần thành tâm nguyện sẽ phổ tại bảo thư, chiêm ngưỡng như trời cao, chẳng phải chỉ vì biển không dậy sóng mới biết rằng Trung Quốc đang có bậc thánh nhân.

Trước đây thần sai cháu là Nguyễn Quang Hiển đến cửa quan, thay mặt hành lễ đã từng chính miệng cáo rằng đợi khi quốc sự tạm yên sẽ nhập cận kinh sư, tấm lòng chân thành của thần, chỉ biết sợ mệnh trời tuân theo thiên tử, là chuyện đương nhiên của chức phận vậy.

Cúi lạy thánh thiên tử trời sinh là bậc chí đức, vị lộc danh thọ, tất cả đều gồm đủ.

Sang năm tháng Tám là dịp khánh tiết bát tuần vạn thọ, là thịnh sự cát tường, cả gầm trời đều vui mừng nếu như thần được hưởng chung ánh sáng của nhật nguyệt, cùng được vinh hoa đến chúc thọ thực là chí nguyện nên mong sao quốc sự sớm được yên phận, để đến khoảng xuân hạ sang năm có thể bẩm với Tổng đốc Lưỡng Quảng chuyển tấu để cho phép chiêm cận cho thỏa lòng thành kính, mong được bệ hạ chiếu xuống nơi hang vực thì hân hoan cảm kích biết chừng nào.

Còn về việc đề trấn đại viên của thiên triều trước đây bị thuộc hạ của thần lỡ tay giết hại, thần thật đau lòng hối hận, hoảng hốt không yên nên đã lập đàn tế lễ, lại kính cẩn chọn nơi đất lành, lập miếu ở nam quốc đô, xuân thu cúng bái để tỏ lòng thành thờ nước lớn, đáp lại thánh chỉ dặn phải hiếu trung. Có điều quan hàm thụy hiệu của các đề trấn đại thần cúi mong hoàng thượng giáng chỉ cho Tổng đốc Lưỡng Quảng công ban cho bản quốc để khâm tuân phụng tự, hầu chuộc được lỗi lầm xưa.

Về chiếc ấn cũ của An Nam cùng chiếc ấn năm ngoái bổ cấp đều là thưởng cho họ Lê. Thế nhưng trong khi binh hỏa loạn lạc, không biết ở đâu. Thần đã cho tìm kiếm khắp nơi khi nào thấy được sẽ đem nạp lại đổi lấy ấn mới may mắn hơn để truyền lại cho con cháu, ấy là đại nguyện của thần vậy.

Chỉ một điều sang năm thần tiến kinh, cùng các quân trưởng nước khác cung chúc vạn thọ hay khi liệt vào trong triều hạ, thần là kẻ hoang viễn thổ tù được ghé thêm trong vương hội, loanh quanh không biết đứng vào đâu, thật là sượng sùng e ngại.[5] Lại thêm nước thần từ khi Lê tộ cáo chung, binh lửa khắp nơi, nhân dân đồ thán, già trẻ ngơ ngác mong được sớm an cư, dự vào hệ thuộc để cho quốc nội ngày thêm hòa ninh.

Cúi mong thánh đức chiếu sáng chỗ tình nhỏ bé ấy, gia ân vượt bực ban cho thần phong hiệu để có được danh phận, nhờ cậy thiên sủng mà tiểu bang sớm cưu tập. Ấy là đức sinh thành trời che đất chở của thánh thiên tử để thần đời đời giữ một cõi nam, làm phên dậu cho thiên triều, một lòng cung thuận hầu mãi mãi hưởng thiên ân không bỏ mất.

Thần ở xa vọng về cung khuyết, ngưỡng vọng ân từ, hết sức cảm kích sợ hãi, kính cẩn dâng biểu này.[6]

2/ Biểu tạ ân

Tiểu mục nước An Nam thần Nguyễn Quang Bình kính cẩn tâu lên. Thần nhận được ngự tứ sắc thư, lại ban cho thần một vòng đeo bằng trân châu. Thánh ân dày nặng như thế, thần cảm kích thực không bến bờ nên vọng về cung khuyết phương bắc, đốt hương vái chín lần, xem nước thần trong lịch sử từ khi mở nước đến nay, chưa bao giờ được hưởng ân thịnh như thế.

Thần ngày đêm tự hỏi làm cách nào để báo đáp ơn trời che đất chở của thánh thượng, không lời nói nào tả xiết nên kính cẩn phụng biểu tạ ơn.

Cúi lạy

Mây sao xán lạn, rọi sáng mùa xuân của thời đế thế.

Mưa móc tràn đầy, ngưỡng vọng ân trạch của bậc thánh nhân.

Ơn lồng lộng ban xuống cho kẻ dưới, khắc sâu tấm lòng thành.

Ðại hoàng đế bệ hạ nguy nga như trời cao, chiếu xuống ôn hòa như gió mát.

Thể thì kiện toàn đầy đủ cả tứ thời tứ đức, bày ra đầu mối của vạn vật. Hợp tất cả thành một nhà một người, xiển dương vận thái hòa trinh nguyên.

Thần ở nơi hẻo lánh xa xôi nay được ơn trên trông xuống. Ðọc tỉ thư mà biết được lòng nhân khuyên nhủ vỗ về. Thuận theo mệnh thì gần gũi trong gang tấc. Ðeo vòng châu mà thấy được nghĩa thân thuộc hòa hợp.

Nguyện gắng sức qui phụ năm nghìn, khăng khăng một lòng hướng hóa, mãi mãi thụ hưởng tốt lành. Sợ thiên tử, thờ nước lớn nguyện bước đi vạn dặm một lòng. Giữ đất làm phên, ưu sủng phò cửu tiêu thấm ướt.

Thần hạ cảm kích không biết chừng nào nên kính cẩn gửi biểu tạ ơn này.

Xin tâu lên.

Liên tiếp từ giữa đến cuối tháng Sáu, Phúc Khang An gửi nhiều thư đến vua Quang Trung [ hiện nay về phía nước ta còn sao bản ngày 15 tháng Sáu, 28 tháng Sáu trong Đại Việt Quốc Thư (quyển I) và tài liệu Trung Hoa cũng còn một chiếu hội đề ngày 22 tháng Sáu]. Xem như thế, thời gian này thư từ qua lại giữa nước ta và quan nhà Thanh ở Quảng Tây rất xít xao chứng tỏ việc đang gấp rút.

Lá thư Phúc Khang An phúc đáp ngày 15 tháng Sáu trong Đại Việt Quốc Thư như sau:

Trước đây cháu của quốc trưởng Quang Hiển, cùng bọn bồi giới Nguyễn Hữu Trù tiến quan, đi đến Quế Lâm đã sai vệ úy Hồ Văn Tòng mang thư trở về Lê thành, bản tước các bộ đường cũng gửi kèm hịch văn phát vãng, chắc quốc trưởng đã biết cả rồi.

Nay quan viên văn võ đóng ở Trấn Nam Quan đệ lên một biểu văn tạ ơn, một biểu văn tấu sự của quốc trưởng, bản tước các bộ đường đã xem kỹ thấy trong biểu lời lẽ khẩn khoản, đầy vẻ cung cẩn cảm kích chân thành mà trong đoạn xin sang năm sẽ tiến kinh nhập cận chúc thọ thì lại càng tha thiết, rất thích hợp với đạo úy thiên sự đại[7] của thuộc quốc. Bản tước các bộ đường đã vì quốc trưởng mà tâu lên đại hoàng đế rồi, việc đó chắc sẽ được chấp thuận.

Còn như cống vật đem đến, có được thưởng thu hay không thì phải đợi thánh chỉ rồi tuân hành. Hiện bản tước đã sức cho quan viên trú đóng ở cửa quan, chuyển cho sứ giả đem biểu đến để người đó đem về Lạng Sơn đợi lệnh. Từ ngày hai mươi ba tháng Năm nhuận về sau, cháu quốc trưởng Quang Hiển từ Quế Lâm đi bằng đường thủy, mới đây theo lời quan hộ tống là Tả Giang đạo Thang [Hùng Nghiệp] bẩm xưng thì ngày mồng bốn [4] tháng Sáu đi đến tỉnh thành Trường Sa, Hồ Nam, đi đường bình an, tính toán thì vào khoảng trên dưới hai mươi [20] tháng Bảy có thể chiêm ngưỡng thiên nhan để được hưởng ân trạch.

Còn trong tờ biểu của quốc trưởng có nói là đã tuân chỉ vì các đề trấn[8] tử vong, lập miếu để thờ cúng, khẩn xin ban phát quan hàm,[9] thụy hiệu, bản tước các bộ đường[10] sẽ thay mặt trình lên, đợi khi nào khâm ban tới nơi sẽ gửi đến để tiện việc lập bài vị cúng tế cho cung kính.

Trong tờ biểu cũng có đoạn xin được thưởng phong hiệu. Bản tước các bộ đường trong hịch văn lần trước đã nói rõ ràng, hẳn là khi quốc trưởng gửi biểu đi chưa nhận được hịch trước. Quốc trưởng mới dựng nước nên ngẩng xin thánh chúa ban thưởng phong hiệu để thu phục nhân dân, tính từ nay cho đến mùa xuân sang năm cũng chỉ còn vài tháng, việc nước khi đó phần lớn cũng đã giải quyết xong, quốc trưởng sớm đến cửa quan thì có thể xin phong điển, bản tước các bộ đường sẽ chờ quốc trưởng ở Trấn Nam Quan cùng đến khuyết đình, yết kiến chúc thọ để tỏ lòng thành cảm kích cùng thỏa nguyện chiêm ngưỡng thiên nhan, thực là mỹ sự đáng mừng.

Còn Lê Duy Kỳ thì nay đã được thu nhận và giữ lại an tháp tại nội địa, các tông tộc cựu thần lần lượt chạy sang cũng phụng chỉ chia ra an tháp. Ấy là vì đức hiếu sinh của đại hoàng đế, bất kể người dân trong hay ngoài cũng đều đối đãi một chữ nhân, không để cho vất vưởng không nơi chốn. Những người đó đều là người cũ của họ Lê, nếu để lại An Nam thì quốc trưởng phải lưu tâm phòng phạm. Nay an tháp ở nội địa thì cả hai bên đều an toàn vô sự. Bọn họ an tháp rồi cũng chỉ được cấp lương ăn và tiền bạc qua ngày mà thôi. Nay quốc trưởng đã thành tâm qui thuận, tiến biểu xin được đích thân nhập cận, đại hoàng đế giáng chỉ bằng lòng rồi thì quốc trưởng đã vào hàng phiên phục của thiên triều, đại hoàng đế cúi xem lòng thành kính ắt sẽ càng khen ngợi, lẽ nào lại dễ dàng nghe lời kẻ dân dã chạy qua để họ gây rắc rối.

Quốc trưởng xưa nay ở nơi Quảng Nam hẻo lánh nên việc ở Trung Quốc chưa hẳn đã tường, chẳng hạn như trước đây đại hoàng đế bình định Chuẩn Bộ xong, có người Ách Lỗ Ðặc [厄魯特][11] bị Cáp Tát Khắc[12] bắt giữ, về sau từ Cáp Tát Khắc trốn qua đều được thiên triều thu nhận an tháp, cũng chẳng nghe lời người Ách Lỗ Ðặc mà hưng sư vấn tội Cáp Tát Khắc. Hiện nay Cáp Tát Khắc cũng đã thành thực đầu phục để nhận được ân điển, đủ thấy đại hoàng đế phủ ngự vạn quốc, ai chống lại thì đánh dẹp, ai thuận theo thì vỗ về, ân tín khắp nơi, trong ngoài không đâu không nghe thấy.

Nay lại vì quốc trưởng mà mở lòng thành thực, bày ra công đạo hiểu dụ thật rõ ràng. Đức hiếu sinh của đại hoàng đế không khác gì trời đất nên đã trù hoạch cho thật an toàn để quốc trưởng nhìn lên càng thêm cảm kích, đội ơn mà hết nghi ngại, ngõ hầu mãi mãi nhận được thiên ân, mong cầu phúc nhiều thêm nữa.[13]

Được tin này, ngày 22 tháng Sáu vua Quang Trung gửi lại cho Phúc Khang An một bẩm văn như sau:

… Nay được thánh chỉ ban cho ưu đẳng khác thường, trước nay chưa từng có, cho phép tiểu phiên đến triều đình chúc thọ, ấy chẳng phải ơn tràn vượt lẽ, thật là đại nguyện hay sao? Thế nhưng có chút lòng thành, cũng đã tâu lên ở tấu sự biểu lần trước, kính mong tôn đài rộng lòng thẩm tất.

Phàm là nước mới dựng mà được dự vào hàng thân vương, quang vinh thịnh mỹ đến thế thì lẽ nào lại trì hoãn mà không mau mau chiêm cận cho sớm sủa, để được hưởng cái phúc vô cùng, cái việc tôn đại nhân lo cho tiểu phiên, ấy cũng là cái kế lo cho sinh linh của bản quốc.

Thế nhưng khi tiểu phiên đến quan thì sẽ nhận được phong điển, người hiểu biết thì nói rằng ấy là vì thiên triều đã định sẵn như thế rồi, còn kẻ không biết thì lại bảo rằng đại hoàng đế xử với người dưới có điều phân biệt. Kẻ biết thì ít, kẻ không biết thì nhiều, đen trắng khác nhau, hai đằng lẫn lộn cho nên tiểu phiên mới thiết tha đến việc sớm định danh phận, ấy là do lòng chí thành mà ra, chứ không phải dám rức lác ở trước nơi đài giám mà chỉ là tấm chân tình xin đại nhân giúp mà ngọc thành cho …[14]

Ngày 22 tháng Sáu, Phúc Khang An gửi một lá thư có đoạn như sau:

…Đại hoàng đế thấy quốc vương mới mở nước cần dựa vào sủng linh của thiên triều mới có thể tập hòa dân chúng nên đã thực tình tâu lên, hết sức khen ngợi đặc biệt giáng chỉ ban cho phong hiệu, lại làm một bài thơ, đích thân ngự bút, ra lệnh cho bản tước các bộ đường giao cho quốc vương nhận lãnh. Còn cống vật đưa lên cũng gia ơn thu nhận.

Quốc vương vốn là người áo vải đất Tây Sơn được vinh hạnh dự vào hàng phiên phong, thật quang vinh đến cực điểm, tôi không thể không vui mừng. Trước đây vì quốc vương chưa nhận được phong hiệu, nên trong các hịch văn phải dùng chữ ông tôi mà gọi. Nay quốc vương đã được thụ phong, bản tước các bộ đường và quốc vương cùng là bầy tôi của thiên triều, cùng một thể với các phiên vương khác, từ nay thư từ qua lại không còn dùng ông tôi gọi nhau nữa. Còn cháu của quốc vương là Quang Hiển thì trung tuần tháng Sáu đã qua cảnh giới tỉnh Hồ Bắc, đến khoảng 20 tháng Bảy có thể chiêm ngưỡng thiên nhan, được cấp cho ấn tín sắc thư mang về.

Quốc vương trong khoảng mùa Xuân sang năm đến cửa quan, bản tước các bộ đường sẽ chờ ở đấy cùng lên khuyết đình, triển cận chúc thọ để cho thỏa lòng chiêm vân tựu nhật. Trong tờ biểu quốc vương cũng cho biết đã tuân chỉ lập miếu thờ các đề trấn đại viên tử trận nên xin quan hàm thuỵ hiệu thì tôi cũng đã thay mặt tâu lên mong đại hoàng đế khen tặng mà chuẩn thuận rồi ban phát.

Còn Lê Duy Kỳ thì hiện đã thu lưu an tháp tại nội địa, như thế cả hai bên đều yên ổn vô sự, ấy cũng là vì quốc vương mà trù liệu một kế sách thiện toàn. Bọn họ sau khi đã an định rồi chẳng qua cũng chỉ được cấp lương ăn, sống qua ngày, còn quốc vương nay đã là phiên phục thiên triều, chẳng ai nghe lời những người dân chạy qua nội địa để thêm rắc rối. Quốc vương như vậy dứt hẳn nghi ngờ, càng thêm cảm kích mãi mãi nhận được ân quyến đời đời truyền cho con cháu, nay báo tin này.[15]

Lá thư ngày 28 tháng Sáu nội dung như sau:

Trước đây quốc trưởng đã nhận được sắc thư và vòng trân châu của đại hoàng đế ban cho nên đã cung kính dâng tạ biểu, tấu sự biểu sai người đem đến cửa quan. Bản tước các bộ đường đã xem kỹ những tờ biểu đó thấy lời lẽ tình tiết cực kỳ cung cẩn, khẩn thiết, quả là từ lòng chí thành, thật thích hợp với nghĩa sợ mệnh trời thờ nước lớn [畏天事大 – úy thiên sự đại][16] nên bản tước đã thay quốc trưởng tâu lên, đại hoàng đế cũng đã viết một hịch văn [gửi cho quốc trưởng] dụ mọi việc rõ ràng.

Hiện thời đã qua tiết Lập Thu, bấm đốt ngón tay, đến kỳ xuân sang năm quốc trưởng tiến kinh nhập cận chỉ chớp mắt đã tới, hẳn là quốc trưởng đang sai người thay quyền đảm trách việc nước để qui tụ nhân dân là việc trước nhất mà người khai quốc tạo bang phải trải qua.

Cháu quốc trưởng Quang Hiển khi đến tỉnh có nói rằng vì quốc trưởng chưa được thụ phong, sang năm cùng những người đứng đầu nước khác cùng đến khánh chúc không khỏi tủi thẹn.[17] Bản tước hiểu rằng quốc trưởng thấy đại hoàng đế chưa ban phong hiệu nên trong lòng thiết tha mong mỏi, có biết đâu đại hoàng đế độ lượng như trời, ân tràn như biển, sang năm quốc trưởng tiến kinh khi đến cửa quan thì lập tức có thể xin phong điển.

Những điều đó bản tước các bộ đường đã phân tích rõ ràng trong hịch dụ cùng khi xem biểu văn quốc trưởng gửi đến cũng đề cập đến rồi, có lẽ vì chưa nhận được hịch văn lần trước nên mới sơ sót.

Ðại hoàng đế thống ngự hoàn vũ, ban tước định chế đều có cấp bậc. Tước vương vượt trên cả năm cấp,[18] thân vương lại đứng đầu các phiên, không chỉ trong tông thất có thân vương, quận vương mà vương tước của ngoại phiên cũng chia ra thân vương, quận vương nữa.

An Nam vốn là nước phên dậu, từ trước đến nay đều được phong tước vương, quốc trưởng nay đã hối tội đầu thành, sang năm đích thân đến kinh đô, cung chúc vạn thọ, đại hoàng đế rất vui mừng, hiện bản tước đã nhận được dụ chỉ rằng khi nào nhập cận sẽ phong cho chức thân vương, cùng một thể với tông thất ngoại phiên thân vương, xếp ở trên tông thất ngoại phiên quận vương. Như thế đại hoàng đế không những đã chuẩn cấp phong tước mà cũng còn đã sắp xếp đẳng cấp vị thứ rồi chỉ còn đợi ban cấp thôi.

Quốc trưởng vốn là người áo vải[19] đất Tây Sơn, nhân thời thế mà khởi sự nên bao trùm cả đất Giao Nam nay được cùng hưởng ân sủng với hàng tông thất phiên phong. Còn bản thân quốc trưởng được phong chức ưu đãi, để lại cho con cháu vô cùng quang vinh thịnh mỹ thật không gì sánh kịp, bản tước các bộ đường xin chúc mừng quốc trưởng mà cũng chúc mừng luôn toàn thể thần dân nữa, vậy thì còn gì mà trì hoãn không sớm khởi trình ư.

Hồi năm ngoái khi đại binh chưa xuất quan,[20] thủ hạ của quốc trưởng là đốc đồng trấn Mục Mã [牧馬] Nguyễn Viễn Du [阮遠猷], cai kỵ Chu Ðình Lý [朱廷理], bị các thổ ti bắt trói cùng với những người đi theo thủ hạ quốc trưởng là bọn Bùi Danh Vượng [裴名旺] sáu người do nghĩa dân quan ngoại giải lên, đều đang giam tại phủ Thái Bình. Nay quốc trưởng đã thành thực qui phục và bản tước các bộ đường cũng đã tâu lên đại hoàng đế nên nhận được ân chỉ không trị tội thêm mà phóng thích cho về nước.

Ngoại trừ một người là Nguyễn Viễn Du đã bị bệnh chết hồi tháng tư, còn bọn Chu Ðình Lý tất cả 7 người đã chuyển sức cho hộ đạo Tả Giang Lâm [tức Lâm Hổ Bảng] cấp cho họ lương ăn, y phục rồi cho người hộ tống xuất quan, giao lại cho trấn mục Lạng Sơn. Ấy là những ân trạch phi thường, chắc quốc trưởng biết rồi nên lại càng thêm kính trọng, cảm kích và vui mừng.

Mùa xuân sang năm, bản tước các bộ đường sẽ ở quan nội chờ quốc trưởng để cùng khởi thân nhập cận, lạy ở khuyết đình để tỏ lòng thành. Ðại hoàng đế trong ngoài đều coi như một nhà, hạ di đều coi như một thể, thần dân An Nam cũng đều được che chở ôm ấp. Vậy lúc này quốc trưởng nên kính cẩn bố cáo lòng nhân của hoàng thượng, vỗ về để mọi người cùng qui về một mối không để sót một chỗ nào, ai nấy hướng tới thì mọi người vui vẻ, trong biên cảnh ngày thêm an ninh như thế mới mãi mãi được hưởng ưu quyến vậy.

Cháu quốc trưởng Quang Hiển đã đi tới tỉnh Hồ Bắc, trên đường tất cả đều tốt lành, không cần phải lo lắng.

Ðặc hịch.

Càn Long năm thứ 54, ngày 28 tháng Sáu. [21]


MẬT TẤU CỦA PHÚC KHANG AN VỀ VIỆC ĐÀM PHÁN

Thần Phúc Khang An, thần Tôn Vĩnh Thanh, thần Hải Lộc tâu lên:

Nhận được dụ chỉ truyền cho Nguyễn Quang Hiển tiến quan để tuyên thị ân luân nên phúc tấu mong thánh thượng xem xét.

Ngày 19 tháng này [đây là tháng Tư] bọn thần nhận được dụ chỉ trong đó nói rằng:

Nguyễn Quang Hiển đến quan xin hàng ắt là phải tuân lệnh Nguyễn Huệ mà làm chứ chưa hẳn đã vì do Phúc Khang An đòi hỏi. Vậy nay minh giáng sắc dụ ra lệnh cho Nguyễn Quang Hiển sai người kính cẩn mang về giao cho Nguyễn Huệ xem kỹ.

Còn như Nguyễn Quang Hiển khẩn khoản xin tiến kinh chiêm cận thì nay chuẩn cho lai kinh, làm sao sau ngày 20 tháng Bảy đến được Nhiệt Hà, lúc đó chư vương công thai cát Mông Cổ cũng đến triều để cùng được vinh dự hưởng yến tiệc thì rất hay.

Lại cũng ra lệnh cho Thang Hùng Nghiệp đưa họ lên kinh theo đường Quế Lâm để gặp Lê Duy Kỳ nói cho họ biết rằng vì họ Lê nhiều đời cung thuận nên không nỡ xử tội mà đưa đi an tháp, mai sau không thể nào đưa trở về Lê thành làm chủ nước nữa. Hãy ra lệnh cho Nguyễn Quang Hiển đem các tình tiết đó viết rõ ràng gửi về cho Nguyễn Huệ bảo đừng có nghi kỵ sợ hãi và Phúc Khang An nói rõ sang năm khi Nguyễn Huệ khởi hành thì bản bộ đường sẽ cùng đi.

Thế nhưng việc Nguyễn Huệ tình nguyện đến kinh đô cũng mới chỉ là do miệng Nguyễn Quang Hiển nói, trong tờ biểu và tờ bẩm không thấy có lời này. Vậy Phúc Khang An hãy đem tình hình lần đó gặp Nguyễn Quang Hiển thế nào cứ thực trình lên. Và bản sao thiên Ngự Chế An Nam Ký nếu chưa gửi lại Phúc Khang An cũng hãy tuyên thị cho Nguyễn Huệ biết.

Còn như lời tâu xin thưởng cho Thang Hùng Nghiệp đeo hoa linh (lông chim trên mũ) thì nếu người di nghe biết thì sẽ tưởng như thiên triều có ý muốn cho mau xong việc, sao Phúc Khang An không nhìn ra chỗ đó, vậy đợi khi y [Thang Hùng Nghiệp] đến Nhiệt Hà lúc đó trẫm sẽ xem xét ra ơn. Còn Lê Quýnh đã đến cửa quan chưa cũng phải tâu lên một thể, Nguyễn Huệ thái độ ra sao khi mở coi tờ chỉ cũng phải tâu lên rõ ràng cho trẫm biết.

Nhân khi nhận được sắc dụ cho Nguyễn Quang Bình bằng hai thứ tiếng Thanh (Mãn) và Hán văn, một vòng trân châu bọn thần quì đọc thấy thánh chúa chỉ thị rõ ràng quả đúng là đạo vừa trấn nhiếp vừa chiêu dụ cho thấy phương sách phủ ngự của hoàng thượng trấn phục tứ di mấy chục năm qua, đức ý uy thanh đều đầy tràn …

Từ khi Nguyễn Quang Hiển đến cửa quan tiến biểu xin hàng cùng bọn Nguyễn Hữu Trù về sau đến quan tạ ơn mọi thứ tự đều do bọn thần tuân theo thánh dụ mà chỉ thị rằng sang năm khi Nguyễn Huệ tiến kinh nhập cận nhân kỳ Bát Tuần Vạn Thọ sẽ được phong tước, lại cũng dụ cho y biết Lê Duy Kỳ nay đang an tháp ở Quế Lâm, bất quá không bị tru diệt, chỉ cho làm thường dân, lẽ nào còn đưa về nước, việc đó cũng đã tâu lên …

Bọn thần tra xét thấy nước An Nam từ họ Đinh đầu đời Tống đến nay đều nhận phong hiệu nhưng cừ trưởng (người đứng đầu) chưa bao giờ đến Trung Quốc, gã di trưởng này tuy cách bang, ở nơi vắng vẻ nhưng chắc cũng có sách vở để kê cứu. Nguyễn Huệ nhân gây hấn với họ Lê nên đến nỗi đắc tội với thiên triều còn lưu lại dấu tích, nếu y không đích thân lên kinh triều cận thì không thể nào xoá được vết cũ. Thế nhưng người di bản tính đa nghi mà trong sự ngờ vực y cũng còn sợ hãi chưa dám đích thân sang nên sai cháu là Nguyễn Quang Hiển đến quan xin nhập cận. Việc ấy chưa hẳn vì biết mình có tội sợ thiên triều không tha mà cũng còn nghi ngại nên mới nói rằng Lê thành chưa yên không đi xa được, chẳng qua cũng là lời nói khéo che đậy việc sợ rằng một khi sang Trung Quốc thì thiên triều nhân dịp đó sẽ đưa Lê Duy Kỳ đang ở nội địa về.

Thần từ khi đến Trấn Nam Quan rồi quay về Nam Ninh tới nay tính ra cũng đã tròn hai tháng, ngày đêm tính toán làm cách nào để giải trừ nghi ngại sợ hãi [cho Nguyễn Huệ], suy đi tính lại mà chưa có chủ kiến. Nay nhờ hoàng thượng chuẩn thuận cho Nguyễn Quang Hiển lên kinh đô nhập cận đến thẳng sơn trang để cùng vương công thai cát Mông Cổ dự yến cho bọn họ vốn ở nơi hoang vắng man tục được dịp xem mây gần ánh sáng (mặt trời), biết Trung Quốc rộng lớn thế nào, thiên triều uy nghiêm thế nào, thánh ân tràn khắp thế nào để y đời đời đều được vinh hạnh.

Dụ chỉ lại ra lệnh đổi lộ trình qua Quế Lâm để gặp Lê Duy Kỳ, cho biết đứa trẻ hèn yếu vong quốc kia hưởng đức hiếu sinh của hoàng thượng, tuy không giam cấm nhưng cũng không vun trồng. Nguyễn Quang Hiển đem tình hình đó viết thư cho Nguyễn Huệ chắc nghi ngờ sợ hãi đều tiêu tan …

Trước đây bọn thần có tâu lên rằng Nguyễn Huệ tình nguyện đến kinh đô, trong biểu văn và bẩm thiếp tuy không có những lời ấy nhưng hôm trước khi Nguyễn Quang Hiển tiến quan thì bọn thần cũng đã giảng giải tường tận cho y biết đại nghĩa thì y có nói rằng chú y là Nguyễn Quang Bình đợi cho việc nước tạm yên thì sẽ nhập kinh để triều cận thiên nhan. Bọn thần xem sắc mặt y và lời nói cực kỳ cung kính hẳn là do lòng chí thành của Nguyễn Huệ, không phải là Nguyễn Quang Hiển đến lúc đó mới nói như thế. Cũng vì lời nói đó do khi khẩn yếu e rằng thông sự dịch lại có khi không đúng nên đã lấy giấy bút bảo y viết ra thì cũng giống như lời nói, bọn thần liền đem tờ giấy đó trình lên.

Trộm nghĩ Trung Quốc chăn dắt ngoại di cốt trọng đại thể, bọn thần chịu ơn sâu nặng, chỉ biết tuyên dương đức sáng, phô bày uy nghiêm đễ vỗ yên Giao Nam nhưng vì kiến thức không đủ, suy nghĩ chưa thấu đáo nhưng lúc nào lời ăn tiếng nói cũng tuân theo thánh huấn không dám nói ngoa …

Còn Tả Giang đạo Thang Hùng Nghiệp từ năm ngoái bắt đầu việc An Nam thì đã theo thần Tôn Vĩnh Thanh lo việc đài trạm lương hướng ở nội địa, không nề khó nhọc, tận tâm tận lực. Từ khi triệt binh ở Lê thành về sau, viên đạo đó cùng người di trao đổi giao thiệp, việc gì cũng thoả đáng.

Bọn thần nhân vì chuyện y ra sức đã một năm nên mạo muội tâu lên xin thưởng cho hoa linh nhưng không nghĩ đến lúc này lập tức ra ơn thì sẽ lộ ra là mong cho chóng xong việc, may được thánh thượng sáng suốt chỉ thị mới biết xin như thế là sai lầm, thật sợ hãi không đâu kể xiết.

Thang Hùng Nghiệp hiện đang ở Nam Quan, bọn thần đã đem sắc dụ, vòng châu kính cẩn gói lại kỹ càng rồi sai người đem đến cửa quan. Thần Phúc Khang An cũng đã viết một hịch văn giao cho Thang Hùng Nghiệp bảo Nguyễn Quang Hiển gửi thư gửi về Lê thành báo cho Nguyễn Huệ biết, đồng thời gấp rút chuẩn bị hành trang cùng đồng bọn khởi trình lên kinh đô.

Tính toán ngày giờ thì cuối tháng này Nguyễn Quang Hiển có thể tiến quan còn Nguyễn Huệ thì sau ngày vọng tháng Năm nhuận sẽ có tạ biểu. Y cảm kích sợ hãi uy đức bao nhiêu nghi ngại sẽ không còn, tuân chỉ sang năm nhập kinh chiêm cận để được dự vào hạng phiên phong, không nói từ xưa đến nay chưa hề nghe đến mà cũng là lần đầu cho nước An Nam …

Nguyễn Huệ từ khi sai Nguyễn Quang Hiển đến cửa quan tiến biểu, ở Lê thành chờ đợi thánh chỉ, những người di trên đường được Nguyễn Huệ hiểu dụ rằng nếu như gặp biền binh thiên triều đi lạc tụt hậu thì hãy cho họ ăn uống, cấp kinh phí cho họ. Những ngày gần đây lại còn cho cả quần áo, mỗi trạm còn cho cả tiền ăn đường, khi thì một nghìn đồng, khi thì vài trăm đồng, từ mồng 7 tháng Tư đến nay bọn thần đã được báo rằng trong số binh phu tiến quan có cả thiên tổng Tống Phùng Chấn, ngoại uỷ Lâm Đại Chương bà binh sĩ 60 người. Bọn thần tra hỏi từng người, Tống Phùng Chấn, Lâm Đại Chương đều khai rằng chưa từng gặp Nguyễn Huệ, không dám dấu diếm,[22] bọn thần đã tuân chỉ ra lệnh cho họ trở về bản doanh.

Còn Lê Quýnh thì bọn di mục Nguyễn Doãn Tuấn tiến quan có khai rằng y có dấu quả ấn trong người đến xứ bắc thì bị bệnh không đi thêm được nên đang đi trốn trong núi ở đó. Bọn thần đã ra lệnh cho Lê Huy Đông, Nguyễn Liêu là hai người đi cùng với Nguyễn Doãn Tuấn tiến quan trở về dò tìm tung tích nhưng trong hơn một tháng nay không nghe tin gì về Lê Quýnh kể cả tra hỏi người di tiến quan cũng không ai biết gì.

Nếu như Lê Quýnh không phải bị bệnh thì tin về ấn triện do lời bọn Nguyễn Doãn Tuấn nói ra thì cũng chưa đủ làm bằng, bọn thần sẽ tìm hỏi thêm xem ở đâu và sẽ tâu lên ngay… Bọn thần kèm theo bản hịch dụ Nguyễn Huệ để hoàng thượng xem xét.

Chuyển theo đường dịch năm trăm dặm (một ngày).

Càn Long năm 54 ngày 21 tháng Năm.

Thanh Quí Nội Các Đáng Án Toàn Tập

Minh Thanh Sử Liệu, Canh Biên

Bắc Kinh, Học Uyển 1999

Quyển 11, tr. 4220-3

PHẢN ỨNG CỦA THANH TRIỀU

Hai tờ biểu của vua Quang Trung được chuyển lên theo cách hoả tốc khiến vua Thanh thay đổi chủ ý. Khi hay tin Nguyễn Quang Bình công khai việc sang chúc thọ, vua Càn Long lập tức viết cho Phúc Khang An một dụ chỉ minh xác thuận cho Nguyễn Quang Bình làm An Nam quốc vương. Ngoài lễ tiết chính thức, vua Càn Long cũng gửi thêm một đặc dụ nêu rõ việc ấy kèm một bài ngự thi do chính tay ông viết.

Theo nội dung chỉ dụ vua Càn Long gửi Phúc Khang An, ông muốn sai một viên quan cấp địa phương [phủ đạo] mang sang giao cho Nguyễn Huệ bài thơ và sắc thư báo cho biết rằng hoàng đế đã thuận phong cho ông làm quốc vương và khi Nguyễn Quang Hiển mang sắc thư và ấn về, một phái đoàn chính thức sẽ sang nước ta thi hành đại lễ cho thật long trọng.

Ngày 13 tháng Bảy, binh bị đạo Tả Giang là Lâm Hổ Bảng gửi thư cho nước ta theo lối hoả tốc [600 dặm một ngày] thông báo cho biết sơ tuần tháng Tám thì khâm sứ nhà Thanh sẽ đến Nam Quan và yêu cầu chuẩn bị các đồ dùng cần thiết trên đường đi, phu mã, tu bổ công quán,và tập luyện điển lễ sách phong. Việc Lâm Hổ Bảng gửi thư cho nước ta cũng trùng với việc Phúc Khang An tâu lên vua Càn Long rằng vì không có đạo phủ nào người Mãn Châu đang ở Quảng Tây để sai đem sắc dụ và ngự thi sang nên ông ta xin cử một chương kinh là viên ngoại lang bộ Lễ Thành Lâm sang nước ta làm việc này.[23]

Nghe tin này, phái đoàn nước ta lên đợi sẵn ở cửa quan từ tháng Bảy. Hai viên quan văn võ được lệnh đón ở cửa quan là Dũng Phái Hầu Vũ Vĩnh Thành, chức vụ đô đốc[24] và Thuỵ Nham Hầu Phan Huy Ích, chức vụ Hình bộ tả thị lang. Về sau Vũ Vĩnh Thành bị bệnh bất ngờ nên đô đốc Nguyễn Văn Thọ lên thay, có đô đốc Lê Xuân Tài điều động 500 vệ sĩ lên cửa quan nghênh đón và hộ tống.

Ngoài hai viên trọng thần, còn có 4 viên hầu mệnh [đợi để tuỳ nghi lo công việc được giao phó] là Tô Xuyên Hầu Lê Doãn Điều[25], hiệp trấn Lạng Sơn, Đạo Thành Hầu Phan Tú Đạo, chánh sứ phái đoàn tạ ơn, Mi Xuyên Bá Đào Xuân Lan, nhiệm vụ phó sứ và Hải Phái Bá Đoàn Nguyễn Tuấn, hàn lân viện hiệu thảo lo việc giấy tờ.

Đầu tháng Tám, Phúc Khang An sai Lâm Hổ Bảng thông báo cho nước ta biết phái bộ đem sắc thư và ngự thi đến giao cho Nguyễn Huệ (ở Thăng Long) đồng thời phụng mệnh thanh tra và kiểm soát mọi cung đốn trên đường đi, các công quán trạm nghỉ để bẩm lên trước khi sắc lệnh phong vương và ấn bạc được đem sang làm lễ.

Trong lá thư của Lâm Hổ Bảng có chép nguyên văn lời của Phúc Khang An như sau:

Chiếu theo bản tước các bộ đường ngày hai mươi [20] tháng Sáu năm nay, quốc vương nước An Nam là Nguyễn [Quang Bình] đã sai đầu mục cung kính mang một đạo biểu tạ ơn, và một tờ biểu xin được sang năm tiến kinh triển cận chúc thọ, tất cả hai đạo, tiến quan được bản tước các bộ đường đem nguyên biểu do dịch mã chuyển tấu.

Ngày mồng mười [10] tháng Bảy, tổng đốc khâm phụng dụ chỉ nói là biểu văn lời lẽ cung cẩn, việc sang năm xin đích thân nhập cận quả là thành thực, thánh tâm rất vui mừng nên lập tức giáng ân chỉ phong Nguyễn Quang Bình làm An Nam quốc vương.

Còn sắc thư phong tước và ấn thì sau khi Nguyễn Quang Hiển nhập cận sẽ ra lệnh đem về nước. Ngoài tờ biểu trình tiến cống vật mong được thu nhận ra, hiện hoàng đế cũng ban cho một đạo sắc thư và một bài thơ ngự chế do chính hoàng đế viết. Nay bản tước các bộ đường đặc phái hậu bổ đạo Thành [Lâm] cùng thự[26] đồng tri phủ Nam Ninh, Quảng Tây Vương [Phủ Đường] cung kính mang sắc thư và ngự chế thi xuất quan đến thẳng Lê thành đích thân giao cho quốc vương kính cẩn nhận lãnh.

Xét lần này viên quan mang sắc thư và thơ ngự chế tuy do bản tước các bộ đường phái qua, không phải là sắc sứ [sứ thần do vua sai đi] nhưng đã là người mang sắc thư và ngự chế thi thì phải phục vụ một cách kính cẩn cũng như đại viên mang đến cho quốc vương vậy.

Còn như tiến biểu để xin ân tứ phong hiệu [tuy chưa được] nhưng được ban sắc thư và ngự thi để tưởng lệ thì cũng là sủng vinh vượt bực rồi, ân điển, ưu quyến như thế là hay lắm. Quốc vương kia từ khi nạp khoản thâu thành đến nay [tức là thành tâm thần phục nhà Thanh], phụng sự thiên triều từ lời văn đến lễ nghi đều rất là cung cẩn nên được thánh chúa trông xuống ân sủng phi thường. Nay nhận được sắc và thơ, cả nước đều thêm rực rỡ, quốc vương hẳn cảm kích gấp bội, càng vui sướng nên đợi trước để đón tiếp.

Nghe nói từ Trấn Nam Quan đến Lê thành, đường sá cầu cống ngay từ lần trước nhận sắc thư và châu xuyến quốc vương đã cho tu sửa, lần này chắc sẽ còn thêm nhiều. Còn việc phái quan viên sang thì phu mã cần dùng đều do nội địa chuẩn bị từ trước khi xuất quan, không để cho quí quốc phải lo liệu, cả đến những gì cần dùng khi nghỉ trên đường thì cũng tự mang theo. Thế nhưng bản tước các bộ đường xem gốc tích quốc vương thấy luôn luôn chu đáo, làm việc gì cũng vuông tròn nên nay lúc mới thụ phong, vui sướng kính cẩn nói không sao hết được. Cho nên khi người được sai đến biên cảnh rồi thì việc cung ứng trên đường đi ắt vạn phần chu đáo, vạn phần ổn thỏa. Thế nhưng cũng đừng có rườm rà tốn phí, chỉ nên dự bị phu mã để thay thế những phần bị mệt mỏi, đôi khi có việc cần đến thì mua cho đủ dùng, như thế ủy viên[27] đi lại yên ổn và nhanh chóng.

Quốc vương được thụ phong sớm một ngày thì là một ngày sớm toại nguyện, chẳng phải là thịnh sự tốt lành hay sao.

Chính vì thế, bản tước các bộ đường đã trát sức cho hộ đạo lâp tức theo hịch mà lo liệu, báo ngay cho trấn mục Lạng Sơn tức tốc bẩm lên quốc vương kính cẩn tuân chiếu.[28]

Ngày 13 tháng Tám, Phan Văn Lân và Nguyễn Văn Danh [là hai đại thần lưu thủ Thăng Long] báo cáo cho vua Quang Trung [đang ở Nghệ An] rằng Phúc Khang An đã gửi thư cho biết “[chế hiến] đã nhận được dụ chỉ của đại hoàng đế chuẩn thuận cho Nguyễn Quang Bình làm vua ở An Nam [chế hiến] đã ủy cho đại viên bưng sắc thư đến An Nam tuyên cáo cho mọi người rõ, lại phụng mệnh xem xét công quán, nhu dụng, phu mã, đệ dịch của bản quốc cùng điển phong, điển lễ và chương trình đón tiếp, tất cả mọi việc liệt kê rồi bẩm báo trở lại để [chế hiến] theo đó mà tâu lên”.

TẤU THƯ CỦA PHÚC KHANG AN

NGÀY 15 THÁNG BẢY NĂM CÀN LONG 54

Thần Phúc Khang An quì tâu

Đã tuân chỉ cho người cung kính bưng sắc thư và ngự chế thi chương, kính cẩn đem sang An Nam nên tâu lên.

Thần khâm phụng thượng dụ:

Phúc Khang An tâu rằng Nguyễn Huệ đưa biểu tạ ơn lại tha thiết xin được triển cận, trẫm thấy biểu văn cực kỳ cung cẩn, thực quả xuất phát tự lòng cảm kích chí thành, còn phần xin được chiêm cận chúc thọ thì lại càng thêm khẩn khoản.

[Quốc vương] nước đó trấn phủ dân chúng toàn do tước phong của thiên triều. Huống chi lúc mới tạo bang mọi việc đều chưa yên định, càng phải chính danh định phận nên tuyên thị rõ ráng ấy là kế lâu dài để phủ tuy kẻ ở xa.

Nay Nguyễn Huệ đã hối tội đầu thành nên không còn dám phản phúc nếu như đợi cho đến khi đích thân nghệ khuyết rồi mới phong tước thì không khỏi khiến cho ngoại di coi nhẹ thiên triều. Cho nên trẫm đã minh giáng dụ chỉ phong cho Nguyễn Huệ làm An Nam quốc vương, lại gửi sắc dụ để hiểu thị trước cho rõ ràng đồng thời cải chính hịch văn trước đây Phúc Khang An đã gửi xuống. Còn như sắc thư và ấn thì đợi khi Nguyễn Quang Hiển nhập cận trở về sẽ ra lệnh đem theo. Việc trình tiến cống vật thì hãy thu nạp đưa lên kinh đô đợi trẫm thưởng thêm.

Lại thêm nhân việc Nguyễn Huệ tiến biểu tạ ơn [nên trẫm] đã đặc biệt làm một bài thơ, chính tay viết để ban cho, cùng với sắc dụ thưởng cho Nguyễn Huệ cùng gửi đến Phúc Khang An, lại ra lệnh sai một viên chức phủ đạo nào có khả năng người Mãn Châu là người của tổng đốc đích thân đem sang An Nam giao tận tay Nguyễn Huệ.

Nghi thức tương kiến khi gặp Nguyễn Huệ thì Phúc Khang An hãy tận mặt bảo đạo phủ kia nói với quốc vương rằng đây là tổng đốc khâm tuân ngự thi, thượng dụ mà sai đại viên đem sang so với sắc sứ không kém bao nhiêu, cũng không nên để nhẹ thể của mình. Nay nhận lệnh mang sang một đạo sắc dụ, một bài thơ ngự chế đủ biết hoàng thượng ta nhìn xa trông rộng, lượng thánh bao la, vỗ về kẻ dưới, hết lòng đối với các nước phiên phục.

Tra Nguyễn Quang Bình trước đây nhận được sắc thư ban cho một vòng trân châu đã gửi biểu tạ ơn thật khẩn thiết chí thành còn tờ biểu xin được triển cận thì lời lẽ lại càng tha thiết, nói rằng vì chưa có được tước hiệu nên trong lòng thấy sượng sùng thì quả là muốn được phong nhưng không dám nói thẳng ra như vậy nên thần ngu muội mà bảo rằng việc nhập cận cầu phong thì sang năm nhập quan sẽ được phong hiệu nên trong hịch văn gửi y lần trước đã nói rõ ràng.

Nay thánh huấn bừng bừng đem lẽ trời mà bảo rằng bậc vương giả “chia đất không chia dân”, con đỏ đất An Nam cũng là dân không thể không có người chăn dắt nên đặc biệt giáng ân chỉ lập tức phong cho Nguyễn Quang Bình làm An Nam quốc vương để có thể cai trị dân chúng, giữ yên bờ cõi nên khâm ban sắc dụ, sủng tứ thi chương để cho con cháu đời đời gìn giữ dùng làm quốc bảo thánh mô chiếu sáng rực rỡ như nhật nguyệt.

Nguyễn Quang Bình tuy trông ngóng ân trạch nhưng không thể nào liệu được rằng ơn trên lại nhanh đến như thế, từ nay đã có phong hiệu, định phận chính danh, được như thế mới có thể vỗ về người trong nước, tụ tập dân chúng thực là mừng không sao kể xiết, trong lòng cảm kích còn thêm vui mừng hớn hở để sang năm mau mau nhập kinh chúc thọ triển cận cho thoả lòng thành chiêm tựu, mà thần dân trong ngoài cũng cảm ngưỡng hoàng đế ta phủ ngự ngoại di, cả ân lẫn uy đều sáng chói. Trừ kẻ nghịch, vỗ về người thuận, đại nghĩa được đề cao, biện lý toàn cục nước An Nam thật là vạn phần tốt đẹp khiến thần khâm ngưỡng kính phục không thể sao cho hết.

Còn như phụng ban sắc dụ và ngự chế thi chương, sai thần phái một viên đạo phủ nào có khả năng người Mãn Châu đem đi thì tra trong các đạo phủ ở Quảng Tây không có người Mãn Châu nào cả. Ở Quảng Đông đạo Triệu La có A Chương A Huệ (阿彰阿惠), đạo Triều Gia có Đồ Tất Hách (圖畢赫) hai người nhưng việc biện lý An Nam chưa từng đích thân trải qua.

Tra ra có người phụng chỉ cử đến Việt Tây để theo thần biện lý biên vụ là chương kinh trong Quân Cơ Xứ người Mãn Châu là Lễ bộ viên ngoại lang Thành Lâm, trước đây thần tâu lên để cho viên này ở lại đất Việt khi nào có chỗ khuyết thì bổ dụng. Viên này theo thần ở Trấn Nam Quan lo liệc việc biên cương nên việc Nguyễn Quang Bình nạp khoản đầu thành đều qua tay y rất rành rẽ. Thành Lâm là người biết tỏ tường lại hiểu thể diện, năm trước theo thần ở Đài Loan tiễu giặc đã được ân thưởng đeo hoa linh (lông chim trên mũ) cũng đủ cho người ngoài trông vào, trước đây đã phái đi các phủ duyên hải để tra án hiện đã phi hịch điều động trở về, tính ngày giờ thì chỉ trong hôm nay chắc sẽ đến tỉnh.

Thần sẽ tuân chỉ để liệu định việc nghi thức gặp gỡ quốc vương kia như thế nào để cho người tới An Nam kính cẩn tuyên thị hồng ân to lớn như trời đất của hoàng thượng, cúi xuống nghĩ đến nước kia nay mới tạo bang thì cần có phong hiệu của thiên triều thì mới tập hòa giữ yên nên đã lập tức ban ơn mà phong thưởng cho quốc tộ đời đời, đồng thời cho quốc vương kia biết rằng đây là do tổng đốc tuân lệnh hoàng đế nên đem sắc dụ ngự thi sai người đưa sang, so với khâm sai sắc sứ không giống nhau, nói cho y hiểu rằng mỗi nghi tiết làm sao cho đúng để làm sáng thể chế. Chắc như thế thì quốc vương kia thấy được long ân cự điển, cản động vui mừng càng thêm sâu xa nên việc dự bị tiếp đãi của nước kia cũng thêm cung cẩn bội phần, hết lòng thành kính mà người được sai xuất quan cũng nở mày nở mặt, còn thuộc quốc phiên phong thấy qui mô vĩ đại của thiên triều cũng thêm khâm phục.

Hiện tại những người phụ giúp thần đã tuyển một người hiểu việc, vài tên biền binh đi theo, phu mã cần đến đều do nội địa chuẩn bị sẵn, sau khi xuất quan rồi nếu quốc vương kia cũng đã lo liệu thì chỉ thay thế những thứ mệt nhọc yếu đuối nhưng sẽ thưởng tứ để cho họ thêm thành tâm cung kính và tỏ đạo thể tuất ngoại phiên. Thần đợi khi Thành Lâm về tỉnh sẽ giao sắc dụ, ngự thi và hịch văn thay đổi cùng khâm định các quan tước thụy hàm của các đề trấn đại viên, tất cả kính cẩn giao cho và ra lệnh cho cung kính khởi hành, cùng nghi tiết khi gặp quốc vương kia chiếu theo hội điển giảng giải rõ ràng rồi định kỳ hạn để dụ cho Thành Lâm theo đó mà biện lý. Từ nay về sau nếu như có nhận được thư từ của quốc vương kia gửi thì hãy khâm tuân dụ chỉ trả lời rõ ràng nguyên do tuân chỉ biện lý rồi theo đướng dịch tâu về.

Lại thêm cống vật do Nguyễn Quang Bình kèm trong tờ biểu thì thần đã sức cho di mục đem trở về Lạng Sơn để đợi dụ chỉ. Nay có lệnh ra ơn thu nhận thì thần đã gửi hịch cho Tả Giang đạo Lâm Hổ Bảng thông báo cho trấn mục Lạng Sơn tiến quan để đạo này cho người đem về cho tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh nghiệm minh rồi cho người cẩn thận đưa lên kinh đô để hoàng thượng xem xét.

Cẩn tấu.

Càn Long năm 54, ngày 15 tháng Bảy.


DỤ CỦA VUA CÀN LONG

VỀ VIỆC SẮP XẾP CHƯƠNG TRÌNH TIỀN SÁT

CỦA THÀNH LÂM

Ngày 20 tháng Tám Thanh triều gửi thư sau đây ra lệnh cho sắp xếp chương trình gửi Thành Lâm sang xem xét trước để chuẩn bị cho việc phong vương:

Xét ra Thành Lâm ngày mồng 1 tháng Tám đã từ Quảng Đông khởi hành cung kính mang sắc dụ để lên đường đi An Nam. Cứ như lời tâu của Phúc Khang An thì viên chức này tính toán vào khoảng sau ngày 20 tháng Tám sẽ đến Lê thành.

Thành Lâm đến nước đó rồi sẽ đem tình hình bẩm lại cho đốc phủ, tính ra khoảng 5, 6 ngày có thể đến quan, từ cửa Nam Quan gửi sang Quế Lâm, cũng mất thêm 4, 5 ngày nữa. Tôn Vĩnh Thanh nhận được bẩm thiếp lập tức chép lại cho rõ ràng gửi triệp theo đường trạm 600 dặm [hỏa tốc] một ngày tâu lên thì khoảng 13, 14 ngày có thể đến kinh đô.

Các quan tính ra phúc tấu của Tôn Vĩnh Thanh độ chừng cuối tháng Chín có thể đến được.

Càn Long Triều Thượng Dụ Đáng quyển XV (Bắc Kinh: Đáng Án xbx, 1991) tr. 163 [tái liệu 357]

Từ những chi tiết này, cho đến giữa tháng Tám, nước ta chỉ biết nhà Thanh sẽ gửi một phái đoàn cấp nhỏ sang thông báo và liên lạc về việc chuẩn bị phong vương trong tương lai gần nhưng không rõ thời điểm nào. Với hai người cầm đầu là hậu bổ [đạo] và thự đồng tri [phủ][29], phẩm trật đều không quá ngũ lục phẩm chắc chắn không phải là chủ ý của vua Càn Long đưa sang phong vương cho vua Quang Trung. Trên nguyên tắc, sứ thần sang phong vương đều là người từ triều đình, do sắc dụ của hoàng đế sai đi, ngạch trật phẩm hàm thường là nhất, nhị phẩm, không phải do lệnh dụ từ một quan địa phương.

Theo bản ý vua Càn Long, ông muốn một đại quan người Mãn sang phong vương như một đặc ân vô tiền khoáng hậu vì trước đây Tôn Sĩ Nghị [tổng đốc người Hán] đã phong vương cho Lê Duy Kỳ. Trong hoàn cảnh này, nếu muốn trịnh trọng hơn phải do một tổng đốc [người Mãn Châu] đích thân sang mà thực tế không ai xứng đáng hơn Phúc Khang An.

Qua những trao đổi và lệnh lạc từ phía Thanh triều, vào tháng Tám mọi sự vẫn bình thường và chỉ sau khi vua Quang Trung bị bệnh trên đường lên Thăng Long thì Phúc Khang An mới tâu lên để thay đổi kế hoạch.

Việc phái đoàn tiền sát Thành Lâm bất ngờ biến thành phái đoàn phong vương gây sửng sốt và nghi hoặc. Chưa kể việc chuẩn bị đón tiếp phải gấp rút hơn, thay đổi đó cũng làm nghi lễ trở nên khập khiễng vì sứ thần Trung Hoa không xứng vai mà khi làm lễ phong vương lại cũng thiếu hẳn một nghi thức quan trọng: không có lễ trao ấn thụ sắc đánh dấu việc mở ra một triều đại mới.

Một điểm quan trọng khác là triều đình Tây Sơn bị ép phải làm lễ ở Thăng Long là nơi mà vua Quang Trung tin rằng vượng khí đã hết còn vị trí địa lý thì không cân xứng với lãnh thổ Bắc Hà nay dài và hẹp. Trước đây, để có đủ vật liệu xây cất kinh đô mới, vua Quang Trung đã đưa theo nhiều nhân công, thợ khéo và cho tháo rỡ nhiều kiến trúc ở Thăng Long đem xuống Nghệ An. Do đó chúng ta cũng hình dung được kinh đô cũ nay tiêu điều hoang phế, thiếu hẳn sinh khí của chốn kinh kỳ.

Có lẽ vì ảnh hưởng của văn hóa Nam Á, vua Quang Trung muốn thay đổi quốc đô để đánh dấu việc mở đầu một thời kỳ mới nên nếu lễ phong vương không làm ở Nghệ An thì ít ra cũng phải làm lễ ở Phú Xuân là cựu đô của chúa Nguyễn, nơi thành quách cung điện còn tương đối nguyên vẹn, qui mô bề thế hơn. Phủ Biên Tạp Lục (quyển II) chép:

Đất Phú Xuân là nơi đại-địa, bằng-phẳng, đẹp-đẽ như lòng bàn tay, chu-vi có thể rộng hơn mười dặm đất. Tại trấn-dinh, thị nội chính-dinh ở một nơi đất cao hơn, bốn phía đều thấp cả. Đó là ở giữa một khoảng đất rộng-rãi, bằng-phẳng, bỗng đột khởi lên một ngôi đất cao.

Đất nầy toạ Càn-phương, hướng mặt về Tốn-phương, nương tựa ngang vào long tích. Ở phía trước, có nhiều hòn núi bảo-vệ trấn-dinh được sắp-bày la-liệt, và đều thu nhận những giòng nước hổ-thuỷ. Ấy là mạch đất đại phát tài, phát quyền-lực và giàu-sang thịnh-vượng[30]

Nguyên từ năm Mậu Tuất (1788), Nguyễn Huệ đã có ý định nhờ Nguyễn Thiếp ở Nghệ An xem đất tại đây làm chỗ xây cung điện, thành quách. Theo lá thư ông gửi cho Nguyễn Thiếp ngày mồng 1 tháng Sáu năm đó thì ý Nguyễn Huệ muốn đóng đô tại Phù Thạch ở trên sông Lam, dưới chân núi Nghĩa Liệt. Đến tháng Bảy năm đó, theo một lá thư của trấn thủ Thận Trực Hầu Nguyễn Văn Thận thì xây dựng đã định khởi công nhưng về sau nghe theo lời của La Sơn phu tử, vua Quang Trung lại chuyển sang Yên Trường cũng gần đó.[31] Với quyết tâm và sử dụng nhiều tài lực, vật lực, nhân lực vào công tác này, tính đến tháng 8 năm Kỷ Dậu đã tròn một năm chắc kinh đô mới cũng đã hình thành được một số kiến trúc cơ bản.

Sự bất đồng khiến cho hai bên phải nhiều lần thương thảo để tìm một giải pháp dung hoà gây nghi vấn cho người ngoài cuộc. Trước khi sang nước ta, Thành Lâm phải chờ ở Nam Quan đến vài ba tuần vì vua Quang Trung không chịu ra Thăng Long làm lễ.

Theo tài liệu nước ta thì đầu tháng Tám, vua Quang Trung trên đường ra Thăng Long nhận sắc thư và ngự thi thì bị bệnh phải quay về. Có lẽ khi biết rằng nhà Thanh đổi ý để Thành Lâm vốn chỉ là một người đưa thư nay thành sắc sứ sang tuyên phong, vua Quang Trung không đồng ý ra Thăng Long nữa mà đòi sứ thần nhà Thanh phải vào Nghệ An hay Phú Xuân cho đúng thể chế. Trong khoảng từ cuối tháng Tám sang đầu tháng Chín, nước ta đã nhiều lần gửi người đến Nam Quan tranh biện về nghi lễ như đã từng xảy ra trong lịch sử tuy không được ghi chép trong điển tịch.

Mãi tới ngày 13 tháng Chín, cửa Nam Quan mới chính thức mở ra đề phái đoàn sang nước ta. Tuy nhiên, tình hình cũng chưa hoàn toàn xuôi chèo mát mái. Hai bên vẫn còn nhiều bất đồng và vua Quang Trung cho con là Nguyễn Quang Thuỳ thay mình ra Thăng Long làm lễ nhưng Thành Lâm không đồng ý. Rõ ràng Nguyễn Quang Bình muốn có một lễ phong vương khác, ít nhất cũng chờ khi Nguyễn Quang Hiển đem sắc ấn về nước để lễ nghi được chính danh và trịnh trọng.

Việc hai bên tranh biện đưa đến phái đoàn nhà Thanh cũng phải dừng lại Gia Quất thêm nửa tháng trước khi qua sông vào kinh đô. Đây không phải là lần đầu giữa triều đình nước ta và sứ thần Trung Hoa có bất đồng nhưng lần này phía nhà Thanh ở vào thế bị động vì chính họ khiếm lễ trước khi muốn phong vương “khống” cho vua Quang Trung.

DIỄN TIẾN PHONG VƯƠNG

Tháng Tám năm Kỷ Dậu, Ngô Thì Nhậm thay lời Ngô Văn Sở gửi cho Thang Hùng Nghiệp một lá thư khác để hỏi về việc sứ nhà Thanh đã khởi hành sang nước ta hay chưa? Cứ theo nội dung lá thư và diễn tiến sự việc qua các sắc dụ của vua Càn Long, chủ tâm của Thanh triều cũng như ghi nhận của phía nước ta thì đây chỉ là phái đoàn đem sắc dụ và bài thơ ngự chế sang trước đồng thời tìm hiểu xem việc chuẩn bị như thế nào để làm tiền trạm cho phái đoàn phong vương sẽ qua sau. Lá thư đó phần đầu như sau:

Trình lại về tình trạng đường đi, xin cho biết phái đoàn tạ ân [của nước ta] đi đứng thế nào?

[do quan lưu thủ bẩm]

Càn Long năm thứ 54, ngày … tháng Tám.

Nhận được một đạo công văn theo đường dịch của trấn mục Lạng Sơn gửi về trong đó có nói là trong trát của đại nhân ngày … thàng Sáu đã phi đệ và tâu lên về hai đạo tấu sự và tạ ân biểu của nước tôi, khâm phụng thánh chỉ vui vẻ khen ngợi, phong cho quốc trưởng bản quốc làm An Nam quốc vương, còn sắc và ấn thì đợi khi Nguyễn Quang Hiển về nước sẽ ra lệnh bưng về. Còn các cống phẩm trình tiến, cũng đã tuân chỉ mà thu nhận.

Hiện nay lại ban cho một đạo sắc thư, một bài thơ ngự chế và đã được công tước các bộ đường đặc biệt sai hậu bổ đạo họ Thành, chính đường phủ Nam Ninh họ Vương cung kính mang sắc thư sang đô thành nước tôi để tận mặt giao cho quốc trưởng nhận lãnh.

Ngước lên nhận ân tứ khen thưởng vinh hạnh, thật nước tôi bao nhiêu đời trước mở nước phong cương chưa từng được thấm ướt như thế bao giờ mà quốc trưởng bản quốc cũng chẳng dám mong được ân sủng khác thường là trang trọng đọc thư ngài, biết được tin vui như thế.

Quốc trưởng nước tôi hiện nay đang ở kinh đô mới Nghệ An, bọn ti chức lập tức kính cản phi đệ tờ khải báo cho biết, lần này được hưởng hưu mệnh, vui mừng hiếm có thật là vui mừng yên ủi, không biết nói sao cho vừa.

Bọn ti chức được uỷ cho cư thủ, biết sự việc quan hệ rất lớn nên không dám bê trễ, ngoài việc chiếu theo lệ cũ mà sắp đặt công quán, đồ dùng, dịch đệ, phu mã cũng còn tu sửa đường sá, cầu cống để đợi nghinh tiếp. Cũng đã hai lần bẩm lên tất cả tình hình trong nước cùng điển lễ chương trình, chiếu theo sách vở hiện còn để mà tuân theo. Chúng tôi cũng đã chọn các viên chức văn võ tiến quan chờ đợi, mong được đại nhân giúp cho chu toàn.

Nay nhận được trát nói rằng công tước đốc bộ đường thể cho cái tình của người ở xa nên sức xuống cho nước tôi rằng khi uỷ viên [người được giao cho sứ mạng mang sắc thư sang] đến biên cảnh thì việc cung đốn trên đường đi không cần phải phiền toái, chỉ cần dự bị phu và ngựa để thay thế khi mệt nhọc, còn như trên đường có cần thứ gì thì sẽ mua để dùng, ngoài ra không phải điều động sai bảo gì cả.[32]

Những yêu cầu mà Phúc Khang An gửi lại cho Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân thật rõ ràng là chuẩn bị cho một phái đoàn tiền sát, không phải là sứ thần sang phong vương. Vua Quang Trung cũng định sẽ đến Thăng Long nhận sắc thư và ngự thi để hai bên có thể trực tiếp trao đổi những dự định kế tiếp. Có lẽ nhân dịp này vua Quang Trung cũng chính thức báo cho nhà Thanh là kinh đô mới của ông nay ở Nghệ An và phái đoàn sang phong vương sẽ tới đó như một dấu hiệu tốt cho việc mở nước theo truyền thống Nam Á.

Ngày mồng 1 tháng Tám năm Kỷ Dậu, Thành Lâm bắt đầu khởi hành từ Quảng Châu đi Nam Quan để chuẩn bị sang nước ta. Đầu tháng Tám, Lâm Hổ Bảng cũng thay lời Phúc Khang An báo cho nước ta biết rằng hậu bổ [đạo] Thành Lâm và thự đồng tri [phủ] Nam Ninh là Vương Phủ Đường sẽ từ Nam Quan xuống Thăng Long mang theo sắc thư tưởng lệ và bài thơ ngự bút và vua Càn Long đã cho thu nhận các món tiến cống để đưa lên Bắc Kinh.[33]


TRÌ HOÃN LẦN THỨ NHẤT

Khi nghe tin sứ thần nhà Thanh sắp đến Nam Quan, vua Quang Trung cũng thông báo cho Trung Hoa biết vào hạ tuần tháng Tám ông sẽ khởi hành từ Nghệ An về Thăng Long để nhận đặc dụ và ngự thi vào trung tuần tháng Chín.

Theo nội dung các văn thư trao đổi với nhà Thanh trong Bang Giao Hảo Thoại, triều đình Tây Sơn hiểu rằng sứ bộ nhà Thanh sang An Nam không ngoài mục đích ngoại giao, bề ngoài là xác định việc vua Quang Trung đã được chính thức công nhận, bên trong có thể là những trao đổi về việc sẽ sang chúc thọ năm Canh Tuất.

Khi biết tin rằng nhà Thanh cũng nhân dịp này sẽ làm lễ phong vương tại Thăng Long, ngày 20 tháng Tám, vua Quang Trung gửi một lá thư cho Lâm Hổ Bảng nói rằng ông trên đường xuống Thăng Long thì bị bệnh nên phải quay về Nghệ An điều trị và xin sứ thần xuống thẳng Nghệ An rồi sau đó sẽ cùng đi xuống Phú Xuân làm lễ phong vương tại đây. Lá thư có đoạn như sau:

Kẻ hèn này ở thành Nghệ An [乂安] trước đây nhận được các công văn trang trọng đọc tôn dụ mới thấy lòng dạ của đại nhân tốt là nhường nào, đức của đại nhân đẹp là nhường nào. Tôi vừa nghe tin có ân phong lập tức sắp xếp tướng sĩ định rằng ngày hai mươi tám [28] tháng này sẽ từ Nghệ An đi lên thẳng Thăng Long phụng nghinh sắc thư và ngự thi để thỏa lòng chiêm ngưỡng.

Có điều bản quốc gần đây có nhiều trắc trở. Kẻ hèn này từ khi dựng nước gian lao[34], tên gai cung gỗ lúc nào cũng phải lo việc binh đao không nhàn rỗi, lại phải lo việc xây dựng kinh đô, chuyện gì cũng phải đi lại từ đầu, cố gắng quá sức nên cảm mạo phong sương, mắc bệnh thương hàn. Mới đây gượng ốm đi lên phương bắc [tức từ Nghệ An đi ra Thăng Long làm lễ phong vương], vừa mới tới thành đông của Nghệ An, gặp giá mùa thu, khí trời mới lạnh khiến cho bệnh cũ tăng lên, nên phải xuống thuyền về lại Nghệ An điều trị.

Ấy là sự tình như thế, nay trình lên để chế hiến tôn đại nhân [tức tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An] xem xét cho, lại cũng trình để nhị vị sắc sứ [đây là Thành Lâm và Vương Phủ Đường] được biết.[35]

Cũng như trước đây sai cháu là Nguyễn Quang Hiển thay mình sang Bắc Kinh nhận sắc ấn, lần này vua Quang Trung sai con trai là Nguyễn Quang Thuỳ đi cùng với hai viên đại thần là Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm ra Thăng Long nghinh đón sứ bộ nhà Thanh, điều động binh mã khí giới hộ vệ long đình xuống Nghệ An lấy cớ là “thành Thăng Long vượng khí đã hết, dân chúng thưa thớt, kẻ hèn này chỉ lưu gia tướng cầm quân trấn giữ chứ không phải là nơi gốc rễ của tôi, nay được thần hàn tuyên thị, ban cho mệnh lệnh mở nước, lại không ở nơi đô ấp dân cư đông đúc mà ở nơi thành cũ tiêu điều hoang tàn để nhận ân mệnh thì trong lòng có chỗ không yên”.[36]

Nói tóm lại, nước ta đã hành xử theo đúng lễ nghi đưa Phan Huy Ích và Vũ Văn Dũng [sau Vũ Văn Dũng bị bệnh nên đổi thành Nguyễn Văn Thọ] lên Lạng Sơn đón sứ thần, đưa Nguyễn Quang Thuỳ, Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm đón ở Thăng Long rồi tất cả cùng vào Nghệ An làm lễ.


TRÌ HOÃN LẦN THỨ HAI

Nghe tin đó, sứ thần Trung Hoa không đồng ý việc đi xa hơn, lấy cớ phụng mệnh đến Thăng Long thì sẽ làm lễ ở đây, vua Quang Trung cũng biện bạch rằng quốc đô không còn ở miền bắc mà nay đã dời xuống Nghệ An là nơi chính giữa của Phú Xuân và Thăng Long cho tiện việc cai trị. Đầu tháng Chín,[37] vua Quang Trung lại gửi một bẩm văn cho Phúc Khang An nói rằng có tin một đoàn thuyền cướp phá vùng Thuận Quảng:

Thế nhưng ngày hai mươi sáu [26] tháng đó [tức tháng Tám] tôi lại được tướng lãnh tuần dương ở Nghệ An báo rằng ngoài biển có một đoàn thuyền [船艘] ước chừng hơn một trăm chiếc, từ phía đông vùng Biện Sơn [卞山] của Nghệ An men theo bờ biển tiến xuống các cửa biển vùng Nhật Lệ [日麗], Tư Dung [思容] thuộc Thuận Hóa, cờ quạt khí giới giống như mô dạng của nội địa, cướp bóc dân chúng khổ không kể xiết.

Tiểu phiên đang sắp sửa hành trang để lên đường nghe được tin này, không biết những tàu biển đó ở đâu ra, hay là đám giặc biển tề nguy [齊桅][38] vẫn thường hoành hành ở biển đông nước tôi, qua lại vùng Bạch Long Vĩ [白龍尾], núi Thanh Long [青龍], núi Quan Lan [觀澜], Ô Nang [烏囊] núi đại, tiểu Lão Thử [老鼠], núi Hoa Cẩu Đầu [華狗頭]… bị Lâm phó tướng tạm quyền coi trấn Tả Dực vây bắt nên kéo nhau chạy sang đến đây hay là quan binh đường bể nhân đuổi theo hải phỉ mà theo đến đây cũng không biết được.[39]

Cứ theo như những lần trước tiễu trừ giặc bể thì sẽ nhận được công văn của thiên triều từ Cao đề đốc [tức Cao Thư] quân vụ toàn tỉnh Quảng Đông, Lưu tổng trấn phủ Cao Lệ [高麗] tỉnh Quảng Đông dụ cho trấn mục Yên Quảng bản quốc đuổi bắt cho rốt ráo. Nơi này bỗng dưng lại có quan binh đi qua mà không có một đạo công văn nào, việc ngoài biển thật khó mà đo lường cho được.

Trộm nghĩ từ khi tiểu phiên thành thực qui thuận đến nay, được hưởng thánh độ nhu hoài của đại hoàng đế, lại được liệt vị chế hiến tôn đại nhân hết lòng vỗ về nên mới có được như ngày hôm nay.

Nay bản quốc đã nội thuộc rồi, đã thành phên dậu của thiên triều, vậy quân đó là quân nào không lẽ mặc kệ không hỏi đến? Còn như sau gia tướng ra biển đánh dẹp, nếu như là quan binh đi tuần ngoài biển ngang qua đây mà giao phong thì có can hệ đến hiến lệnh của thiên triều rất là nghiêm trọng.

Còn như bọn hoành hành ngoài biển cả kia không ai biết đấy là đâu thì đất Thuận Hóa, Quảng Nam hai trấn là đấy khởi sự cơ nghiệp của tiểu phiên, là đất gốc rễ, việc phòng bị chốn cửa ngõ không thể sơ sót được.

Cũng vì tình hình nghiêm trọng, vua Quang Trung xin uỷ thác cho con và các đại thần ra đón:

Nhân vì ngày hai mươi bảy [27] tháng này, tiểu phiên từ tân ấp [kinh đô mới] ở Nghệ An vội vã lên đường quay về thành Phú Xuân đất Thuận Hóa chuẩn bị phòng ngự nên kính cẩn sai con là Nguyễn Quang Thùy, bầy tôi thân tín hàng võ là Ngô Văn Sở, loan hồi đại thân tín là Ngô Thì Nhậm đến Thăng Long đợi để nghinh đón tham kiến sắc sứ tạm dừng ở công quán Gia Quất [嘉橘] bờ sông Phú Lương.

Hiện nay tiểu phiên trở về Phú Xuân, xin chế hiến tôn đại nhân minh dụ những thuyền bè cướp bóc ngoài khơi có phải là trấn binh đang truy nã bọn giặc tề nguy hay không để chúng tôi cùng ra phối hợp bắt giữ.

Trước đây, các nhà nghiên cứu vẫn khẳng định vua Quang Trung không chịu ra Thăng Long là vì ông coi thường việc phong vương. Tuy nhiên xét lại nhật kỳ thư gửi sang Quảng Tây, việc thoái thác và những thay đổi bất ngờ đều xảy ra ở cuối tháng Tám vì có những thay đổi khiến triều đình Tây Sơn phải e ngại:

– Vua Quang Trung biết được lần này phái bộ Trung Hoa đi sang nguyên thuỷ không phải có nhiệm vụ sách phong mà chỉ là một phái bộ dò đường tương đối không cao lắm.

– Việc làm lễ phong vương tại Thăng Long tạo ra tâm lý bất ổn vì lúc đó kinh đô mới là Nghệ An – một việc đã minh thị trong nhiều văn thư – còn kinh đô cũ của nhà Lê nay hoang phế, tiêu điều, cung điện đổ nát.

– Vì Nguyễn Quang Hiển chưa về kịp, lễ phong vương thiếu cả sắc thư lẫn kim ấn, hữu quyền vô lệnh là một điềm bất tường tạo ra những nghi hoặc về thiện chí của Thanh triều.

– Có đến ba nhân vật với ba nhiệm vụ khác nhau (Thành Lâm, Vương Phủ Đường và tổng quản đặc nhiệm của Phúc Khang An) nhưng không người nào có đầy đủ thẩm quyền để đại diện cho vua Thanh một cách chính thức.

Tuy không nói ra, những thay đổi bất ngờ vào lúc chót đã khiến cho nhiều thủ tục bị khập khiễng:

– Việc nhà Thanh thay đổi từ một phái bộ báo tin sang một sứ bộ phong vương đưa đến những bất đồng và tranh biện về nghi lễ, địa điểm. Liên lạc giữa hai bên từ nước ta với phủ huyện địa đầu về việc tiếp đón nay thành cuộc tranh chấp về nghi lễ.

– Việc chuẩn bị quán xá, trạm nghỉ không còn là một công tác chung phối hợp giữa quan nhà Thanh và nước ta mà trở thành một công tác do trấn thủ các tỉnh lo liệu sao cho hợp thể chế chiếu theo cựu điển thời nhà Lê.

Trong khi việc thứ nhất nặng tính chất ngoại giao, tranh luận thì việc thứ hai chuyên về hành chánh, tiếp liệu và tổ chức. Theo Đại Việt Quốc Thư, vấn đề lễ tiết do tài từ lệnh của Ngô Thì Nhậm, việc chỉ đạo và sắp xếp đón tiếp do Phan Văn Lân, Phan Huy Ích đảm trách. Theo các văn kiện để lại, việc tranh biện về nghi thức không được đề cập tới, hoặc nếu có cũng không còn nhưng chắc chắn ngoài vấn đề thủ tục, triều đình Tây Sơn cũng còn nhiều nghi hoặc về thiện chí thực sự của nhà Thanh, liệu có thực lòng công nhận một triều đại mới hay chỉ là kế thanh đông kích tây, nhằm dụ cho vua Quang Trung ra Thăng Long rồi bất ngờ tấn công bằng mặt biển. Một điểm đáng nói là cũng vào thời gian này, Xiêm vương cũng điều động chúa Nguyễn Ánh đem quân tấn công vào phía Nam. Theo những tài liệu của chính nhà Nguyễn, chúa Nguyễn quả thực có động binh đồng thời đem gạo ra giúp quân Thanh nhưng bị mất cả, không biết là vì bị đánh chìm khi đụng độ với thủy quân Tây Sơn hay bị tai nạn. Tuy Thực Lục chỉ ghi lại rất vắn tắt về việc cho người liên lạc với Bắc Hà, chúng ta cũng nghi rằng việc này có thực và tuy một số văn bản có đến tay Phúc Khang An nhưng Thanh triều dấu nhẹm đi vì tình hình giao thiệp với An Nam đã thay đổi.

Hai tháng sau khi việc lễ nghi đã xong, Ngô Văn Sở đưa một phái đoàn lên Nam Quan đón Nguyễn Quang Hiển để hộ tống sắc ấn về Nghệ An. Trong dịp này tuần phủ Tôn Vĩnh Thanh có tiết lộ rằng khi theo đường Ải Điếm sang Quảng Tây [tháng Bảy năm Kỷ Dậu], Lê Quýnh có tiết lộ rằng trong nước nhóm nhà Lê đang dao truyền một khi vua Quang Trung lên đường thì đại binh nhà Thanh sẽ kéo sang đưa vua Lê phục vị.

Có lẽ những lời đồn đãi đó khiến triều đình Tây Sơn e ngại việc một lễ phong vương được vội vã thực hiện chỉ nhằm che đậy một âm mưu chính trị và động thái quân sự mới. Vua Quang Trung e ngại rằng sẽ nhân khi ông tập trung nhân lực ở Thăng Long, nhà Thanh sẽ bí mật đem quân bằng đường thuỷ tập kích vào Phú Xuân nên khi nghe tin có những nhóm “tàu ô” xuất hiện dọc theo bờ biển ông vội quay về bố trí phòng ngự.

Những trục trặc kỹ thuật cũng khiến nước ta tìm cách thoái thác để yêu cầu sứ thần xuống Nghệ An hay Phú Xuân tuyên phong nên Thành Lâm phải ngừng lại ở Nam Quan khoảng 20 ngày và muốn tránh thắc mắc vua Quang Trung lấy cớ là bị bệnh bất ngờ viết thư xin hoãn tuyên phong trình lên vua Càn Long hầu kéo dài thời gian đàm phán. Vì lẽ đó, chúng ta không thấy Phúc Khang An đề cập đến cách giải quyết những vấn đề này để tránh liên lụy cho ông ta.

Đến khi vua Càn Long sốt ruột gửi thư thúc giục, Thành Lâm đành mở cửa đi sang nhưng vẫn phải ngừng lại ở công quán Gia Quất để chờ. Vua Quang Trung sai Nguyễn Quang Thuỳ, Ngô Văn Sở và Ngô Thì Nhậm đến Gia Quất bên ngoài lấy tiếng là đón sứ bộ nhưng thực ra là tranh biện về lễ nghi và tìm cách thuyết phục họ xuống Phú Xuân làm lễ. Việc trì hoãn cũng có thể là mua thời gian chờ phái đoàn Nguyễn Quang Hiển mang sắc ấn về để lảm lễ cho đúng phép.


[1] Khi đối chiếu tài liệu, húng tôi tìm thấy nhiều dị bản (kể cả từ phía nước ta, Thanh triều và ảnh chụp bản gốc nếu may mắn còn giữ được) không giống nhau hoàn toàn mà có thêm bớt sửa chữa nhiều chữ hay cả đoạn.

[2] Ngô Văn Sở tiết lộ với Tôn Vĩnh Thanh khi đi đón phái đoàn Nguyễn Quang Hiển ở Nam Quan

[3] Bộ thảo 艸

[4] KDANKL, q. XXII, tr. 4-9 (bản dịch NDC)

[5] Nguyên văn: 跼蹐無地,愧懼交并 – cục tích vô địa, quí cụ giao bính.

[6] Nguyên văn

安南國小目臣阮光平謹奏上言。為敬陳瞻覲微忱。仰干天聽事。

臣欽奉敕書宣諭。不咎既往。嘉與維新。聖德如天。不遺荒逖。臣誠歡誠忭。無任感激。欽惟大皇帝陛下德邁羲炎。道高軒昊。五十餘年太平天子。治隆福備。曠古所無。

臣生長廣南。雖其地不與中華通。而閩廣海舶。往來絡繹。竊嘗稔聞中國文物聲明之盛。尤仰望大皇帝仁義道德之隆。

臣誠願譜在寶書。瞻就雲日。匪真以海不揚波。為中國有聖之驗也。

前臣親姪阮光顯款關。代躬行禮時。曾面告以俟國事稍定。入覲京師。蓋臣一片真誠。惟知畏天命尊天子。循其職分之當然也。

伏惟聖天子天生至德。位祿名壽。兼而有之。來年八月。恭逢八旬萬壽聖節。吉祥盛事。慶滿寰瀛。臣獲依日月之光。同效華封之祝。實為至願。

擬將國事早為處分。謹於明年春夏間。稟明兩廣總督公轉奏。候賜瞻覲。以抒下悃。仰惟宸淵洞照。欣感實深。

再天朝提鎮大臣。前經臣屬下悟行傷害。臣痛自悔艾。惶悚靡寧。先經築壇奠祭。玆敬謹擇吉。立廟於國都之南。春秋虔享。稍申事大之誠。仰答教忠之旨。

惟提鎮大臣官銜謚號。伏候旨下兩廣總督公。頒行本國。欽遵奉祀。以贖前愆。

至安南國舊印。及上年補給印信。俱係賞給黎氏。但兵火倥惚之中。未知下落。臣已徧行搜查。一俟尋獲。即當繳進。候奉換給吉祥新印。以昭世守。實臣之大願也。

惟是臣明歲進京。恭祝萬壽時。庶邦君長。咸在朝賀之列。

臣荒遠土酋。忝與王會。跼蹐無地。愧懼交并。且臣本國自黎祚告終。干戈旁午。民墜塗炭。旄倪皇皇。日顒綏輯。幸得早有繋屬。即國內日就和寧。伏望聖德洞燭微情。逾格加恩。假臣封號。俾得奉有名分。憑籍天寵。鳩集小邦。實蒙聖天子覆載生成之德。

自臣及其子孫。世守南服。為天朝之蕃屏。惟有一心恭順。以期永荷天恩於勿替也。

臣遙瞻絳闕。仰望恩慈。不勝激切屏營之至。

兹奉表以聞。

[7] Sợ thiên tử thờ nước lớn

[8] Đề đốc và tổng binh. Ở đây chỉ Hứa Thế Hanh, Trương Triều Long, Thượng Duy Thăng là ba người chết trận ở nước ta đầu năm Kỷ Dậu [1789].

[9] Trong bản chữ Hán chép thành quan ngự thụy hiệu [官御謚號], nhầm chữ hàm 銜 thành chữ ngự

[10] Chỉ tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An

[11] Một giống dân du mục ở phía Tây Mông Cổ

[12] Nay là Mông Cổ

[13] DVQT, q. I “Hịch Phúc Khang An gửi vua Quang Trung ngày 15 tháng Sáu” (bản dịch NDC)

[14] Nguyệt Triệp Bao, Quân Cơ Xứ, hòm số 2778, trang 601, thư của Nguyễn Quang Bình ngày 22 tháng Sáu. Trích theo chú thích số 106 trong Trang Cát Phát, TTVC (1982) trang 391.

[15] Thượng Dụ Đáng, Phương Bản, Càn Long năm 54, Quí Đáng trang 601. Trang Cát Phát, TTVC (1982) trang 392, chiếu hội ngày 22 tháng Sáu.

[16] Trích từ lời Mạnh Tử [Lương Huệ Vương hạ] ý nói việc sợ trời thờ nước lớn là kế sách khôn ngoan để bảo vệ mình khỏi bị xâm lăng, thường dùng để giải thích và biện minh cho việc Trung Hoa áp đặt tương quan thiên triều – phiên thuộc lên các tiểu quốc chung quanh. Nói là sợ trời nhưng vì thiên tử Trung Hoa là “con trời” nên cũng đồng nghĩa thần phục thiên tử.

[17] Nguyên văn 慙赧 (tàm noãn)

[18] Tức công, hầu, bá, tử, nam

[19] Nghĩa là người dân thường chưa từng được quan tước

[20] Thua chạy về nước

[21] DVQT, q. I “Hịch Phúc Khang An gửi vua Quang Trung” ngày 28 tháng Sáu (bản dịch NDC)

[22] Luật nhà Thanh nghi ngại việc tù binh bị bắt rồi khi được trả về làm nội gián cho địch nên đều phải khai việc có gặp thủ lãnh địch hay không.

[23] Khi xem lại các văn thư của nhà Thanh, việc thay đổi này đã bị dấu đi nên nhiều chi tiết không thấy lưu lại trong các tài liệu căn bản như Thanh Thực Lục, Khâm Định An Nam Kỷ Lược … Tuy nhiên trong những đáng án còn trong kho có nhiều văn thư mật đề cập đến việc này tương đối rõ ràng, chẳng hạn tấu thư của Phúc Khang An ngày 15 tháng Bảy trong Minh Thanh sử liệu [Canh Biên] trích trong Thanh Quí Nội Các Đáng Án Toàn Tập (Học Uyển, 1999) tr. 129-131 tức trang 4234-7 trong sách mà chúng tôi sao lục bên dưới.

[24] BGHT, Phúc Kê Điển Lễ (lởi bẩm của quan lưu thủ). Đây là Chiêu Viễn Hầu Vũ Văn Dũng nay đổi tên, có lẽ vì hai chữ Chiêu Viễn có vẻ trịch thượng và khiếm lễ. Tuy nhiên sau đó Vũ Văn Dũng bị bệnh nên người đến đón sứ thần Trung Hoa ở Lạng Sơn là đô đốc Nguyễn Văn Thọ và đô đốc Lê Xuân Tài.

[25] Trong DVQT tên và chức vụ nhiều khi lẫn lộn giữa Duy Thiện Hầu Lê Doãn Điều và Tô Xuyên Hầu Lê Nho Hứa [hay Phan Hứa]. Trong hai ông này một ông là quan văn, chức vụ trấn thủ Lạng Sơn và một ông là quan võ chức vụ hiệp trấn Lạng Sơn. Đầu đời Tây Sơn, quan võ giữ chức vụ trấn thủ, quan văn giữ chức vụ hiệp trấn [kém hơn trấn thủ một bậc]. Nếu xét nhiều công văn khác nhau thì chúng ta biết được Lê Nho Hứa là trấn thủ Lạng Sơn và Lê Doãn Điều là hiệp trấn Lạng Sơn.

[26] Thự là đang tạm quyền, chưa được bổ nhiệm chính thức

[27] Ngưởi được giao phó nhiệm vụ

[28] DVQT, q. I “Thư Lâm Hổ Bảng gửi trấn mục Lạng Sơn” (bản dịch NDC)

[29] Đây là các chức vụ chưa chính thức (hậu bổ: chờ bổ dụng; thự: tạm quyền) ở cấp đạo và phủ là các đơn vị hành chánh cấp trung, tương đương với những quan lại mới/đang được tuyển dụng.

[30] Lê Quí Đôn, Phủ Biên Tạp Lục (tập I q. 1, 2 & 3) bản dịch Lê Xuân Giáo (Saigon: Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách văn hoá, 1972) tr. 189-90

[31] Hoàng Xuân Hãn, La Sơn Phu Tử (Paris: Minh Tân, 1952) tr. 118-25

[32] BGHT, “Phúc trình duyên đồ tình trạng, tịnh thỉnh báo thị tạ ân sứ thành hành chỉ”

[33] Trước đây khi Nguyễn Quang Hiển có mang cả cống vật nhưng Thanh triều ra lệnh đem về để ở Lạng Sơn đợi chỉ từ kinh xuống. Nay đã có lệnh của vua Càn Long thu nhận các món cống vật này.

[34] Tất lam đề cấu [篳籃締構] gây dựng việc nước khó nhọc. Nguyên gốc tất lộ lam lũ [篳路藍縷] là chế tạo xe bằng tre gai trông bệ rạc, quần áo rách rưới nói việc dựng nước rất gian lao, khổ cực

[35] DVQT, q. II tr. 78-79

[36] DVQT, q. II tr. 81-2

[37] Trong DVQT viết là 20 tháng Tám nhưng nếu viết vào thời điểm đó thì nội dung không thể đề cập việc xảy ra vào ngày 26 tháng Tám được. Còn như nếu 20 tháng Chín mới viết thư hỏi thì quá trễ. Chúng tôi cho rằng lá thư này phải viết vào đầu tháng Chín trước khi Thành Lâm qua cửa Nam Quan.

[38] Tề nguy hay tề ngôi là thuyền của hải phỉ có ba cột buồm bằng nhau (nguy là cột buồm)

[39] Nguyên vùng đông bắc nước ta giáp với Quảng Đông có giặc bể hoành hành trước đây chúa Trịnh nhiều lần sai quân đánh dẹp. Nay vua Quang Trung lấy cớ rằng có thể là hải phỉ bị quân Thanh đánh đuổi chạy xuống phương nam để tránh tiếng nghi ngờ rằng họ lẻn sang tập kích.

bài đã đăng của Nguyễn Duy Chính


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch