Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

trung-việt việt-trung (phần 8)

0 bình luận ♦ 23.07.2015

 

 

(Tiếp theo phần trước)

3.7

– “Mấy hôm trước Mỵ Châu còn so sánh ảnh hưởng thời cuộc của truyện Đỗ Quyên với thơ ca gì đó của một thi sĩ tên Tú…”

+ “Đàn ông Trung nhớ dai thế! Anh hết mệt chưa? Đừng thức khuya quá mà xấu giai. Ừ thì là Hồn Phàm, trường ca của Nguyễn Đinh Tú, nick trên mạng là Cậu Tú. Cuốn Hồn Phàm sắp là tác phẩm văn học đầu tiên mô tả trực diện và vỗ mặt không chỉ cuộc chiến tranh xâm lược Biên giới Trung-Việt 1979, mà cả hai trận cưỡng chiếm Hoàng Sa 1974 và Gạc Ma 1988. Trực diện: sự kiện, chiến sự của ba cuộc chiến. Vỗ mặt: tên tuổi, địa danh thật, không nói bóng nói trại. Đúng là văn học có chức năng dự báo. Anh nghe này: Sách thơ của cậu thiếu tá Cảnh sát biển chưa hề xung trận lại trùng với tinh thần của một kiến nghị do 20 cựu sĩ quan từ trung tướng đến đại tá quân đội, công an vừa gửi các vị lãnh đạo nhà nước và chính phủ, làm nức lòng dân tình trong các ngày qua:

‘Việc cố tình phớt lờ cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979 và mấy trận chiến bảo vệ biển đảo không chỉ phủ nhận lịch sử, xúc phạm đồng bào và chiến sĩ đã hy sinh xương máu vì Tổ quốc, mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng tới tinh thần và quyết tâm chiến đấu của Lực lượng vũ trang. Đó là sai lầm không được phép tái phạm.’

Đàn bà như em thích nhất câu cuối, hôm qua vừa đọc tới thì mắt nhòa lệ lúc nào không hay. Tướng thế mới xứng danh tướng Đại Việt chứ! Tổ quốc Trung nhà anh tha hồ mà chết với chúng em. Cậu Tú, thiếu tá Cảnh sát biển độc thân lênh đênh nhưng tham vọng và bút pháp văn chương đã nhà nghề ngang ngửa văn sĩ chuyên nghiệp sống trên cạn như chúng em. Đẹp trai kinh hồn! Nguyễn tiên sinh thời trẻ cũng không bì được nữa là Thiết Ngôn tiên sinh thời nay. May, con Nghé Ọ đi du học chứ ở nhà là khổ với ‘cậu’.

Cứ theo Mỵ Châu thì ý nghĩa ‘thơ đại dương’ của Hồn Phàm có thể tương đương với phong cách ‘thơ quảng trường’ trong trường ca Quay Trái của Maia. Sách đang còn trong nhà in của Hội em, anh ạ. Sắp ra lò. Nhiều người đoán nó có thể tạo chấn động hơn hai truyện của bà Quyên. À anh có nghe tin đồn hãng phim nào đó lớn lắm ở Bắc Mỹ tính mua bản quyền hai truyện đó không? Quả này thì nước Trung các anh mất mặt! Sách của Tú, anh biết không, em chạy giấy phép muốn đứt hơi. Khổ cho dân viết lách nhà em! Có còn ‘nhạy cảm’ e ấp nữa đâu cơ chứ. Sau giàn khoan 981, mọi sự già dơ tô hô ra cả như gái thập thành rồi.”

– “Mỵ Châu hẳn theo dõi kỹ các nhận xét về Hồn Phàm từ khi nó đăng rải rác trên mạng?”

+ “Tất nhiên! Nhưng dạo đó ít lắm ai dám động vào ‘nhạy cảm’. ‘Mùa thu nay khác rồi’, nên sách chưa in mà tác giả đã có ngay 9 bài mới toanh phê bình, giới thiệu, tựa, bạt… Em bảo: ‘Đưa hết đây chị mày tống hết vào Phụ lục. Tội vạ đâu chị chịu, mày đi tù!’. Làm sách già đời, ngán gì! Ở bên ấy anh chắc đã biết tên tuổi Tổng biên tập Phạm Sỹ Sau với câu ‘Thà hy sinh chứ nhất định không chịu chết trên bàn kiểm duyệt!’ Tú bảo: ‘Ôkie thằng em chỉ biết nghe bà chị. Dịp may. Mai kia nhỡ các bố ấy lại ‘treo cờ đỏ bỏ cờ xanh’.’

Tạm gửi anh coi trước vài thu hoạch của riêng em, lọc từ Phụ lục:

‘Với Hồn Phàm, thi sĩ Nguyễn Đinh Tú đã thực thi một ván bài lật ngửa của dân Việt với người láng giềng phương Bắc đúng lúc có sự kiện giàn khoan HD-981. Vô giá, chúng ta lấy lại tiếng nói dân tộc, tròn vành rõ chữ, đúng âm hưởng. Cũng với Hồn Phàm, lần đầu tiên trong văn học Việt hiện đại đã xuất hiện đàng hoàng một cuốn sách viết trực tiếp về các cuộc chiến đẫm máu bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải; đã xuất hiện kiêu hãnh bởi một nhà xuất bản đàng hoàng trong nước’. (Phê bình gia Nguyễn Quan Thiều)

‘Nguyễn Đinh Tú đã thành quả khi xử lý bằng thơ các chất liệu chiến tranh. Hồn Phàm là lời cảnh tỉnh với các tác giả viết tiếng Việt: không được phép quên quá khứ đau thương của dân tộc, nhất là khi quá khứ đó chỉ cách hiện tại ‘vài ba bước sau lưng’. Tôi đánh giá cực cao tác giả khi cậu ta nhanh nhạy chọn hình thức trường ca, dũng cảm ở đề tài Trung-Việt và tài hoa ở thi pháp nghệ thuật.’ (Nhà mỹ học Nguyễn Thị Thông Thái)

‘Một thách đố về lối viết trường ca; sử thi mà hiện đại, tự sự khốc liệt mà đau đáu trữ tình. Tính trường ca được thể hiện hài hòa: Qua thể tài mang tinh thần không chỉ của từng cá thể hay giữa các cá thể, mà thuộc về giá trị chung của dân tộc và nhân loại trong một chủ đề nhân văn có ý nghĩa xã hội rộng lớn. Qua cốt truyện có có không không. Qua chất liệu hiện thực về trạng thái nhân thế lẫn trạng thái sử thi. Qua cảm xúc đã chấn động lại mềm mại. Qua giọng điệu như cuộc tình tay ba của hùng ca, bi ai và hài ca. Qua tư duy mạnh nhanh với chủ đích lôi cuốn trong thái độ chủ quan. Qua cấu trúc và thủ pháp sử dụng hình thức kỹ thuật của trường ca chuẩn tắc (chương, khúc) và phi chuẩn tắc (đa ngữ điệu, cạnh tranh các mặt đối lập). Chúng tôi đang nói về cái gì đấy ạ? Thưa, Hồn Phàm của Nguyễn Đinh Tú, nhà xuất bản Người Hà Thành sẽ ra lò quý III năm nay!’ (Giáo sư Cao Giá và Nhà lý luận Phạm Ngân Xuyên)

‘Tôi bật cười khi đọc tập trường ca của Cậu Tú. Cuốn sách nói tới vấn đề và sự kiện mà người Việt hiện nay ai cũng biết nhưng không ai nói.’ (Nhà thơ – Họa sĩ Phan Huyền Thu)

đây là lời của chính tác giả Nguyễn Đinh Tú:

‘Tôi cho nhân vật Hồn Phàm phải lên cõi niết bàn để giải phẫu chuyển đổi giới tính: đó là hình thức và cũng là nội dung của câu chuyện thơ. Để kể về Chiến tranh Biên giới 1979, về hai cuộc Hải chiến 1974 và 1988: đó là chất liệu của trường ca.

Theo Giáo sư Lê Ngọc Trà, ông Hegel là người đầu tiên tìm hiểu rất hệ thống cặp phạm trù nội dung và hình thức để rồi kết luận:

Nội dung không phải là không có hình thức, trái lại, nó không chỉ có hình thức ở bên trong mà còn có hình thức như cái gì ở bên ngoài nó.

Do đó sự chuyển hóa qua lại của cái này thành cái kia, khiến nội dung không gì khác hơn là sự chuyển hóa của hình thức thành nội dung, và hình thức không gì khác hơn là sự chuyển hóa của nội dung thành hình thức.

Sự chuyển hóa này là mối quan hệ tuyệt đối giữa nội dung và hình thức.

Vì thế, một tác phẩm nghệ thuật thiếu hình thức thích đáng thì không thể được gọi là tác phẩm nghệ thuật.

Thừa thắng theo ông Hegel, ông Bakhtin đã xông lên với nhận định sắc hơn:

Hình thức nghệ thuật là hình thức của nội dung; Hình thức như là hình thức của nội dung và nội dung như là nội dung của hình thức.

Đặc biệt, với Bakhtin, chất liệu không phải là hình thức; chất liệu muốn trở thành hình thức phải được tổ chức lại trong một kết cấu; những hình thức kết cấu này được quy định bởi những hình thức kiến tạo là hình thức tồn tại của bản thân nội dung cái nhìn nghệ thuật hay nhãn quan thẩm mỹ.

Thôi quên đi các ông Hegel ông Bakhtin lằng nhằng rách việc. Tôi muốn nói nhanh cho sớm chợ. Thông điệp của trường ca Hồn Phàm là: dù ở biên giới Cao Bằng, Lạng Sơn hay ngoài biển đảo Gạc Ma thì câu chuyện chiến tranh Trung-Việt đã thành ẩn ức không dễ bày tỏ.

Cái đau cái nhục có cả máu và nước mắt mà không được nói ra. Phải chăng đó là một Việt tính, một bản sắc? Hay chỉ là tâm thức của một thời đại?’

(Trả lời phỏng vấn báo Văn Chương Trẻ).

‘Thời gian qua nhiều người hỏi nhà cháu Hồn Phàm có cái gì giấu trong đó mà báo chí nhòm ngó lắm thế. Bài tin đùng đùng, lời đồn đoàng đoàng cứ như thời anh Kim Đồng lên chiến khu. Các bạn nhà báo nhà đài mách hỏi nhau: ‘Sách vẫn còn bị gác ở trên bàn Tổng biên tập đấy?’; ‘Trường ca về chiến tranh biên giới phía Bắc à? Đã đọc chưa? Liệu có gì không?’; ‘Sao không? Còn dám mô tả hải chiến của ‘ngụy” nữa cơ đấy!’; ‘Thôi bảo bên truyền hình không nên đưa tin khi sách phát hành nhé, phiền phức lắm’. Ô hay, các bác các thím sợ Hồn Phàm của nhà cháu đến thế à? Nhà cháu tự ngoái sái cổ nhìn lại hành trình sáng tác 15 năm qua thấy mình tương tác ngon lành cành đào với bạn đọc nên chả cần phải gây sốt bằng chiêu trò này nọ. Nhà văn viết khi có sự trống vắng trong nội tâm của mình và của bạn đọc. Nhà cháu viết về các cuộc chiến tranh bị vắng bóng trên văn đàn. Năm ngoái nhà cháu cho ra tập truyện ngắn Hoang Tình, viết về biên giới Tây Nam hồi 1977-1978 mà cứ phải ẩn dụ hoán dụ đánh hỏa mù lung tung cả lên mới xin được giấy phép khống đấy. Năm nay, bám càng cái giàn khoan HD-981 Hồn Phàm thừa cơ xốc tới đàng hoàng hơn. Báo cáo hết ạ!’

(Trích Facebook Cậu Tú)

+ “Anh mới nghe nói tuần báo Văn Chương vừa ra mắt tuyển tập truyện và thơ mang tên Mặt Biển? Và cả vở kịch Họ Và Mình của đại tá – kịch tác gia Nguyễn Lập Phương đang tập vở tại Nhà hát kịch nói Quân đội?”

– “Sao anh ma xó thế? Sau vụ giàn khoan, chắc dịch giả Thiết Ngôn thành ký giả Thiết Ngôn mất thôi! Cũng tốt, bang giao văn chương Trung-Việt được nhờ.

Vâng, ngoài các tác giả, tác phẩm nói trên đang gây sóng gió, còn tập truyện ký Đến Đảo Sinh Tồn Đi Qua Gạc Ma của văn sĩ thủy quân Lê Hoài Lam ra mắt âm thầm đúng hôm giàn khoan 981 sôi sùng sục. Ôi! Gạc Ma bi hùng, Gạc Ma phẫn uất, Gạc Ma đau thương! Để dành thư sau ta sẽ ‘xơi’ nó anh ạ. Đâu như đang bị các sếp ‘soi’? Em nghiệm rồi, sách văn chương cũng như trái chín trên cành, trái nào vặn vẹo nổi u sâu cắn mới ngon ngọt.

Muốn hiểu thực tế của Hải quân ta, ý là quân Đại Việt nhà em ấy đâu phải Hải quân Trung nhà anh, sống chiến đấu lao động và học tập ra sao ngoài biển đảo, không được phép bỏ qua lớp tác giả thủy thủ. Hiển nhiên!

Như cựu văn sĩ hải quân, cựu thần đồng Trần Đặng Khoa với nhiều thơ văn chuyên trị biển đảo mà danh tác là tập truyện ký Biển Chìm từng được tái bản liên hồi kỳ trận từ năm 2000 tới nay; lần thứ 26, bản mới nhất cũng ăn theo cái giàn khoan. Phê bình gia tinh tường hàng đầu Đại Việt là Lê Lưu gọi Biển Chìm là một thần bút.

Song thế hệ ‘nhà văn trung úy’ xông xáo cỡ như Trần Đặng Khoa cũng không được xông vào vùng nhậy cảm trên cơ thể Trung-Việt. Phải đợi thế hệ ‘nhà văn trung tá’ xông xáo và phản biện như Nguyễn Lập Phương, Nguyễn Đinh Tú, Lê Hoài Lam… Nhiều năm trước Lê Hoài Lam lên hương nhờ tiểu thuyết Những Ngày Huyền Ảo với đa số chương viết về lính thủy đánh bộ trong chiến tranh biên giới Tây Nam 1979.

Thử nghe nhà văn cấp tá hải quân vừa tâm sự trên báo mạng Văn Chương Quê Nhà:

‘Hỏi: Nói về dòng văn học biển đảo, sự kiện giàn khoan từng khiến các tay bút cùng chĩa cả về Biển Đông. Nhưng giàn khoan đã được nhổ đi, liệu các sáng tác có lắng dịu không, và rồi lại chỉ còn các thủy thủ cầm bút như Trung tá là thủy chung với biển đảo?’

‘Đáp: Câu hỏi hay! Trước hết, phải nhất trí ngay với nhau một điều: đất nước và con người Việt không thể không dính liền với biển; tức là nhà văn không thể quay bút trước đề tài sống còn này. Với tôi, những sáng tác vừa có chất thời sự vừa mang giá trị nhân văn, đích thị đó là văn chương. Kỷ nguyên đại dương đã đến, văn nghệ sĩ Việt mà thờ ơ với đại dương thì có ngày mất nước! Nhất trí ngay chưa nào? Điều nữa cũng cần nhất trí, nhưng từ từ. Viết về biển đảo ta và Hải quân ta không dễ. Đâu phải văn sĩ, ký giả nào cũng đi biển được. Rồi tình tiết, tự sự, diễn ngôn hàng ngày trên biển cả trùng khơi nói chung là không ‘sóng gió’ trừ những khi sóng gió, nên văn sĩ khó bề hư cấu mắm muối như chuyện trên cạn hay đồng rừng. Nếu chưa kinh qua cuộc sống đại dương, các nhà văn đi thực tế, ngay cả dịp nóng giàn khoan vừa rồi, khi trở về đất liền thường chỉ viết được loại văn chương thoang thoáng hơi gió hâm hấp muối biển. Cũng là quý rồi. Chờ cho giàn khoan cút xéo đi, hãy là kẻ quý trọng biển đảo đau đáu, hãy là người yêu thương lính biển ngút trời thì may ra mới tiếp tục viết, viết cho hay cho đẹp cho đúng về biển đảo Đại Việt ta! Từ từ nhất trí nhé?’

Họ Và Mình? Ôkê! Sân khấu kịch là con khủng long cổ đại sống sót vào thời Phục hưng và đầu thai vào thế kỷ 20, tới đất Việt thì nhập thân kịch tác gia Lưu Quang Võ thời 1980. Dở là ở chỗ Mỵ Châu không thích kịch cọt anh ạ. Trong kịch ‘tốn’ người chết quá! Nhưng lần này phải phục Nguyễn Lập Phương khi chàng dẫn độ khá ngon lành cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc lên tới tận… sân khấu. Đến mức panô buổi công diễn dự tính giật tít ‘Không thể xóa nhòa lịch sử giữ nước!’ Độc giả phải chờ thêm, vì trong Họ Và Mình tác giả chỉ đang he hé đề tài nhạy cảm.

Này anh, cũng nên ghi nhớ bài bình của phê bình gia kiêm kịch tác gia đàn anh Bảo Linh vừa gửi cho báo Hội. Kịch diễn là em đăng.

‘Trên cả hay! Bản thảo kịch Họ Và Mình tôi được tác giả cho đọc từ khuya. Nhưng mãi không thấy được ra ngoài ánh sáng, dù là ánh sáng đèn pha sân khấu. Bây giờ sắp diễn rồi, ngẫm thấy ân hận mình đã vội nghĩ không phải về các ‘ông’ kiểm duyệt nước mình. (Có lẽ thua cả nước ‘họ’?). Theo lối đọc thành nếp hằn và tất nhiên già nua của tôi, kịch bản Việt sau năm 1986, bậc nhất là Nguyễn Huy Thiếp ở các vở Không Có Vương, Thương Nhớ Chân Quê, Những Bài Học Nông Dân, Sang Mương; rồi Nhật Tuân với kịch Đi Về Nơi Hoang Vắng, Lê Mận với Thời Xa Tít, đến Dương Hường với Bến Không Vợ, thì dừng lại. Cho tới giờ mới có vở này. [Thiết Ngôn cũng biết anh giai này ‘sĩ’, không dám nêu vở Nỗi Buồn Chiến Chinh của mình từng được đóng đinh vào bảng phong thần kịch Việt hiện đại. Hollywood đã có hợp đồng chuyển thể phim mà vì sao đó cứ lần khân? Ký giả nghe đồn gì không?] Ấy là tôi nghĩ thế, độc giả khác nghĩ khác. [Phê bình kiểu này có mà dụ dỗ độc giả ‘ma’? Em sẽ đục bỏ. Câu tiếp lại rất đạt.] Họ và mình là người bên mình với người bên kia biên cương, là người âm người dương, là người mất kẻ còn… Một trong những bi kịch lớn nhất của đất Việt kể từ năm 1979 mà thật ra từ ngàn xưa. Không phải bây giờ mới được nghe khen hết lời, mở lại tờ Văn Chương Trẻ số Tết 2010, độc giả sẽ thấy tôi nói thập thò về ‘một tuyệt tác của một nhà văn đàn em’’.

+ “Nguyễn Lập Phương thì anh cũng thích. Hơi văn ma ảo. Khí văn lồng lộng. Người Tàu bọn anh không đọc mà ‘ngửi’ văn, nên trọng hơi và khí. Bác này đâu như năm 2010-2011 gì đó cho in bên Pháp cuốn kịch bản Xe Xuống Xe Lên?”

– “Ma xó thành ‘khí gió” rồi, trời ạ! Đúng thế, Họ Và Mình chỉ là phiên bản công diễn của bản văn học Xe Xuống Xe Lên. In sách ở hải ngoại coi như ném đá xem tăm. Anh lạ gì! Các bác ở ngoài ấy người khôn văn khó, viết được cái gì hay cái đó; đâu còn sức bình bàn tác phẩm người khác. Thế nên ‘xe xuống xe lên’ cả ba năm mà ‘xe’ vẫn như mới toanh. Phí rượu! À quên, phí cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung lần đầu tiên đi vào văn học. Dư luận trong nước nay mới biết qua vở diễn.

Còn đây, mời ký giả Thiết Ngôn thẩm định lời bình của học giả Thụy Khê viết giới thiệu sách. Hơi dài đấy, nhưng có vấn đề:

‘Hơn 20 năm trước, Bảo Linh diễn tả chiến tranh như cỗ máy nghiến vụn tất cả, trừ tình yêu. Nay Nguyễn Lập Phương tiến thêm một bước: chiến tranh nghiến vụn cả tình yêu, chỉ để lại tội ác, tức là chẳng cho con người hy vọng nào. Nguyễn Lập Phương đã rọi ống ngắm vào tội ác của một dân tộc được giáo dục thường trực trong bài học anh hùng và chiến thắng mà bản chất sâu xa chỉ là thổ phỉ. [Thổ phỉ? Thiết Ngôn thấy sao? Em ngứa tay biên tập quá!] Chiếu vào hậu quả từ các chiến thắng từ thời Lý tới thời Tây Sơn-Gia Long, thời Cách Mạng-Thổ Phỉ [Ngứa tay biên tập lắm rồi. Biên tập chứ không kiểm duyệt.] đến cuộc chiến Trung-Việt. Văn hoá ‘chặt chém’ đã thấm vào máu, nằm trong nồi cơm: dân ta mải chặt mải chém mà quên sinh quên sống. Dải đất biên giới anh hùng vắt trên dãy thây người. Những hệ gia đình thui chột như gia đình Hiếu là ví thế: ông ngoại trùm phỉ bị chặt đầu; mẹ buôn lậu vào tù; chú ngớ ngẩn; anh bộ đội đánh Tàu sau chết vì điên, bị chuột gặm hai cánh mũi và mắt; em trùm phỉ bị phục kích chết trên đỉnh Tà Vần… Sự giáo huấn chiến thắng chỉ sinh ra thánh nhân, nhưng không có bà mẹ nào muốn con là thánh. Cơ sở đầu tiên của con người là gia đình đã bị hủy hoại. Hệ thống cầu vồng phủ lên trọn lãnh thổ, khiến con người ta không thể vùng ra khỏi vòng ánh sáng đó đi đến chân trời mới. Nam thanh nữ tú chìm lặn trong đất thánh của tội ác, bị rình rập, vừa chạy lên đỉnh đã bị sập lưới, đẩy xuống đáy vực. Họ chưa được ý thức về khái niệm tội ác đã lìa đời.’ [Vừa diễn kịch vừa đọc lời bình này, trẻ con hết dám khóc.].

Thôi bỏ kịch cọt đi. Trong kịch ‘tốn’ người chết quá! Đã bảo là Mỵ Châu này dị ứng kịch mà! Văn thơ sướng hơn…

Vâng, tập sách Mặt Biển em cũng dính vào nhiều; Phụ trách biên tập phần truyện. Trừ vài trường hợp còn thì biên tập dễ như ăn cơm sườn. Sách gồm toàn tác giả gạo cội và đang phất. Bài vở hầu hết đã in ngon lành trên báo Văn Chương trong 4-5 năm qua, thậm chí mươi năm trước.”

+ “Cụ thể hơn nữa nào, nữ Phụ trách biên tập phần truyện?”

– “Mặt Biển hơn 500 trang gồm 30 truyện ngắn và 100 bài thơ của 80 tác giả, nhà xuất bản Nữ Nước Nam ấn hành. Các tác phẩm tạo dư luận ư? Như truyện ngắn Mộ Sóng của tác giả trẻ Lê Mạnh Thương từng được chuyển thể thành phim truyện cùng tên, sắp đi dự Liên hoan điện ảnh quốc tế Toronto. Như truyện dài Những Cánh Thư Gửi Từ Biển của nhà văn Vũ Thị Xuân Hà được hoàn thành nhanh nhất ngay giữa biển khơi Trường Sa tháng trước. Như trích đoạn tiểu thuyết của đại tá – văn sĩ Khuất Quan Thụy. Như thơ của đại tá – thi sĩ Nguyễn Hữu Quy, trung tá thủy quân – văn sĩ Lê Hoài Lam, thi sĩ cựu phi công Nguyễn Trọng Võ. Rồi ba truyện liên hoàn của một cây bút xứ Huế là Nhuỵ Uyên nữa cơ…

Em còn đoán giới văn nghệ sĩ Trung sẽ phát sợ trước tiền đồ của nền văn học Việt khi nghe lời phát biểu của phê bình gia – dịch giả Nguyễn Quan Thiều, Viện phó Viện Văn học Quốc gia kiêm Giám đốc Trung tâm Truyền bá Văn học Việt ra Ngoại quốc: ‘Mặt Biển có 3 điều đã nổi lên: Một, tình yêu biển đảo và ý thức chủ quyền Tổ quốc đã được nghệ thuật hóa bằng ngôn ngữ văn chương. Hai, sứ mệnh của văn học không gì khác hơn là thiết lập một Nhà nước của ngôn ngữ’…

+ “Cũng không mới. Từ thập niên 1950 Mai Thao và nhóm Sáng Tạo đã đòi lập Cộng hòa văn chương thế kỷ 21. Rồi Asturuas trong diễn từ Nobel 1967 từng bàn tới việc ‘giành chỗ đứng trong Nước cộng hòa văn chương’. Gần hơn, mươi năm trước đây, báo mạng Tiến Về cũng khẳng định sẽ góp phần xây dựng một khối Thịnh Vượng Chung của văn học nghệ thuật Đại Việt. Thì ra làng văn Đông-Tây đều tỏ vẻ sính tuyên ngôn?”

– “Anh nói tức như bò đá ấy! Phải, ai chẳng biết Thiết Ngôn giỏi! Chỉ giỏi nói leo bới bèo ra bọ. Hôm nao qua đây đấu khẩu xem mèo nào cắn mỉu nào: Thiết Ngôn ‘bắn’ tiếng Việt, Quan Thiều ‘nã’ tiếng Trung. Mới hay không mới, Đại Việt chúng em lúc này không cần, đúng ra là chưa cần. Miễn sao phục vụ tình hình mới.”

+ “Ừ thôi nỉ xin lỗi ngộ. Sợ gái nước Nam quá! Hảo… hảo…. Thế Nguyễn Quan Thiều phát biểu gì nữa?”

– “Làm mất cả hứng. Đang nói đến đâu rồi? À may cho em. Đúng buổi Ban biên tập họp đột xuất bàn về truyện chị Quyên gửi vào quá giang trên tập Mặt Biển thì mẹ Trâu phải ra sân bay tiễn con Nghé Ọ đi Úc. Kể riêng anh biết tin này nghe xong bỏ đó nhé; lộ ra là em chết đấy! Truyện của bà chị được một vị có chân trong ‘Bộ to nhất của các Bộ’ bảo lãnh với ‘chỉ đạo miệng’: ‘Về tư tưởng truyện mang thiện ý sâu sắc, dù về nghệ thuật tự sự hơi khó tiếp cập; đặc biệt về tác dụng thời cuộc lúc này thì bất khả tranh nghị nên truyện nhận được sự thu hút từ dư luận và bạn bè quốc tế’. To nhất thì to nhất, có cho kẹo sếp của cả nhà xuất bản Nữ Nước Nam lẫn báo Văn Chương cũng phải ‘em chã… em chã…’ May, không thì bà chị và làng văn Vũ Đại này lại đổ tội oan là Trâu ghen tình tức văn, không cho truyện ấy vào. Nhưng thật tiếc, nếu in trong Mặt Biển thì truyện Đỗ Quyên sẽ nổi như giàn khoan 981 giữa Biển Đông, anh nhỉ?”

Không ít đoạn trong những trao đổi trên được viết giữa các cú làm tình động đất cùng cuộc rượu ngất trời giữa Thiết Ngôn và người tình nam Trương Du. Những khi chủ nhân của bàn phím mê mị là thời cơ xọc vào của bàn tay lông lá từ Cục Tình báo Hoa Nam.

3.8

(damau.org ngày 9.06.2014: http://damau.org/archives/36845)

(Còn tiếp)

bài đã đăng của Đỗ Quyên


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)