Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Lịch Sử, Nghiên Cứu, Tư Liệu Email bài này

THANH VIỆT NGHỊ HÒA- TIẾN TRÌNH NHÀ THANH CÔNG NHẬN TRIỀU ĐẠI QUANG TRUNG- Chương I: Từ Căng Thẳng Đến Hòa Hoãn- PHẦN 2: ĐÀM PHÁN SƠ KHỞI

ĐÀM PHÁN SƠ KHỞI

Tuy không đưa ra một nghị trình rõ rệt, nhưng hai bên đều có những mục tiêu cụ thể để hướng tới và nhượng bộ dần cho đến khi có những điểm chung. Về phần nhà Thanh, các quan ở địa phương đã nhìn thấy hai chủ đề chính:

– Giải quyết hậu quả chiến tranh mà ưu tiên là trả về số tù binh bị bắt,

– Yêu cầu vua Quang Trung đích thân tham dự lễ khánh thọ của vua Càn Long.

Một cách tổng quát, Tôn Sĩ Nghị trong những ngày sau cùng còn ở Quảng Tây đã hết sức cố gắng để đạt cho bằng được mục tiêu thứ nhất [để chạy tội] nên khi Phúc Khang An sang làm tổng đốc Lưỡng Quảng thì chỉ tập trung vào hoàn thành mục tiêu thứ hai [để lập công]. Khi phân biệt hai đòi hỏi cơ bản đó, chúng ta có thể dễ dàng theo dõi được từng bước đi của cả hai bên.

TÔN SĨ NGHỊ

Ngày 22 tháng Giêng năm Kỷ Dậu [Càn Long 54], triều đình Tây Sơn sai Ngô Thì Nhậm mang một tờ biểu xin “đầu thành” [投誠] đến Lạng Sơn nhờ thông sự đưa qua Nam Quan. Ngay hôm đó, tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị và tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh gửi tấu thư về triều có đoạn như sau:

Ngày 22 tháng Giêng có tặc mục [quan nước ta] Lạng Sơn sai thông sự [người nói được cả hai thứ tiếng Hoa – Việt] mang lên một biểu văn nói là hiện thời Nguyễn Huệ đã sai mấy di mục đem thư lên Lạng Sơn tình nguyện đầu thành nạp khoản nhưng sợ thiên triều không thuận nên ra lệnh cho thông sự đem đến Nam Quan. Y cũng khai rằng hiện nay còn vài trăm quan binh ở bên đó đều được nuôi dưỡng tử tế sau này sẽ đem trả về, giọng lưỡi thật đáng ghét, còn những ai không trong số đó thì không biết ra sao.

Thần sợ rằng nếu mở biểu văn ra xem e rằng tặc nhân ngờ rằng nội địa đang mưu tính việc tương tựu [nhân theo đó mà tiếp tục] để cho xong việc nên ra lệnh cho văn võ quan viên giữ cửa trách mắng rằng nếu như còn các quan binh đang ở Lê thành thì Nguyễn Huệ ngươi hãy lập tức đưa về nội địa cho mau rồi trần tình tạ tội duyên do nếu không đốc phủ đại thần không thể bắng lòng chuyển tấu được. Nay ngươi chưa đem quan binh đem trả về mà đệ biểu xưng phiên thì rõ ràng ngươi Nguyễn Huệ muốn mượn việc này để dọ ý.

Sau đó đem biểu văn vứt trả rồi bỏ đi. Bọn thần cũng muốn trách mắng nghiêm lệ hơn nữa nhưng vì các nơi quan ải quan binh điều động tới chưa được mười phần hùng hậu nên chỉ đem việc quan binh chưa đưa trả mà thôi, đợi khi nào các nơi phòng thủ kéo đến đủ thì khi giặc quay lại khẩn cầu sẽ trách mắng nhiều hơn nữa [1]

Việc nước ta mở lời cầu hòa do chính vua Quang Trung và các quan chủ động hay do Thang Hùng Nghiệp bí mật liên lạc mớm ý thực ra chưa rõ ràng vì thời gian giữa lúc Tôn Sĩ Nghị về đến Quảng Tây (11 tháng Giêng) đến khi sứ bộ nước Nam gõ cửa (22 tháng Giêng) chỉ cách nhau hơn 10 ngày.

Trong thời gian ngắn ngủi đó, tuy vua Quang Trung bận rộn với việc giải quyết hậu quả cuộc chiến (tổng kết thiệt hại, thu dọn chiến trường, kiểm điểm chiến lợi phẩm, phát phối tù hàng binh, chiêu an dân chúng …) nhưng cũng gấp rút ra lệnh cho tìm kiếm giới sĩ phu và quan lại Bắc Hà mời họ ra cộng tác (qua sự giới thiệu của một số văn quan cũ như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích …) và giao cho họ việc từ lệnh bang giao trong những ngày sắp tới.

Lịch Triều Tạp Kỷ, quyển VI chép:

Các tiến sĩ triều Lê là Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch cùng các quan văn cống sĩ như bọn Vũ Huy Tấn, Đoàn Nguyễn Tuấn, Đào Xuân Lãng lần lượt về hàng. Nguyễn Quang Bình đều cho họ quan chức để họ tham gia vào việc từ lệnh bang giao …[2]

Theo lời tựa trong Hoa Nguyên Tuỳ Bộ Tập của Vũ Huy Tấn thì:

… Đầu mùa xuân năm Kỷ Dậu, ta đang náu mình ở quê nhà bỗng nghe có lệnh gọi những người đang ở hương ấp phải theo chiếu thư ra trình diện gấp. Ngày 24 tháng đó [Giêng] ta đến kinh đô vào triều kiến mới biết thượng quốc có thư gửi đến nên được đưa vào làm hầu mệnh [người chờ ở cửa quan để theo dõi công việc].

Ta cố gắng từ chối nhưng không thuận, ngay hôm đó phải lên đường, ngày mồng 2 tháng Hai thì đến Lạng Sơn cùng với quan trấn giữ biên thuỳ qua lại thù ứng [với nước Thanh]. Ta phải ở lại đây đến mấy tháng trời cho đến khi có dụ của thượng quốc cho lên kinh triều cận. Ta được uỷ nhiệm trong phái đoàn đi sứ, cố từ chối mà không được … [3]

MẬT NGHỊ
TAM ĐỘ KHẤT HÀNG

Theo tài liệu nhà Thanh thì chỉ trong vòng một tháng, nước ta ba lần gửi thư sang giảng hoà.[4] Việc gọi là ba lần “xin hàng” này trên thực tế chỉ là những lá thư gửi Thang Hùng Nghiệp – chủ yếu là đề nghị về một biện pháp thương thảo mà hai bên có thể đồng thuận.

Lần thứ nhất:

Tính theo thời gian, trong khoảng nửa tháng sau trận đánh ở Thăng Long, cả hai bên – nước ta lẫn Trung Hoa –chưa bên nào tổng kết được những kết quả cụ thể để dùng làm cơ sở đàm phán.

Về phía nước ta, có lẽ cũng chỉ nghe phong thanh là nhà Thanh sẽ đem quân báo thù và lực lượng được điều động rất lớn. Cựu thần nhà Lê phần lớn chạy về quê nên tin tức đến tai họ càng ít ỏi [có lẽ chỉ là tin đồn] và hầu như không ai biết vua Chiêu Thống và thân quyến đang ở đâu, còn sống hay đã chết?

Triều đình Tây Sơn tuy chuẩn bị đối phó với quân địch sang phục thù, vua Quang Trung vẫn nhanh chóng tìm kiếm các danh nho miền Bắc điều động vào thành phần có thể lấy bút mực thay gươm giáo, đưa ra những kế hoạch giảng hoà với nhà Thanh.

Không biết rằng nhà Thanh loan truyền Tôn Sĩ Nghị bị triệu về kinh chịu tội nhưng thực ra vẫn đang ở Quảng Tây, Ngô Thì Nhậm viết thư cho Thang Hùng Nghiệp biện bạch nguyên do việc can qua, đổ hết tội cho viên cựu tổng đốc nghe một bên để đem quân xuống phương Nam. Lá thư đầu tiên [theo sử nhà Thanh thì vào ngày 22 tháng Giêng][5] của nước ta trong BGHT như sau:

Bộc[6] vốn là người áo vải đất Quảng Nam, sinh trưởng ở nơi hoang vắng từ lâu vẫn ngưỡng mộ thanh giáo đất Trung Hoa nhằm thời nhiều việc khó khăn nên phải theo đường chinh phạt. Mùa hạ năm Bính Ngọ, có việc phải đến Lê thành nhưng sau đó đã trở về phương nam. Mùa xuân năm Mậu Thân, vì trong nước không yên nên phải sửa giáp quay lại. Cũng trong năm đó, bộc đã từng sai bầy tôi đến cửa quan, đem hết mọi tình hình trong nước tâu lên rõ ràng, mong được đại hoàng đế phân xử. Thế nhưng tổng đốc Tôn Sĩ Nghị vứt thư khước sứ lấp liếm chẳng thèm tâu lên, điều động đại binh không có lý do, càn rỡ gây chuyện nơi biên giới.

Ngày mồng 5 tháng Giêng năm nay, bộc gửi thư đến mong được gặp Tôn Sĩ Nghị để hỏi xem vì cớ gì mà lại dụng binh, có thực được đại hoàng đế sai khiến hay không? Thế nhưng Tôn Sĩ Nghị lại đưa quân đến đánh nên bị những người theo bộc đánh bại chết đè lên nhau, không biết bao nhiêu mà kể, còn kẻ bị bắt cũng đến hơn một nghìn người. Có điều tiếng nói không hiểu nhau nên chẳng biết ai với ai, người nào chỉ huy người nào binh lính, bộc đã cấp cho lương ăn và chia ra nơi ở nhiều chỗ.

Bộc xưa nay chưa từng xâm cương phạm cảnh để mà đắc tội với thượng quốc, thế nhưng Sĩ Nghị đã đem cái lòng chân tình cung thuận của tôi ném đi hết cả, lại gửi thư vào trong biên giới có ý gây chuyện, nhân đó khởi binh, đối xử với sinh linh hết sức tàn độc.

Bộc ở nơi góc biển xa xôi bị Sĩ Nghị áp bức nên ở vào thế cùng, đành gượng giơ cái càng bọ ngựa chống lại cỗ xe. Nay nhận được lời dụ của tôn đài nên mắt lòng thông tỏ, tôn đài quả là bầy tôi lương đống trụ thạch của đại hoàng đế nên đã có thể tuyên dương đức ý mà lo liệu việc biên cương, lòng thành như thế thật là làm rõ sự tận tâm so với Sĩ Nghị kia thì cái tội coi thường phép nước thật hơn xa.

Nay được thịnh tình của ngài soi xuống nên kính cẩn đệ lên tờ biểu trần tình mong được hết lòng mà chuyển lên để cầu xin ân điển của đại hoàng đế xin được giữ phận phên dậu theo lệ cống mà binh lính khỏi bị cái khổ của việc binh đao, ấy là đại nguyện vọng của bộc này vậy.

Phàm việc ra quân cốt ở chỗ hòa, không phải ở số đông, binh quí tinh nhuệ chứ chẳng cần nhiều, người giỏi trận mạc thắng ở chỗ chí nhu, chứ không phải ở chỗ cậy mạnh khinh khi người yếu, cậy đông hiếp đáp kẻ ít người.[7] Nếu như tình cảnh trước đây chưa biện bạch được thì thiên triều lẽ nào có thể khoan dung, ắt sẽ động binh gây chiến thì nước nhỏ không thể làm tròn tấm lòng phụng thờ nước lớn, bộc này chỉ đành lắng nghe thiên triều bảo sao thì làm vậy.

Nay kèm theo đây hịch văn của Tôn Sĩ Nghị , đều là lời lẽ lăng nhục khích bác tất cả dâng nạp, xin ngài xem xét cho.[8]

Nội dung lá thư đầu tiên chưa mang cung cách ngoại giao mà nhằm tranh biện đúng sai lại biểu lộ sự tự hào của chiến thắng, đổ lỗi cho Tôn Sĩ Nghị nên quan nhà Thanh đã trả lại.[9] Vả lại, khi tâu rằng đã ném trả biểu văn, Tôn Sĩ Nghị cũng dấu được những lời tố cáo vốn dĩ không xa thực sự bao nhiêu. Như vậy nước ta lần đầu tiên viết thư sang Trung Hoa chỉ thuần tuý đòi hỏi đối phương bãi binh.

Tuy nhận được lá thư gợi ý cầu hoà, nhà Thanh cũng chưa lường được phản ứng của triều đình Tây Sơn thực sự muốn chấm dứt binh đao hay chỉ mua thời gian [theo các báo cáo qua lại nay còn thấy] nên vẫn tiếp tục gia tăng phòng thủ, điều động canh giữ quan ải và nhất là tổng kết số người chạy được về.

Con số 8000 quân qua cửa ải mà Tôn Sĩ Nghị báo cáo xem ra không chính xác vì nếu tính số quân họ Tôn đem sang trừ đi số người tử trận [báo cáo sau này] chúng ta thấy có sự chênh lệch khoảng 2 đến 3000 người. Rõ ràng đây là một bịa đặt nhằm che dấu thất bại gửi lên vua Càn Long như một vận động ngầm để vua Thanh bằng lòng bãi binh. Số tù binh bị bắt lại càng khó biết.


BA TỜ HỊCH CỦA TÔN SĨ NGHỊ

Lá thư có kèm những tờ hịch vốn là một số bố cáo [hịch] gửi cho dân chúng Bắc Hà, còn ghi lại trong KDANKL, sao lục như sau:

Bản số 1

Nguyên văn

諭知該國,以阮岳,阮惠,退出黎城。仍回伊等故土。是其心不敢干犯天朝法紀。尚可不事苛求。

至爾鎭目人等。理應即日迎還故主。仍就藩封。倘竟彼此觀望遷延。暗爲阮姓守土。不肯迎請嗣王。則是爾國綱紀蕩然。全不知君臣大義。且爾等身係安南職官。轉不如爾國百姓。

倘能依戀黎王舊德。紛紛向關呈請。願効前驅。爾等清夜問心。置身何地。此番出示之後。爾等立即擁戴黎氏。迎請返正。則前此從逆與否。概置不問。

如仍執迷不悟。更無効順之心。即當一面奏聞大皇帝。一面親統大兵。尅期進剿。諒蕞爾一隅。豈能抗我王師。勢將咸就誅夷。爲爾國永垂炯戒等因。愷切曉諭。

Dịch âm

Dụ tri cai quốc, dĩ Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ thoái xuất Lê thành. Nhưng hồi y đẳng cố thổ. Thị dĩ tâm bất cảm can phạm thiên triều pháp kỷ. Thượng khả bất sự hà cầu.

Chí nhĩ trấn mục nhân đẳng. Lý ứng tức nhật nghinh hoàn cố chủ. Nhưng tựu phiên phong. Thảng cánh bỉ thử quan vọng thiên diên. Ám vi Nguyễn tính thủ thổ. Bất khẳng nghinh thỉnh tự vương. Tắc thị nhĩ quốc cương kỷ đãng nhiên. Toàn bất tri quân thần đại nghĩa. Thả nhĩ đẳng thân hệ An Nam chức quan. Chuyển bất như nhĩ quốc bách tính.

Thảng năng y luyến Lê vương cựu đức. Phân phân hướng quan trình thỉnh. Nguyện hiệu tiền khu. Nhĩ đẳng thanh dạ vấn tâm. Trí thân hà địa. Thử phiên xuất thị chi hậu. Nhĩ đẳng lập tức ủng đái Lê thị. Nghinh thỉnh phản chính. Tắc tiền thử tòng nghịch dữ phủ. Khái trí bất vấn.

Như nhưng chấp mê bất ngộ. Cánh vô hiệu thuận chi tâm. Tức đương nhất diện tấu văn đại hoàng đế. Nhất diện thân thống đại binh. Khắc kỳ tiến tiễu. Lượng tối nhĩ nhất ngung. Khải năng kháng ngã vương sư. Thế tương hàm tựu tru di. Vi nhĩ quốc vĩnh thừa quýnh giới đẳng nhân. Khải thiết hiểu dụ.

Dịch nghĩa

Dụ cho [người] nước kia được biết:

Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ rút khỏi Lê thành trở về đất cũ của chúng, ấy là trong bụng không dám phạm vào pháp kỷ của thiên triều nên chẳng dám quấy nhiễu nữa.

Trấn mục các ngươi đáng ra phải lập tức đón chủ cũ về để được phiên phong [phong làm phiên thuộc]. Còn như lần khân người nọ trông người kia, lén giữ đất cho họ Nguyễn, không chịu nghinh tiếp tự vương, vậy là nước các ngươi cương kỷ lỏng lẻo chẳng biết chi là đại nghĩa quân thần. Quan chức An Nam như các ngươi hoá ra lại không bằng thường dân bách tính.

Vậy nếu còn nhớ đến đức cũ của vua Lê thì các ngươi phải rầm rộ chạy đến cửa quan tình nguyện ra sức đi đầu, sáng tối tự hỏi nên để thân ở chỗ nào?

Sau khi cáo thị này gửi ra rồi, các ngươi phải lập tức ủng hộ nghinh đón họ Lê, quay đầu về nẻo chính, trước đây lỡ theo giặc, phạm sai lầm cũng bỏ qua không hỏi đến.

Còn như vẫn còn chấp mê không tỉnh, ấy là không biết hướng về chỗ thuận thì ta sẽ vừa tâu lên đại hoàng đế, vừa đích thân thống lãnh đại binh, định ngày tiến tiễu, dẻo đất cỏn con của các ngươi có thể chống với vương sư hay sẽ bị giết sạch?

Vì chưng muốn nước các ngươi được thiên triều soi chiếu mãi mãi nên ta thiết tha hiểu dụ.

Bản số 2

Nguyên văn

諭以爾等於大兵經時。跪迎道傍。爭獻牛米等物。實爲恭順。今不但不收爾等餽獻。又各賞給銀牌。示以嘉獎。並恪遵大皇帝諭旨。此次大兵進剿。原爲救護爾等夷民。嚴禁兵丁。不許擅入村莊。妄取一草一木。

天朝厚待爾等。從古未有。其附從阮惠之廣南賊匪。除臨陣剿殺。不計其數外。兹將生擒之數十人。立即梟首。使衆人觀看。以洩憤恨。從此爾等當益知感激。去逆效順。

Dịch âm

Dụ dĩ nhĩ đẳng ư đại binh kinh thời. Quỵ nghinh đạo bàng. Tranh hiến ngưu mễ đẳng vật. Thực vi cung thuận. Kim bất đãn bất thu nhĩ đẳng quỹ hiến. Hựu các thưởng cấp ngân bài. Thị dĩ gia tưởng. Tịnh khác tuân đại hoàng đế dụ chỉ. Thử thứ đại binh tiến tiễu. Nguyên vi cứu hộ nhĩ đẳng di dân. Nghiêm cấm binh đinh. Bất hứa thiện nhập thôn trang. Vọng thủ nhất thảo nhất mộc.

Thiên triều hậu đãi nhĩ đẳng. Tòng cổ vị hữu. Kỳ phụ tòng Nguyễn Huệ chi Quảng Nam tặc phỉ. Trừ lâm trận tiễu sát. Bất kế kì số ngoại. Tư tương sinh cầm chi sổ thập nhân. Lập tức kiêu thủ. Sử chúng nhân quan khán. Dĩ tiết phẫn hận. Tòng thử nhĩ đẳng đương ích tri cảm kích. Khứ nghịch hiệu thuận.

Dịch nghĩa

Nay dụ cho các ngươi biết:

Khi đại binh đi ngang qua, các ngươi quì đón ở bên đường, tranh nhau hiến trâu gạo các loại, thực là cung thuận. Nay ta không nhận bất cứ đồ gì hiến tặng, lại thưởng cho ngân bài để tỏ lòng khen ngợi.

Kính tuân theo dụ chỉ của đại hoàng đế, đại binh tiến tiễu lần này vốn là để cứu vớt người di các ngươi, nghiêm cấm binh đinh không được tự tiện vào các thôn xóm, lấy càn một cành cây, một ngọn cỏ.

Thiên triều hậu đãi các ngươi như thế, từ xưa chưa có bao giờ. Những kẻ đi theo bọn giặc Quảng Nam Nguyễn Huệ, khi lâm trận đã bị giết không biết bao nhiêu rồi, còn mấy chục đứa bắt sống thì lập tức bêu đầu để mọi người thấy cho hả phẫn hận. Có như thế các ngươi mới thêm cảm kích, bỏ kẻ nghịch giúp kẻ thuận.

Bản số 3

Nguyên văn

爾等久爲賊匪毒害。今大兵進剿。除臨陣誅戮外。逃匿必多。若令官兵分赴各鄉搜捕。不免藉端滋擾。不如各村寨自行挨查縛獻。既洩爾等忿恨。且可免諱匿包庇之罪。

Dịch âm

Nhĩ đẳng cửu vi tặc phỉ độc hại. Kim đại binh tiến tiễu. Trừ lâm trận tru lục ngoại. Ðào nặc tất đa. Nhược lệnh quan binh phân phó các hương sưu bộ. Bất miễn tịch đoan tư nhiễu. Bất như các thôn trại tự hành ai tra phược hiến. Ký tiết nhĩ đẳng phẫn hận. Thả khả miễn huý nặc bao tí chi tội.

Dịch nghĩa

Các ngươi bị tặc phỉ làm hại đã lâu, nay đại binh tiến tiễu, ngoài số bị giết khi lâm trận, chạy trốn chắc là đông. Nếu ta ra lệnh cho quan binh đến các làng xóm tìm bắt, không khỏi gây chuyện phiền nhiễu. Chi bằng các thôn trại tự tra xét trói chúng đem trình ra, vừa để các ngươi hả lòng phẫn hận, vừa được miễn tội bao che, dấu diếm.


Lần thứ hai:

Lá thư thứ hai của nước ta do Nguyễn Hữu Trù [阮有啁] và Vũ Huy Phác[10] [武煇璞][11] đưa sang [vào ngày mồng 9 tháng Hai][12], không còn gửi Thang Hùng Nghiệp để trình bày nguyên do cuộc chiến mà gửi lên triều đình nhà Thanh để xin công nhận.

Trong lá thư này có một câu khá quan trọng đã bị lược bỏ (xem nguyên bản hình tờ bẩm kèm theo còn lưu trong đáng án nhà Thanh). Đó là không còn nhắc tới câu “… thiết bản quốc tị xứ hoang tưu, vị thông triều cống, kim nguyện tu thần chức …” [竊本國避處荒陬未通朝貢今願修臣職] trộm nghĩ nước tôi ở nơi hoang vắng xa xôi, chưa từng triều cống, nay mong được làm bầy tôi … cho thấy có một sự thay đổi lớn.

Trước đây Nguyễn Quang Bình viết thư nhân danh “xứ Quảng Nam”, coi như một quốc gia riêng biệt là hậu thân của Chiêm Thành chưa từng liên lạc với nhà Thanh, việc đụng độ với thiên triều chủ yếu là do xung đột với nhà Lê, nay cầu hoà cũng là xin tái lập một quan hệ bị cắt đứt từ đời Minh. Nếu như vua Càn Long chấp thuận, rất có thể hai bên đồng ý một giải pháp: vua Quang Trung sẽ trả lại miền bắc cho vua Lê và làm vua ở Nam Hà như hai nước riêng rẽ thời Trịnh Nguyễn nhưng cả hai đều được nhà Thanh công nhận. Như vậy khởi thuỷ việc xin thay nhà Lê chưa được đặt ra.

Lá thư đó còn chép trong Liệt TruyệnNguyễn Thị Tây Sơn dịch ra như sau:

Thần vốn là kẻ áo vải đất Tây Sơn, theo thời mà cử sự. Năm Bính Ngọ [1786] đem quân diệt họ Trịnh, trả lại nước cho nhà Lê. Lê vương trước tạ thế, lại ủng lập tự tôn Duy Kỳ kế vị. Duy Kỳ là người dâm bạo, thần dân trong nước chạy về với thần, xin đem quân trừ loạn. Năm Đinh Vị [1787], thần sai một tiểu tướng đem binh hỏi kẻ tả hữu ai là người giúp cho [vua] Kiệt, thế nhưng Duy Kỳ nghe tiếng chạy trốn, tự chuốc lấy diệt vong. Năm Mậu Thân [1788], thần tiến đến Lê thành, uỷ cho con vua cũ là Duy Cẩn giám quốc rồi sai người gõ cửa quan, đem hết việc trong nước tâu lên. Thế nhưng mẹ của Duy Kỳ đã đến ải Đẩu Áo trước rồi, sai người xin giúp đỡ.

Tôn Sĩ Nghị là phong cương đại thần nhưng lại vì tiền của, nữ sắc, đem biểu chương của thần xé ném xuống đất, lăng nhục người đem thư, ý muốn hưng sư động chúng, không biết ấy là do hoàng đế sai khiến, hay vì Sĩ Nghị nghe lời một người đàn bà mà làm, muốn lập công nơi biên cương mưu cầu đại lợi.

Nếu như sánh nhân sĩ một góc biển thì giáp binh làm sao chọi lại được một phần trong muôn một của Trung triều. Thế nhưng trước mặt là sông sâu, sau lưng là hổ dữ, ai nấy sợ chết nên đều hết sức mà chống trả.

Thần không nề câu ném chuột tránh đồ nên lấy năm ba dân đinh trong ấp đi theo. Ngày mồng 5 tháng giêng năm nay tiến đến Lê thành mong gặp được Tôn Sĩ Nghị may ra có thể đem ngọc lụa thay việc can qua, chuyển binh mã thành hội xiêm áo. Binh của Tôn Sĩ Nghị đến trước nghinh chiến nhưng mới giao phong đã chạy tứ tán, ai trốn tránh ở thôn trang bên ngoài thành lại bị dân chúng giết sạch. Ngày thần vào trong thành lập tức cấm chỉ, không được giết càn, nhất thiết phải đưa đến đô thành, số hơn tám trăm nhân khẩu thần đã cho lương ăn.

Trộm nghĩ bản quốc từ Đinh Lê Lý Trần đến nay, các đời thay đổi, không phải chỉ có một họ. Hễ ai có khả năng làm phên dậu ở phương Nam thì được vun xới, ấy thật là chí công chí nhân, theo trời hành hoá, thuận theo tự nhiên.

Vậy xin tha cho thần cái tội nghinh chiến với Tôn Sĩ Nghị, xét cho lòng thành của thần mấy lần gõ cửa quan trần tấu mà phong cho thần làm An Nam quốc vương để được thống nhiếp. Thần nay sai sứ giả đến cửa quan để xin được sửa lễ cống, lại đem những người còn đang ở đây nạp về để tỏ chí thành.

Vốn dĩ đường đường là phận thiên triều đâu so kè việc thắng phụ với tiểu di, lạm việc chinh chiến[13] cho hả lòng tham tàn ắt là thánh tâm không nỡ. Quá lắm nếu như việc binh không dứt thì thế đến đâu cũng không phải là sở nguyện của thần, mà thần cũng không dám biết nữa.[14]

Bài này có lẽ cũng chép lại Trần Tình Biểu trong BGHT của Ngô Thì Nhậm nhưng nhiều chi tiết đã bỏ đi (mặc dù bản văn trong BGHT cũng đã lược đi một số chi tiết quan trọng):

Thần sống ở nơi hoang vắng xa xôi xứ An Nam đã từ lâu tắm gội nơi thanh giáo. Thế nhưng từ khi họ Lê không còn cầm trịch, việc chính trị vào tay quyền thần, trong nước ngả nghiêng ly tán, dân tình oán thán.

Thần là kẻ áo vải theo thời mà cử sự, nguyên do vì kẻ vong nhân là Nguyễn Chỉnh chạy tới xin quân. Mùa hạ năm Bính Ngọ (1786) là lần đầu có việc ở Lê thành, khi vua Lê trước tạ thế, thần nâng đỡ tự tôn là Duy Kỳ nối ngôi sau đó quay về phương Nam, bản ý không muốn chiếm lấy…

clip_image002

Hình 3: Tờ bẩm của vua Quang Trung gửi quan nhà Thanh

tháng Hai năm Càn Long 54[15]

(khúc đầu)

Việc triều đình Tây Sơn chuyển từ trần tình nguyên do chiến tranh sang xin phong cho Nguyễn Quang Bình làm An Nam quốc vương, đồng thời xin công nhận một dòng họ mới cho ta thấy rằng lúc này quan lại nhà Thanh đã nhận được chỉ dụ của vua Càn Long [gửi trước trận đánh ở Thăng Long] trong đó ông nghi ngờ khả năng tồn tại của Lê Duy Kỳ – không có Nguyễn Huệ này thì cũng sẽ có một Nguyễn Huệ khác nổi lên chiếm nước – nên đã “bật đèn xanh” cho quan lại ở Quảng Tây tiến hành việc thay đổi một triều đại tại An Nam. Đối với các quan nhà Thanh, việc đồng ý chấm dứt yểm trợ nhà Lê gỡ cho họ rất nhiểu lo ngại nhất là trút được gánh nặng sẽ phải tiếp tục tiến hành một cuộc chiến cam go và dai dẳng. Còn như công nhận cả hai nước – An Nam và Quảng Nam – thì cũng nhiêu khê không giải quyết được gì mà yêu cầu Nguyễn Quang Bình sang chúc thọ còn khó khăn hơn nữa. Chính vì vậy, hai bên nhất loạt trút mọi sai trái lên gia đình vua Lê [mà chính họ Lê không có điều kiện và cũng không biết những kết tội đó] tạo nên nhiều oan khuất tồn tại đến tận hôm nay.[16]

Lần thứ ba:

Theo nội dung lá thư, nước ta chưa đề cập đến việc trao trả tù binh như một thiện chí biểu lộ sự “thâu thành” nhất là vẫn còn có giọng khiêu khích nên Thang Hùng Nghiệp đã hốt hoảng trả lại bức thư kèm theo những lời dặn dò và cố vấn nước ta không nên dùng số người bị bắt giữ như con tin và chỉ chuyển lên vua Càn Long nếu số tù binh đó được trả về.

Theo sử nhà Thanh, ngày 21 tháng Hai nước ta lại gửi lá thư thứ ba để trình bày sự việc.[17] Trong BGHT còn lá thư vua Quang Trung gửi Thang Hùng Nghiệp sau đây:

Ngày 13 tháng Hai, Càn Long năm thứ 54, tôi nhận được một tờ trát của bồi thần bản quốc là Nguyễn Hữu Trù [阮有賙] được tôn đài thiết tha chỉ bảo về kế sách yên ổn và cai trị lâu dài của nước tôi. Tôi cầm lên đọc đi đọc lại, cảm kích khôn cùng thấy rằng lời tâu trong biểu ngoài việc còn có chỗ chưa hợp thức cần phải sửa lại rồi trình lên thì quan binh thiên triều hiện đang ở tại quốc đô đã được cho ở yên một chỗ cũng chưa tuân theo mà trao trả về.

Việc này nguyên do chẳng phải vì bộc có điều cầu xin nên dùng để ép uổng mà vì qua một phen tao loạn bọn họ đã bị bắt giữ. Nếu như bộc lại giận dữ nghe lời quân sĩ bản bộ mà cho phép tùy tiện lúc giao tranh thì bây giờ còn gì để nói?

Có điều bậc trượng phu xử sự minh bạch, không giết kẻ ngã ngựa nên nhất nhất thu dưỡng rồi tâu lên cho rõ ràng đợi thiên tử định đoạt để làm sao đưa về cho thuận tiện, ấy là lòng thành trong việc lớn xin phong. Còn như khư khư giữ lấy vài trăm binh lính, đòi hỏi yêu sủng trước khi trả về thì có khác gì đưa dưa mận mà đòi quỳnh cửu[18] đâu có thể gọi là cung thuận chân thành. Cho nên mấy phen qua lại, chưa từng đem chuyện đó nói ra. Nay nghe lời dạy rằng đợi khi nào đưa trả quan binh sẽ dựa theo đó mà chuyển tấu, ấy là lòng chân thật của tôn đài mà chu toàn cho bản quốc nên không câu nệ dấu vết cũ.

Bộc lại nghĩ lại rằng, vạn sự trong thiên hạ không qua khỏi một chữ thành. Lần này quan quân trở về kinh mong tôn đài đừng nhắc tới cũng như trát lần trước đã nói là “tức sự ninh nhân, thực duy đại nguyện”.[19] Nếu như có nảy sinh lời lẽ vào ra, vạn nhất chuyện đổi khác thì bộc cũng đành chiều theo vậy, cốt thuận với tự nhiên, làm như không có sự gì mà thôi.

Phàm nước nhỏ đối với nước lớn, ngoài việc “uý thiên sự đại”[20] ra, thì không còn gì khác nên tôi đã tra chiếu quan binh hiện đang ở đây thì ở quốc đô là hơn 700 người, còn khoảng 200 người đưa đi trấn giữ trong các đội quân bản bộ, nhưng gần đây số ốm đau bệnh hoạn cũng đến cả trăm người. Cho nên tôi đã ủy cho bồi giới Nguyễn Hữu Chu [Trù] chuẩn bị đưa lên cửa quan hơn 600 người giao nạp, còn 300 người sẽ lần lượt đưa đi.

Lần này ngoài giấy tờ tâu lên, cũng có tiến lễ vật đúng ra phải có thổ ngơi nhưng vì nước mới dựng, không thể mọi thứ đều lo liệu được nên trộm đưa lên hoàng kim 10 dật, bạc 20 dật để thay cho chút lễ đơn bạc[21], xin tôn đài xem xét tấm lòng chân thành mà thu nạp rồi chuyển tâu lên. Còn như bọn bồi giới Nguyễn Hữu Trù, Vũ Huy Phác đem biểu lên gõ cửa quan, đợi chỉ cho phép tiến kinh thì mới dám nghệ khuyết. Số người tùy hành, tất cả tổng số là bao nhiêu thì mong được biết số lượng.

Tấm lòng vạn dặm, không bút mực nào có thể hết được, mong tôn đài giúp đỡ cúi xuống mà ngọc thành cho.[22]

Kèm theo bức thư, nước ta cũng tặng cho Thang Hùng Nghiệp 100 lượng bạc, một món tiền làm quà tương đối nhỏ không nhằm đút lót như sử triều Nguyễn ghi chép.

Trước đây tôi đã được kín đáo dạy bảo rằng nếu có điều gì bẩm bạch lên bộ đường đại nhân thì tuyệt đối đừng nên đề cập cái lòng tôn đài yêu mến thâm sâu bộc này. Phàm dù ghét nhưng vẫn biết đến cái thiện của kẻ kia thực không có mấy người. Quan tổng đốc đối với bộc có ý không thể dung tha được nên trước đây mới gây ra cớ sự, nay lại nhờ vun vén cho thành việc của người ắt sẽ không ra sức giúp đỡ nên bộc không dám ngỏ lời. Nay được thịnh tình giảng giải cho, việc phong điển rất quan trọng, nên việc trình bẩm cần phải cho hợp cách thức bình thường, bộc không thể không tuân theo.

Vậy kính cẩn trình lên một đạo bẩm văn viết rõ ràng, theo đúng như đã gửi lại mong được thu nạp và chuyển đệ lên. Hiện nay nước tôi vừa mới dựng, văn hiến chưa đủ mọi việc nghi thức tâu lên còn nhiều chỗ thô lỗ, khiếm khuyết mong tôn đài chu toàn mà giúp cho thành tựu. Trong kinh Thi có viết: “Bồng bồng thử miêu, âm vũ cao chi”. Thiệu Bá gia ơn cho nước Nam công lao cũng không khác gì mưa đầy đủ, bộc đọc thơ này nhiều lần nên gửi lên để ca tụng tôn đài.

Tiểu bang không có gì để tạ ơn, chỉ có chút thổ ngân [bạc sản xuất tại địa phương] một trăm lượng xem như chén rượu thọ, không dám gọi là để báo đáp, chỉ lấy vật để thay tình mà thôi. Mong ngài lấy lượng hải hà mà nhận cho thì chúng tôi thật vinh hạnh. [23]

Theo nội dung lá thư, Thang Hùng Nghiệp đã tiếp xúc riêng với Nguyễn Hữu Trù và những trao đổi đã được gửi về Thăng Long. Kế sách lâu dài mà họ Thang đề cập hẳn có liên quan đến việc “Lê Duy Kỳ bỏ nước chạy trốn, thiên triều không còn có ý lấy lại An Nam giao cho y. Vậy nhân lúc phương bắc chưa nhận được dụ chỉ [tức chưa có chủ trương và hành động dứt khoát], hãy sai người gõ cửa quan thỉnh cầu ân điển” như nhắc đến trong Liệt Truyện.

Lẽ dĩ nhiên, không phải chỉ một chi tiết nhỏ như thế có thể được gọi là “kế sách yên ổn và cai trị lâu dài của nước tôi” nếu không đưa ra những áp lực mới. Việc “Lê Duy Kỳ bỏ nước chạy trốn” mà Thang Hùng Nghiệp gợi ý không phải chỉ là một sự kiện bình thường mà chính là một thông tin mật của nhà Thanh cho Tây Sơn biết rằng hiện nay Lê Duy Kỳ không còn ở trong nước mà đang là con tin ở Trung Hoa, đồng thời cũng là một đe dọa ngầm nếu như Nguyễn Quang Bình không thần phục, chậm trễ trao trả tù binh thì sẽ là một mầm họa lớn tác động đến việc trị an.

Về phía Trung Hoa, các quan lại địa phương cũng biết rằng mục tiêu của những trao đổi này không phải để xem ai đúng ai sai mà làm thế nào cho quan điểm hai bên có thể dung hoà, đấu dịu để không xúc phạm đến sự tự tôn của vua Thanh. Việc tranh cãi và lý luận đó kéo dài khá lâu đúng như Vũ Huy Tấn đã phải than là ông lên xuống gõ cửa Nam Quan đến bảy lần thì việc mới xong. Theo những chi tiết còn lưu lại trong sử sách, triều đình Tây Sơn đã thay Ngô Thì Nhậm bằng Phan Huy Ích rồi sau đó là Vũ Huy Tấn ứng trực ở Lạng Sơn chờ đợi kết quả bang giao và cũng khiến cho giới nghiên cứu phải ngạc nhiên vì những lời lẽ quá sai sự thực trong những biểu văn cầu phong nên không mấy ai trích dẫn.

Nhìn từ hai góc cạnh khác nhau, việc gọi là ba lần xin hàng đó không phản ảnh sự thật. Lẽ dễ hiểu, tài liệu nhà Thanh không lưu lại những văn thư ban đầu mà chỉ sử dụng bản văn sau cùng, vốn dĩ đã được sửa lại theo đúng ý họ, là tài liệu nặng phần ngoại giao. Thanh triều cũng không nhắc đến những tiến trình đàm phán, kể cả việc nước ta thay đổi các sứ bộ như một hình thức xa luân chiến, khi quyết liệt cứng rắn, khi hòa dịu nhún nhường. Nhà Thanh cũng đưa ra nhiều yêu sách – như qui phạm đàm phán của Trung Hoa – và từ từ rút bớt cho đến khi đồng thuận.

Về phía nước ta, có lẽ các quan ở Lạng Sơn cũng không biết rằng Tôn Sĩ Nghị vẫn còn ở Quảng Tây kinh lý các vấn đề hậu chiến nhưng bên ngoài thì bắn tiếng là ông ta đã bị cách chức triệu hồi về kinh và một nhân vật tiếng tăm hơn là Phúc Khang An sẽ sang thay thế.

Chính mô hình bán chính thức này tạo cho phía nhà Thanh một khoảng trống vì trong suốt mấy tháng đầu nước ta chỉ có thể tiếp xúc với một viên chức cấp nhỏ là Thang Hùng Nghiệp nên đối phương không bị ràng buộc bởi những gì họ Thang đưa ra và vẫn có thể điều chỉnh sao cho thuận với ý hướng và chủ trương của họ nếu cần.[24] Quan nhà Thanh cũng có thể từ chối những quyết định quan trọng lấy cớ là tân tổng đốc chưa có mặt.

Tuy nhiên, nếu không giới hạn trong lối nhận định chủ quan của hai bên, một đằng thì nói rằng nhà Thanh sợ ta đem quân đánh sang nên bí mật cầu hòa, một đằng thì nhấn mạnh đối phương nhiều lần gõ cửa xin hàng để mong được công nhận, chúng ta cũng thấy rằng trong tiến trình đàm phán, mỗi bên đều có những “thế mạnh” để dựa vào đó mà thương lượng. Chính những yếu điểm được khai thác đúng thời đúng chỗ là động cơ thúc đẩy việc thỏa hiệp nhanh chóng hơn.

Về phần nước ta, ưu thế nếu có chỉ dựa vào số hơn 800 tù binh bắt được, trong đó có cả một số dân phu. Việc trao trả những binh sĩ này có thể giúp phô trương thắng lợi nhưng nếu để trên bàn hội nghị, vài trăm người đó chưa đủ để Thanh triều phải gấp rút thỏa mãn những điều vua Quang Trung đang mong mỏi.

Ngược lại, tuy thua trận nhưng trong tư thế của một đại quốc, nhà Thanh vẫn có thể tiến hành một lần xâm lăng thứ hai và trong trường kỳ, phần thiệt vẫn về phía nước Nam, dù có đuổi được giặc thì vẫn lâm vào cùng kiệt. Việc tái dụng binh cũng không phải là chọn lựa duy nhất, nhà Thanh còn một lưỡi dao sắc dấu sau lưng. Đó là thanh viện và giúp đỡ tiền bạc, quân nhu, chiến cụ cho các nhóm thân Lê để quạt bùng lên một cuộc nội loạn kèm theo áp lực Xiêm La, Chân Lạp hay chúa Nguyễn ở Gia Định khởi binh nhằm bao vây chia xẻ lực lượng rồi đưa Lê Duy Kỳ về nước. Nhà Thanh cũng có thể ám trợ cho vua Lê [hay em trai ông là Lạn Quận Công Lê Duy Chỉ khi đó đang ở Tuyên Quang Hưng Hóa] dùng lãnh thổ Trung Hoa làm hậu phương để chống Tây Sơn.[25]

Việc triều đình Quang Trung trả tù binh là một cử chỉ thiện chí nhằm tạo một tương quan mới làm cơ sở đàm phán với Phúc Khang An và cũng giải thích được thái độ từ cứng rắn sang hòa hoãn mà cả hai bên đều tiến hành.

Hình 4: Nghi vệ của một tổng đốc khi ra ngoài theo tranh vẽ Tây Phương[26]

clip_image004

CHỦ TRƯƠNG CỦA THANH TRIỀU

Việc quan lại nhà Thanh ở Quảng Tây trao đổi qua lại với triều đình Tây Sơn trong mấy tháng đầu là một màn khói làm giả diện để nhà Thanh có đủ thì giờ tính toán một kế hoạch lâu dài. Chỉ ba ngày sau khi nhận được tin Tôn Sĩ Nghị bại trận – ngày 29 tháng Giêng năm Kỷ Dậu vua Càn Long đã viết “An Nam thủy mạt sự ký” [ghi lại việc nước An Nam từ đầu chí cuối], trong đó nêu ra những điểm quan trọng nhất để hướng dẫn tiến trình đàm phán:

clip_image006

AN NAM THỦY MẠT SỰ KÝ[27]

Nguyên văn

御製書安南始末事記曰、春日齋居。敬觀皇祖御書心經。張照等、跋錄御製戒之在得之諭。憬然有悟。

因憶安南始末事。為之記曰。

我皇祖戒之在得之訓。孫臣固建堂於避暑山莊。其義其事。已見之前後之記矣。

昨歲夏、居山莊。因有緬甸歸順之事。不無為之喜。無何而有孫士毅复黎城封黎王之奏。則又不無為之喜。夫喜者懼之對也。懼則若有所失。喜則無所更慮。若有所失。心不敢放。無所更慮。心或放乎。

緬甸歸順。無過宴賚山莊。事則已矣。安南之事。雖云復其城。封其王。而其凶首未擒。弗屑費中國之力。為藩國掃蕩擒渠。因降旨班師。使孫士毅速遵旨班師。即逆兇复擾黎城。則固外藩之事。變亂無常。亦不屑每問之。

乃孫士毅駐彼踰月。以待或有所擒獻。而又未曾謹設防。以致逆兇席捲而來。我師倉卒與戰。遂有所失。而提鎮三臣。同以致命。幸而孫士毅全師以歸。尚不致有傷國體。然而赫濯威重。實不無少損焉。

夫興滅繼絕。弗利其土地臣民。此非欲得也。然而得其名。與得其實同之。安南之事。予果無得名之意乎。喜而忘懼。謂之能戒可乎。

故予不咎孫士毅之貪功。久駐失防。致損威重。而自咎予之未能體皇祖訓戒之在茲。書以志過。抑亦慎守此志於永久弗替云爾。

Bản dịch

Mùa xuân ở Trai Cư kính cẩn xem Tâm Kinh do chính tay hoàng tổ (tức vua Khang Hy) viết, bọn Trương Chiếu viết lời bạt thấy lời ngự chế răn dạy về chuyện được (戒之在得 – giới chi tại đắc) rằng phải cẩn thận đừng để xảy ra sai lầm.

Nhân ngẫm trước sau việc An Nam mà ghi lại:

Lời dạy của hoàng tổ về việc”được” thì tôn thần[28] đã dựng một toà nhà ở Tị Thử Sơn Trang để thấy mà hiểu được nghĩa lý việc đó trước sau như thế nào?

Mùa hạ năm ngoái ở Sơn Trang nhân có việc Miến Điện qui thuận chẳng phải “vô vi chi hỉ” [無爲之喜][29] thì là gì? Lại có việc Tôn Sĩ Nghị tâu lên đã khôi phục Lê thành rồi phong vương cho họ Lê cũng lại là niềm vui không làm mà đến. Thế nhưng việc vui thì trái lại cũng có điều sợ vậy. Sợ nếu như có điều gì mất nên vui khi không có gì đổi khác còn lo mà có điều mất thì bụng dạ ngay ngáy không quên đâu có thể nhẹ nhõm được?

Miến Điện qui thuận thì chỉ cho ăn yến khoản đãi ở Sơn Trang cũng đủ, còn việc An Nam tuy đã lấy lại kinh thành, phong cho vương tước nhưng hung thủ chưa bắt được. Thế nhưng ta coi là chuyện nhỏ không đáng phí sức của Trung Quốc để ra công quét sạch nước phiên bắt kẻ đầu đảng nên đã giáng chỉ ban sư. Cũng biết nếu như Tôn Sĩ Nghị lập tức tuân chỉ rút quân về thì kẻ nghịch sẽ quay lại Lê thành nhưng đó là chuyện của ngoại phiên, biến loạn vô thường không phải việc nhỏ nhặt gì ta cũng phải can thiệp.

Thế nhưng vì Tôn Sĩ Nghị ở lại đến hơn một tháng để chờ xem có ai bắt [Nguyễn Huệ] đem đến nạp hay chăng, lại không cẩn thận phòng ngự đến nỗi kẻ nghịch kia thừa cơ lẻn đến, quân ta bất ngờ nên thua trận khiến cho đề trấn ba bầy tôi bỏ mạng, may mà Tôn Sĩ Nghị đem quân chạy về được tuy không đến nỗi tổn thương quốc thể nhưng uy nghiêm sút giảm không nhỏ.

Phàm hưng diệt kế tuyệt tính chuyện lợi đất đai hay dân chúng không phải là điều ta muốn nhưng được danh và được lợi phải ngang nhau. Chuyện nước An Nam trẫm nào có ý được danh đâu nhưng vì vui mà quên sợ ấy là điều cần răn mình vậy.

Ta không trách Tôn Sĩ Nghị tham công ở lâu không phòng bị để đến tổn thương uy trọng mà tự trách mình không theo thánh huấn của hoàng tổ răn dạy trong sách. Vậy các ngươi phải chăm lo cẩn thận giữ gìn lời dạy này mãi mãi về sau.

PHÚC KHANG AN

Phúc Khang An là người Mãn Châu trong Nhương Hoàng Kỳ, con của danh tướng Phó Hằng, cháu gọi Hiếu Hiền hoàng hậu bằng cô, uy tín rất lớn vì năm trước đã dẹp được nhóm Thiên Địa Hội ở Đài Loan và được thăng lên Gia Dũng Công [嘉勇公][30].

Theo sử sách, Phúc Khang An là người trọng hình thức, thích màu mè, đi đâu cũng phải tiền hô hậu ủng, cờ xí rợp trời để phô diễn sự oai vệ của một đại quan. Để tỏ ra mình là một văn quan trong vai võ tướng, họ Phúc luôn luôn đi kiệu, cầm quạt lông, bắt chước Gia Cát Lượng đời Tam Quốc.

Chính sử thường chỉ chép về hoạn lộ của Phúc Khang An nhưng ngoại sử lại đưa nhiều chi tiết cá nhân giúp chúng ta phần nào hình dung được con người mà nước ta phải tiếp xúc trong vai tổng đốc trọng thần trấn nhậm biên cương:

[…] Kiệu đi ra ngoài của Phúc Văn Tương, phải dùng đến 36 kiệu phu thay đổi lẫn nhau để cho đi nhanh như bay. Khi ra quân đốc trận ông ta cũng ngồi kiệu, mỗi phu kiệu kèm theo 4 con ngựa tốt, khi không phải khiêng thì cưỡi ngựa đi theo thành thử rất là phiền nhiểu cho dân chúng, có viên huyện lệnh nọ đánh một ngưởi khiêng kiệu mà bị mất chức. Khi ông làm tổng đốc Tứ Xuyên thì làm cái kiệu rất lớn, 16 người mới khiêng nổi. Bên trong kiệu có hai tiểu đồng để hầu hạ châm thuốc pha trà, lại có đồ điểm tâm nóng lạnh mấy chục món …

[…] Khi đi hành quân thì Phúc Khang An tuyển chọn phu khiêng đều là những người khoẻ mạnh chia phiên nhau mỗi ngày đi được 100 dặm…[31]

Trước đó, khi đang làm tổng đốc Mân Triết, nghe tin Tôn Sĩ Nghị bại trận Phúc Khang An đã gửi ngay lên vua Càn Long một tấu thư xin tình nguyện sang làm tổng đốc Lưỡng Quảng để giải quyết việc An Nam.

Phúc Khang An giao lại ấn tín tổng đốc cho tuần phủ Từ Tự Tăng [徐嗣曾] để thự lý [tạm thay, chưa chính thức] rồi lập tức ngày đêm theo đường Mân (Phúc Kiến) Liêm (châu) đi sang Quảng Tây. Ngày 26 tháng Giêng vua Càn Long đã gửi triệp cho Phúc Khang An trong đó có đoạn như sau:

Nguyễn Huệ chỉ là một thổ tù đất An Nam, đuổi chúa làm loạn cương thường để thiên binh phải đến đánh dẹp, mấy lần bỏ chạy rồi lại dám tập trung lẻn đến làm hại quan binh, quả là tội ác cực lớn.

Hiện nay đã đến thời giao Xuân, xứ đó là nơi nhiều chướng lệ, không tiện việc lập tức đem quân vào sâu hỏi tội bọn chúng, vậy các đốc, phủ ở biên cương hãy đem quân các doanh thao diễn, bao giờ lương hướng đầy đủ, lính tráng tinh nhuệ thì nghe lệnh điều động để kể tội đánh dẹp.

Tuy nhiên, cũng cùng ngày hôm đó, vua Càn Long lại gửi thư cho Phúc Khang An một dụ chỉ có nội dung khác hơn:

Nguyễn Huệ chẳng qua chỉ là một thổ tù nước An Nam mà nay quốc gia đang hồi toàn thịnh, nếu tập trung binh lực cho đông, bốn đường tiến đánh thì đến sào huyệt bắt đầu sỏ không khó khăn gì. Thế nhưng nước đó vốn nhiều chướng lệ, chẳng khác gì Miến Điện, lấy được đất thì không đáng giữ, có được dân không đáng làm bầy tôi, việc gì phải hao tốn tiền bạc, lương thực của Trung Quốc ở một vùng viêm hoang vô dụng như thế?

Đem quân tiễu trừ Nguyễn Huệ lúc này không phải là không thể làm nhưng tính toán thiên thời, địa lợi, nhân sự đều thấy không nên … Vậy Phúc Khang An khi đến Trấn Nam Quan, nếu Nguyễn Huệ nghe tiếng sợ hãi mà đến cửa quan phục tội qui hàng thì Phúc Khang An hãy nặng lời mắng nhiếc, không nhận lời ngay để xem y có thực thành tâm sợ tội hay không, thỉnh cầu vài ba lần rồi hãy tùy cơ mà hành sự để cho đại cục hoàn thành.[32]

BÁN CÔNG KHAI

Việc nước ta trao trả tù binh có thể coi là một đại công của Tôn Sĩ Nghị, một thắng lợi ngoại giao quan trọng khai mở một lối giải quyết mà Quân Cơ Xứ về sau coi như sáng kiến từ triều đình. Từ khởi đầu này, Tôn Sĩ Nghị, Tôn Vĩnh Thanh và Thang Hùng Nghiệp đã cùng với các phái đoàn nghị hoà của nước ta dựng thành một tiến trình lớp lang, thuận lý. Những lá thư có tính cách trách cứ, đổ lỗi, khiêu khích từ phía Đại Việt được huỷ đi và Thang Hùng Nghiệp được lệnh bí mật sang bàn tính một kế hoạch mà hai bên đều có lợi đưa đến những tin đồn ngoại sử.[33]

Về phần nước ta, việc tỏ thiện chí có lẽ để đáp ứng một bảo đảm từ phía Thanh triều là chấm dứt việc ủng hộ vua Lê [mà họ cho biết là đang ở Trung Hoa], qua danh nghĩa “hưng diệt kế tuyệt” như lần trước. Trong tình hình lúc đó, bảo đảm như thế là biến chuyển quan trọng trong tiến trình nghị hòa nên vua Quang Trung đã ra lệnh trả tù binh trước khi Phúc Khang An sang tới nơi giúp cho viên tân tổng đốc không còn phải bận tâm đến việc rửa mặt cho vua Càn Long mả bắt tay ngay vào tiến hành nghi thức công nhận An Nam quốc vương.

Ngày 21 tháng Hai, vua Quang Trung cho Nguyễn Hữu Trù đưa lên biểu văn [đã gọt dũa lại cho phù hợp] cho quan nhà Thanh xem trước và hôm sau [22 tháng Hai] đưa lên Nam Quan 500 tù binh, bao gồm 300 binh lính và 200 phu dịch[34]. Cùng lúc đó, vua Quang Trung ra lệnh cho trấn thủ Lạng Sơn chuẩn bị lễ lạc và tiệc mừng, đánh dấu một thắng lợi trong tiến trình đàm phán[35]. Sau lần trả tù binh lớn này, nước ta còn trả thêm lần thứ hai gồm 39 người, lần thứ ba 28 người và lần thứ tư 18 người nữa.[36] Để đáp lại, nhà Thanh cũng trả về nhóm Chu Đình Lý 7 người[37] khi đó đang bị giam ở huyện Sùng Thiện, phủ Thái Bình, tỉnh Quảng Tây.

Việc hai bên trao trả tù binh có thể coi như thời điểm kết thúc thái độ đối nghịch để chuyển sang thời kỳ đàm phán về nghi lễ. Vai trò của Tôn Sĩ Nghị cũng chấm dứt để Phúc Khang An ra mặt bước vào bàn hội nghị.

CÔNG KHAI HOÁ VIỆC ĐÀM PHÁN

Sau khi tù binh đã được trả về, các quan nhà Thanh đã bằng lòng chuyển biểu văn lên Yên Kinh nhưng còn đợi Phúc Khang An đến nơi sẽ chủ trì.

Đầu tháng Ba năm Càn Long 54, Phúc Khang An đến Quí Huyện thuộc Quảng Tây, nhận ấn triện tổng đốc xong, đến ngày 12 [tháng Ba] đến Nam Ninh, trên đường vừa đi vừa thăm dò tình hình. Ngày 16 tháng Ba, Phúc Khang An đến Trấn Nam Quan, gặp những nhân vật đã có kinh nghiệm trực tiếp đối phó với vấn đề, chủ yếu là tiền tổng đốc Tôn Sĩ Nghị, tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh, đề đốc Hải Lộc [thay thế Hứa Thế Hanh] mà trong hai tháng qua đóng bản doanh ở đây. Là người thân của vua Càn Long được chỉ thị mật nên Phúc Khang An đã có sẵn một kế sách hợp với tâm nguyện của hoàng đế.


KẾT QUẢ BAN ĐẦU

Ngay khi vừa đến Trấn Nam Quan, họ Phúc đã tâu lên:

Ngày 16 tháng Ba thần đến Trấn Nam Quan, phủ thần Tôn Vĩnh Thanh đóng ở Thụ Hàng [受降] thành cách cửa quan 90 dặm còn tổng đốc tiền nhiệm Tôn Sĩ Nghị đến đón thần về mạc phủ [幕府] doanh cách cửa quan 20 dặm còn đề thần Hải Lộc thì đã đến đóng ở cửa quan trước sau cùng thần tiếp kiến báo cáo đại khái tình hình biên quan.

An Nam ở nơi hẻo lánh nóng nực, xưa nay người man tranh giành với nhau, chinh chiến không dứt. Hiện nay thổ tù Nguyễn Huệ cùng họ Lê tranh chấp, quân ta kể tội đánh dẹp, y cũng không chịu cúi đầu trước quân doanh,[38] đến khi ta toan triệt binh khỏi Lê thành thì xảy ra chuyện sơ sót ngoài ý muốn, thật gã tù trưởng kia đắc tội với thiên triều chứng cớ rành rành.

Hoàng thượng ngự vũ mấy chục năm qua, bình định Tân Cương, Hồi bộ, đại tiểu lưỡng Kim Xuyên, tiễu trừ Hồi phỉ ở nội địa, nghịch tặc ở Ðài Loan, công lao phong phú, sự nghiệp lẫy lừng vượt quá cổ kim. Nay mảnh đất An Nam nhỏ bé, cất tay lên đánh dẹp, thu làm quận huyện thì có khó gì.

Thần nhiều đời thụ ơn nặng, mấy lần được bổ nhiệm, việc hành quân trước nay chưa từng khiếp sợ chút nào. Tình hình hiện nay nếu cần dụng binh ắt cũng xin tâu lên điều động quân đội, trưng dụng lương hướng đại cử xuất quan đâu có gì mà phải rụt rè, đến kẻ văn nhược thư sinh Tôn Sĩ Nghị còn dám dẫn quân tiến vào không lẽ thần lại không bằng hay sao?

Có điều địa phương nước này, từ bắc xuống nam 3000 dặm, từ đông sang tây 2000 dặm, trình trạm rất nhiều việc đưa quân đi không thể nhanh được mà nói chung trong khí hậu bốn mùa chỉ có ba tháng mùa đông là chướng lệ không nổi lên, còn xuân hạ thu tam quí ắt sương độc dày đặc không thể bị nhiễm chẳng khác gì Miến Ðiện. Nếu như đại cử hưng sư, muốn cho vạn toàn vô sự thì việc quân lữ phải làm sao ấn định ngày giờ, nếu trong ba tháng không xong thì khi vừa giao xuân, chướng khí bốc lên, triệt binh thì bao nhiêu công lao trước đều bỏ hết, để quân lại thì thương vong ắt là nhiều.

Việc An Nam không nên dụng binh, không chỉ vì địa lợi bất tiện, nhân sự bất hiệp mà đến thiên thời cũng giới hạn, từ trước đến nay chưa từng thành công cũng vì lẽ đó. Nay Nguyễn Huệ có oán thù với họ Lê để đến nỗi phải khó nhọc đến quân ta, tốn phí lương hướng.

Thế nhưng khi đại binh tiến quan chưa bao lâu, gã tù trưởng đó đã mấy bận xin hàng, thật rõ là trước kia tuy có kháng cự thật nhưng về sau thành tâm thần phục. Trong biểu văn y xưng là kẻ áo vải đất Tây Sơn không có ý định chiếm nước của người khác, lại nói rằng tuy bên ngoài tưởng như kháng cự nhưng thực ra không dám đắc tội với thiên triều. Thế nhưng dẫu có hàm hồ chối tội nhưng chưa nói ra được việc quả không kháng cự cho minh bạch nên lúc này chưa tiện đệ lên lời thỉnh cầu.

Hiện nay gã tù trưởng kia đã gọi bọn di mục Nguyễn Hữu Trù quay về Lê thành không còn ở lại gần biên giới để nghe ngóng nữa. Thần đã đến cửa quan khảo sát tình hình, lại cùng bọn Tôn Sĩ Nghị cật lực suy tính tuân theo thánh chỉ trước đây viết một hịch văn ra lệnh cho Tả Giang đạo Thang Hùng Nghiệp cho gọi thông sự đến cửa quan giao cho họ ra lệnh phải mau mau đưa đến Lê thành cho Nguyễn Huệ xem để y tự thẩm định đâu là phúc, đâu là họa mau mau trả lời.

Thần lại [làm việc] cùng Thang Hùng Nghiệp vốn ở Việt Tây lâu năm được người di tín phục. Trước đây Nguyễn Huệ ba lần tiến biểu, Tôn Sĩ Nghị cũng đều ra lệnh cho y cùng người bên kia đối đáp. Vì thế thần đã ra lệnh [cho y] gọi bọn Nguyễn Hữu Trù đến cửa quan để nói chuyện tận mặt với họ, hỏi về lý do tại sao trước đây Nguyễn Huệ và họ Lê tranh chấp, đến khi quân ta xuất quan rồi sao không đến trước quân môn tạ tội, sau đó quay lại Lê thành quấy nhiễu, có thực dám chống lại thiên triều hay chỉ muốn kiếm họ Lê để gây hấn rồi lỡ lầm giết cả quan binh, lúc này kịp có hối tội thì hãy viết tờ bẩm trình bày mọi việc cho rõ ràng, tình nguyện qui phục rồi đưa đến cửa quan.

Nguyễn Huệ khi nhận được hịch văn này và những lời của viên đạo kia chuyển lại thì ắt hiểu rằng thần đã đến cửa quan, sẽ phải đi theo từng bước. Nếu gã tù trưởng kia thiết tha nạp khoản, thần sẽ theo các dụ chỉ trước sau tùy theo mỗi việc mà trù biện, tâu lên xin huấn thị rõ ràng.

Thần đến cửa quan lo liệu mọi việc, thấy Nam Quan này đứng nổi lên trong hàng vạn quả núi, tình thế hiểm tuấn, bên trong có Chiêu Ðức Ðài [昭德臺] là nơi cống sứ An Nam tiến quan hành lễ, hiện có đề thần Hải Lộc đóng binh trấn giữ. Binh đinh đóng tại cửa quan này cũng như các quan ải khác nay đã đến đầy đủ, Hải Lộc ngày nào cũng đi các nơi tuần tra, kiểm điểm khí giới, ra lệnh cho các nơi tập luyện bắn súng, trên các quan ải cắm cờ xí, đắp xây tường lũy để cho xa gần trong ngoài biết rằng đã có thêm quân mới đến nơi.

Thần cũng đã gửi nghiêm hịch dụ cho binh đinh các ải, một mặt thao luyện kỹ thuật, một mặt phòng thủ truyền tin, thần sẽ lần lượt tuần tra qua lại các nơi. Thần từ khi đến cảnh giới đất Việt đến nay, chỗ nào cũng hỏi han. Năm trước dụng binh ở Ðài Loan đều có trưng điệu đến Lưỡng Việt, sau lại đến việc của An Nam, quân đội lương hướng điều động mấy lần, Việt Ðông [Quảng Đông] tương đối trù phú nên việc cung ứng không đến nỗi ta thán, còn Việt Tây [Quảng Tây] thì dân nghèo đất xấu không có của ăn của để nên khi đưa quân đi và vận chuyển lương thực toàn dựa vào sức của dân, làng mạc đốc thúc việc công không khỏi khốn khó.

Từ khi điều binh đến Trấn Nam Quan tháng Bảy năm ngoái, binh phu rất nhiều người bị nhiễm chướng bệnh bỏ mình, mùa đông xuất sư, binh lính, phu phen người Hán theo quân xuất quan nghe nói không dưới bốn, năm vạn người. Ðến chiến dịch Lê thành, số thương vong không phải là ít. Nói chung hành quân một vạn, số người vận tống quân trang lương hướng hỏa dược đạn hoàn, cùng là sắp đặt đài trạm phải cần đến vài vạn phu phen. Cứ số lượng mang vác của mỗi mười người phu thì lại phải mộ thêm vài người để dễ dàng phân chia ra thành thử số phu dùng càng nhiều.

Năm trước Tôn Vĩnh Thanh đã tâu lên rằng nếu muốn đưa đại binh đi thì phải dùng đến mười vạn dân phu, ấy là chỉ ước tính tổng quát chứ cứ theo như tính toán của thần thì phải đến vài chục vạn mới đủ. Còn như cần cả các tỉnh khác hiệp tế thì việc rất khó khăn, không nói gì hiện giờ mùa xuân chướng khí rất nặng không thể nào hành quân được, mà đã sử dụng thì phải hai bên tiến quân cùng phải trù hoạch nếu theo cách thức trước đây đốc thúc dân phu thật khó mà làm cho hết sức.

An Nam là nơi chướng lệ, đúng như thánh dụ, cũng ác liệt không khác gì Miến Ðiện, không thể đem binh mã tiền lương của quốc gia dễ dàng ném vào đấy. Từ khi triệt binh Miến Ðiện đến nay đã bế quan khước cống hơn hai mươi năm, các tù mục xứ ấy chẳng ai dám đến gần biên cương gây sự vì thiên uy vang dậy nên tự thần phục lâu nay. Năm trước [Miến Ðiện] gõ cửa quan xin nội phụ, thành khẩn xin nạp cống không phải mệt đến sức của một người lính nào. Nay việc của An Nam, đại lược cũng giống như thế, Nguyễn Huệ chắc không dám vọng tưởng dòm ngó quấy nhiễu biên cương, đến nay đã mấy lần gõ cửa khất hàng. Vậy nên liệu chừng nuôi dưỡng quân uy nhưng không cần phải đại cử hưng sư, làm mệt nhọc tốn phí thêm một lần nữa.[39]

Luận giải của Phúc Khang An trong tờ tấu thư này có thể xem như chuyển biến rõ rệt về việc nhà Thanh từ bỏ chủ trương tái động binh và tiến hành việc hướng dẫn sao cho nước ta thần phục êm đẹp nhất. Khi mọi việc đã ổn thỏa, Phúc Khang An mới sai Thang Hùng Nghiệp thông báo cho nước ta rằng tổng đốc Lưỡng Quảng tân nhiệm đã tới và dự kiến sẽ mở cửa tiếp sứ bộ An Nam ngày 28 tháng Ba.[40] Cũng trong thời gian chờ đợi, Phúc Khang An tiếp tục tra hỏi những người vừa mới về được và theo ông ta thì họ sở dĩ chậm trễ vì “bị thương không đi được hay lạc đường” và Nguyễn Huệ không những không làm hại mà còn “ra lệnh cho người di trên đường cho chỗ ăn ở và cấp lộ phí, cho người đưa về” nên nếu không phải là lúc chẳng nên tính chuyện binh đao thì lúc này cũng không cần phải dùng binh nữa.[41]

Ngày hôm đó, hơn 20 người phái đoàn nước ta đem theo bò rượu gạo thóc gọi là lễ tương kiến để tỏ thiện chí muốn nghị hoà. Đến giờ Tỵ, nhà Thanh mở cửa quan, chánh sứ nước ta Nguyễn Hữu Trù, giáp phó sứ Vũ Huy Tấn [Phác], ất phó sứ Nguyễn Ninh Trực và tuỳ tòng qua Nam Quan.

Theo báo cáo của Phúc Khang An thì:

…Thần Phúc Khang An vào ngày 16 tháng Ba đến Trấn Nam Quan liền ra lệnh cho Tả Giang đạo Thang Hùng Nghiệp truyền gọi di mục An Nam Nguyễn Hữu Trù đến cửa quan nghe dụ. Di mục đó nghe tin, lập tức từ Lê thành bất kể ngày đêm chạy đến, tới Lạng Sơn liền sai thông sự đến để thỉnh thị, hỏi xem hôm nào đến cửa quan. Trong tờ bẩm đề là ba người Nguyễn Hữu Trù, Vũ Huy Tấn, và Nguyễn Ninh Trực. Thần liền sức cho Thang Hùng Nghiệp bảo cho họ ngày 28 đến cửa quan để nghe dụ tận mặt.

Bọn thần nghĩ rằng những di mục này trở về Lê thành, cách cửa quan năm sáu trăm dặm, giữa đường lại cách bức Lạng Sơn, Thọ Xương, Thị Cầu, Phú Lương các sông, vừa nghe gọi đến, Nguyễn Huệ lập tức sai họ đi ngay, đủ biết ngày ngày trông ngóng tin tức thiên triều, khiếp sợ cung cẩn do bụng chí thành.

Bọn thần ra lệnh cho Thang Hùng Nghiệp tiếp kiến các di mục này ở Chiêu Ðức Ðài bên trong cửa quan. Ngày 28, giờ Tị bọn viên mục Nguyễn Hữu Trù dẫn thông sự cùng tùy tòng tất cả hơn 20 người đến quan, lại sửa soạn bò, gạo, dầu, miến các vật tặng cho Thang Hùng Nghiệp làm lễ kiến diện[42] nhưng liền trả lại không nhận rồi cho gọi bọn Nguyễn Hữu Trù ba người cùng một thông sự tiến quan, số còn lại bắt đợi ở ngoài quan.

Bọn Nguyễn Hữu Trù đến trước đài làm lễ tam quị cửu khấu [ba lần quì, chín lần rập đầu là lễ bái yết hoàng đế] rồi quay sang hành lễ với Thang Hùng Nghiệp. [43]

Phái đoàn nước ta qua ải vào Chiêu Ðức Ðài (đối xứng với Ngưỡng Ðức Ðài thuộc Lạng Sơn) và được Thang Hùng Nghiệp và quan lại nhà Thanh tiếp đón. Như nghi thức, một khi vào đất Thanh, sứ bộ nước ta hướng về phương bắc làm lễ [tượng trưng] tam quị cửu khấu trước hoàng đế sau đó mới ra mắt quan nhà Thanh.

Theo Lịch Triều Tạp Kỷ, trong lần này Phúc Khang An gửi một hịch dụ cho đòi Nguyễn Quang Bình phải đích thân đến Nam Quan tạ tội. Ngày 29 tháng Ba tờ hịch đó được chuyển về Thăng Long cho vua Quang Trung.[44]

Việc thay đổi từ dự định tiếp phái bộ nước ta 20 người sang việc chỉ tiếp ba người và không nhận lễ vật cho thấy Phúc Khang An không bằng lòng với sắp xếp trước đây và muốn thêm những thủ tục khác cho “xứng tầm” với vị thế một võ tướng trong lớp áo văn nhân, hơn hẳn Tôn Sĩ Nghị chỉ là một nho sĩ thường. Trong tờ biểu gửi vua Càn Long khi mới đến Nam Quan ông ta có viết:

[…] Thần nhiều đời thụ ơn nặng, mấy lần được bổ nhiệm, việc hành quân trước nay chưa từng khiếp sợ chút nào. Tình hình hiện nay nếu cần dụng binh ắt cũng xin tâu lên điều động quân đội, trưng dụng lương hướng đại cử xuất quan đâu có gì mà phải rụt rè, đến kẻ văn nhược thư sinh Tôn Sĩ Nghị còn dám dẫn quân tiến vào không lẽ thần lại không bằng hay sao?[45]

Trước đây khi chiến tranh với Miến Điện, vấn đề hậu chiến khó xử nhất cho Thanh triều là Miến vương nhất định không giao trả tù binh. Thế nhưng khi Phúc Khang An đáo nhậm Quảng Tây thì việc trao đổi tù binh đã hoàn tất nên đánh mất một cơ hội để chứng tỏ uy thế. Phúc Khang An liền chuyển sang gây sức ép về việc phong vương và cho rằng mình là người thanh vọng lớn có thể bắt nước ta hàng phục một cách vinh quang.

Để ra oai, Phúc Khang An hoãn việc gửi biểu cầu phong đúng một tháng để đòi vua Quang Trung đến Nam Quan khi đó y sẽ dàn xếp để đưa đến Thụ Hàng Thành – nơi đã có sẵn một lễ đài đồ sộ – và việc tiếp biểu trở thành lễ thụ hàng giống như Mao Bá Ôn đòi Mạc Đăng Dung “xin hàng” đời Minh. Phúc Khang An không đánh giá được tư thế của nước ta và chắc cũng chưa được đọc những lá thư gửi cho Thang Hùng Nghiệp nên vẫn tưởng uy tín “hão” của ông ta sẽ làm triều đình Tây Sơn phải e ngại.

Ngoài việc đòi vua Quang Trung lên Nam Quan, Phúc Khang An cũng bắt nước ta phải thêm vào cống vật hai con voi đã thuần hoá. Sở dĩ chúng ta biết được những đòi hỏi đó là vì vua Quang Trung đã minh thị bác khước những đòi hỏi này trong lá thư gửi lên Phúc Khang An cuối tháng Tư.

VAI TRÒ NGUYỄN QUANG HIỂN

Sự xuất hiện của Phúc Khang An đưa đến một số thay đổi trong tiến trình đàm phán. Trước đây việc trao trả tù binh được coi như mấu chốt từ chiến sang hòa. Khi việc trả người hoàn tất, triều đình nhà Thanh đã sẵn sàng tiến sang bước thứ hai là thay đổi từ công nhận nhà Lê sang công nhận nhà Tây Sơn. Việc hoạnh hoẹ của Phúc Khang An khiến cho nước ta cũng tương kế mà đổi kế hoạch.

Ngày mồng 6 tháng Tư năm Kỷ Dậu, Hô Hổ Hầu Nguyễn Hữu Trù – khi ấy là chánh sứ hầu mệnh – gửi cho Thang Hùng Nghiệp một bức thư riêng thông báo việc định ngày gặp Phúc Khang An, trong đó có đoạn như sau:

… Quốc trưởng nước tôi nhận được phong thư và lời dụ của ngài gửi đến biết rằng đại nhân có thịnh tình chiếu cố phát xuất tự chân thành đáng ra phải đích thân đến gõ cửa quan để tận mặt nghe lời chỉ bảo của thượng hiến.

Có điều nước vừa mới dựng, mọi việc chưa an định, chưa có lúc thảnh thơi nên không thể rời xa quốc thành. Vì thế nên đã uỷ cho người thân là Nguyễn Quang Hiển đi cùng với phái đoàn để thay mình đến cửa quan thay mặt thi hành lễ yết kiến, trước sau cũng một ý đó, không hề có chỗ nào tính toán gì.

Nhưng vì đường sá nhiều suối lắm hang, nước mưa dâng cao khó mà đi lại, đi về không khỏi chậm trễ, ước chừng trong khoảng 15, 16 tháng này mới có thể đến được trấn thành Lạng Sơn. Cho nên bẩm lên trước như thế.[46]

Nghe tin triều đình Tây Sơn nhượng bộ và thông báo sẽ đưa một nhân vật quan trọng lên Nam Quan tiếp xúc khiến cho quan lại nhà Thanh chấn động. Phía Trung Hoa cũng báo về triều là họ nghe tin chuẩn bị công quán, đường sá, dân phu … suốt dọc đường từ Thăng Long lên đến Lạng Sơn và phái đoàn có thể lên đến hàng trăm khiến cho chính quan lại nhà Thanh vừa ngạc nhiên, vừa khấp khởi.[47] Phía nước ta cũng nói rằng đây là một nhân vật rất quan trọng để chứng tỏ trước sau một lòng, tuy đại do thân (thay mặt nhưng cũng như chính mình) của vua Quang Trung.[48]

Tháng Ba năm Kỷ Dậu, trấn thủ Lạng Sơn được lệnh chuẩn bị lễ vật tiếp kiến gồm hai con trâu và một gánh gạo.[49] Nguyễn Quang Hiển cùng Hô Hổ Hầu Nguyễn Hữu Trù và Vũ Huy Tấn đem một biểu văn [ gửi vua Càn Long], hai tờ bẩm [gửi Phúc và Thang] giao cho Thang Hùng Nghiệp rồi chờ ở Lạng Sơn đến hạn đưa phái đoàn sang để gặp mặt và nhờ tổng đốc Lưỡng Quảng tân nhiệm chuyển tấu.

Lá thư vua Quang Trung gửi Thang Hùng Nghiệp còn ghi lại trong Lịch Triều Tạp Kỷ như sau:

Nghe rằng đại hoàng đế mới phái đại thần Gia Dũng Công xuống giữ nhiệm vụ tổng đốc Lưỡng Quảng. Bộc ở nơi xa xôi từng nghe Gia Dũng Công danh tiếng bao la, uy vọng vòi vọi là người rất được đại hoàng đế ngó xuống.

Nay đến đây trông coi toàn cõi Việt [tức Quảng Đông, Quảng Tây], quang lâm Nam Quan, ắt sẽ thể theo đức nhân vỗ về kẻ xa, nuôi nấng kẻ yếu của đại hoàng đế để phủ tuy hạ ấp. Bộc trước nay chưa từng được đệ lòng thành kính lên, ắt sẽ có cơ giãi bày nên cũng muốn đến cửa quan gõ cửa khẩn cầu ân điển để đợi chỉ của đốc hiến.

Có điều bang gia mới dựng, không được thư nhàn, lúc này không thể rời xa quốc thành nên kính cẩn soạn một bẩm văn sai cháu ruột là Nguyễn Quang Hiển đến cửa quan thay tôi cung kính hành lễ, đợi xem cân nhắc thế nào. Việc đổi thay của bản quốc bên trong có nhiều điều khúc mắc nhưng bộc lòng thành uý thiên sự đại cũng mong được tôn đài thể tất cho mà cố sức thành toàn, bẩm lên thượng hiến, cùng là chỉ vẽ cho hành giới nước tôi lễ nghi yết kiến và thuật rõ quốc tình mong được chấp thuận tâu lên thánh thượng để được thiên triều yêu thương mà cho liệt vào hàng phiên hàn thì thật hân hoan không sao kể xiết.[50]

Thuận theo cách thức nặng phần trình diễn của nhà Thanh, nước ta cũng thông báo sứ bộ cầu phong do Hô Hổ Hầu Nguyễn Hữu Trù, Vũ Huy Tấn, Nguyễn Ninh Trực làm chánh và giáp ất phó sứ sẽ đi chung với phái đoàn do Nguyễn Quang Hiển thay mặt vua Quang Trung sang triều kiến vua Càn Long.

Một trong những tiêu chuẩn qui định trong Đại Thanh Hội Điển là tùy theo mức độ quan trọng mà ấn định số người đi trong phái đoàn. Theo Đại Thanh Hội Điển chỉ một phái đoàn do phiên vương đến bệ kiến mới lên tới con số 60 người. Bình thường, những sứ bộ triều cống, tạ ân … chỉ trong khoảng 20-30 người [có khi ít hơn] mà thôi. Mỗi phái đoàn tùy theo đẳng cấp địa vị mà được tiếp đón với cung cách khác nhau. Lần này tổng cộng hai phái bộ (cầu phong và triều cống) lên đến gần 70 người, đông hơn bất cứ một sứ đoàn ngoại quốc nào từ trước đến nay.[51]

Ngày 29 tháng Tư, lúc giờ Dần, tổng đốc Phúc Khang An ra lệnh cho tướng sĩ trấn thủ ở Nam Quan dàn đội ngũ, dựng cờ quạt rồi bày hương án ở Chiêu Ðức Ðài để làm lễ tiếp nhận biểu văn. Sau nghi lễ long trọng mở cửa quan, Thang Hùng Nghiệp mời Nguyễn Quang Hiển cùng 6 viên chức của sứ bộ nước Nam [chánh sứ Nguyễn Hữu Trù, phó sứ Vũ Huy Tấn], thêm một thông ngôn và 60 tuỳ tòng, tổng cộng 68 người qua Trấn Nam Quan.[52]

Ðến giờ Thìn, Thang Hùng Nghiệp đưa phái đoàn vào Chiêu Ðức Ðài nơi đây có Phúc Khang An đợi sẵn bước ra nghênh tiếp. Phái đoàn nước ta đem theo một phó bản biểu văn của vua Quang Trung gửi lên Thanh triều bằng lòng nạp khoản [納款][53] kèm theo vàng bạc và phương vật. Biểu văn như sau:

Nguyên văn

安南國小目臣阮光平堇奏為冒瀝微誠仰干天聽事,欽惟大皇帝陛下,受天明命,為萬國君,臨御五十餘年,洪恩溥洽,華夷內外,同風共貫,臣安南界居炎徼,久沐教聲。

乃因二百年來,國王黎氏失柄,權臣鄭氏專有其國,暨前王黎維端年老,輔政前鄭氏懦,兵驕民怨,國內乖離。臣以西山布衣乘時舉事,丙午夏,興兵滅鄭,還國于黎。

其年前王謝世,又擁立其嗣孫維祁襲位。維祁為人淫暴,不恤國政,朝綱弛於內,邊釁生於外,方宜陷害忠良,誅鋤族姓,國內之臣若民,奔愬於臣,請為出兵除亂。

臣自惟國者天朝所封之國,臣何敢自行廢置。丁未冬,遣一小將以兵問其左右之助桀者,而維祁望風宵遁,自詒伊戚。戊申夏,臣至黎城,復委前黎王之子維監國承祀,經遣行价叩關,備以國情題奏。

日者邊臣反書卻使,不即遞達。去年冬,調動大兵,出關征剿,臣遠道聞信,自念從來一片畏天事大真衷壅於上聞,令前黎王子維及臣民稟文三道偕行价叩稟轅門,不料大兵真趨黎城,殺守兵甚眾。

臣自揣進退無據,且其事總由黎維祁不道所致,於今年正月初五日進抵城下,並不敢與官兵抗拒也。乃官兵殺戮太多,勢難束手就縛,迹似抗衡,臣不勝惶懼現在已將對壘之人查出正法。

伏惟大皇帝體天行化,栽培傾覆,一順自然,恕蠻無知之禍,諒款關籲奏之誠,樹牧立屏,用祈籠命,俾臣得以保障一方,恪共侯服,則事有統攝,民獲乂安,皆出大皇帝陛下幬覆之仁。

臣謹當奉藩脩貢,以表至誠,臣拱北馳神,不勝激切屏營膽仰候命之至,謹奉表奏以聞。

– 恭遞上進儀物,金子拾鎰,銀子貳拾鎰。

– 謹遣行价貳名,阮有晭,武輝璞。

乾隆伍拾肆年貳月日。[54]

Dịch âm

An Nam quốc tiểu mục thần Nguyễn Quang Bình cẩn tấu vi mạo lịch vi thành ngưỡng can thiên thính sự, khâm duy đại hoàng đế bệ hạ, thụ thiên minh mệnh, vi vạn quốc quân, lâm ngự ngũ thập dư niên, hồng ân phổ hiệp, hoa di nội ngoại, đồng phong cộng quán, thần An Nam giới cư viêm kiếu, cửu mộc giáo thanh.

Nãi nhân nhị bách niên lai, quốc vương Lê thị thất bính, quyền thần Trịnh thị chuyên hữu kỳ quốc, ký tiền vương Lê Duy Ðoan niên lão, phụ chính tiền Trịnh thị noạ, binh kiêu dân oán, quốc nội quai ly. Thần dĩ Tây Sơn bố y thừa thời cử sự, Bính Ngọ hạ, hưng binh diệt Trịnh, hoàn quốc vu Lê.

Kỳ niên tiền vương tạ thế, hựu ủng lập kỳ tự tôn Duy Kỳ tập vị. Duy Kỳ vi nhân dâm bạo, bất tuất quốc chính, triều cương trì ư nội, biên hấn sinh ư ngoại, phương nghi hãm hại trung lương, tru sừ tộc tính, quốc nội chi thần nhược dân, bôn sách ư thần, thỉnh vi xuất binh trừ loạn.

Thần tự duy quốc giả thiên triều sở phong chi quốc, thần hà cảm tự hành phế trí. Ðinh Mùi đông, khiến nhất tiểu tướng dĩ binh vấn kỳ tả hữu chi trợ Kiệt giả, nhi Duy Kỳ vọng phong tiêu độn, tự di y thích. Mậu Thân hạ, thần chí Lê thành, phục uỷ tiền vương chi tử Duy Cẩn giám quốc thừa tự, kinh khiển hành giới khấu quan, bị dĩ quốc tình đề tấu.

Nhật giả biên thần phản thư khước sứ, bất tức đệ đạt. Khứ niên đông, điều động đại binh, xuất quan chinh tiễu, thần viễn đạo văn tín, tự niệm tòng lai nhất phiến uý thiên sự đại chân trung ủng ư thượng văn, lệnh tiền Lê vương tử Duy Cẩn cập thần dân bẩm văn tam đạo giai hành giới khấu bẩm viên môn, bất liệu đại binh chân xu Lê thành, sát thủ binh thậm chúng.

Thần tự suỷ tiến thoái vô cứ, thả kỳ sự tổng do Lê Duy Kỳ bất đạo sở chí, ư kim niên chính nguyệt sơ ngũ nhật tiến để thành hạ, tịnh bất cảm dữ quan binh kháng cự dã. Nãi quan binh sát lục thái đa, thế nan thúc thủ tựu phọc, tích tự kháng hành, thần bất thắng hoảng cụ, hiện tại dĩ tương đối luỹ chi nhân tra xuất chính pháp.

Phục duy đại hoàng đế thể thiên hành hoá, tài bồi khuynh phúc, nhất thuận tự nhiên, thứ man mạch vô tri chi hoạ, lượng khoản quan dụ tấu chi thành, thụ mục lập bính, dụng kỳ lung mệnh, tỉ thần đắc dĩ bảo chướng nhất phương, khác cộng hầu phục, tắc sự hữu thống nhiếp, dân hoạch nghệ an, giai xuất đại hoàng đế bệ hạ trù phúc chi nhân.

Thần cẩn đương phụng phiên tu cống, dĩ biểu chí thành, thần củng bắc trì thần, bất thắng kích thiết bình doanh đảm ngưỡng hầu mệnh chi chí, cẩn phụng biểu tấu dĩ văn.

– Cung đệ thượng tiến nghi vật, kim tử thập dật, ngân tử nhị thập dật.

– Cẩn khiến hành giới nhị danh, Nguyễn Hữu Chu, Vũ Huy Phác.

Càn Long ngũ thập tứ niên nhị nguyệt … nhật.

Dịch nghĩa

Thần là tiểu mục nước An Nam Nguyễn Quang Bình mạo muội kính cẩn đem tấm lòng thành tâu lên mong đại hoàng đế bệ hạ (là bậc) thụ mệnh sáng như trời, vua của vạn quốc, ở trên ngôi báu đã trên năm mươi năm, hồng ân rải khắp mọi nơi Hoa cũng như Di đều được thấm nhuần, (cả đến) nước An Nam của thần tuy ở chỗ viêm nhiệt xa xôi cũng từng được tắm gội, (xin) lấy đức lớn mà nghe cho.

Hai trăm năm qua, quốc vương họ Lê (nước tôi) mất quyền khiến cho quyền thần họ Trịnh coi giữ việc nước, đến vua trước là Lê Duy Ðoan tuổi già, phụ chính họ Trịnh hèn yếu, binh kiêu dân oán, khiến người trong nước chia rẽ ngả nghiêng. Thần là kẻ áo vải đất Tây Sơn (vì thế) phải tuỳ thời mà dấy lên, mùa hạ năm Bính Ngọ, hưng binh diệt họ Trịnh, trả lại nước cho họ Lê.

Trong năm đó tiền vương tạ thế, thần lại đưa tự tôn là Duy Kỳ lên nối ngôi. Duy Kỳ là người dâm bạo[55], không lo quốc chính, mối giềng lỏng lẻo bên trong, lân bang gây hấn ở bên ngoài, chỉ lo hãm hại trung lương, giết người trong họ, người trong nước cũng như bầy tôi đều chạy về với thần, xin xuất binh trừ loạn.

Thần vẫn biết rằng nước đây đã được thiên triều sách phong, đâu dám tự ý phế lập. Mùa đông năm Ðinh Mùi mới sai một tiểu tướng đem binh ra hỏi tội bọn tả hữu dám giúp cho kẻ Kiệt kia, hay đâu Duy Kỳ mới nghe tiếng đã bỏ chạy, tự mình làm khổ mình. Ðến mùa hạ năm Mậu Thân thần đến Lê thành, đưa con của vua trước là Duy Cẩn trông coi việc thờ tự và giám quốc, rồi sai người sang gõ cửa quan trình bày mọi việc trong nước.

Khi đó người biên thần (chỉ Tôn Sĩ Nghị) lại trả lại thư, đuổi sứ về, không chịu đề đạt lên. Mùa đông năm ngoái y lại điều động đại binh, xuất quan qua đánh, thần ở xa nghe tin, tự nghĩ xưa nay một lòng kính sợ thiên triều, định đem tấc lòng giãi bày lên trên, nên mới bảo vương tử Lê Duy Cẩn và thần dân gõ cửa trình ba bẩm văn, ngờ đâu đại binh tiến thẳng đến Lê thành, giết binh trấn giữ nhiều vô số kể.

Thần chẳng biết tiến thoái ra sao, việc đó chính là do Lê Duy Kỳ không biết tính toán, nên đến ngày mồng năm tháng giêng năm nay tiến đến Lê thành, đâu có dám chống cự lại quan binh. Thế nhưng quan binh tàn sát quá lắm, thế không thể thõng tay chịu trói nên đành chống trả. Việc đó cũng khiến cho thần sợ hãi nên đã đem những kẻ dám đối địch chính pháp cả rồi.

Cũng mong đại hoàng đế theo mệnh trời hành hoá, tài bồi cho kẻ ngả nghiêng, thuận theo tự nhiên, tha thứ cho kẻ man di không biết, thấu cho lòng thành của kẻ cầu xin được chăn dắt ở một cõi mà để cho thần được đứng chắn một phương, làm chư hầu tuân phục thì mọi sự được thống nhiếp, dân chúng được yên ổn làm ăn, cũng đều do đức nhân của đại hoàng đế ban cho cả.

Thần nguyện triều cống theo lệ nước phiên, dâng biểu chí thành, hướng về phương bắc, không khỏi cảm kích trông đợi mệnh lệnh kính cẩn dâng lên tờ biểu này.

– Cung kính đệ lên tiến vật gồm mười dật vàng, hai mươi dật bạc.

– Cung kính sai hai hành nhân là Nguyễn Hữu Trù, Vũ Huy Phác.

Càn Long năm thứ 54, tháng hai ngày…

Sau nghi lễ tương kiến, chánh sứ Nguyễn Hữu Trù đứng ra trao biểu văn, tổng đốc Lưỡng Quảng thay mặt Thanh đình tiếp nhận.

Sau đó phía nhà Thanh mở đại tiệc khoản đãi sứ bộ, đích thân Phúc Khang An bồi tiếp Nguyễn Quang Hiển. Trong câu chuyện ngoài lề, Nguyễn Quang Hiển cũng cho hay những kẻ phạm tội sát hại các tướng lãnh nhà Thanh đã bị xử tội rồi, Phúc Khang An nghe xong coi như việc đã giải quyết, đề nghị sau này không nhắc tới nữa, chỉ xin nước Nam lập cho một cái miếu, xuân thu cúng tế những binh sĩ nhà Thanh tử trận. Ðể chính thức hoá việc cầu phong, Nguyễn Quang Hiển sẽ thay mặt triều đình Quang Trung cầm đầu phái đoàn lên Bắc Kinh triều kiến.[56]

Lễ hoàn tất, phái đoàn nước ta trở về Lạng Sơn để đợi quyết định của hoàng đế nhà Thanh chấp nhận cho phái đoàn lên kinh đô chiêm cận. Hai bên cũng đồng ý giảm thiểu số quân trấn đóng tại biên giới. Phúc Khang An ra lệnh rút các đạo quân Quảng Ðông, Vân Nam đang ở Quảng Tây về doanh trại. Tôn Sĩ Nghị sau khi thua trận, thân thể hư nhược, bị bệnh phong thấp lúc đó đang nằm dưỡng bệnh nay cũng được lệnh cho về Nam Ninh nghỉ ngơi, còn Phúc Khang An cũng không còn phải chầu chực ở Trấn Nam Quan nữa. Nước ta cũng ra lệnh cho các đồn ải giảm bớt quân số.

Việc đàm phán nghị hoà đến đây đã xong, từ nay trở về sau chỉ là thủ tục. Các quan lo liệu việc giao thiệp với Trung Hoa thở phào nhẹ nhõm, và chính quan nhà Thanh cũng trút được gánh nặng mấy tháng qua. Dưới đây là bài thơ của Vũ Huy Tấn đã làm khi uống rượu với Tả Giang đạo Thang Hùng Nghiệp ở Nam Quan:

左江道臺公偶中興吟。示劉州閣

寳林山在關南界首

固知字小聖朝寬,要使彤弓掛月閒。

下國一心顒北闕。微臣七渡叩南關。

海函直出尋常外,天照渾如咫尺間。

今日有心同桼雨,鴻恩永勒寳林山。

Dịch âm

Tả Giang đạo đài công ngẫu trung hứng ngâm

Thị Lưu Châu các

Bảo Lâm sơn tại quan nam giới thủ

Cố tri tự tiểu thánh triều khoan,

Yêu sứ đồng cung quải nguyệt nhàn.

Hạ quốc nhất tâm ngung Bắc khuyết,

Vi thần thất độ khấu Nam quan.

Hải hàm trực xuất tầm thường ngoại,

Thiên chiếu hồn như chỉ xích gian.

Kim nhật hữu tâm đồng tất vũ,

Hồng ân vĩnh lặc Bảo Lâm san.

Dịch nghĩa

Ở gác Lưu Châu

Cùng Tả Giang đạo [Thang Hùng Nghiệp] ngẫu hứng ngâm

Núi Bảo Lâm ở cửa biên giới phía nam [tức Nam Quan]

Vẫn biết rằng thánh triều rộng rãi nuôi nấng kẻ bé nhỏ,

Sứ thần như chiếc cung đỏ treo mặt trăng lúc nhàn nhã.

Hạ quốc một lòng thành tâm quay về triều đình phương bắc,

Kẻ bề tôi bé nhỏ phải bảy lần gõ cửa Nam Quan.

Lượng như biển nên dung chứa được sự tầm thường,

Thiên tử chiếu xuống gần trong gang tấc.

Hôm nay có lòng giống như keo sơn,

Sẽ mãi mãi ghi tạc ơn lớn vào núi Bảo Lâm.

Chỉ trong vài hàng Vũ Huy Tấn cho chúng ta biết tuy thuận chèo mát mái, ông cũng phải lên xuống đến bảy lần để đàm phán với quan lại nhà Thanh.

TÓM TẮT

Giai đoạn mật nghị không chính thức – tháng Giêng đến tháng Hai năm Kỷ Dậu

Trong thời gian này, quan nhà Thanh ở địa phương chưa nhận được chỉ thị chính thức từ triều đình nên yên lặng chờ biến chuyển và phản ứng của nước ta. Sau khi nhận được chỉ thị từ vua Càn Long, quan nhà Thanh tạo ra một mặt trận giả bằng cách tung tin Tôn Sĩ Nghị đã bị triệu hồi và Phúc Khang An sắp sửa tiết chế “chín tỉnh binh mã”, “tứ lộ giáp công”.

Vua Càn Long ra lệnh cho củng cố biên phòng và tìm kiếm nhóm vua Lê, các nhóm thổ hào và xưởng dân chạy sang Trung Hoa trước khi đưa ra một đường lối chính thức. Việc dung chứa những người An Nam lúc này ngoài lý do “đại nghĩa nước lớn” như họ thường rêu rao còn có mục đích xây dựng một lực lượng trừ bị để dùng đến khi cần.

Về phía nước ta, việc đầu tiên là cử một phái bộ lên Lạng Sơn trình bày nguyên do tranh chấp, đổ lỗi cho Tôn Sĩ Nghị đã vứt thư, khước sứ và chủ động gây khó khăn rồi nhờ quan địa phương làm trung gian để trình bày lên Thanh đình. Sau nhiều lần qua lại, Tôn Sĩ Nghị sai Thang Hùng Nghiệp liên lạc bắn tin cho triều đình Tây Sơn biết vua Lê và thân quyến hiện đang ở Trung Hoa như một áp lực ngầm ràng buộc những điều nhà Thanh đòi hỏi.

Kết quả: Tôn Sĩ Nghị bí mật xúc tiến việc giảng hòa và sai Thang Hùng Nghiệp liên lạc để yêu cầu trao trả tù binh như một thiện chí khai mở.

Giai đoạn đàm phán bán công khai – tháng Hai đến tháng Ba năm Kỷ Dậu

Khi được tin triều đình An Nam cầu hoà, Thanh triều lập tức đưa ra những đòi hỏi cơ bản bao gồm phải trao trả những người bị bắt và sửa đổi lý do chiến trận thành một lỗi lầm kỹ thuật [Nguyễn Huệ đem quân ra chỉ để hỏi Tôn Sĩ Nghị tại sao động binh và bị bức bách phải giao chiến] và thêm một số nhượng bộ mang tính rửa mặt như đem những người giết tướng lãnh nhà Thanh ra chính pháp, lập đền thờ tướng sĩ trận vong …

Về phía An Nam, các nho sĩ được điều động để làm sứ giả con thoi giữa Thăng Long và Lạng Sơn chủ yếu là thay đổi ngôn từ cho thích hợp với yêu cầu của đối phương.

Kết quả: Nước ta tiến hành ba đợt trao trả tù binh và thuận tình thi hành một số yêu cầu đồng thời chuẩn bị cống lễ đưa sang Trung Hoa

Giai đoạn công khai – tháng Ba đến tháng Tư năm Kỷ Dậu

Sau những kết quả ban đầu và việc hoà đàm đã đi đến chung cuộc, tân tổng đốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An bấy giờ mới xuất hiện. Để phô trương quyền lực của mình, họ Phúc không chấp nhận việc một phái bộ Tây Sơn sang đưa biểu mà đòi vua Quang Trung đích thân lên Nam Quan xin hòa. Triều đình An Nam tương kế đưa một phái đoàn lớn do Nguyễn Quang Hiển dẫn đầu thay mặt vua Quang Trung sang Yên Kinh. Hành động này không những đáp ứng đòi hỏi của nhà Thanh mà ngược lại ép buộc đối phương phải tiếp đãi long trọng cho xứng đáng với danh vị “tuy đại do thân” của Nguyễn Quang Hiển.

Kết quả: Nhà Thanh đồng ý cho Nguyễn Quang Hiển thay mặt vua Quang Trung lên Bắc Kinh triều kiến nhưng vua Quang Trung chưa chính thức xác định sẽ tham dự lễ vạn thọ của vua Càn Long.

Thời gian hai bên đàm phán – từ lúc nước ta và Trung Hoa bắt đầu đặt vấn đề tái lập bang giao đến khi nhà Thanh chính thức chấp thuận phong vương cho vua Quang Trung chỉ khoảng hơn 2 tháng – một khoảng thời gian hiếm có trong giao thiệp giữa hai nước, nhất là việc truyền tin qua lại từ Nam Quan đến Bắc Kinh mỗi lần đi phải mất nửa tháng theo dịch trạm hỏa tốc.

Trong khoảng một tháng đầu, các quan nhà Thanh ở Quảng Tây chưa biết quyết định của triều đình ra sao nên ở trong tình trạng “đãi biến” [chờ xem thay đổi thế nào] và chỉ nhấn mạnh vào việc yêu cầu trả về số tù binh bị bắt. Quyết định bỏ vua Lê để công nhận Tây Sơn tuy tiến hành trong một thời gian ngắn nhưng thủ tục không hề đơn giản và vẫn theo đúng điển lệ vốn dĩ rất phức tạp của Trung Hoa.

(CÒN TIẾP)


[1] Cung Trung Đáng Càn Long Triều Tấu Triệp, q. 71 [tháng Giêng đến tháng Năm năm Càn Long 54] (1988) tr. 85-6.

[2]黎朝進士呉鰣時任,潘輝益,阮世歷與貢士文職武輝瑨,段阮俊,陶春閬等節次歸降。阮光平各授以職官,許參辨邦郊辭令事。

…Lê triều tiến sĩ Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch dữ cống sĩ văn chức Vũ Huy Tấn, Đoàn Nguyễn Tuấn, Đào Xuân Lãng đẳng, tiết thứ qui hàng. Nguyễn Quang Bình các thụ dĩ chức quan, hứa tham biện bang giao từ lệnh sự …

[3] Viện Hán Nôm Hà Nội (cộng tác với Phục Ðán đại học Trung Quốc). Việt Nam Hán Văn Yên Hành Văn Hiến Tập Thành 越南漢文燕行文献集成 [viết tắt YHVH] ( 2010) (đệ Lục sách) Bài Tựa Hoa Nguyên Tuỳ Bộ Tập. tr. 293-4

[4] Tôn Sĩ Nghị cũng nhân dịp này trình lên với vua Thanh rằng y đã “trịch thư, khước sứ” (ném trả thư, từ khước không gặp sứ thần) và đòi hỏi phía nước ta phải trả các quan binh bị bắt về như một thái độ thiện chí trước khi đi tiếp những bước sau. Chính những lời lẽ khoa trương đó đã khiến vua Càn Long rất đẹp lòng và cũng tự cho rằng tuy thất baị quân sự nhưng Trung Hoa đã thắng một mặt trận ngoại giao mà không cần dùng binh khi bên ta đơn phương trao trả những người bị bắt ở Thăng Long.

[5] Cao Tông Thực Lục, q. 1322, ngày Canh Dần tháng Hai.

[6] kẻ hèn này, tiếng tự xưng khiêm tốn

[7] thị cường lăng nhược, dĩ đa hiếp quả.

[8] Ngô Thì Nhậm, Bang Giao Hảo Thoại [viết tắt BGHT], “Bẩm Thiên Triều Quảng Tây Phân Phủ Tả Giang Binh Bị Đạo Tổng Lý Biên Vụ Thang Đại Nhân” (Tờ Bẩm Của Quốc Vương Về Nguyên Do Việc Binh Đao Gửi Thang Đại Nhân) NDC dịch theo nguyên bản Hán văn từ trang 614-9 in sau Ngô Thì Nhậm tác phẩm, q. 1 [Mai Quốc Liên (chủ biên). Ngô Thì Nhậm tác phẩm (4 quyển) Hà Nội: nxb Văn Học, 2001-2]

[9] Chi tiết này được ghi rõ trong lá thư gửi Thang Hùng Nghiệp sau khi lễ phong vương hoàn thành. Xem BGHT, “Thỉnh Thang Đại Nhân – phong lễ cáo thành đệ thư minh tạ – Quốc Vương thư trình” Ngô Thì Nhậm toàn tập, tập 3 (2005) tr. 518

[10] Cũng chính là Vũ Huy Tấn (tài liệu nước ta)

[11] Nguyễn Hữu Trù có tước Hô Hổ Hầu còn Vũ Huy Phác cũng chính là Vũ Huy Tấn. Theo tài liệu của Hoa Bằng thì trong gia phả ông lại có tên là Liễn. (Tri Tân) số 40 ngày 31 Mars 1942, tr. 17

[12] Cao Tông Thực Lục (viết tắt TTL), q. 1323, ngày Ất Mão tháng Hai.

[13]窮兵黷武 (cùng binh độc vũ)

[14] LT, XXX tr. 36-7, Nguyễn Thị Tây Sơn, tr. 59-62 (bản dịch NDC). Toàn văn bản tấu thư này cũng được chép trong Tây Sơn Bang Giao Tập (A. 2364), Yale University, USA [1-3] và Tây Sơn Bang Giao Lục (A. 1916) Viện Hán Nôm Hà Nội. Khi so sánh, đây chính là bản gốc của Ngô Thì Nhậm, nay còn trong BGHT dưới nhan đề Trần Tình Biểu (tr. 789-96)

[15] Theo Trang Cát Phát, tờ bẩm này hiện tàng trữ trong Cố Cung Bác Vật Viện Đài Bắc, Quân Cơ Xứ, nguyệt triệp bao, hòm số 2778, bao số 162, số hiệu 38979. TTVC (1982) chú thích 97 tr. 413

[16] Những lá thư kế tiếp cũng cho biết những lời không đúng sự thật trong biểu văn của nước ta đều là lời bịa đặt do quan lại nhà Thanh mớm cho để cốt sao xong việc. Sử sách sau này đều nhất loạt tô vẽ ra một Lê Chiêu Thống ngu độn, hôn ám, một thái hậu rước voi dày mồ, Lê Quýnh tham lam nhút nhát, ăn của đút … cũng bắt đầu từ đây. Xem thêm “Lê Duy Kỳ, đáng thương hay đáng trách?” và “Lê Quýnh”, biên khảo của NDC.

[17] TTL, q. 1324 ngày Bính Dần tháng Ba.

[18] Quỳnh瓊 là một thứ ngọc đẹp. Cửu 玖 là một thứ đá đen giống như ngọc

[19] 息事寜人寔惟大願。Ngừng chuyện cũ để cho người người được an ninh, đó thực là ước nguyện lớn.

[20] 畏天事大。 sợ trời thờ nước lớn (nhưng thiên cũng đồng nghĩa với thiên tử là vua).

[21] 苞茅 bao mao (Hyparrhenia bracteata) cỏ tranh, tượng trưng cho lễ cống đơn bạc

[22] BGHT, “Bẩm Thang Đại Nhân Trình Bày Việc Giao Nạp Binh Sĩ” Ngô Thì Nhậm tác phẩm (1), tr. 621-3 (bản dịch NDC)

[23] BGHT, Ngô Thì Nhậm tác phẩm (1), tr. 623-4 (bản dịch NDC)

[24] Chúng ta cũng không thể bỏ qua yếu tố thời gian. Theo hệ thống dịch trạm đời Thanh, một tờ biểu gửi từ Quảng Tây lên Bắc Kinh và nhận được trả lời dù sử dụng phương tiện nhanh nhất [600 dặm một ngày] cũng phải mất khoảng trên dưới một tháng. Chính vì thế, có những giai đoạn thư nước ta gửi qua nhưng quan nhà Thanh lấy cớ là “không hợp thể chế” nhằm che dấu sự việc là họ chưa nhận được chỉ thị từ trung ương và cần thêm thời gian để tính toán một giải pháp cho đúng ý triều đình.

[25] Sau này khi Lê Duy Chỉ tiếp tục đóng quân “một cõi biên thuỳ” ở Cao Bằng, triều đình Quang Trung cũng phải mượn đường Trung Hoa để đánh tập hậu “… Bấy giờ nhờ có quận Diễn, phiên thần của nhà Lê cũ, coi giữ cửa ải Tụ-long, làm hướng đạo cho Tây-sơn, đưa đường đi đánh hoàng Ba Lê-Duy-Chỉ ở Bảo-lạc. Các tướng Tây-sơn, với một số binh tinh nhuệ, do cửa ải Tụ-long sang qua đất nhà Thanh đi ba ngày, sấn vào thành Bảo-lạc, bắt sống hoàng Ba với Phúc-Tấn và Văn-Đồng, giải về Tụ-long rồi sai đóng cũi đưa về Thăng-long và dâng thư vào Phú-xuân báo tiếp [tiệp].” Hoa Bằng: Quang Trung Anh Hùng Dân Tộc (1788-1792) (Saigon: Hoa Tiên, 1950) tr. 239

[26] Tây Phương Nhân Bút Hạ Đích Trung Quốc Phong Tình Hoạ (1997) tr. 38

[27] Toàn bộ bản văn này được khắc trên 8 thanh bích ngọc, hiện được lưu giữ trong Cố Cung Bác Vật Viện Trung Hoa ở Bắc Kinh.

[28] Cháu gọi bằng ông tự xưng, tức bản thân vua Càn Long

[29] Niềm vui không làm gì mà vẫn đến

[30] Tiểu sử chi tiết của Phúc Khang An được chép trong Thanh Sử Cảo, q. 331 chung với Tôn Sĩ Nghị và Minh Lượng.

[31] Cao Dương. Thanh Triều Đích Hoàng Đế (tập II). Đài Bắc: Viễn Ảnh, 1986 tr. 721

[32] TTL, q. 1321 (bản dịch NDC)

[33] Liệt Truyện, q. XXX, tr. 37.

[34] KDANKL, q. XVI, tr. 13. Trong số này có hai võ quan là Quảng Đông đề tiêu du kích Trương Hội Nguyên và thủ bị Lao Hiển trước đâ đã báo cáo tử trận.

[35] Ngô Cao Lãng, Lịch Triều Tạp Kỷ (LTTK), nguyên bản Hán Văn, q. VI

[36] KDANKL, q. XVII, tr. 28. Trang Cát Phát, “Thanh Cao Tông sách phong An Nam quốc vương Nguyễn Quang Bình thuỷ mạt”, Thanh Sử Luận Tập, q. XVIII (2008) tr. 237. Tuy nhiên không phải là hết vì khi Thành Lâm sang phong vương cũng còn vài người đi lạc vào trong dân chúng được đưa về.

[37] Bị bắt tổng cộng 8 người nhưng Nguyễn Viễn Du bị bệnh đã qua đời trong ngục.

[38] Nguyên văn [泥首軍門] (nê thủ quân môn) nghĩa là rập đầu tận đất ở trước quân

[39] KDANKL, q. XVII, tr. 18-24 (bản dịch NDC)

[40] Trang, Cát Phát (莊吉發). Thanh Cao Tông Thập Toàn Võ Công Nghiên Cứu (清高宗十全武功研究) [viết tắt TTVC]. Ðài Loan: Cố Cung Tùng San, Giáp Chủng số 26, tháng 6 năm 1982, tr. 387

[41] 不但非加兵之時實有不必加兵之勢。Tấu thư của Phúc Khang An, không rõ ngày nhưng theo nội dung thì khảng đầu tháng Tư. Thanh Quí Nội Các Đáng Án Toàn Tập (1999) [tức Minh Thanh Sử Liệu, Canh Biên] tr. 4225

[42] Sử nước ta đã ghi rõ là vua Quang Trung sai chuẩn bị hai con trâu và một gánh gạo đưa lên làm lễ tiếp kiến chứng tỏ mọi việc đã sắp xếp ổn thỏa và phái đoàn nước ta sẽ qua Nam Quan để gặp Phúc Khang An. Đến phút chót, Thang Hùng Nghiệp lại “kiên quyết từ chối” và chỉ cho qua ba người gồm chánh sứ Nguyễn Hữu Trù, phó sứ Vũ Huy Tấn và hiệp trấn Nguyễn Ninh Trực cùng một thông ngôn đi sang. Thực tế, ngày 28 tháng Ba, hai bên chỉ gặp nhau để bàn về nghi lễ sẽ thực hiện vào hôm sau. Việc đưa quà “kiến diện” [tức ra mắt] nếu có là ra mắt Phúc Khang An, không thể ra mắt Tả Giang Đạo Thang Hùng Nghiệp, vốn dĩ chỉ là một nhân vật trung gian không có thẩm quyền. Phúc Khang An muốn có thêm một giai đoạn “tiền hội nghị” chỉ vì bản tích ông ta thích phô trương và cũng để báo cáo lên vua Càn Long là mình đến đây đã khiến cho nước ta nể phục.

[43] KDANKL, q. XVIII, tr. 13-4 (bản dịch NDC)

[44] Lịch Triều Tạp Kỷ (LTTK), q. VI, (1995) tr. 594

[45] KDANKL, q. XVII, tr. 19 (bản dịch NDC)

[46]本國長參繹來函,與親諭之辭。知大人波照盛情。出於眞摯。擬卽親來叩關,面承憲旨。惟邦國甫造。注措綏定。日不蝗暇。未能遠離國城。間已遴委親屬阮光顯赴關代行謁見禮。始終一念。並無另有商酌之處。顧沿途溪壑,雨漲難行。往返不無捱緩,大約本月十五十六日以内,當到諒山鎭城也。輒此先行禀知。LTTK, q.VI (bản dịch NDC)

[47] Việc đưa Nguyễn Quang Hiển sang thay mình chính quan lại nhà Thanh cũng không được thông báo chi tiết nên Phúc Khang An, Tôn Vĩnh Thanh cũng nhiều lần tâu lên về việc này. Lúc đầu họ tưởng là quả thực vua Quang Trung sẽ đích thân đến Nam Quan và đã chuẩn bị những lời lẽ uy hiếp. Tuy nhiên, vua Quang Trung chỉ thông báo sẽ cho một ngưởi tên là Nguyễn Quang Hiển sang thay mà chính Phúc Khang An cũng không biết là ai. Chỉ đến khi hai bên tương kiến, lúc đó Nguyễn Quang Hiển mới thổ lộ thân phận là đích trưởng điệt tức con lớn của người anh cả trong các anh em Nguyễn Quang Bình. KDANKL, q. XVIII, tr. 24-5, q. XIX, tr. 9-10

[48] Theo tấu triệp của Phúc Khang An đề ngày mồng 3 tháng 5 năm Càn Long 54 (1789) thì anh em Nguyễn Quang Bình tất cả 4 người con trai, anh cả là Nguyễn Quang Hoa, chết sớm, kế đến là Nguyễn Quang Nhạc, tức Nguyễn Văn Nhạc, thứ ba là Nguyễn Quang Bình, tức Nguyễn Văn Huệ, thứ tư là Nguyễn Quang Thái, tức Nguyễn Văn Lữ. KDANKL, q. XIX, tr. 16.

[49] LTTK, [A15.6], q.VI, bản dịch Hoàng Văn Lâu (1995) tr. 592

[50]玆聞大皇帝新派大臣嘉勇公調任兩廣總督,僕僻處遐陬長聞嘉勇公襟宇汪洋,威望㞳峻,深爲大皇帝所眷注。今控臨全粵,光履南關,必能上體大皇帝柔字之仁,以綏下邑。僕向來未達之忱,想得有所陳白,擬即親來關上叩籲懇恩,候承憲旨。

但邦家甫造,注措弗遑。目今未能遠離國城,謹具禀函,遣親侄阮光顯赴關代躬行禮。竚候鈞裁。本國荨涣事情,中間許多委曲,與僕畏天事大之誠台臺諒已具悉。仰祈鼎力成全,轉禀上憲,並帯將本國行价指示進指止謁見禮儀。且具述國情,幸蒙準允具奏上,仗天朝威寵,列于藩翰不勝翹跂之至也。LTTK [A15.6], q. VI (bản dịch NDC)

[51] Nếu tính phái đoàn Nguyễn Hữu Trù là 20 người thì phái đoàn Nguyễn Quang Hiển là 50 người, dưới quốc vương một mức.

[52] Nghi lễ này so với các sứ thần nước ta khi trước sang phong vương rất đặc biệt. Trước đây bên ta chỉ được qua 4 người, đón vào Chiêu Ðức Ðài rồi đi lên Yên Kinh dâng biểu cầu phong, xem ra đơn bạc lắm. Mỗi lần sứ đoàn chỉ được từ 4 đến 6 người, thêm một vài đầy tớ, đến và đi chỉ được tiếp đãi qua loa, sứ thần ta chỉ còn biết dùng văn thơ đối đáp để tỏ ý chí quật cường. Lần này phái bộ nước ta được tiếp đãi là do chiến công trước đây 2 tháng nên tình hình khác nhiều. (Xem thêm Hoàng Xuân Hãn: “Cuộc tiếp sứ Thanh năm 1683” và “Vụ Bắc Sứ năm Canh Thìn đời Cảnh Hưng” trong La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, 1998, q II, từ trang 747-864)

[53] Từ ngữ đời xưa có nghĩa là bằng lòng thần phục

[54] Quân Cơ Xứ, nguyệt triệp bao, hòm số 2778, bao 162, số hiệu 38978, biểu văn của vua Quang Trung dưới tên Nguyễn Quang Bình, Càn Long năm thứ 54, tháng 2. Trang Cát Phát, TTVC tr. 385-6

[55] trong lá thư của Ngô Văn Sở kêu gọi Phan Khải Ðức trở về cũng có nhắc đến việc Lê Duy Kỳ giết chú, gian dâm với em (sát thúc, dâm muội). Cũng theo lá thư của thân tộc nhà Lê gửi Tôn Sĩ Nghị thì ba vị hoàng thúc đó có tên là Lê Duy Lữ, Lê Duy Lân, Lê Duy Hội.

[56] Trang Cát Phát, TTVC (1982) tr. 387. KDANKL, q. XIX tr. 18-22

bài đã đăng của Nguyễn Duy Chính


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch