Trang chính » Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm, Phê Bình Email bài này

Khả Thể, sự trình diễn của ý niệm trên hiện thực

 

Kha The cover

 

(LTG: Một phần của bài viết này đã được trình bày tại buổi ra mắt sách của Đặng Thơ Thơ tại hội trường Mason District Government Center, quận Fairfax, tiểu bang Virginia vào ngày 5/4/2015)

Tác phẩm mới của Đặng Thơ Thơ, Khả Thể, vừa mới vừa lạ. Mới trong cái lạ. Và lạ trong cái mới.

Trước khi đi vào phần chính của bài thuyết trình, tôi xin nêu ra một vài đặc điểm của tập truyện:

· Trước hết là cái tựa đề. Tên của tác phẩm là một cái gì khác thường: Khả Thể. Đã thế, cách phân chia các phần của tập truyện cũng khác thường. Tập truyện gồm hai phần, phần 1: Khả thể của Mơ; phần 2: Khả thể của Viết. Tựa đề của các truyện cũng thế: “Bản nháp cho một tình yêu”, “Cấy óc” hay “Lịch sử nhìn từ âm bản”…Trong truyện “Bản nháp cho một tình yêu”, ta tìm thấy truyện chia ra làm chín tiểu mục, mỗi một tiểu mục mang một cái tên, chẳng hạn như: “Mở đầu với bối cảnh ở quán cà phê”,  “Xây dựng nhân vật hay nhân vật tự xuất hiện”,  “Cao trào- thắt nút và mở nút”, vân vân. Nhân nói về tựa đề, xin được lấy tôi ra để so sánh. Tôi cũng viết truyện ngắn và truyện dài. Tựa đề của tôi thường đại khái là “Vết xước đầu đời” hay “Căn phòng thao thức” hay “Khoảng trống bâng khuâng”… Nghe có vẻ lãng mạn, có vẻ tình, có vẻ truyện ngắn! Trong lúc đó, các tựa đề của Khả Thể nghe như một tập …khảo luận. Nói khảo luận chắc cũng không đến nỗi quá lời. Có điều, đây không phải là khảo luận về một lý thuyết hay một vấn đề nào đó. Mà là một khảo luận về hiện thực, và qua đó, về chữ nghĩa. Có thể nói đây là một khảo luận về hiện thực bằng văn chương.

· Cách viết: Ngay từ vài dòng đầu của truyện ngắn đầu tiên, cách viết nghe ra đã …khác lạ: “Người ta vẫn nói sự tiếp cận thường xuyên sẽ dẫn đến miễn nhiễm, chẳng hạn miễn nhiễm với vi trùng, với chất độc, với lạm dụng, với tra tấn… Nhưng quả thật chúng ta chẳng bao giờ miễn nhiễm với ma quỷ cả. Trừ khi chúng ta biến thành ma quỷ.” Ở một đoạn khác, cũng cùng truyện: “Bước vào thiền viện và bước ra thiền viện, chúng ta biến thành những con người khác. Bước vào là ma, bước ra là thầy. Tôi tin tưởng vào sức mạnh vô biên của tôn giáo, đấy là con đường tất thắng của kẻ biết làm chính trị.” Theo Đặng Thơ Thơ, qua một lần phỏng vấn do Hồ Như thực hiện, viết “là một tiến trình tổng hợp kết dính của các yếu tố: kinh nghiệm, quan sát, tưởng tượng, xé rào, đột phá, thử nghiệm, và nhiều khi không thể tách ly giữa hiện thực và tiểu thuyết.”[1]

· Cốt truyện và nhân vật: Đọc truyện của Đặng Thơ Thơ, nếu ta muốn tìm một mối tình éo le, một câu chuyện đời gay cấn hay một chuyện thương tâm…thì sẽ thất vọng. Truyện của cô gần như một thứ phi-truyện. Cốt truyện lúc ngược, lúc xuôi không theo một diễn tiến bình thường để cho ta có thể dễ dàng theo dõi. Nhân vật thì mù mờ. Ta sẽ không tìm thấy một anh Dũng, một cô Loan nào đó, yêu ai đó, làm gì, đi đâu,và kết cuộc thì thế nào. Cũng không tìm thấy một nhân vật xưng “tôi” kể lại chuyện đời của mình từ đầu đến cuối. Tóm lại, các truyện trong “Khả Thể” không cho ta một nhân vật nào đó để buồn vui và để cảm xúc trước số phận của hắn ta. Nhiều chỗ, tác giả và nhân vật chen lộn lẫn nhau, giành chỗ nhau, thậm chí nói hộ cho nhau.

Nói chung, Đặng Thơ Thơkhông chỉ viết cái “đã là” hay “đương là” mà viết cái “có thể là”. Cô sử dụng cái “đã là” và “đương là” để nói về cái “có thể là”. Cô khai thác một khả năng rất đặc thù của việc viết: tạo ra khả thể của hiện thực bằng chữ. Sở dĩ thế là vì thế giới của chữ nghĩa là một thế giới lạ lùng, lắm khi kỳ bí. Cũng chừng ấy chữ, chừng ấy ký hiệu mà biến đổi khôn lường. Hiện thực, như ta biết, là cái gìđã hoàn tất, làmột sựđã rồi. Chỉ có một cách thay đổi nó là viết. Bằng chữ, nhà văn, nhà thơ không chỉ tái tạo hiện thực, bóp méo vo tròn hiện thực mà còn “chế biến” ra hiện thực. Đặng Thơ Thơ đã sử dụng đặc điểm này trong quá trình sáng tạo “Khả Thể”. Khi viết, cô vừa đứng trong hiện thực vừa đứng ngoài nó. Vừa sống trong nó vừa bước ra ngoài để nhìn ngắm “dung nhan” của nó. Cô biết rất rõ vai trò tích cực của viết trong tác động đối với tính cách ù lì của hiện thực. Cô viết một cách viết khác, chuyên chở cuộc đời với một cái nhìn khác. Do đó, trong Khả Thể, không còn một biên giới cụ thể và rõ ràng giữa nhân vật và tác giả, giữa sự kiện và câu chuyện, giữa nhân vật này và nhân vật khác, giữa việc diễn tả sự kiện vàý niệm hình thành từ sự kiện đó. Có thể người ta cảm thấy khó chịu vì không quen. Nhưng viết và đọc là một thói quen. Riêng tôi, tôi tìm thấy trong tập truỵện mới của cô một hình thức mới của viết. Hình thức mớiđòi hỏi một cách đọc mới.

Có thể hình dung cách viết mới này qua nhận định của cô khi viết về Munro:[2]Munro viết truyện, nhưng không chỉ để kể chuyện. Các tường thuật thường đóng vai công cụ để tra xét hành động viết hơn là mục tiêu của chuyện viết.” Theo cô, Munro viết “không phải để quyến rũ người đọc vào một thế giới nhân tạo đầy mê hoặc của người viết,” mà là“lời mời tham dự một trò chơi, người đọc đi vào thế giới của trò chơi, thử nhận dạng quy luật chơi, tương tác với những kẻ tham dự bí ẩn, lần mò trong cái bẫy của người viết, và tìm cách giải câu đố cho riêng mình.”[3]

Đọc “Khả Thể”, tôi tìm thấy trò chơi đó được thể hiện bằng một sự đan xen giữa ý niệm và hiện thực. Tập truyện bám sát những vấn đề của đời sống, từ chuyện chết, chuyện về ngày 30 tháng Tư, chuyện tôn giáo cho đến chuyện đồng tính luyến ái và chuyện tình yêu. Dưới cái nhìn soi mói và đầy ý thức, hiện thực hiện ra không “hiền lành”, không tĩnh tại mà là một đối tượng…“khảo sát”. Tác giả khảo sát về sự hiện diện của một xác ướp, hơn thế nữa, xác ướp của một lãnh tụ và qua đó, khảo sát về cái chết trong “Con yêu tinh thứ 18”;khảo sát về ngày 30tháng 4, khảo sát về sự chuyển giới tính, khảo sát về chân dung một người phụ nữ Á đông, khảo sát về tình yêu, khảo sát về Thánh Kinh. Từđó xuất hiện ý niệm. Nói khảo sát hay nói ý niệm nghe có vẻ nặng nề, có vẻ lý thuyết. Thực ra, đây không phải là những ý niệm áp đặt như người ta áp đặt một quan niệm phê bình hay một lý thuyết văn học. Hay một lời dạy bảo luân lý, kiểu tiểu thuyết luận đề. Đúng ra, Khả Thể là những suy nghiệm. Suy nghiệm toát ra, rò rỉ ra từ sự tiếp cận với hiện thực và kinh nghiệm sâu lắng về hiện thực. Mỗi một mảng hiện thực toát ra những suy nghiệm. Có khi chúng trùng lặp nhau; có khi chúng mâu thuẫn nhau. Hiện thực trong KhảThể là hiện thực được chắt lọc để suy nghiệm, một thứ hiện thực thấm đẫm ý niệm. Có thể nói, đó làsự trình diễn của ý niệm trên cái nền của hiện thực.Hay là sự bóp méo vo tròn hiện thực trên cái nền của ý niệm.

Thực ra, như chúng ta biết, mỗi một tác phẩm văn chương tự nó đều chứa đựng ý niệm hay toát ra một ý niệm nào đó về người đời và đời người, về bi kịch hay về một ý nghĩa nào đó. Chẳng hạn như truyện Kiều làbi kịch về thân phận người phụ nữ Á đông, hay nói theo một số nhà phê bình văn học trước đây, là “tài mệnh tương đố”. Trong Khả Thể, ý niệm xuất hiện bàng bạc, toát ra từ trong truyện, đôi lúc khá dày đặc. Có khi ý niệm này mâu thuẫn với ý niệm kia. “Trong tất cả mọi truyện của tôi đều có phần tư tưởng cài đặt trùng điệp, nhiều khi chúng bổ xung nhau, nhiều khi chúng mâu thuẫn phản bác nhau, nhưng đó không phải là kết luận của truyện,” theo Đặng Thơ Thơ.[4]

Nhắc đến hành trạng của một tu sĩ, cô viết tôn giáo “là con đường tất thắng của kẻ biết làm chính trị.”Vì “Bước vào là ma, bước ra là thầy.”

Nói về chuyện lập đàn giải oan cho ngưòi chết, cô viết “Người chết không cần giải oan, vì giải oan là giết người chết thêm một lần nữa.”

Bàn về tự tử của người đàn bà, cô cho rằng đó là “Một cách đi nhẹ và sang.” (…) “Đi ra khỏi cuộc đời như thế là đẹp nhất. Đi như buổi sáng lẫn vào trong buổi chiều.

Nói về Kinh thánh, cô viết: “Ngay tên gọi kinh thánh đã là một điều khó hiểu, vì nó không chỉ là một cuốn kinh, nó còn mang chất “thánh,” và từ “thánh” là điều khiến tôi suy nghĩ.” (…) “Họ chỉ là thánh sau này, khi họ đã chết, khi xác họ đã rã thối trong hầm đá sâu trăm thước dưới chân tôi. Họ chỉ là thánh sau này, khi Giáo Chủ phong thánh cho họ. Hành trình để một xác chết thành thánh có khi dài hơn thời gian sống của một con người.”

Vân vân.

Trong giới hạn của một bài giới thiệu, tôi xin lượt qua một vài ý niệm trong “KhảThể”.

· Chết: Ý niệm về cái chết xuất hiện khá nhiều trong tập truyện.Đặc biệt, truyện đầu tiên đề cập đến cái chết của một lãnh tụ Cộng Sản và xác ướp của ông ta. Truyện mô tả khá chi li về lăng mộ và xác ướp. Vàmột dự trù làm lễ giải oan. Một câu chuyện thực trong hư. Thực ra, truyện chỉ muợn hiện thực như cái cớ để suy nghiệm về cái chết, suy nghiệm về cái xác ướp và suy nghiệm về lãnh tụ. Mượn lời một nhân vật, truyện viết, “Tôi nói với cha, tôi cầu khẩn cha, cha ơi, cha đừng chỉ là một cái xác, hãy tan biến đi, hãy hư hoại đi, hãy rã mục đi, hãy sâu mọt đi, hãy thiêu rụi đi, hãy tro tàn đi, vĩnh viễn!” Theo cô, chính cái chết tự nó đã là bất tử. Bất tử vì người ta đâu có cần phải chết thêm một lần nữa. Do đó, đâu cần gì nuôi dưỡng một cái xác để tạo nên sự bất tử.

Cũng về cái chết, trong “Mở tương lai”, cô đề cập đến tính cách “bất tử” qua một cách chết khác: tự tử. Truyện kể một người cô, bạn thân của mẹ, tự tử trên đường vượt biên. Đây là một cái chết được quyết định trước. Khác với quan niệm thông thường về tự tử, cô cho rằng “Tự tử không phải tự giết mình.” Nói tự tử là tự giết mình là một định nghĩa “lừa dối”. Ngược lại, Không có gì nên thơ và bí ẩn bằng tự tửvà  Cũng chẳng có gì tự do hơn nó.Do đó,“Tương lai không có quyền thay đổi một cái chết trong quá khứ. Mọi giá trị sẽ thay đổi. Nhưng giá của cái chết thì không.”

Đặc biệt, cô tìm thấy một số nét khá mới về cái chết và ngày giỗ trong “Cấy óc”. Trước hết, côđưa ra một hình ảnh, tuy rất quen nhưng khá lạ, về ngày giỗ. “Chúng tôi vẫn chơi trò đưa đám vào ngày giỗ của ông. Một ngày giỗ lớn trong họ, nhà đầy người, và những người lớn đều bận rộn, để mặc trẻ con muốn làm gì thì làm. Chúng tôi lúc đó từ 5 đến 11 tuổi, luôn luôn cãi vã tranh giành nhau quả trứng cúng trên bàn thờ. Trong lúc người lớn ăn cỗ và chuyện trò thù tạc, chúng tôi rủ nhau ra vườn làm đám ma, đắp mộ và khóc than thảm thiết.” Một hình ảnh mâu thuẫn giữa thế giới trẻ con và người lớn. Với người lớn, ngày giỗ là một ngày để tưởng niệm người quá cố, nhưng dần dà trở thành ngày gặp nhau để thù tạc; nhưng với trẻ con là một ngày chúng tập làm quen với cái chết và thú vị với hiện tượng đám ma. Cái chết trở thành một nghịch lý: vui trong buồn và buồn trong vui. Chả thế mà cô tìm thấy một ý niệm khá lạ: “Đằng nào người ấy cũng chết rồi, và sẽ còn chết mãi, vào ngày giỗ.” Nói một cách khác, ngày giỗ là sự tái sinh một cái chết. Chết, như thế, không là một cái cái gì chấm dứt vĩnh viễn, ngược lại, có thể được lập lại. Do đó mà cô cho rằng,“Dựng lại được người chết thì vẫn tốt hơn đắp mộ hay thắp nhang cho họ. Muốn dựng lại một người đã chết thì phải ngưng ngay việc làm giỗ, vì càng làm giỗ thì càng khiến người ấy chết nặng hơn. Mỗi lần giỗ là một tảng đá chồng lên mộ, xác nhận sự bất diệt của cái chết.” (Cấy óc)

Ngoài ra, chết, theo cô, là một công việc và là một công việc phải hoàn tất. “Những người chết đã làm xong việc của họ, là chết.” Cho nên, theo cô, đối với người sống, nếu còn nhớ người chết thìnên dựng lại người đó thay vìlàm giỗ. “Một nấm mồ sơ sài, nhưng bao la, không giới hạn thời gian. Những đứa bé không nhớ năm chết và năm sinh của người trong mộ. Chẳng để làm gì.”

· 30 tháng Tư: Một trong những ý niệm khá đặc thù là ý niệm về ngày 30 tháng Tư được mô tả lại trong “Mở tương lai”. Trong ký ức của một cô bé, đó là một ngày vô cùng bất thường, bất thường nhưng quen thuộc.“Tất cả các đường ra khỏi thành phố đã bị vây chặn. Chúng tôi quay lại Sài Gòn. Tuyệt vọng len lỏi vào trong yên lặng của buổi trưa nóng nực. Bây giờ tôi hiểu tại sao cảnh tượng này quen thuộc. Tôi đã gặp chúng trong Cuốn Theo Chiều Gió, trong Một Thời Để Chết. Điều tôi đang chứng kiến đã có từ lâu, chỉ là nỗi kinh hoàng chung của nhân loại. Nỗi kinh hoàng cứ lặp đi lặp lại, nhiều lần, như một điều đã cũ.” (…) “Những giây phút chung cuộc của một chế độ được đếm bằng tiếng súng và tiếng khóc. Điều đáng sợ không nằm trong tình huống. Nó nằm trong thái độ của con người. Tôi có thể nghe được những tiếng chân vô hình của những toán quân vô hình đang tiến vào thành phố.”

Hiện thực đó trở thành một ý niệm mới về thời gian: “Thế giới sau 30 tháng 4 không rõ ngày tháng nữa. Ngày 30 tháng 4 sẽ nối dài rất lâu, nối mãi về sau, qua nhiều thập kỷ. Nếu chúng tôi sống lâu trăm tuổi thì nó cũng kéo dài hàng thế kỷ. Nó đi theo ký ức con người.” Thời gian ởđây đánh mất yếu tính thời gian, là cái gìvốn phải qua đi, một cái gì chuyển động về phía trước. Vào ngày 30 tháng 4, thời gian đông cứng lại, nhưng cũng kéo dãn ra vô cùng. Không khác gì ngày 11 tháng 9 đối với nước Mỹ.

Ngày 30 tháng Tư cũng là ngày của những phản bội. Chứng kiến những sự phản bội cách này hoặc cách khác, của bên này hoặc bên kia, cô nhận thấy phản bội là “thuộc tính của con người,” vì nó không là của riêng ai. (“Lịch sử nhìn từ âm bản”). Cũng trong truyện này, cô dựng nên một kịch bản khác: quân đội VNCH chiến thắng Cộng Sản. Khác với những gì người Cộng Sản làm sau ngày 30 tháng Tư, VNCH “sẽ không bắt giam những người cách mạng. Bộ đội không phải đi học tập cải tạo, không phải lao động khổ sai. Ngay cả đảng viên cũng vậy. Chúng tôi sẽ không xử tử chủ tịch nước, không đấu tố tổng bí thư, không chôn sống bộ chính trị. Những nhà tù sẽ phải phá đi. Ba mươi năm qua chúng ta đã chơi một trò chơi điên rồ, và cám ơn Trời Phật, trò chơi đã chấm dứt.”

Đó là một “âm bản”. “Âm bản”, như thế, là khả thể của hiện thực. Nó khiến tôi nhớ đến một truyện của Nguyễn Mạnh Côn, “Ba người lính nhảy dù lâm nạn”, trong đó nhà văn tưởng tượng vua Quang Trung còn sống và thực hiện giấc mộng chiếm lại vùng đất lưỡng Quảng từ Tàu. Âm bản của Đặng Thơ Thơmang một đặc tính khác: “Tôi đang xoay chiều lịch sử trong thế giới của riêng mình, lịch sử của những người đã chết. Đó là một lịch sử rất hiền, hiền như bài luận văn ngày khai trường của tuổi thơ Nam bộ. Bài luận văn được nắn nót viết bằng mực tím.”Vớiý niệm “lịch sử rất hiền”, qua đó, người chiến thắng đối xử một cách nhân đạo đối với người chiến bại,có lẽ cô muốn nói một điều khác: sự hàn gắn vết thương. Điều quan trọng không phải là những chiến thắng, không phải là những anh hùng…mà là cách hàn gắn vết thương. Đất nước tồn tại nhờ những người hàn gắn vết thương chứ không phải những người cứ hết năm này đến năm khác, mải mê phất cờ reo mừng và kỷ niệm chiến thắng. Reo mừng như thế là một cách cào lại cho vết thương sâu hơn và khó lành hơn. Có lẽ do đó mà ý niệm lịch sử “hiền như bài luận văn ngày khai trường của tuổi thơ Nam bộ,” thì trong thực tế, lịch sử không hề được viết bằng mực tím, theo cô.

Nhân chuyện ngày 30 tháng Tư, trong khung cảnh này,[5]có lẽ cũng nên nhắc lạimột sự kiện lịch sử rất thật diễn ra không xa chỗ chúng ta đang ngồi. (Tôi không phải cư dân ở đây nên không biết đích xác nó ở đâu). Cũng vào tháng này, cách đây đúng 150 năm chỉ thiếu có 4 ngày, đó là ngày 9/4/1865, ngày ký kết hiệp ước chấm dứt nội chiến Mỹ tại Appomattox, tiểu bang Virginia. Bằng một buổi lễ đơn giản, người đại diện cho phe chiến thắng, tướng Ulysses Grant, nói với tướng Robert Lee, đại diện cho phe chiến bại: “Cuộc chiến đã chấm dứt. Những kẻ địch thù bây giờ lại là đồng bào của chúng ta. Tất cả binh lính đều trở về nhà mang theo đồ đạc của mình kể cả ngựa để dùng.” Sau đó, binh lính hai bên, ai về nhà nấy, tiếp tục sống như những người bình thường. Sự kiện này, nếu không viết bằng mực tím, thì cũng bằng mực xanh, không đến nỗi bằng chỉ toàn máu và nước mắt và tù đày như những gì diễn ra ở Việt Nam sau ngày 30 tháng 4/1975.

Phải chi âm bản của 30 tháng 4 Việt Nam của Đặng Thơ Thơ được viết bằng dương bản của ngày 9/4 Hoa Kỳ! Nghĩ mà ngậm ngùi! Chẳng thế mà cô viết: “Chúng tôi đi ròng rã nhiều năm, vẫn đang đi tới, đi không ngừng nghỉ. Chúng tôi đi theo dấu máu chảy và máu chúng tôi vẫn đổ ra không thể nào cầm. Máu của chúng tôi phải dư thừa, phải sung mãn, phải đủ để chia đều cho lương tâm thắng trận và danh dự của miền Nam bại trận.”

· Tương lai: Cũng từ ý niệm về ngày 30 tháng Tư khơi ra một ý niệm khác về thời gian, đặc biệt là ý niệm về “tương lai”. Ý niệm này ám ảnh tác giả là vì cô, tuy còn nhỏ, nhưng chứng kiến những ngày hỗn loạn và hoang mang của Sài Gòn trước và sau khi quân Cộng Sản tiến vào thành phố. Cũng như nhiều gia đình khác, gia đình bà con cô tìm đường ra đi. “Lúc đó chúng tôi đang đứng ở năm 1975, cuộc sống chỉ toàn là tương lai (chúng tôi chưa có một hiện tại riêng, chưa đủ ký ức để làm thành quá khứ.”(Mở tương lai). Nhưng tương lai là gì? Nhận được một mẫu giấy có địa chỉ của người bạn đã ở nước ngoài, “Tôi cầm mẩu giấy như thể nó là bằng chứng của tương lai. Một tương lai được mã hóa cụ thể và rành mạch.

Trong lúc chuẩn bị để được đi vào những ngày cuối cùng của Sài Gòn, cô nghĩ: “Tương lai rất gần. Hoặc nếu tương lai còn xa thì tôi như một người bị cận thị tinh thần. Vì tôi chỉ nhìn được đến thế. Tương lai chỉ mở ra đến thế. Tương lai hẳn phải là phía có Hương. Hương đã đi xa hơn một chút về phía tương lai. Nhưng tôi sẽ đuổi theo kịp. Ngày mai.” Mong ước được đi trở thành một giấc mơ lớn của người ở lại. “Nằm mơ là đường ngắn nhất để đi tới tương lai.”

Nhưng một chỗ khác, cô nhìn tương lai một cách khác. “Vì chúng tôi không chấp nhận cuộc sống trên mảnh đất này, vì đây không phải chỗ của chúng tôi, nên tương lai hầu như dừng lại. Hay tương lai đã bỏ ra đi.

· Khổng phu nhân: Đặng Thơ Thơ có lẽ là người đầu tiên đi tìm nhân dáng của – và qua đó, xây dựng nên ý niệm về- một phụ nữ trong lịch sử Trung Hoa qua truyện “Người vợ Khổng Tử và cô giáo nữ quyền”. Đó là một phụ nữ hết sức đặc biệt, đặc biệt đến lạ lùng: không tên tuổi, không hình vóc, không sự nghiệp. Y như một hư không. Ấy thế mà bà là vợ của một nhân vật nổi tiếng nhất trong lịch sử Trung Hoa, Khổng Tử, và lại là một người đàn bà đầy dấu hỏi.“Nàng tên gì? Dung nhan nàng ra sao? Tài năng nàng thế nào? Nàng đã thành đạt gì trong cuộc sống, ngoại trừ việc cho ông mấy người con, trong đó có con trai nối dòng họ Khổng? Nàng có biết nói, biết khóc, biết cười không? Nàng có biết đọc, biết viết, biết làm thơ không? Chẳng sách vở nào nói đến nàng. Chẳng ai vẽ chân dung nàng. Làm sao vẽ chân dung một người không có chân dung? Tìm trong tiểu sử của Khổng Tử cũng không có tên nàng. Nàng là người đàn bà vĩ đại không tiểu sử.”

Ý niệm Khổng phu nhân là một ý niệm về một vắng mặt. Một vắng mặt tuyệt đối. Khổng phu nhân là một “tồn tại hầu như không tồn tại.”Đểđi tìm bà phu nhân này, nhân vật trong truyện tìm đọc Kinh Lễ, đó là một bản kinh cổ do học trò của Khổng Tử chép lại. “Trong Kinh Lễ có nhiều đàn bà con gái. Họ xuất hiện trong trang phục xa xưa và cung cách cổ kính. Họ đẹp và nết na, tam tòng tứ đức, công dung ngôn hạnh đủ cả. Họ yểu điệu rạp đầu thuần phục. Họ đi rón rén không để lại dấu chân trên đất. Họ khóc cười không ra tiếng, như phim câm.” (…) “Ngôn ngữ của họ cũng lơ lửng; một chữ buông hờ ở cửa miệng rồi cứ đọng lại ở đó, một câu nói chưa thành tiếng đã bị mất hút vào không gian. Một ý nghĩ mất cả đời để thành hình. Một câu nói truyền từ người này sang người kia mất thêm vài trăm năm nữa.”Đó là một tập thể “vô danh, vô hình, vô thanh, vô tướng, vô nhân diện.” Đặng Thơ Thơ làm mới một ý niệm rất cũ về người đàn bàđông phương dưới sức nặng của triết lý Khổng Tử. Ý niệm đó dùng để hình dung một người hoàn toàn vắng mặt trong cuộc đời của đấng Khổng Tử. Ký ức lịch sử Đông Phương không có chỗ cho một thân phận nữ đơn lẻ. Vì vậy Khổng phu nhân, người phụ nữ vĩ đại này,“đã tan biến vào tập thể và tồn tại như hương hoa để ướp thơm những trang kinh của chồng và đức Khổng.” Tóm lại, như mọi phụ nữ khác, Khổng phu nhân chỉ là một cái bóng. Đúng ra, trong thứ đạo đức của Nho giáo, đàn bà là “không”.

Dưới cái nhìn của phong trào nữ quyền, cái gọi là “tứ đức tam tòng” là cái ách mà triết học Khổng Tử tròng lên đầu người phụ nữ suốt mấy ngàn năm. Mục đích của phong trào này là đưa người phụ nữ ra ánh sáng, làm cho nàng hiện hữu, là phục hồi tên tuổi nàng như một cá thể. Mỉa mai thay, nhân vật cô giáo dạy nữ quyền làm “bảo trợ” cho luận án của anh chàng sinh viên về Khổng phu nhân, đổi nghề. “Hai năm sau khi ra trường anh mất liên lạc với cô giáo, đó cũng là lúc phân khoa Phụ Nữ-Giới Tính Học bị giải tán vì thiếu kinh phí. Anh nghe nói cô đã bỏ dạy, hình như cô đã xuất ngoại sang Hoa Kỳ. Anh lại nghe nói cô bây giờ là vũ nữ trình diễn show ở Las Vegas.” Cô giáo trình diễn những gì? “Cô sẽ múa những câu chuyện, cô sẽ múa những tâm trạng, nhưng trên hết, cô muốn múa những cảm giác của cơ thể, múa những cơn đau chết người kéo dài hàng thế kỷ, những cơn đau phải thể hiện bằng chính thân thể nữ.”

Phải chăng Khổng phu nhân đã là một bi kịch mà người muốn phục hồi Khổng phu nhân cũng lâm vào một bi kịch khác: bi kịch “phụ nữ”? Vì rốt cuộc, cô ta vẫn tồn tại như một phụ nữ. Đó là mặc cảm phụ nữ. Chính mặc cảm mình là phụ nữ nên cô ta vẫn bị dính bám vào một quan niệm phổ biến mà trước đây cô từng lên án: trẻ và đẹp. “Khái niệm trẻ đẹp cần phải xóa bỏ để có bình đẳng thật sự về giới tính,” và “kỹ nghệ sửa sắc đẹp khiến phụ nữ luôn bị mặc cảm và ghét bỏ chính thân thể họ.

Vậy nữ quyền tuyệt đối phải chăng là một nỗ lực vượt thoát trở ngại cuối cùng, đó là mặc cảm phụ nữ!

· Tình yêu: Đặng Thơ Thơ nói về cái chết, về nữ quyền, về đồng tính luyến ái, về thời gian, toàn là những ý niệm gay go, sắc sảo và nặng nề. Con về tình yêu thì sao? Cô có yêu không? Yêu ai? Yêu như thế nào? “Bản nháp cho một tình yêu” cho ta một cái nhìn khác về bản chất của cái gọi là tình yêu. Có thể xem đây là một ý niệm – và có lẽ cũng là một định nghĩa khác, khá mới mẻ – về tình yêu. Thay vì lập lại những khái niệm lâu đời về tình yêu như chung thủy, phôi pha, ngoảnh mặt làm ngơ, phụ tình … hay “em ơi phải chăng đến khi chiều ấy/đôi tim ướp mộng bấy lâu thành lời” của Lam Phương, truyện phác thảo một kịch bản trông rất “kịch bản” về một chuyện tình. Một sự sắp xếp đầy ý thức. Mở đầu, nhân vật nhà văn trong truyện cho biết: “Tôi trải qua nhiều ngày suy nghĩ. Khi nhất quyết viết câu chuyện này, tôi cho mình yêu trong một thời hạn tối đa là hai tháng. Vừa ở trong tình yêu, vừa đứng ngoài nhìn vào để dò xét và mổ xẻ chính mình. Truyện sẽ được kể từ ngôi thứ nhất số ít. Người con gái yêu anh trong truyện thoạt đầu là tôi, sau này cô ấy có thể bước ra ngoài tôi. Cô yêu một người đàn ông có gia đình, người này mang một số đặc điểm của anh. Nhưng chuyện tình của họ có thể sẽ nghiêm túc hơn. Tôi chỉ định mượn tạm tình cảm giữa tôi và anh, suy nghĩ của tôi và anh, đôi khi đối thoại giữa tôi và anh. Tất cả trao đổi thư từ giữa chúng tôi đều có thể dùng làm tài liệu được.”

Sau một thời gian thử nghiệm, vừa trong việc viết vừa trong việc tạo ra một tình yêu, trò chơi biến thành “trò thật” khi cô nhà văn đồng ý đi chơi với nhân vật nam. Chuyện gì xảy ra đã xảy ra như tác giả muốn: họ yêu nhau. Trong một trạng thái tâm lý hưng phấn, loại “nhân vật lai tác giả” này nhìn ngắm chính mình y như thể quan sát một người khác: “Tôi nhìn ngắm cô, tràn đầy yêu dấu và thương xót. Chưa bao giờ người tôi nhẹ như thế – như cô vừa đi ra khỏi tôi – một người đàn bà ở trong tôi, khác tôi, tự mình tôi không lôi ra được, bây giờ đã thoát đi rồi.” Một nhị trùng nhân cách! Vừa là tôi vừa là không-tôi. Vừa là nhân vật vừa là người sáng tạo ra nhân vật. Bản thân người yêu cũng khác: “Anh bây giờ không quan trọng nữa. Tất cả những điều anh làm chỉ là gõ cửa. Mỗi người đàn ông đến gõ cửa sẽ lôi ra, từ tôi, một người đàn bà riêng, của hắn.”

Thay vì nhìn tình yêu như một duyên kiếp, một số phận hay một tình cờ hay một tiếng sét, vân vân, Đặng Thơ Thơ đưa ra một ý niệm mới. Yêu là lôi ra từ người mình yêu một người khác, một người mà mình tự tạo ra và mượn người mình yêu làm hiện thực.

Về mặt hình thức, “Bản nháp cho một tình yêu” đưa ra một cấu trúc mới mẻ và thú vị. Viết ở đây không chỉ để tường thuật chuyện của một ai đó về một cái gì đó, mà là níu kéo người đọc (và cả chính người viết) vào trò chơi đa dạng của chữ nghĩa.

Thành thử, đọc truyện của Đặng Thơ Thơ là theo dõi các chuyển động của viết, trong đó, hiện thực và ý niệm quấn quýt lẫn nhau. Đó là những khả thể, một hình thức khác của hiện thực được tạo dựng bằng chữ. Có thể nói chữ – và qua đó, viết hay gõ – là khả thể của ý niệm. Thay vì để hiện thực y như chính nó, Đặng Thơ Thơ bóc nó ra, xé toạt nó ra và lắp ghép lại một cách khác. Như tháo một căn nhà. Và xây dựng lại một ngôi nhà khác. Nghĩa là tạo ra một hiện thực khác.

Đừng đọc Khả Thể như những gì “đã là” hay “đương là” mà “có thể là”. Cũng đừng đọc như một độc giả thuần túy. Mà đọc như một độc giả lai. Lai tác giả.

Trần Doãn Nho


[1] Hồ Như, Phỏng vấn Đặng Thơ Thơ về Khả Thểhttp://damau.org/archives/35892#comments 
[2] Alice Munro, tác giả Canada đoạt giải Nobel văn chương năm 2013.
[3] Đặng Thơ Thơ, Alice Munro, Mỹ Học Mới trong Một Thế Giới “Vắng Mặt”,  http://damau.org/archives/31699
[4] Hồ Như, Phỏng vấn Đặng Thơ Thơ về Khả Thểhttp://damau.org/archives/35892#comments 
[5] Địa điểm tổ chức ngày ra mắt sách tại hội trường Mason District Government Center, quận Fairfax, tiểu bang Virginia.

bài đã đăng của Trần Doãn Nho


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch