Trang chính » Âm Nhạc, Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm Email bài này

Những Tiếng Hát Bất Tử (phần 2)

 

clip_image002

Bài viết này không phải là một bài phê bình âm nhạc,
mà chỉ là những ghi chép lượm lặt từ tin mạng
và những cảm tưởng rất chủ quan của tác giả,
một kẻ yêu thích âm nhạc, về một vài tiếng hát lừng danh.

 

 

4. Charles Aznavour

(Tôi vẫn tự nhủ: Khi nào còn có người tới nghe mình, hẳn mình phải có một đặc điểm gì đó.) [14]

Pháp quốc là quê quán của dòng nhạc thính phòng (chanson) với nhiều giọng hát tiêu biểu: Charles Trenet, Édith Piaf, Jacques Brel, Juliette Gréco, Gilbert Bécaud, Dalida, Charles Aznavour, v.v… vang danh trong những thập niên 1950-60. Trong phần này, người viết xin được vinh danh tiếng hát và sự nghiệp ca nhạc của Charles Aznavour, ca nhạc sĩ và diễn viên điện ảnh Pháp.

clip_image002[6]

Lần đầu tiên tôi làm quen với tiếng hát của người ca sĩ này vào lnăm 1964 qua cuốn phim ca nhạc Pháp Cherchez l´Idol (Ði tìm thần tượng). Phim đen trắng. Nhạc âm thanh một chiều. Chuyện phim nhạt nhẽo. Nhưng nổi bật một Sylvie Vartan với La Plus Belle pour Aller Danser và một Charles Aznavour ca diễn Et Pourtant, hai ca khúc được giới trẻ Sài gòn yêu nhạc ngoại quốc đón nhận nồng nhiệt một thời.

Ký ức của tôi về Charles Aznavour, dạo ấy, rộn lên chỉ bấy nhiêu thanh âm. Rồi tắt.

Charles Aznavour chào đời năm 1924 tại khu phố sinh viên Quartier Latin, Paris, gốc người Armenia. Tại đấy, cha mẹ ông có mở một quán ăn nhỏ là chỗ lui tới của giới nghệ sĩ lưu vong gốc Nga và Armenia, và cũng là nơi cha ông đàn hát giúp vui cho thực khách. Năm lên chín, ông thôi học để ghi danh tại trường kịch nghệ thiếu nhi và xuất hiện lần đầu tiên trên sân khấu.

Tiểu sử của Charles Aznavour đã được ông diễn tả qua ca khúc Autobiographie, ghi âm trong dĩa lớn cùng tên, phát hành năm 1980. Vào năm 2004, ca khúc này đã được ông mở đầu cho chương trình nhạc nhân dịp sinh nhật 80 của ông tại Viện Quốc hội Paris, như một bản tự thuật lý lịch chân thành, nhiều cảm xúc:

«J’ai ouvert les yeux sur un meublé triste
Rue Monsieur Le Prince au Quartier Latin
Dans un milieu de chanteurs et d’artistes
Qu’avaient un passé, pas de lendemain
Des gens merveilleux un peu fantaisistes
Qui parlaient le russe et puis l’arménien …» [15]

Thành công bột phát đến với ông vào năm 1946, khi ông được Édith Piaf (1915-1963), ca sĩ thượng thặng của dòng nhạc thính phòng Pháp quốc, để ý và đem ông theo trong những chuyến lưu diễn tại Pháp và Hoa kỳ.

Charles Aznavour được giới truyền thông đặt cho danh hiệu "Frank Sinatra Pháp quốc" và là một trong ít ca sĩ Âu châu có được cơ hội hát chung với Frank Sinatra, ông hoàng nhạc swing, jazz và nhạc kịch của Hoa kỳ trong thế kỷ 20. Âm giọng Charles Aznavour là một kết hợp hiếm có giữa giọng nam cao (tenor) và giọng nam trung (baritone): rõ ràng và vang lộng ở âm cao; đầy đặn và tròn chắc ở âm trầm. Vì sở hữu kỹ thuật diễn xuất, ông có biệt tài ca diễn khi trình bày những ca khúc trữ tình và nhạc chuyện. Tính tới hôm nay, ông đã soạn hơn 1.200 ca khúc, cho thâu âm bằng 8 thứ tiếng, với số bán hơn 180 ngàn bản. Ngoài tài ca hát, Charles Aznavour còn là diễn viên điện ảnh đã góp mặt hơn 70 phim truyện, thường là những vai phụ.

So với một người Âu phái nam với chiều cao trung bình, Charles Aznavour chỉ cao 1m60 (5 ft 3 in). Khuôn mặt ông không thể được gọi là dễ nhìn, nhưng rất sắc nét. Tuổi càng cao, những nếp gấp trên gương mặt nhiều nam tính của ông trông càng lôi cuốn. Chất giọng của ông đậm sánh, nồng nàn như những giọt cô-nhắc rót đầy ly âm thanh. Tuổi đã ngoài 90, nhưng lửa đam mê của ông dành cho âm nhạc vẫn âm ỉ. Tới những năm sinh nhật tròn tuổi, 2004 (80 tuổi) hoặc 2014 (90 tuổi), ông đều lưu diễn một vòng Âu châu. Vào tháng năm 2015, ở tuổi 91, ông vừa tung ra dĩa lớn thứ 51: Encores (Nhiều thêm nữa). Dám chừng, thính giả sẽ còn dịp sắp hàng mua vé, tới nghe ông xướng giọng vẽ vời những dự tính tương lai ca mừng bách niên thượng thọ.

La Bohème, Mourir d´Aimer, Emmenez-moi, Les Comédiens, Il Faut Savoit, Tous les Visages de l´Amour (She, bản Anh ngữ), Et Pourtant, Que C´est Triste Venice, Non Je N´ai Rien Oublié, Hier Encore (Yesterday When I Was Young, bản Anh ngữ), À Ma Fille, v.v… là một số ca khúc trong sự nghiệp âm nhạc đồ sộ của ông được giới mộ điệu nhạc thính phòng yêu thích.

Ngoài bốn mươi, tôi trở lại với âm nhạc Charles Aznavour. Tôi nghe lại Et Pourtant. Tôi thấy lại thần tượng trong cuốn phim đen trắng dạo nào. Những thanh âm một thời đã hằn thêm nhiều nếp nhăn ký ức trên khuôn mặt. Nhưng trong tâm tưởng tôi vẫn réo rắc những giai điệu quen thuộc. Những hình bóng tuổi hai mươi hiện lên bảng lảng qua nhân xưng tôi trong Hier Encore (Mới hôm qua):

«Hier encore, j’avais vingt ans
Je caressais le temps et jouais de la vie
Comme on joue de l’amour
Et je vivais la nuit
Sans compter sur mes jours qui fuyaient dans le temps
J’ai fait tant de projets qui sont restés en l’air
J’ai fondé tant d’espoirs qui se sont envolés
Que je reste perdu ne sachant où aller
Les yeux cherchant le ciel mais le coeur mis en terre …» [16]

Cách phát âm một ngôn ngữ giữ một vai trò quan trọng cho việc thành công của bài hát. Không phải lẽ đương nhiên, khi tiếng Anh thường được sử dụng để hát nhạc pop nhạc rock, tiếng Pháp để hát chanson, và tiếng Tây ban nha, tiếng Ý cho những ca khúc hoặc ca tuồng cổ điển. Trong khi cách phát âm tiếng Anh gợi cảm những âm gió vần s, thì tiếng Pháp, tiếng Tây ban nha, tiếng Ý có âm r run rẩy cuống lưỡi, xúc động những phân bua. Đặc điểm này đã được Édith Piaf, nữ danh ca thượng thặng của dòng nhạc thính phòng Pháp quốc, lảnh lót khẳng định trong ca khúc Non, Je Ne Regrette Rien (Không, tôi chẳng ân hận điều gì):

«Non, rrrien de rrrien. Non, je ne rregrrrette rien. Ni le bien qu’on m’a fait. Ni le mal tout ça m’est bien égal … » [17].

Charles Aznavour đã từng được Bob Dylan, ca sĩ hát nhạc du ca Hoa kỳ, ngợi khen là một trong những ca sĩ trình diễn tuyệt diệu nhất trên sân khấu với giàn nhạc mà ông được xem. Mời quí độc giả thưởng thức Charles Aznavour ca diễn Hier Encore trong chương trình nhạc tổ chức vào năm 2004, nhân dịp sinh nhật bát tuần của ông:

 

https://www.youtube.com/watch?v=6l8cIObZL7E

 

 

5. Whitney Houston

Ngày 11 tháng 2 năm 2012, một ngày trước lễ công bố giải Grammy, giải thưởng âm nhạc được tổ chức thường niên tại Hoa kỳ, các hãng thông tấn loan một tin chấn động giới yêu nhạc toàn cầu: một nhân vật tiếng tăm tử nạn trong khách sạn Beverly Hilton, California, Hoa kỳ. Tử thi được tìm thấy trong bồn tắm nước nóng cao độ, mặt úp xuống nước. Tên tuổi người chết: Whitney Houston, một trong những ca sĩ hàng đầu của thị trường nhạc pop, hưởng dương 48 tuổi.

Theo kết quả giảo nghiệm của viện y học pháp lý Los Angeles, Whitney Houston chết vì ngộp nước, phân tích máu, thấy một dung dịch hỗn hợp bạch phiến, cần sa Marihuana, vài loại thuốc an thần và nhiều thứ thuốc men khác. Giảo nghiệm gia đưa ra hai giả thuyết dẫn đến cái chết của Whitney Houston trong bồn tắm: bất tỉnh vì lạm dụng ma túy và thuốc an thần hoặc bị đứng tim bất thình lình.

clip_image002[8]Whitney Houston (1963-2012) ra đời tại Newark, tiểu bang New Jersey (Hoa kỳ), trong một gia đình có truyền thống âm nhạc. Bà là ca sĩ chuyên hát nhạc phổ thông (pop), nhạc có giai điệu da đen (soul), tài tử, nhà sản xuất điện ảnh và người mẫu thời trang. Mẹ bà là Cissy Houston, ca sĩ trong ban Sweet Inspirations, thành danh trong thập niên 1960. Mẹ nuôi là Aretha Franklin, một trong những nữ ca sĩ nổi danh của dòng nhạc có giai điệu da đen (soul) và thánh ca (gospel). Bà là chị em họ với ca sĩ Dionne Warwick [18].

Whitney Houston bước vào làng âm nhạc từ năm 14 tuổi, xuất hiện chung với mẹ trong những hộp đêm ca nhạc. Theo lời bà, hai thời điểm then chốt bắt đầu sự nghiệp ca nhạc của bà là lần đơn ca phúc âm trong một thánh đường tại Newark và lần song ca với mẹ trên sân khấu hí viện Town Hall Theater ở Nữu Ước.

Tháng ba năm 1985, Whitney Houston cho thâu âm dĩa 33 vòng đầu tiên có tên Whitney Houston, dẫn đầu bảng sắp hạng US-Charts của tuần báo ca nhạc Billboard 14 tuần liên tiếp vào năm 1986 tại Hoa kỳ, và bán được hơn 25 triệu bản trên toàn cầu. Trong dĩa nhạc này, Saving All My Love for You, How Will I Know Greatest Love of All là những ca-khúc-dĩa-nhỏ-số-1 (number-1 singles) tại Hoa kỳ. Cũng với dĩa nhạc này, vào năm 1999, Whitney Houston nhận được dĩa kim cương với số bán 10 triệu ấn bản và 13 lần dĩa bạch kim do hội Kỹ nghệ Dĩa nhạc Hoa kỳ (Recording Industry Association of America) trao tặng [19].

Whitney là tên dĩa lớn thứ hai của bà, ghi âm vào năm 1987, gặt hái được những thành công tương tự: dẫn đầu bảng sắp hạng tại nhiều quốc gia, được trao tặng nhiều ấn bản bạch kim, với số bán hơn 20 triệu bản toàn thế giới. Ngoài I Wanna Dance with Somebody (Who Loves Me) là ca khúc đứng đầu bảng sắp hạng tại Hoa kỳ, Anh, Đức và Thuỵ sĩ, còn có Didn´t We Almost Have It All, So Emotional, Love Will Save the Day, I Know Him So Well là những ca khúc được yêu thích.

Mùa thu năm 1992 là thời điểm đáng nhớ trong cuộc đời Whitney Houston, khi bà thủ vai nữ chính trong phim Bodyguard (Người bảo vệ) bên cạnh tài tử gạo cội Hồ-ly-vọng Kevin Kostner. Whitney Houston không phải là một diễn viên màn bạc xuất sắc [20]. Tuy nhiên, với I Will Always Love You [21], một trong sáu ca khúc nhạc đệm trong cuốn phim này, bà đã để lại tâm tưởng giới mộ điệu một dấu ấn khó phai. Với ca khúc này, Whitney Houston đã cống hiến xuất thần tài năng âm nhạc. Âm giọng Whitney Houston được đánh giá là giọng nữ trung (mezzo-soprano) có quãng âm ba bát độ (octave) [22], mềm mại truyền cảm ở những nốt thấp và vang dội sắc sảo ở cung bậc cao.

Sau hai dĩa lớn Just Whitney … (2002) One Wish (2003) gồm những ca khúc Giáng sinh có mức tiêu thụ tương đối khiêm tốn, sự nghiệp âm nhạc Whitney Houston bắt đầu mờ nhạt. Vào tháng chín năm 2009, trong chương trình truyền hình của Oprah Winfrey, Whitney Houston thuật lại cặn kẽ những chi tiết về quá trình chữa trị thành công bệnh ghiền ma túy và cuộc hôn nhân đổ vỡ với Bobby Brown (1992-2007).

Dĩa lớn sau cùng của Whitney Houston, I Look to You (2009), mặc dù đạt được nhiều tiếng vang đáng kề: quán quân bảng sắp hạng tại Hoa, kỳ, Canada và nhiều quốc gia Âu châu, cũng như được trao tặng dĩa vàng và dĩa bạch kim với số bán hơn 2 triêu bản, nhưng vẫn không thể so sánh với những thành công trước đó của bà vào thập niên 1990.

Cuối năm 2009, Whitney Houston bắt đầu chuyến lưu diễn toàn cầu lần thứ nhì sau mười năm, trạm đầu tiên tại Mạc-tư-khoa. Các bài phê bình về buổi trình diễn này đều tỏ ý thất vọng về chất giọng của bà, không còn cường độ tuyệt vời của những thập niên trước. Những buổi trình diễn của bà sau đó tạì Đức chỉ đạt mức thành công trung bình. Về phương diện tài chính, chuyến lưu diễn thu nhập khoảng 32 triệu Mỹ kim, nhưng được xem như thất bại về mặt phẩm chất [23].

Sự nghiệp âm nhạc của Whitney Houston gồm 6 dĩa lớn, 1 dĩa nhạc Giáng sinh, 3 dĩa nhạc phim. Bà là một trong những ca sĩ hát nhạc phổ thông có số dĩa được tiêu thụ nhiều nhất từ trước đến nay. Dĩa 45 vòng ca khúc I Will Always Love You của bà là dĩa nhỏ của một nữ ca sĩ có số bán cao nhất trong lịch sử âm nhạc.

Whitney Houston trong ký ức thanh âm của tôi là hình ảnh cô gái da màu xinh xắn, nhảy múa rộn ràng trong đoạn phim nhạc I Wanna Dance with Somebody (Who Loves Me) khoảng năm 1987. Với mái tóc dài xoắn tít nhuộm vàng. Với gương mặt điểm trang như một bức hoạ trẻ con. Bài hát là một khúc hoan ca sống động. Âm giọng cô ca sĩ chưa nhuốm sắc phiền muộn, cảm xúc chưa một lần va chạm với thuốc an thần, với hương khói ma tuý.

Mời quí độc giả nghe lại tiếng hát Whitney Houston qua ca khúc thành công nhất trong sự nghiệp âm nhạc của bà: I Will Always Love You.

 


http://www.nhaccuatui.com/bai-hat/i-will-always-love-you-2000-remaster-whitney-houston.mZFQU7HDNJXA.html

 

 

6. Thái Thanh

«Tôi yêu tiếng nước tôi. Từ khi mới ra đời, người ơi. Mẹ hiền ru những câu xa vời. À à ơi, tiếng ru muôn đời. Tiếng nước tôi, bốn ngàn năm ròng rã buồn vui. Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi…» [24]

Tiếng Việt không phải là ngôn ngữ thông dụng trong thị trường âm nhạc thế giới. Nhưng với sáu thanh giọng khác nhau, tự bản chất tiếng Việt đã thánh thót giai điệu. Tâm tính Việt giàu tình cảm. Người Việt thích làm thơ, hay đàn hát. Tân nhạc Việt tràn ngập những bài tình ca, đặc biệt những chuyện tình trắc trở. Điểm khác biệt của nhạc Việt trữ tình với nhạc Anh, nhạc Pháp, nhạc Tây ban nha, v.v… nằm ở cường độ xướng âm: ca sĩ Việt nỉ non, thỏ thẻ, còn ca sĩ Anh, Pháp, v.v… kêu gào thống thiết. Lý do có lẽ bắt nguồn từ bản sắc. Người Việt tỏ tình, làm tình, và thất tình trong lặng lẽ. Người phương tây, ngược lại.

Ở đây, người viết chỉ bàn về âm nhạc. Và xin được kết thúc bài viết này với một giọng ca hàng đầu của tân nhạc Việt nam: tiếng hát Thái Thanh.

Thái Thanh tên thật Phạm thị Băng Thanh, sinh ngày 5 tháng tám năm 1934 tại Hà nội, trong một gia đình có truyền thống văn nghệ. Chị bà là Phạm thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng (1927-1999), vợ của nhạc sĩ Phạm Duy (1921-2013). Anh bà là Phạm Đình Chương (1929-1991) [25], tức ca sĩ Hoài Bắc. Phạm Đình Viêm là anh cùng cha khác mẹ của bà, có nghệ danh Hoài Trung. Thái Thanh cùng Hoài Bắc và Hoài Trung, là ba giọng ca có mặt từ đầu cho tới lúc tan rã, hợp thành ban Thăng Long, thường ca diễn trong các chương trình Đại nhạc hội vào những thập niên 1950-60 và hằng đêm trong phòng trà ca nhạc Đêm Màu Hồng ở Sài gòn trước 1975.

clip_image002[10]Thái Thanh tự rèn luyện nhạc lý, thanh nhạc và bắt đầu sự nghiệp ca hát từ thời kháng Pháp, ở lứa tuổi 13-14. Năm 1946, sau khi Thái Hằng thành hôn với nhạc sĩ Phạm Duy, bà theo gia đình chị dinh tê về Hà nội, rồi sau đó di cư vào Sài gòn năm 1951. Năm 1956, bà lập gia đình với tài tử điện ảnh Lê Quỳnh. Hai người ly dị vào năm 1965, có với nhau 3 gái 2 trai, trong số đó có ca sĩ Ý Lan là người nối nghiệp mẹ. Sau biến cố 30 tháng tư năm 1975, bà ở lại Sài gòn và định cư sang Hoa kỳ vào năm 1985 [26].

Khoảng giữa thập niên 1950, ký ức của tôi với thanh âm Thái Thanh khởi sự rộn rã bằng những giai điệu của ban hợp ca Thăng Long. Tôi còn nhỏ lắm, thỉnh thoảng anh chị em tôi lại được ba má dẫn đi xem đại nhạc hội hay xem phim có phụ diễn ca nhạc. Tôi phải ngồi trên đùi của ba mới thấy được nghệ sĩ trình diễn trên sân khấu. Tôi còn nhớ, có ban hợp ca gồm hai ông và một bà thường trình diễn những ca khúc vui tươi: Ô Mê Ly (Văn Phụng), Ngựa Phi Đường Xa (Lê Yên), Sáng Rừng (Phạm Đình Chương), v.v… Hai ông, ngoài phần đệm đàn và ca bè cho bà ca sĩ, còn giả tiếng vó ngựa, tiếng chim kêu vượn hú. Bà ca sĩ còn đơn ca Dòng Sông Xanh, nhạc ngoại quốc lời Việt, và Đố Ai, Tình Ca, Bài Ca Sao, được giới thiệu của nhạc sĩ Phạm Duy. Tôi chưa thể hiểu thấu ý từ những bài ca. Từ lực của tiếng hát bà ca sĩ cũng chưa thu hút khối óc tôi còn non nớt. Nhưng những cái tên nghệ sĩ từ từ ghi đậm ký ức tôi: ban hợp ca Thăng Long với Thái Thanh, Hoài Trung và Hoài Bắc.

Tân nhạc Việt nam dần dà phát triển. Thị trường âm nhạc tung ra những dĩa than, rồi chuyển sang dĩa nhựa 45 vòng, và cực thịnh vào những năm cuối thập niên 1960 ở miền Nam, cùng lúc với tin tức chiến sự càng lúc càng sôi động, với kỹ thuật thu âm băng tape, băng cát-sét theo hệ thống âm thanh nổi hai chiều tân kỳ. Ca sĩ tân nhạc Việt nam xuất hiện nườm nượp, ca diễn đủ thể loại âm nhạc. Các danh hiệu sản xuất băng nhạc mọc ra đầy dẫy.

Không như những quốc gia phương tây, hệ thống thương mại của thị trường âm nhạc ở miền Nam Việt nam không minh bạch. Không có tài liệu nào ghi lại những con số thống kê về số lượng tiêu thụ dĩa hoặc băng nhạc. Giữa người hát và nhà sản xuất dĩa và băng nhạc không có một hợp đồng làm việc độc quyền. Ca sĩ được trả tiền cho mỗi bài hát, bao nhiêu là vấn đề thoả thuận giữa họ và nhà sản xuất dĩa hay băng nhạc. Không thấy báo chí đăng tin ca sĩ này ca sĩ nọ được trao tặng dĩa hoặc băng vàng hay bạch kim. Cũng khó, vì thị hiếu của giới thưởng ngoạn Việt nam có vẻ như không mấy ưa chuộng những sản phẩm ghi âm độc nhất một giọng hát. Chỉ một vài tiếng hát được đám đông yêu thích được ghi âm riêng. Cho tiếng hát Thái Thanh trước 1975 thấy có: Thái Thanh: Tiếng hát vượt thời gian (Tơ Vàng 4, 1971), Mười bài đạo ca (1972, nhạc sĩ Phạm Duy thực hiện), Tiếng hát Thái Thanh (Băng nhạc Thanh Thuý 7), Thái Thanh và ban Thăng Long (Mây Hồng 6, nhạc sĩ Y Vân thực hiện), Tiếng hát Thái Thanh (Chương trình nhạc tuyển Selection 1, Hùng Sơn thực hiện), Tiếng hát Thái Thanh và ban hợp ca Thăng Long (Sơn Ca 10, 1975, nhạc sĩ Nguyễn văn Đông thực hiện) [27].

Nhiều năm sau, tôi đi học xa. Những đêm khuya khoắt, cô đơn trong phòng trọ, tôi bật máy cát-sét. Tiếng hát sắc sảo ngôn ngữ Việt của thời hoa niên cất cao. Thái Thanh. Tôi rưng rưng nghe lại tiếng hát bà thổn thức những nhạc khúc quê hương của Phạm Duy: Quê Nghèo, Tình Hoài Hương, Kỷ Niệm, Nương Chiều, Chiều Về Trên Sông, và nhiều bài tình ca đôi lứa khác.

Nhận xét về Thái Thanh, đã có rất nhiều văn nghệ sĩ không tiếc lời ngợi ca và vinh danh tiếng hát bà bằng nhiều cụm từ bóng bẩy, rực rỡ ấn tượng. Theo cố nhạc sĩ Phạm Duy: «Thái Thanh là giọng ca duy nhất hát nổi hai cao độ chạy dài tới 2 bát âm trong nhạc của tôi. Không những thế, cô có giọng hát rất truyền cảm.» [28] Các nhà phê bình âm nhạc nhận định, giọng hát Thái Thanh nằm giữa giọng nữ trung (mezzo-soprano) và giọng nữ cao (soprano) [29], với âm vực rộng và khoẻ, đặc biệt ở những âm giai cao. Bà nắm được kỹ thuật xướng âm và luyến láy dào dạt cảm xúc. Ca khúc nào được bà diễn tả, đều hoá thành tuyệt tác [30]. Có lẽ, theo nhận xét của người viết, âm giọng của bà thiếu một chút "bề dày" để trở nên hoàn hảo.

Sau đây mời quí độc giả thưởng thức tiếng hát Thái Thanh trình bày ca khúc Đường Chiều Lá Rụng, một trong nghìn bài ca của nhạc sĩ Phạm Duy, thu âm trước 1975 cho một chương trình âm nhạc của đài phát thanh Sài gòn, với phần hoà âm của nhạc sĩ Vũ Thành:

 

https://www.youtube.com/watch?v=UIudmbgLmJ4

 

Ca khúc này, theo cảm quan của người viết, là một trong ít ca khúc cách tân về nhạc lẫn lời của âm nhạc thính phòng Việt nam. Giai điệu bán cổ điển cầu kỳ. Ca từ mấp mô, rờn rợn biểu tượng tâm linh:

«Chiều rơi trên đường vắng, có ta rơi giữa chiều.
Hồn ta như vạt nắng, theo làn gió đìu hiu.

Lá vàng êm, lá vàng êm,
Như mũi kim mền sẽ khâu liền, kín khung của tình duyên.
Lá vàng khô, lá vàng khô,
Như nét môi già đã nhăn chờ, lên nẻo đường băng giá.

Chiều tan trên đường tối, có ta như rã rời.
Hồn ta như gò mối, im chờ phút đầu thai.»

 

*

Sở hữu một giọng hát "thiên phú" là điều kiện cần thiết để trở thành ca sĩ. Chưa đủ, còn phải dày công tập luyện. Vẫn chưa đủ, người hát còn phải có được cơ may, sinh ra tại một nơi nói thứ ngôn ngữ thông dụng, để tiếng hát có được cơ hội cất cánh bay xa tám hướng. Tỷ như Whitney Houston "bị" sinh ra nhầm nơi, tại Việt nam chẳng hạn, có lẽ bà đã là một Phương …, một Thái … hay một Lệ … gì đó, hát nhạc boléro hay nhạc Phạm Duy, nhạc Trịnh, chỉ nổi danh trong giới hạn chín mươi triệu thính giả. Hoặc, nếu như Duy Khánh, một trong ít giọng nam cao của tân nhạc Việt nam, "được" ra đời tại Pháp quốc, biết đâu chừng ông đã trở thành một tài năng ngang ngửa Johnny Hallyday?

So với vô vàn tài năng xuất chúng khác trong thị trường âm nhạc thế giới, sáu gương mặt, sáu tiếng hát trong bài viết này chỉ là một con số rất khiêm tốn. Tuy nhiên, nghiệp dĩ mỗi tên tuổi là một định mệnh. Tiền tài và danh vọng, với người này là một ân sủng, với người khác là một bất hạnh. Amy Winehouse qua đời chưa tròn ba mươi tuổi, lúc danh vọng gần như tột đỉnh. Trong bóng tối khiếm thị, Andrea Bocelli thấy ra qua âm nhạc ánh sáng của cuộc sống. Barbra Streisand còn thắp mãi bằng tiếng hát ngàn ngọn nến sưởi ấm những mùa đông âm thanh. Charles Aznavour cám ơn đời bằng những giai điệu Encores ở tuổi chín mươi. Hình bóng và tiếng hát Whitney Houston vẫn rộn ràng ca múa trong ký ức thanh âm tôi. Và Thái Thanh, trong mù sương trí nhớ Alzheimer hiện nay, có lẽ đang cắm cúi tìm nhặt một chiếc lá trên đường chiều.

Nhật mộ của mùa hay của kiếp người?

(Đức, tháng 6. 2015)

 

Chú thích:

[14] Trích đoạn báo Die Zeit Online phỏng vấn Charles Aznavour, 24 tháng tư 2014. (http://www.zeit.de/2014/18/charles-aznavour-tournee)

[15] Tạm dịch: «Tôi mở mắt (chào đời) trong một nhà trọ ảm đạm, đường Monsieur Le Prince tại khu phố La-tinh, trong môi trường của giới ca sĩ và nghệ sĩ, những kẻ có một quá khứ nhưng không có tương lai, những người tuyệt vời với một chút ảo tưởng, nói tiếng Nga và sau đó (là những người) nói tiếng Armenia.»

(Xem thêm: https://www.youtube.com/watch?v=6GSvQgUYnNw)

[16] Tạm dịch: «Mới hôm qua, tôi vừa hai mươi tuổi. Tôi âu yếm thời gian và vui đùa với cuộc sống như người ta bỡn cợt chuyện tình ái. Tôi sống về đêm, không màng đếm những ngày xa dần thời gian. Tôi đã bắt đầu với vô vàn dự tính, còn yên nằm trong cõi không. Tôi đã đánh thức nhiều ước vọng, đã vụt bay. Tôi thấy mình lạc lõng, không biết phải về đâu. Mắt dõi tìm cõi trời cao, nhưng trái tim còn vướng lại đất …»

[17] Trích đoạn ca khúc Non, Je Ne Regrette Rien. Tạm dịch: «Không, hoàn toàn không. Không, tôi chẳng ân hận điều gì. Cả chuyện tốt đã xảy đến với tôi, lẫn chuyện xấu, mọi chuyện với tôi sao cũng được …»

(Nghe thêm: https://www.youtube.com/watch?v=Q3Kvu6Kgp88)

[18] Ca sĩ danh tiếng trong thập niên 1960-70, được biết đến qua những ca khúc: Walk On By, Message to Michael, I Say a Little Prayer, Then Came You, v.v…

[19] http://en.wikipedia.org/wiki/Whitney_Houston_%28album%29

[20] Những phim truyện khác của Whitney Houston: Waiting to Exhale (1995), The Preacher´s Wife (1996), Sparkle (2012).

[21] Bản gốc được nữ danh ca loại nhạc đồng quê (country music) Dolly Parton sáng tác và hát vào năm 1974.

[22] Xem thêm: http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%C3%A3ng_t%C3%A1m

[23] http://en.wikipedia.org/wiki/Whitney_Houston

[24] Tình Ca, 1952, Phạm Duy.

[25] Nhạc sĩ danh tiếng. Một vài ca khúc tiêu biểu của ông: Trường ca Hội Trùng Dương, Mộng Dưới Hoa, Ly Rượu Mừng, Đôi Mắt Người Sơn Tây, Người Đi Qua Đời Tôi, Nửa Hồn Thương Đau, Đêm Nhớ Trăng Sài gòn, v.v…

[26] http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1i_Thanh

[27] n. tr.

[28] http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/tthanh-singer-at-80-08242014071116.html

[29] n. tr. (chú thích 26).

[30] (Nghe thêm Ngày Tạm Biệt, 1960, Lam Phương, http://nhacso.net/nghe-nhac/ngay-tam-biet.X1tSVUtfbw==.html)

bài đã đăng của Ngô Nguyên Dũng


1 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Thái Thanh hát nhạc Phạm Duy nhiều nhất, tuy vậy nhạc bản mà TT hát hay nhất, theo tôi, là “Mùa Thu Không Trở Lại” của Phạm Trọng Cầu. Bản này có đoạn ngắn âm giai lên gần 2 bát độ, từ note si (buồn, này) thấp lên đến note la (lá) cao. Trong giới ca hát, có những trường hợp một ca sĩ giữ độc tôn cho bài hát nào đó lâu dài, không người thay thế. TT và MTKTL nằm trong tường hợp này. Đến hiện tại, chưa nữ ca sĩ nào trình bày MTKTL hay hơn TT. Trường hợp cũng tương tự với Lệ Thanh và nhạc bản “Viễn Du” của Phạm Duy. Bích Chiêu với “Nỗi Lòng” của Nguyễn Văn Khánh. Như Mai và “Đêm Thấy Ta Là Thác Đổ” của TCS.

    Ngày … em đi
    Nghe chơi vơi não nề qua vườn Luxembourg
    Sương rơi che phố mờ buồn này ai có mua?

    Từ … chia ly
    Nghe rơi bao lá vàng ngập giòng nước sông Seine
    Mưa rơi trên phím đàn chừng nào cho tôi quên
    (Mùa Thu Không Trở Lại – Phạm Tọng Cầu)

    https://www.youtube.com/watch?v=amqTlVaYJUo

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)