Trang chính » Câu chuyện Nghệ thuật, Điện Ảnh, Nghệ Thuật, Nhận Định, Tư Liệu Email bài này

Vài nhận xét về Đại hội Điện ảnh Việt Film Fest 2015

 

Đây là lần thứ ba tôi có dịp tham dự Đại hội Điện ảnh Việt Nam Quốc tế do Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ (VAALA) gồm các bạn trẻ thuộc thế hệ từ 1.5 tổ chức. Đây là kỳ đại hội thứ tám của Việt Film Fest, kể từ kỳ đại hội đầu tiên vào năm 2003. Và cũng kể từ năm ngoái, đại hội thay vì hai năm một kỳ đã trở thành thường niên. Và khác với mọi năm, năm nay mọi buổi sinh hoạt và chiếu phim cùng diễn ra tại cùng một địa điểm, đó là rạp UltraLuxe Cinemas tại thành phố Anaheim, Calif., thay vì rải rác tại các địa điểm khác nhau trong Quận Cam, nơi tập trung đông đảo người Việt nhất tại Hoa Kỳ, như mấy kỳ trước.

Cảm giác đầu tiên, như mỗi lần có dịp tham dự các đại hội của giới trẻ Mỹ gốc Việt, là sự tổ chức chu đáo, quy củ, như của bất kỳ đại hội có tính chuyên nghiệp nào tại Mỹ mà tôi đã có dịp tham dự, với sự đóng góp của nhiều tình nguyện viên thuộc thế hệ người Mỹ gốc Việt thứ hai, ra đời và lớn lên tại Mỹ. Nghe vài em tình nguyện trọ trẹ tiếng Việt trả lời những câu hỏi rất thông thường, tôi không khỏi mỉm cười và thường chuyển sang tiếng Anh cho các em được tự nhiên thoải mái.

1_vff2015_poster   2_vff2015_opennite

Trái, bích chương Đại hội Điện ảnh Việt Film Fest 2015. Phải, đêm ra mắt của đại hội, từ trái, đồng giám đốc điều hành Viet Film Fest 2015 Giana Nguyễn Foster và Thuý Võ-Đặng; cô Dina Đinh, đại diện nhà băng Wells Fargo, nhà tài trợ chính của Viet Film Fest 2015; và hai đồng giám đốc nghệ thuật Lê Đình Ysa và Trâm Lê. (Ảnh Trùng Dương)

Tiêu chuẩn tuyển chọn để trình chiếu của VFF là phim do người Việt hay gốc Việt thực hiện, hoặc do người không cùng chủng tộc nhưng khai thác đề tài liên quan đến văn hoá và đời sống Việt ở trong hay ngoài Việt Nam. Tổng số 31 phim (10 phim dài, còn gọi là feature, và 21 phim ngắn đủ thể loại, từ truyện tới ký sự, tài liệu) được trình chiếu, gồm những phim được thực hiện tại Việt Nam, Úc, Canada, Nhật, Brazil và Hoa Kỳ. Tuy nhiên, vì ngay cả những đạo diễn gốc Việt, như Charlie Nguyễn (phim “Fool for Love – Để Mai Tính 2”), Hàm Trần (“Hollow – Đoạt Hồn”), Cường Ngô (“Rise – Hương Ga”), Siu Pham (“Homostratus – Mother’s Room”), và Nguyễn Võ Nghiêm Minh (“Nước 2030”), có phim dài/feature (trên 90 phút) trình chiếu trong đại hội năm nay cũng được thực hiện tại Việt Nam vì những lý do thực tế, trong đó phải kể tới việc làm phim ở Việt Nam ít tốn kém. Vì thế cho nên, trên nguyên tắc, phim của họ trở thành phim phát xuất từ Việt Nam, gồm 18 cuốn (trên tổng số 31), vừa ngắn vừa dài, kể cả hai phim VN đồng sản xuất với một hay vài quốc gia khác.

Do đấy, người tham dự đại hội không khỏi có cảm tưởng là phim từ VN đang… “xâm lấn” Đại hội Điện ảnh của giới trẻ hải ngoại. Đó cũng là quan tâm lúc ban đầu của tôi. Tuy nhiên, niềm quan ngại đó không ở lâu với tôi, lý do tôi sẽ đề cập tới ở những phần sau.

Nhìn chung — trừ phim “Đất Khổ,” do Hà Thúc Cần đạo diễn sản xuất tại Nam Việt Nam từ 1973 nhưng bị kiểm duyệt cấm chiếu vì mầu sắc “phản chiến” của nó, còn khá yếu kém về cả nội dung, cách xây dựng nhân vật và kỹ thuật dàn dựng, nhưng mang một giá trị lịch sử về một giai đoạn và tâm trạng của Miền Nam trước 1975 — còn phần lớn các phim ngắn và dài tại VFF 2015 cho thấy một trình độ kỹ thuật khá chuyên nghiệp, nói lên sự trưởng thành của các nhà làm phim Việt hải ngoại và trong nước. Một số nhà làm phim còn cho thấy khả năng xử dụng ngôn ngữ điện ảnh của họ khá nhuyễn khi họ dùng phần lớn hình ảnh để kể chuyện, với rất ít đối thoại hay lời dẫn (narration).

Một trong những phim có ngôn ngữ điện ảnh mà tôi cho là rất tới, đó là phim ngắn “Mùi,” 23 phút, của Lê Bảo, sản xuất tại Việt Nam. Phim vừa mang tính truyện, vừa phóng sự, mô tả cảnh một cô gái không nhà, đang mang thai sắp tới ngày sinh, sống trong một cái thuyền thúng tại một thôn xóm nhà sàn chen chúc đâu đó quanh vùng Sàigòn, có cái cao tới ba tầng lêu khêu vá víu đắp đụp trên những cột gỗ mong manh, trong một con lạch nước đọng như ao tù, lềnh bềnh những rác rưởi, nói lên một trình trạng nghèo nàn cùng tột, với những con người lam lũ và những cặp mắt nhìn trống rỗng, vô tình đến gần như vô hồn. Kinh hoàng hơn cả là việc mua bán hài nhi của những phụ nữ độc thân bụng mang dạ chửa không nhà, như Mùi, và đây là đề tài chính của phim ngắn này, hầu như được diễn tả hoàn toàn qua ngôn ngữ điện ảnh – hình ảnh.

Những kỳ đại hội của Việt Film Fest nói chung đã cho tôi dịp biết về những mảnh đời Việt Nam đã bám trụ tại hoặc còn trôi nổi ở nhiều quốc gia trên thế giới, hoặc đang lưu đầy ngay tại chính quê hương mình. Những người trẻ Việt đã lớn lên hay sinh ra và trưởng thành tại các quốc gia ngoài Việt Nam đa số đã không còn nói hay đọc và hiểu được tiếng Việt. Qua ngôn ngữ hình ảnh có tính hoàn vũ (universal) của điện ảnh, họ đã diễn tả những suy cảm của họ để những người khác ngôn ngữ hiểu được lòng họ; và cũng qua ngôn ngữ hoàn vũ ấy, họ có dịp hiểu biết thêm về nguồn gốc của mình. Tôi nhớ tới mấy câu thơ của Viên Linh trong tập “Thủy Mộ Quan” xuất bản đầu thập niên 1980 — Sinh ở đâu mà giạt bốn phương / Trăm con cười nói tiếng trăm dòng / Ngày mai nếu trở về quê cũ / Hy vọng ta còn tiếng khóc chung. “Tiếng khóc chung” đối với nhà thơ là chung niềm ưu tư về vận mệnh đất nước dân tộc. Nhưng tôi nghĩ đó cũng chính là ngôn ngữ điện ảnh có khả năng vượt lên trên những tiếng nói và chữ viết khác nhau mà những người trẻ Việt hải ngoại chọn để chuyển đạt tâm tư mình.

Trong bài ngắn này, do một lý do hoàn toàn chủ quan, tôi sẽ điểm phim khai mạc đại hội VFF, “Nước 2030”; phim bế mạc đồng thời là phim được chọn là Phim Truyện Hay Nhất, “Đập Cánh Giữa Không Trung”; và phim ngắn được khán giả chọn là Phim Ngắn Hay Nhất, “Võ Sư Hoá Đi Tìm Mộ – Master Hoa’s Requiem.” Điều đó không có nghĩa là những phim được trình chiếu khác không có giá trị riêng của chúng.

‘Nước 2030’ khai mạc VFF: phim dự đoán tương lai, song cũng phản ảnh cái lạnh lùng, ai-chết-mặc-ai của xã hội Việt Nam đương đại

Đây là phim dài 98 phút, do Nguyễn Võ Nghiêm Minh thực hiện tại Việt Nam. Tôi bị lôì cuốn bởi đề tài của phim này vì hai lý do chính: tôi đã xem và rất thích phim trước đó của Nguyễn Võ Nghiêm Minh, phim “Buffalo Boy – Mùa Len Trâu” (2005). Tôi đã mua một DVD phim này mà sau đó tặng lại cho một thư viện của thành phố nhỏ tôi đang ở hồi ấy để giới thiệu đến họ một nét đặc thù của văn hoá Miền Nam. Tôi cũng đã xem lại phim này trước khi đi xem phim “Nước.” Lý do thứ hai là vì mối quan tâm tới môi trường của tôi, và phim “Nước” lấy bối cảnh dự báo về ảnh hưởng khí hậu biến đổi tới môi trường Miền Nam trong vài thập niên tới.

Hiện tượng khí hậu biến đổi có thể ảnh hưởng tiêu cực tới vùng đồng bằng sông Cửu Long, do đấy đời sống kinh tế của Việt Nam, không phải là chuyện mới mẻ. Vào tháng 9 năm 2013, tạp chí National Geographic xuất bản một số đặc biệt về hiện tượng băng rã, trong đó có một bản đồ interactive, cho thấy, nếu nhân loại cứ thản nhiên tiêu thụ và nhả chất độc carbon vào bầu khí quyển thì, thay vì phải mất 5,000 năm để băng tan hết dâng nước biển lên 216 feet (66 mét), ngập tới nửa người của pho tượng Nữ Thần Tự Do, biểu tượng của Hoa Kỳ và của thành phố New York, thì tình trạng nước biển sẽ dâng cao bao phủ nhiều thành phố ven biển sớm hơn, trong đó có nguyên vùng Saigon của chúng ta.(*) Hiện nay đã có nhiều hòn đảo quốc gia (island states) ở phía nam Thái Bình Dương đang chứng kiến đất nước của họ bị nước biển đe doạ, và đã nhiều năm qua lên tiếng cầu cứu tại Liên Hiệp Quốc.

Cuối năm ngoái, tại cuộc hội thảo quốc tế tại Cần Thơ có chủ đề “Hạ tầng nước và các thách thức trong biến đổi khí hậu,” các chuyên gia đã đưa ra dự báo có tính khẩn cấp hơn: đó là 45% diện tích của vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi sản xuất hơn 50% sản lượng lúa gạo của cả nước, chưa kể những sản phẩm nông nghiệp và hải sản khác, sẽ bị ngập nước mặn vào năm 2030.

Phim “Nước” mở đầu với dự báo về năm 2030 đó. Đạo diễn Nguyễn Võ Nghiêm Minh trong phần giới thiệu cuốn phim được VFF chọn để khai mạc đại hội cho biết, khác với lời giới thiệu trong bản chương trình đại hội, phim “Nước” không phải là một truyện khoa học giả tưởng mà là một phim dự báo (speculation) lồng trong một vụ án mạng và một chuyện tình. Bối cảnh là một Miền Nam ngập dưới nước biển (trừ vùng Saigòn, vì có những cảnh trên đường phố bình thường vào khoảng giữa phim), chỉ có một số nhỏ sống sót, tồn tại bằng việc đánh cá trong một vùng biển cũng đã cạn kiệt, không còn bao nhiêu cá, bên những trang trại nổi của các đại công ty quốc tế lạnh lùng, kín cổng cao tường, canh gác cẩn mật với những máy quay phim canh chừng.

3_RisingSea-Asia_natgeo

Trên, bản đồ interactive map của tạp chí National Geographic cho thấy toàn khu vực Saigon sẽ bị chìm dưới nước biển. Hội nghị quốc tế “Hạ tầng nước và các thách thức trong biến đổi khí hậu,” tháng 11 năm 2014 tại Cần Thơ, dự báo vào năm 2030, 40% khu vực đồng bằng sông Cửu Long có thể bị ngập nước biển không trồng trọt gì được. (Tài liệu National Geographic)

Phim bắt đầu với cảnh nhân vật chính, Sáo, đi nhận xác chồng, một nhân viên mới của một trại nổi bị chết một cách bí mật. Sau khi người em trai chồng trở về thăm mộ anh, đúng ra là một quan tài bằng sắt được chằng cột dưới sàn biển, rồi tới trại nổi mong tìm ra nguyên do cái chết của anh và bị công an bắt đem đi biệt, Sáo quyết định tiếp tục việc làm dở chừng của em chồng. Cô xin và được nhận vào làm việc trong trại nổi. Tại đây, Sáo khám phá ra việc chính của trại là xử dụng kỹ thuật di truyền (genetic engineering) nhằm biến đổi để tạo giống cây mới. Bên cạnh đó, cô khám phá ra viên giám đốc trẻ đồng thời là một khoa học gia, Giang, nguyên là người yêu cũ của cô khi anh ta từ Saigon về nghiên cứu về một loại rong biển có thể sống trong cả ở nước ngọt và mặn. Chính Sáo đã giúp anh tìm ra loại cây này. Sau đó, Giang xuất ngoại tu nghiệp và Sáo mất liên lạc với anh ta. Đồng thời Sáo cũng khám phá chồng của cô bị giết không phải vì ăn vụng rau như người ta gán cho anh, mà vì anh ta đã cất giữ một ống đựng hạt giống quan trọng. Đứng giữa việc làm sáng tỏ cái chết của chồng và việc người yêu cũ có thể là kẻ chủ mưu thanh toán chồng mình, Sáo thấy mình đối diện với một chọn lựa khắc nghiệt.

Vì bối cảnh thời gian của “Nước 2030” là… năm 2030, một chuyện tuy gần mà xa, một thứ viễn tượng, nên khán giả khó thấy mình “nhập” vào được với phim, mặc dù sự dàn dựng công phu, lạ và đẹp, nhiều tính sáng tạo, như nhận xét của chị bạn cùng đi xem phim với tôi. Tôi không khỏi so sánh “Nước” với phim trước đó của Nguyễn Võ Nghiêm Minh, đó là “Mùa Len Trâu,” với cùng một bối cảnh trời nước bao la, như thể đó là mối ám ảnh của người đạo diễn 59 tuổi này. Nếu “Mùa Len Trâu” để lại trong tôi cái cảm giác ấm áp về những nhân vật đầy tình người, biết chuộng chữ tín, mặc dù trong một bối cảnh của đời sống khó khăn, nghiệt ngã; thì “Nước” không cho tôi được cảm giác đó. Mà thay vào đó là một ấn tượng về một xã hội bất công, lạnh lùng, trong đó chỉ một thiểu số những kẻ quyền thế và nhiều móc nối mới có được đời sống đầy đủ, sung túc trên những đau khổ của đám đông.

4_Nuoc2030

Một cảnh trong phim “Nước 2030” khi vùng đồng bằng sông Cửu Long dự báo sẽ bị ngập nước biển do khí hậu biến đổi. (Ảnh www.nuoc2030.com)

Tôi chợt nhận ra: Chẳng phải đó chính là xã hội Việt Nam hiện thời, đây sao? Lạnh lùng, vô cảm trước những mảnh đời nổi trôi trong nghèo túng, bấp bênh, hoang mang, vô vọng. Tưởng tượng nó sẽ còn như thế nào nữa khi 2030 xẩy ra?

Cũng trong bối cảnh về những mảnh đời trôi nổi, vô định ấy là nội dung của phim bế mạc Đại hội Điện ảnh VFF năm nay, phim “Đập cánh giữa không trung – Flapping in the middle of nowhere” của nữ đạo diễn trẻ Nguyễn Hoàng Diệp, đồng sản xuất giữa Việt Nam, Pháp, Na Uy, và Đức.

Bế mạc đại hội, ‘Đập cánh giữa không trung’ mở ra ra một thực tại Việt Nam bấp bênh và một tuổi trẻ lạc lõng

Được VFF chọn là Phim Truyện Hay Nhất của đại hội năm nay, bên cạnh nhiều giải thưởng quốc tế khác, “Đập Cánh Giữa Không Trung” ra đời năm ngoái, dài 99 phút, là phim hiện thực hơn cả… hiện thực. Nếu phải dùng một trạng từ để nhấn mạnh tính chất hiện thực của “Đập cánh,” có lẽ cụm từ “một cách tàn nhẫn,” theo tôi, có vẻ thích hợp hơn cả.

Phim về một cô nữ sinh viên, Huyền, sống trong căn nhà trọ trong khu ổ chuột bên một đường rầy xe điện tới lui rầm rập, ở một Hà Nội mà mặt tiền các căn phố bao phủ đầy quảng cáo. Huyền thấy mình mang thai. Cô không có chọn lựa nào khác là tìm cách phá thai, nhưng không có tiền. Người bạn trai của cô, một thứ vô lại, không nghề nghiệp, cũng tìm mọi cách để kiếm tiền cho cô phá thai, nhưng không xong. Với cái bụng mỗi ngày một lớn, cuối cùng, qua anh bạn thân thường giả gái hành nghề mãi dâm, Huyền được giới thiệu tới một chị tú bà. Chị này giới thiệu cô tới một khách hàng vốn chỉ thích ngủ với phụ nữ có bầu. Lần gặp đầu tiên, người khách chỉ xem phim siêu âm và ngắm bào thai trong phim do Huyền được yêu cầu mang theo, rồi bỏ vào lại phong bì cùng với 200 đô la, hẹn gặp lại Huyền lần khác. Sự ân cần và dịu dàng của người khách làng chơi giầu có này đã cảm kích cô sinh viên khiến Huyền nghĩ tới việc giữ bào thai lại. Sau lần gặp cuối cùng tại ngôi nhà có kiến trúc độc đáo ở Tam Đảo và làm tình lần đầu với khách, Huyền dự tính sẽ nói ý định đó với người khách ở lần gặp tới. Sau đó, lâu không nghe khách gọi, Huyền đi tìm người khách rất lịch thiệp này thì được chị tú bà lạnh lùng cho biết hãy quên anh ta đi. Trong nghề này, không nên để tình cảm len vào, chị tú bà bảo Huyền. Cảnh cuối cho thấy Huyền đứng bên nồi cháo – món ăn Huyền thèm suốt chiều dài mang bầu trong phim — đang sôi trên bếp trên ban công nhà trọ nhìn xuống con hẻm ngổn ngang giây điện ngó ra một con lộ người xe qua lại như mắc cửi.

Cuốn phim có những cảnh ái ân phơi bầy không dấu diếm, cảnh chọi gà hung bạo, cảnh du đãng cắt cổ gà chọi tưới máu vào mặt người bạn trai của Huyền vì anh ta không có tiền trả nợ, cảnh phố Hà Nội ngập người, xe, tiếng động và bảng hiệu quảng cáo, cảnh những cửa tiệm treo bảng nhận làm siêu âm, hút thai và trăm thứ khác. Gây ấn tượng mạnh hơn cả có lẽ là cảnh phá thai sau cánh cửa bỏ ngỏ mà Huyền, do đấy khán giả, có dịp ngó vào: chỉ có cặp chân trần dạng ra trên bàn đẻ của bệnh nhân và người bác sĩ hay y tá trong bộ đồ bệnh viện mầu trắng đeo khẩu trang ngồi gắp những mảnh thai nhi ra khỏi bụng của bệnh nhân, thản nhiên thong thả như người ta lặt sâu ra khỏi rau. Chị bạn ngồi bên tôi phải ôm mặt mấy lần dài theo cuốn phim vì kinh hãi trước những những cảnh bạo lực, mà bạo lực không chỉ qua cảnh máu đổ thịt rơi mà cả ở những cảnh nghèo khó, nhếch nhác, ổ chuột, phá thai, chen chúc để sống còn của người dân Hà Nội vốn đã được mệnh danh là chốn ngàn năm văn vật.

Tuy vậy cũng có những cảnh làm dịu người xem, như cảnh Vịnh Hạ Long, rừng thông trong nắng sớm, cảnh núi Tam Đảo mù sương trong mưa. Hoặc hồn nhiên như cảnh Huyền và người bạn trai đứng trong cái thùng của xe cần cẩu được người bạn, một nhân viên của sở điện lực, nâng lên cao ngang mái nhà hai tầng rồi nghịch ngợm bỏ đi, mặc đôi trẻ trên đó không lối xuống, và chịu trận mưa rào. Bên cạnh đó, sự quan tâm của anh bạn hành nghề mãi dâm đối với cô bạn sinh viên ngây thơ gây nơi người xem cảm giác ấm áp về một tình bạn tận tụy, dễ thương, và đây là, với tôi, một đốm lửa sáng và ấm trong toàn phim. Cho nên khi anh bạn này bị công an ruồng bố, phải bỏ của chạy lấy người đến nhà Huyền tá túc trong chiếc áo thung và quần cộc; đã có lúc tuyệt vọng, khi ngồi trên lan can của sân thượng sát bên đưòng rầy xe điện, đã toan lao mình xuống khi đoàn tầu rầm rập chạy qua gần sát đôi chân đong đưa trong không trung của anh ta, đã khiến tôi thật sự xúc động, thoáng tự hỏi, như thể họ là những nhân vật ngoài đời, rồi đây ai cho Huyền mượn bờ vai để tựa đây.

Tóm lại, kỹ thuật dàn dựng và cấu tạo nhân vật nói lên sự trưởng thành điện ảnh của đạo điễn, mặc dù đây là phim đầu tay của Nguyễn Hoàng Điệp, một người sinh ra và lớn lên tại Hà Nội sau 1975. Được biết “Đập Cánh” đã được Nguyễn Hoàng Điệp ấp ủ trong năm năm, do Vblock Media, một hãng độc lập chuyên về phim nghệ thuật và thử nghiệm do cô và các bạn đồng chí hướng thiết lập, và đồng sản xuất với các cơ quan tài trợ điện ảnh từ Pháp, Na Uy và Đức.

Với tôi, “Đập Cánh” mang trong nó một thông điệp xã hội hùng hồn mà chỉ có một tác phẩm điện ảnh mới đủ kích thước để chuyên chở ra xa, lên cao. Và với tư cách một người thuộc phái nữ, tôi hãnh diện và cả ngạc nhiên trước khả năng chuyên nghiệp và sáng tạo của nữ đạo diễn trẻ Nguyễn Hoàng Điệp, đã được chứng tỏ bằng nhiều giải thưởng quốc tế danh giá. Cái tâm tình gần như một lời kêu cứu chuyên chở trong “Đập Cánh,” đã cho phép tôi không thể không lạc quan về thế hệ trẻ trong nước đang dần ý thức về chỗ đứng của họ. Như những cuộc biểu tình đòi bảo vệ cây xanh ở Hà Nội gần đây do các bạn trẻ khởi xướng, hy vọng đây là một khởi đầu, dù trễ, cho một phong trào đòi bảo về môi trường đã bị phá hoại bởi những chương trình phát triển kinh tế vô tổ chức, vô ý thức do lòng tham hơn là ý muốn cải thiện đời sống của người dân. Bởi vì những người trẻ này sẽ là những người tiếp tục sống trên mảnh đất mà cha ông họ đã tốn bao xương máu để vun sới, phát huy và bảo vệ suốt mấy ngàn năm qua.

5_DapCanh-poster   6_DapCanh-Huyen

Trái, tấm bích nghệ thuật và độc đáo của phim “Đập Cánh Giữa Không Trung” của nữ đạo diễn Nguyễn Hoàng Điệp. Phải, cô sinh viên Huyền, do diễn viên Nguyễn Thùy Anh đóng, ngơ ngác giữa ngã ba cuộc đời, như tuổi trẻ Việt Nam hiện nay. (Nguồn: bazaarvietnam.vn/chan-dung-people/people-news/dao-dien-nguyen-hoang-diep-dap-canh-giua-hoang-mang/)

‘Master Hóa’s Requiem’ về thảm cảnh thuyền nhân: Giải Phim Ngắn Hay Nhất do khán giả chọn

‘Master Hóa’s Requiem – Võ Sư Hoá Đi Tìm Mộ’ do đạo diễn Scott Edwards thực hiện và hội Vietnamese American Heritage Foundation – VAHF tại Austin, Texas sản xuất. Đặc biệt, cuốn phim tài liệu 33 phút này được rút ra từ một phim dài gần hai tiếng, “VietnAmerica,” sẽ ra mắt ngày 17 tháng 5 tại Saigon Performing Art Center, Fountain Valley, Quận Cam, về hành trình đi tìm tự do của người Mỹ gốc Việt nói riêng và của người Việt tị nạn cộng sản nói chung. Bộ phim này là kết quả của công trình 500 Lịch sử Truyền khẩu (oral history) và nhiều chuyến đi nghiên cứu khác của nhà báo Triều Giang Nancy Bùi, hội trưởng VAHF, và các tình nguyện viên. Phim được tài trợ bởi kết quả của những buổi gây quỹ của VAHF tại các cộng đồng của người Việt trên toàn nước Mỹ từ vài năm qua.

Vào năm 1981, Võ sư Nguyễn Tiến Hoá vượt biển cùng với vợ và hai con nhỏ, một trai một gái, và một số người tị nạn khác. Thuyền của ông bị hải tặc tấn công, vợ ông và các phụ nữ trên thuyền bị hiếp, đứa con gái nhỏ bám lấy mẹ bị giựt ra ném xuống biển, thuyền bị nhận chìm và mọi người bị thiệt mạng. Ông Hoá là người duy nhất còn sống sót. Ba-mươi năm sau, ông Hoá trở lại vùng Đông Nam Á lần đầu tiên để đi tìm mộ vợ con, hy vọng qua đó tìm được sự bằng an cho tâm hồn. Phim dùng kỹ thuật tự thuật, thay vì dùng lời dẫn. Vài cảnh gợi tôi nhớ tới phim tài liệu “Daughter from Danang – Người Con Gái từ Đà Nẵng,” như cảnh ở cuối cùng chuyến đi người đàn ông đi tìm mộ ngồi trên giường trong phòng khách sạn sau khi soạn hành lý cho chuyến trở về, mắt nhìn vào máy thu hình nói về nỗi lòng của mình về chuyến đi. Cũng vậy là kỹ thuật tự thuật thay vì lời dẫn.

Trong bối cảnh kỷ niệm 40 năm ngày lịch sử 30 tháng 4, 1975 bi thương này, cuốn phim “Master Hoa’s” đã gợi lại ký ức về những thảm kịch của nhiều người Việt tị nạn thà chấp nhận hiểm nguy trên đường vượt biển còn hơn sống trong chế độ cộng sản độc tài toàn trị phi nhân bản. Phim đã gây xúc động nơi khán giả và đã được họ chọn là phim ngắn hay nhất của Đại hội Điện ảnh VFF 2015. Trước đó, “Master Hoa’s” cũng đã nhận được một số giải quan trọng khác, như Giải Remi Đặc Biệt Của Ban Giám Khảo (Special Jury Remi Award) và giải Phim Hay Nhất Của Tiểu Bang Texas (Crystal Vision Remi Award Best Texas Production) tại Đại hội Điện ảnh WorldFest vừa qua ở Houston.

7_MasterHoa's_poster

Bích chương phim “Master Hoa’s Requiem” (Ảnh VAHF)

Scott Edwards là đạo diễn người Mỹ duy nhất tại đại hội VFF được giải Audience’s Choice for Best Short Film với cuốn phim “Master Hoa’s Requiem.”

“Tôi rất lấy làm vinh dự khi thấy khán giả Viet Film Fest đã liên cảm được với cuốn phim của chúng tôi,” Edwards cho biết qua điện thư. “Câu chuyện của các thuyền nhân gợi chúng ta nhớ tới giá trị của đời sống của mỗi con người. Nó nói lên khát vọng của con người được sống tự do và không chấp nhận sự đàn áp. Chuyện thuyền nhân là chuyện của sự can trường và tôi biết ơn chị Nancy Bùi đã cho tôi dịp tiếp tay với công trình của chị và đã để tôi kế lại câu chuyện này trong chiều hướng mà tôi thấy mình liên kết được.”

[TD, 4/2015]

Chú thích:

(*) If All the Ice Melted, National Geographic, September 2013, http://ngm.nationalgeographic.com/2013/09/rising-seas/if-ice-melted-map

poster

Viet Film Fest, posters 2003 – 2015 (Ảnh TD)

bài đã đăng của Trùng Dương


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch