Trang chính » Biên Khảo, Lý Luận, Quan Điểm, Tôn Giáo Email bài này

Triết Lý Phật Giáo dưới Cái Nhìn của Tôi

 

 

Các hệ thống tôn giáo và nền tín ngưỡng chúng ta có ngày nay là sự tích lũy của các sản phẩm văn hóa và lịch sử. Con người tạo dựng lên những hệ thống tôn giáo và nền tín ngưỡng nầy từ ngàn xưa để đáp ứng với nỗi băn khoăn tâm linh tối trọng của họ, và trong quá trình nầy họ đã trở thành nô lệ của chúng.

Nỗi băn khoăn tâm linh tối trọng của con người là “Nếu sự chết không thể tránh được thì ý nghĩa và mục đích của sự sống là gì?”

Nỗi băn khoăn nầy vẫn chưa và có lẽ sẽ không bao giờ giải tỏa được. Tuy nhiên, kiến thức và môi trường sống của con người đã thay đổi rất nhiều trong vài thế kỷ gần đây; do đó các hệ thống tôn giáo và nền tín ngưỡng xưa cũ trên cũng cần nên thay đổi một cách thích ứng. 

Một trong những triết lý cơ bản của Thích Ca cho rằng “tất cả mọi sự vật đều thay đổi, không có gì trường tồn”. Nếu còn tiếp tục bám víu vào những công thức cổ hủ của Phật giáo mà cho rằng một tôn giáo không bao giờ thay đổi là đi ngược lại với triết lý nầy. Bám víu vào các hệ thống tín ngưỡng là đi lạc hướng ra khỏi con đường Phật pháp.

Chủ trương của Thích Ca là nghi vấn. Trách nhiệm của mỗi Phật tử là nghi vấn và tiếp tục nghi vấn. Nghi vấn ở đây không có nghĩa là “hoang mang không biết làm gì” hay là vì ngu dốt. Nghi vấn ở đây có nghĩa là không chấp nhận vô điều kiện bất cứ điều gì trước khi chất vấn, khảo nghiệm tận tường.

Đây là những sự thật không di dịch, đó là “Mỗi người chúng ta sinh ra một mình và sẽ chết một mình” và “Sự chết chắc chắn sẽ xảy ra bất cứ lúc nào đến bất cứ người nào”. Bám víu vào bất cứ hệ thống tín ngưỡng nào cũng không thể làm thay đổi được các sự thật đó. Nhận thức và chấp nhận được sự thật nầy là điều kiện tối cần thiết của con đường giải thoát.

Đặt niềm tin vô điều kiện vào một hệ thống tín ngưỡng (hay một tăng sư nào đó) là trốn tránh trách nhiệm với chính mình bằng cách ẩn núp sau bức màn che chở của những quan niệm và thành kiến sẵn có.

Một trong những nguyên tắc thiền định cổ điển liên quan đến 3 phần tử: mối tự tin, sự nghi vấn, và lòng dũng cảm. Đó là "Tự tin rằng mỗi người có đủ khả năng và can đảm dùng những mối nghi vấn để tự dẫn họ đến sự tỉnh thức".

Tôi chịu ảnh hưởng ít nhiều bởi triết lý đạo Phật, đồng thời tôi không chấp nhận một số khái niệm cơ bản của cái tôn giáo gọi là Phật Giáo. Thí dụ như tôi xem Phước Nghiệp, Nhân Quả, Luân Hồi, Giải Thoát chỉ là những vấn đề thứ yếu. Tôi không chú trọng vào việc chúng có thật hay không vì theo tôi thì không có bằng chứng thực tế nào cho thấy chúng có thật. Chúng chỉ có thể cung cấp một cách trả lời cho câu hỏi “chuyện gì xảy ra sau khi chết?” Tuy vậy, các câu trả lời loại nầy chỉ làm bế tắc quá trình nghi vấn cần thiết để đưa con người nhận thức được và chấp nhận sự thật.

Tôi cho rằng Thích Ca không phải là một nhân vật có huyền phép gì cả. Sự giác ngộ của ông không đem đến cho ông thần thông hay quyền lực siêu phàm. Khi giảng giải về sự giác ngộ cho các đệ tử, ông chỉ nói về sự tỉnh thức sau khi khám phá ra niềm tự do toàn hảo của trái tim và lý trí khỏi sự tham muốn. Do đó ông cho rằng không những ông mà bất cứ ai khác khi hiểu nhận được sự thật thì cũng có thể đạt đến sự giác ngộ nầy. Do đó ông cho rằng “trong mỗi người đều có Phật tính” và do đó “bất cứ ai cũng có thể trở thành Phật cả”.

Tôi cho rằng sự giác ngộ của Thích Ca đã bị các đệ tử thần thánh hóa bằng cách thêu dệt những chi tiết huyền bí vào mọi lãnh vực của cuộc đời của ông. Họ muốn và cần có một giáo chủ có khả năng cứu độ họ khi họ cầu xin khẩn nguyện. Triết lý và phương cách dẫn đến sự giác ngộ của Thích Ca dần dần được sửa đổi và hệ thống hóa thành cái gọi là Phật Giáo ngày nay.

Khi Phật Giáo càng phát triển với thời gian thì đủ mọi khái niệm huyễn hoặc như Niết Bàn, Địa Ngục, Tây Phương Cực Lạc, ma quỷ, đầu thai, luân hồi, nhân quả, phù phép, thần chú, cứu độ, v.v. được những người xem là thông hiểu Phật pháp pha chế và tạo dựng thêm ra.

Tôi cho rằng thần thánh hóa ý niệm và phương cách giác ngộ của Thích Ca xuất phát từ lòng tham lam và ngu muội của con người. Tham lam mong muốn có một bậc thầy đầy huyền năng, ngu muội tưởng tượng rằng sự sống sẽ tiếp tục vĩnh cửu. Và từ đó, những người tự gọi là Phật tử đã tiêu hủy chiếc cầu chính yếu trên con đường dẫn đến mục tiêu giải thoát tối hậu mà Thích Ca đã chỉ dẫn.

Theo lịch sử, Thích Ca luôn luôn từ chối trả lời các câu hỏi về thế giới siêu nhiên và khẳng định rằng ông chỉ giảng dạy về phương cách nhận diện và đoạn trừ đau khổ. Thích Ca cũng đề xướng rằng “Mỗi người cần phải theo đuổi sự phán đoán của mình cho đến hết khả năng của mình và không chấp nhận điều gì trừ khi nó được biện chứng rõ rệt”. Và “Mỗi người chịu trách nhiệm với chính họ về sự giác ngộ của mình”.

Tôi cho rằng triết lý mà Thích Ca đề xướng mang tính chất “bất khả tri”. “Bất khả tri” ở đây không có nghĩa là “con người không có đủ khả năng để nhận biết hay xác định được sự hiện hữu, hay không, của thượng đế”. Tính chất “bất khả tri” trong triết lý của Thích Ca xác định sự “Tôi không biết” và khuyến khích hành giả luôn luôn chất vấn và khảo nghiệm mọi vấn đề trong mọi lãnh vực của sự sống. Thái độ nầy cho phép hành giả chấp nhận sự hiện diện của những bí ẩn trong vũ trụ đồng thời tập trung để tìm hiểu và tận hưởng cuộc sống trong thực tế hiện tại.

Những triết lý nguyên thủy đề xướng bởi Thích Ca nầy đã bị tiêu hủy đi khi cái gọi là Phật Giáo được thành hình và càng ngày càng hệ thống hóa như chúng ta thấy ngày nay. 

Cái gọi là Phật Giáo hiện nay và những lý thuyết cũng như thực hành trong nền tín ngưỡng nầy là những chòi lá mà Phật tử dừng chân lại trú ẩn giữa đường mưa gió. Những chòi lá nầy êm ấm và tiện nghi đủ để hành giả quên hẳn mục đích của họ và không thấy rằng con đường duy nhất đi đến mục đích đó vẫn còn xa lắm.

Theo tôi thì hành giả cần từ bỏ một phần rất lớn cái hệ thống tín ngưỡng trong Phật Giáo hiện nay.

Theo tôi thì mục tiêu tối hậu của Phật pháp nằm trong Tứ Diệu Đế. Hành giả cần nhận thấy rằng Niết Bàn, Địa Ngục, Tây Phương Cực Lạc, ma quỷ, đầu thai, luân hồi, nhân quả, phù phép, thần chú, cứu độ, v.v. chỉ là những khái niệm huyễn hoặc vô căn cứ và không cần thiết; các phương thức cúng bái, tụng niệm, nghi lễ chỉ là những hình thức rườm rà và vô ích. Chú trọng vào những khái niệm và phương thức nầy chỉ làm phân tâm hành giả trên con đường đi đến mục tiêu tối hậu của họ.

Có người cho rằng từ bỏ tín ngưỡng cũng như từ bỏ chiếc bè trước khi đi đến bờ sông bên kia. Họ cho rằng chiếc bè tín ngưỡng cung cấp một phương tiện cần thiết để những người chưa thấu hiểu Phật Giáo có cơ hội dần dần đi qua bên kia bờ sông. Nếu không thì những người nầy không có khả năng để nhảy liền một bước đến nơi họ cần đến.

Tôi không có vấn đề gì với chiếc bè. Tôi có vấn đề với sự bám víu khư khư vào chiếc bè như là cứu cánh tối hậu. Nếu không chịu, và không dám, buông bỏ chiếc bè đó ra sớm đúng lúc thì hành giả sẽ không bao giờ bước được lên bờ sông bên kia. Đời người rất ngắn ngủi, một ngày không xa nếu không chịu rời bỏ chiếc bè thì hành giả và chiếc bè sẽ trôi theo dòng thời gian ra mất giữa biển khơi.

Thích Ca chú trọng vào hiện tại và cuộc đời hiện có. Tôi cho rằng không có bằng chứng cho thấy cá thể tiếp tục hiện hữu sau khi chết. Những khái niệm như “tu hành để mai sau được vào Tây Phương Cực Lạc” là bỏ phí những gì có sẵn trong tay để ôm ấp ảo tưởng xa vời. Cơ hội bỏ phí nầy sẽ không bao giờ trở lại.

Có người cho rằng nếu không tin vào nghiệp phước, nhân quả thì hành động không còn có ý nghĩa và lý do để xảy ra nữa. Họ cho rằng nếu như vậy thì người ta không còn có lý do để làm việc thiện và việc thiện cũng không còn có ý nghĩa tốt đẹp của nó nữa.

Tôi cho rằng nếu làm việc thiện vì nghĩ đến nghiệp phước, nhân quả thì việc thiện đó không xuất phát từ lòng từ bi mà chỉ xuất phát từ lòng ích kỷ và tham lam. Nếu như vậy thì cái đáng lẽ là việc thiện sẽ không còn có ý nghĩa tốt đẹp nữa.

Có người cho rằng nếu Phật không chủ trương hay không thể cứu nạn, độ trì những đệ tử thành tâm tụng niệm cầu khẩn thì làm sao có thể cho là lòng từ bi của Phật bao la vô tận?

Tôi cho rằng đây là quan niệm ỷ lại của những người không nhận thấy được là họ phải tự có trách nhiệm ở mỗi bước chân trên con đường giải thoát của chính họ.

Có người cho rằng nếu gạt bỏ tất cả những gì trong hệ thống tín ngưỡng của Phật Giáo thì Phật Giáo không còn là Phật Giáo nữa.

Tôi cho rằng Phật Giáo có còn là cái mà chúng ta gọi là Phật Giáo hay không cũng không là điều đáng quan tâm. Điều đáng chú trọng đến là mục tiêu chính của con đường mà Thích Ca đề xướng: nhận thức được sự khổ đau trong đời sống và phương cách để tiêu diệt (hay có lẽ thực tế hơn đối với đại đa số là “làm giảm thiểu”) sự khổ đau nầy. Còn quan tâm đến việc bảo tồn cái tôn giáo gọi là Phật Giáo là còn ôm ấp chiếc bè tạm bợ mà quên mất mục tiêu chính là đi đến bờ tỉnh thức.

Có người cho rằng kiến thức và khả năng suy luận của con người rất giới hạn so với sự bao la của vũ trụ. Theo họ, hoàn toàn đề cao kinh nghiệm thực tế và gạt bỏ đức tin về siêu nhiên là thiên về chủ nghĩa vật chất và kiêu ngạo quá đáng.

Tôi xác định rằng tôi chưa bao giờ gạt bỏ sự khả dĩ của các hiện tượng siêu nhiên. Đó là vì “tôi không biết”, và điều nầy khác hẳn với “tôi phủ nhận tất cả”. Tuy nhiên, theo tôi thì hầu như tất cả những hiện tượng và những khái niệm siêu nhiên đều là sản phẩm tưởng tượng và không quan trọng ngay cả nếu chúng có thật. Đối với tôi thì cho đến khi có bằng chứng thỏa đáng để giải thích các hiện tượng “siêu nhiên” thì chỉ có khả năng nhận thức và suy luận bằng kinh nghiệm và kiến thức thực tế là có giá trị.

Trong khi các tôn giáo dựa vào các quan niệm huyễn hoặc vô căn cứ do họ tưởng tượng ra để khẳng định sự hiện hữu của những gì họ không biết rõ, tôi chỉ cho rằng cho đến khi kiến thức con người có thể chứng minh được các vấn đề nầy thì sự kiện chúng có thật hay không, và thật bao nhiêu, không quan trọng lắm. Những niềm tin trong tín ngưỡng do con người đặt ra bị giới hạn bởi kiến thức nhỏ hẹp của họ so với những bí ẩn bao la của vũ trụ và do đó vô nghĩa lý cũng như vô ích.

Có người cho rằng nếu từ bỏ khái niệm nghiệp phước mà chỉ dựa chuyện thiện ác vào sự nhận thức và trách nhiệm cá nhân thì xã hội có thể thoái hóa vào tình trạng hỗn loạn hay vô trật tự. Theo họ thì người ta phần đông chỉ chú trọng vào quyền lợi của họ, do đó xã hội cần có quy luật đạo đức rõ ràng cho mọi người cùng noi theo và phán quyết những gì là “đúng” hay “sai”.

Tôi hiểu được nỗi lo lắng bên trên. Tuy nhiên tôi cho rằng tôn giáo và tín ngưỡng không phải là những phương pháp đem lại đạo đức hữu hiệu như tín đồ nghĩ, nhất là với thái độ và tư tưởng của đại đa số tín đồ chúng ta thấy ngày nay. Phần lớn người ta thấy sự kiện họ là thành viên của một tôn giáo quan trọng hơn việc tôn giáo đó sẽ đưa họ đến đâu trên con đường tìm sự tỉnh thức. Những câu nói của tín đồ như “tôi sẽ chiến đấu để bảo vệ tôn giáo của tôi với bất cứ giá nào” mỗi khi có người phê phán đến tôn giáo của họ cho thấy quan điểm nầy. Hơn nữa, qua bao nhiêu ngàn năm nay con người lúc nào cũng có đủ loại tôn giáo tràn ngập trong đời sống tuy vậy mức độ “vô đạo đức” và hỗn loạn, vô trật tự trong xã hội nói chung vẫn không hề giảm sút. Tôi do đó cho rằng sự nhận thức thiện ác và trách nhiệm tự nguyện của mỗi cá nhân rất có thể sẽ hữu hiệu hơn nhiều trong phương diện nầy.

Có người cho rằng nếu không tin vào đầu thai, luân hồi thì đời sống ngắn ngủi nầy vô nghĩa quá vì như vậy thì tóm lại “con người chỉ sinh ra để đau khổ rồi chết”.

Tôi cho rằng đó là một cách nhìn của người tiêu cực và hoang phí. Lý luận của những người nầy là lý luận cho rằng nếu một sự kiện không trường tồn mãi mãi thì nó không có giá trị gì cả. Nói như họ thì những mối liên hệ tình cảm với những người thân yêu chung quanh họ, những niềm vui, những nụ cười, những tác phẩm văn hóa nghệ thuật tuyệt vời, những buổi hoàng hôn rực rỡ, v.v. xảy ra trong đời họ đều không có giá trị, không đáng được họ chú tâm tận hưởng chỉ vì chúng rồi sẽ chấm dứt. Nói như họ thì chỉ có một sự sống vĩnh cửu ở Tây Phương Cực Lạc như các kinh sách hứa hẹn mới có thể làm cuộc đời hiện tại của họ có ý nghĩa mà thôi. Theo tôi, đây là một nhân sinh quan đáng thương hại.  

Theo tôi, trong khoảng thời gian giữa sự sinh ra và sự chết, mỗi người có thể chinh phục phần nào được sự đau khổ và sự sợ hãi về cái chết để sống thật sự cho chính mình hơn. Đời sống quả là mong manh và ngắn ngủi nhưng nếu một người cần phải tin có đầu thai và luân hồi để thấy đời sống họ có ý nghĩa thì họ đang không sống trọn vẹn và phí phạm đời sống hiện tại của họ.

Tôi cho rằng sự giác ngộ trên có thể đạt được nếu một người chỉ cần thay đổi cách nhìn để cảm nhận sự tuyệt vời trong cái mong manh và hữu hạn của sự sống.

bài đã đăng của Nguyễn Nhân Trí


7 bình luận »

  • Just Man viết:

    Tôi cho rằng: từ “Phật Giáo” đã là không đúng ngay từ đầu, chỉ là gọi theo thói quen; vả lại, nếu cố giải thích rằng “Phật Giáo” không phải là “Phật Giáo” mà là “Phật Giáo” thì có mấy ai hiểu. (!?)
    Tôi cho rằng: Đức Phật chỉ muốn nói một câu: “Có một con đường – mà mỗi người phải tự tìm ra và TỰ ĐI.”
    Tôi cho rằng: hình ảnh Đức Phật (Phật), những lời giảng của ngài (Pháp), chùa chiền và các nhà tu hành (Tăng) tựa như một cây gậy mà những ai chưa-thấy-đường-/-chưa-tự-đi-được nương dựa vào mà chập chững, hy vọng sẽ đến lúc thấy-đường-bỏ-gậy tự đi. Mà gậy thì có gậy tốt và gậy xấu, gậy an toàn và gậy không chống được, gậy có thể hỏng, gãy… Nên phải chọn đúng gậy.
    Tôi cho rằng: muốn chọn gậy, trước tiên phải có gậy cái đã.
    Tôi cho rằng: tôi thực sự không hiểu tóm-lại-tác-giả-bài-viết-nói-gì; và tác giả viết bài này để làm chi vậy?

  • Ngọc Cường viết:

    Phải có nhiều can đảm mới dám bàn luận về đạo Phật , vì chính ngài, trước khi chết , đã lưu ý chúng sinh “suốt đời , ta không hề nói gì cả…”
    Không thể dùng lý trí thấu hiểu Phật Giáo được .

  • Nguyễn Nhân Trí viết:

    Cám ơn bạn Just Man đã bình luận. Tôi xin có vài lời hồi đáp.

    Trước hết, tôi không “cố giải thích rằng ‘Phật Giáo’ không phải là ‘Phật Giáo’ mà là ‘Phật Giáo’”. Cái tôi cố giải thích trong bài nầy là “tôi nghĩ rằng cái gọi là ‘Phật Giáo’ ngày nay không phải là lý tưởng giải thoát đã được Thích Ca Mâu Ni giảng dạy”. Đúng như bạn nói, “từ ‘Phật Giáo’ đã là không đúng ngay từ đầu, chỉ là gọi theo thói quen”. Chính vì gọi theo thói quen như vậy nên gây ra sự hiểu lầm rằng tất cả những gì được “Phật Giáo” truyền bá và thực hành là đều của Thích Ca.

    Tôi hoàn toàn đồng ý với bạn rằng chủ trương của Thích Ca là “Có một con đường – mà mỗi người phải tự tìm ra và TỰ ĐI”. Tuy nhiên rất nhiều điều truyền bá bởi Phật Giáo ngày nay rất mâu thuẩn với lời dạy trên của Thích Ca. Ngày nay, hầu hết tăng sư ở vô số chùa chiềng đều dạy Phật tử về “cúng dường để cầu phước”, “tụng kinh hồi hướng để độ vong”, “làm lễ cầu siêu để giúp hương hồn siêu thoát”, v.v. Những lý thuyết và thực hành trên đều không phải “tự mình tìm ra và đi con đường của mình” mà là “nhờ vả, đút lót, vay mướn người khác đi giùm con đường của mình cần đi”.

    Tôi cũng đồng ý với bạn về cách so sánh những hình thức trong sự tu hành với cây gậy, và sự cần thiết về “chọn đúng gậy” cũng như sự cần thiết “phải có gậy”. Tuy nhiên, theo tôi thì cần thiết hơn nữa là hành giả ngay trong khi dùng gậy cũng phải nhận thấy được cứu cánh ở cuối đường của mình là gì. Cái mà Phật Giáo ngày nay chú trọng vào chỉ là “gậy” và “gậy”. Ngay cả cái khái niệm về “Tây Phương Cực Lạc” mà họ cho là “mục tiêu tối thượng của sự giải thoát” thì cũng chỉ là một phần của cây gậy đó mà thôi. Theo tôi, cứu cánh tối thượng của Thích Ca là giải thoát khỏi khổ đau (đi kèm với lòng tham lam và ngu muội – tham sân si) trong chính cuộc đời hiện tại chớ không phải những hứa hẹn huyễn hoặc về một Niết Bàn ở một cõi trên nào đó.

    Đó là vài điều tôi muốn nói khi viết bài trên.

  • Nguyễn Nhân Trí viết:

    Cám ơn bạn Ngọc Cường đã góp ý.

    Theo tôi thì lý lẽ “không thể dùng lý trí thấu hiểu XXX được” khi bàn luận về tôn giáo, tín ngưỡng là một cách tự trốn chạy trách nhiệm lý trí của chính mình. Tôi thường xuyên nghe nhiều tín đồ nói câu nầy, họ chỉ cần thay thế chữ “XXX” bằng “Phật Giáo” hay “Thiên Chúa Giáo” hay “Thượng Đế”, v.v. tùy theo trường hợp của họ.

    Lý lẽ trên thường được dùng khi một tín đồ không thể giải thích được thỏa đáng được niềm tín ngưỡng của họ. Trong khi họ dùng phương pháp lý luận, và lý trí, để phán đoán và hành sử tất cả mọi sự việc khác trong tất cả mọi phạm trù khác thì trong phạm trù tôn giáo tín ngưỡng khi họ “bí lối” họ sẽ sẵn sàng gạt bỏ phương pháp lý luận, và lý trí, đó của họ qua một bên. Đó là vì họ muốn, và cần, nắm giữ những niềm tin mà họ cho là “thiêng liêng” với bất cứ giá nào. Khi đứng trước một con đường cụt, thay vì tự đặt nghi vấn về con đường nầy và thử khảo nghiệm về sự khả dĩ của các con đường khác thì họ dùng lý lẽ “không thể dùng lý trí..” để tự cho phép họ ở lại trong con đường cụt quen thuộc và ấm cúng của họ.

  • Just Man viết:

    Gửi bạn Nguyễn Nhân Trí,

    Có những từ ngữ được dùng trong kinh sách chỉ để cố gắng diễn giải, mô tả – sao cho dễ hiểu, dễ cảm nhận nhất có thể – những điều mà những người-bình-thường-chúng-ta chưa “thấy” bao giờ;
    và cũng vì chưa thấy bao giờ nên ta thường phải gán, ép vào những thứ quen thuộc đã thấy, đã biết… và thế là ta đi lạc đường!

    Nếu thích, hãy tìm hiểu và chiêm nghiệm về những điều bạn cho là sai, không cần thiết… Có thể sau cùng bạn thấy là mình đã đúng khi phê phán hoặc có thể bạn sẽ nhận ra là không phải mọi thứ đều như mình nghĩ.
    “Nghi ngờ tất cả…” Đức Phật cũng bảo vậy mà (ngay cả lời dạy của ngài).

    Tôi tin rằng nghiên cứu về Phật giáo là một điều rất thú vị.

    Nói thêm một tí.

    Trong trường trung học có một môn học đầy tham vọng muốn tìm ra chân lý của vạn vật, đó là môn vật lý.
    Và những vật lý gia tầm cỡ mà ta hay nghe nhắc đến Albert Einstein, Stephen Hawking,… cũng dùng những từ ngữ cố gắng diễn giải, mô tả – sao cho dễ hiểu, dễ cảm nhận nhất có thể – những điều mà những người-bình-thường-chúng-ta chưa “thấy” bao giờ;
    và cũng vì chưa thấy bao giờ nên ta thường phải gán, ép vào những thứ quen thuộc đã thấy, đã biết… và tin tôi đi, cuối cùng chúng cũng chẳng dễ hiểu hơn chút nào!

    Nhưng điều thú vị mà tôi muốn chia sẻ thêm là những lý thuyết, thành tựu của ngành vật lý thế kỷ 21 càng ngày càng dẫn ta đến gần với những lời giảng của Đức Phật cách nay 2500 năm.

    Bạn không tin tôi sao? Vâng, hãy nghi ngờ tất cả và tự tìm câu trả lời cho chính mình.

  • Giang Dam viết:

    Tôi thấy là bạn hiểu Phật học và vật lý chưa đủ sâu để thấy dù thấp thoáng cái nhất nguyên của vũ trụ hay là sự tồn tại. Mọi sự phân tích lý giải (đa nguyên) chỉ giúp thấy thấp thoáng cái nhất nguyên(Đạo) ,nhưng nếu coi cái lo gic là tối hậu thì đã tự đóng kín con đường tự chiêm nghiệm nhất nguyên rồi.Ở trên bạn Just Man đã viết cho bạn những điều dễ hiểu. Tôi xin thêm một ý khó hơn :. vũ trụ của chúng ta (không gian và thời gian) đã sinh ra được 13,8 tỉ năm tức là trước đó không có cả không gian và thời gian ,bạn làm thế nào để tiếp nhận tri thức này?
    Vài lời trao đổi mong bạn liễu được nghĩa kinh phật nhất là những kinh liễu nghĩa như Bát nhã hay Kim cương năng đoạn ,v.v.

  • Nguyễn Nhân Trí viết:

    Thưa bạn Giang Dam. Kiến thức tôi về vũ trụ rất giới hạn và về Phật học rất giản dị: tôi chỉ thấy và hiểu những gì hiện hữu chớ không phóng chế ra những thứ không có trước mắt. Xin bạn cho xin một bài phân tích lý giải về cái nhât nguyên cũng như đa nguyên của vũ trụ để tôi có dịp học hỏi them. Rát cám ơn trước.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch