Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

BIẾT GỬI VỀ ĐÂU

Lời đầu truyện: Biết Gửi Về Đâu là một câu chuyện trong đời thực, kẻ viết dựng nên truyện ngắn này. Câu chuyện đời thực được biến thành tro than để đi vào văn chương, quan niệm của Alain Fournier, tác giả kiệt tác Le Grand Meaulnes. Nhân vật nữ của truyện ngắn này hiện sống không khác một nữ hoàng, sở hữu chủ một kho tàng ngọc ngà châu báu của Lesotho (trước năm 1966 là Basutoland), một xứ sở nhỏ bé ở Nam Phi, có núi non trùng điệp bao quanh.

Sài Gòn năm 1971…, lúc ấy tôi rất trẻ, nhưng đã mấy lần đào ngũ từ các đơn vị binh chủng dữ dằn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: Đại Đội Hắc Báo hỗ trợ Sư Đoàn 1 Hỏa Tuyến – Biệt Đội Kỹ Thuật Đặc Biệt trực thuộc Phòng 7 Tổng Tham Mưu… Cuộc sống của tôi những lúc đào ngũ ấy thất thường, có khi khốn đốn. Nhưng tôi có nhiều bạn, nhất là bạn văn nghệ, đời sống hằng ngày của họ dễ dàng, nên việc yểm trợ cho tôi cứ sống vui vẻ như họ cũng chẳng khó khăn. Thêm vào đấy, tôi đã ít nhiều được mang danh, dù là cái danh còm cõi: văn nghệ, thì những ngày tháng đào thoát ấy càng tô điểm cho cuộc sống nhân thân của tôi. Và ấy là tôi có thêm “nét đẹp thảng thốt” mà không chừng có bạn mong muốn tự nhiên được như vậy, trong khi chính các ông cảnh sát, quân cảnh lúc ấy truy bắt những thanh niên trốn lính & đào ngũ đã tạo nên cái “nét đẹp thảng thốt” khác thường đó. Suốt cả tháng trời tôi có mặt cùng bạn bè ở quán cà-phê quen thuộc, đột nhiên tôi biến mất. Cuộc bố ráp ở khu vực này ráo riết quá, hoặc vì tôi đã bị bắt, sau gặp may mắn nào đấy tôi đã sớm ra được khỏi nơi giam giữ hay quân trường… Có lúc bạn bè thấy tôi phong lưu đòi trả tiền ăn sáng, cà-phê cho cả bàn, có lúc tôi thú nhận không tiền ăn dĩa cơm bình dân trưa nay… Cùng ngồi với đám bạn uống cà-phê, chợt thấy bóng dáng chiếc xe Jeep cảnh sát hay quân cảnh, tim tôi đập dội thình thịch, mặt tái nhợt ra. Ngỡ các ông ấy tới xét giấy tờ, nhưng không phải, tôi thở phào nhẹ cả người, mặt bừng lên vui sướng thoát nạn. Tôi lại vung cánh tay quyết liệt hơn để đưa ra một nhận định quan trọng về văn nghệ… Cái “nét đẹp thảng thốt” nó như vậy.

*

Tôi có tiền ăn uống vui chơi hằng ngày là do bằng hữu giúp đỡ, nên khi một người bạn có cái tên hiển hách là Thái Phong Lưu mở quán cà-phê, nhờ tôi tổ chức buổi khai trương cho quán có vẻ văn nghệ, tôi vui vẻ nhận lời ngay tắp lự. Khai trương quán cà-phê bằng một đêm thơ nhạc thì đúng là văn nghệ đứt đuôi con nòng nọc rồi.
Tôi thu hết can đảm, ghé lại cái trường Đại học Văn khoa Sài Gòn tôi chẳng ưa gì, để tìm cô bạn sinh viên có giọng hát thật trong sạch: cô Hồng Tước. Tôi đi tìm những người bạn đang là những nhà thơ rất nổi như cồn bấy giờ: Du Tử Lê, Từ Kế Tường, Nguyễn Tôn Nhan… Tôi còn mời cả được ông-anh-thi-sĩ Viên Linh, một nhà thơ lừng lẫy kiêm nhà văn thứ thiệt, lại đang phụ trách một tờ báo văn nghệ uy tín bậc nhất Sài Gòn, tham gia đêm thơ nhạc…
Đêm thơ nhạc diễn ra thành công vượt cả sự mong đợi của ông bạn Thái Phong Lưu chủ quán, nghĩa là hết mức văn nghệ, còn tôi muốn điên cái đầu vì không quen & không ưa văn nghệ trình diễn. Vậy mà ông chủ quán còn tham lam, kéo bằng được tôi lên bục gỗ, để đọc một bài thơ phải gió nào đấy của chính tôi. Thì tôi đọc, văn nghệ hết mình mà, nhưng dĩ nhiên tôi là diễn viên cuối cùng đấy nhé. “Người cuối cùng là người quan trọng nhứt.” Thái Phong Lưu nói vậy.
Tôi đọc thơ, chỉ ngó vào một cô bé đứng nép ở cửa quán. Cô bé trông quen lắm, tôi thấy nhiều lần rồi, gương mặt hiền hòa xinh xắn, mà thật tội nghiệp: cô bé bị mù. Đôi mắt cô bé là hai viên cẩm thạch màu trắng đục, cô bé đứng im phăng phắc, theo dõi từ đầu chương trình thơ nhạc. Xong cái phần đọc thơ phải gió ấy, tôi đến chỗ ông chủ quán để hỏi về cô bé mù. Thái Phong Lưu trợn mắt, nói như quát tôi:
– Con nhỏ Mỹ Liên sát nhà bên đây bị mù hồi nào? Cặp mắt nó đặc biệt vậy đó.
Té ra tôi lầm. Tôi chưa từng gặp ai có màu mắt như vậy, trừ những người bị mù, lớp màng trắng đục kéo qua con ngươi.
Làm quen với cô bé Mỹ Liên chẳng khó, lúc nào cô bé cũng lảng vảng trước quán cà-phê Phố Lạng của Thái Phong Lưu. Cô bé mang cái tên thật điển hình của cô gái miền Nam. Màu mắt cô thật lạ, như mắt một loài thú hoang, hai viên cẩm thạch có vẽ lên đó đồng tử của con ngươi bằng nét mờ nhạt, chỉ đậm hơn con ngươi một chút, tròn xoe ngơ ngác mà lại bí ẩn. Tôi nghĩ cô bé sẽ kêu tôi bằng “chú” nhưng cô lại kêu tôi bằng “anh.”
– Anh đọc thơ chi mà có mồ mả dzậy?
– Em nghe thấy sợ không?
– Không. Em thích mồ mả chớ. Bữa nào đi học Anh văn ở Hội Việt Mỹ em cũng sang bên nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi tới trưa hung mới dzìa.
Cô bé chỉ ngừng nói một giây, lại tiếp tục:
– Mơi thứ hai nè. Anh tới đó đi. Em dẫn anh dzô nghĩa địa chơi.
Tôi nói tôi sẽ đứng đợi cô bé ở cổng nghĩa địa chứ không vào trường Anh văn Hội Việt Mỹ, ở đấy các cô các cậu đi học túa ra đông như kiến vỡ tổ, khó nhận ra cô bé lắm.
Cô bé gặp tôi ở cổng nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi, hỏi ngay:
– Anh đợi em lâu rồi hả?
Cứ như người yêu hỏi người yêu. Thật ra cô bé còn bé lắm, gương mặt chỉ có sự ngây thơ hồn nhiên mà thôi.
Nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi của Sài Gòn hồi ấy là một nghĩa địa của những gia đình giàu có sang cả quyền thế. Có những lối đi phẳng phiu đẹp đẽ, bóng mát tàng cây, mồ mả xây nguy nga đủ kiểu. Đấy là một thành phố của những người đã chết, đi dạo ở đấy cũng thú vị. Nhưng cô bé Mỹ Liên chỉ thích những cái bình, lọ đủ kiểu đủ cỡ, đựng những cây xương rồng, đủ loại xương rồng, người ta trang trí cúng kiếng ở những ngôi mộ. Mỹ Liên níu tôi lại, bắt tôi chú ý tới chúng:
– Em thích xương rồng kinh khủng. Em có hỏi anh Hai lấy dzìa nhà được hôn, anh Hai biểu đừng lấy. Lấy dzìa tối hồn ma tới đòi đó.
Cứ như vậy, những buổi sáng thứ hai – thứ tư – thứ sáu, tôi đi dạo với cô bé trên những con đường của thành phố những người đã chết.
Tôi biết sẽ tặng món quà gì mừng ngày kỷ niêm sinh nhật của Mỹ Liên. Cô bé từng hỏi tôi:
– Anh sản xuất một bài thơ có được tòa báo trả nhiều tiền?
Tôi nói cho cô bé biết cũng được nhuận bút khá đấy, “nhưng em đừng nói là sản xuất một bài thơ, phải nói là sáng tác một bài thơ.” Nhưng lúc ấy tôi có làm thơ làm thẩn gì đâu để có nhuận bút. Không phải vì thế mà tôi phải đi lấy trộm xương rồng làm quà sinh nhật. Đơn giản là Mỹ Liên rất thích xương rồng, ước có được thật nhiều loại xương rồng, sắp đầy trên cái bàn học rộng mênh mông.

*

Tôi mượn chị tôi cái tráp cổ xưa. Cái tráp khá lớn, dám chứa được mười bình nhỏ xương rồng. Tôi đóng hờ nhiều cây đinh nhỏ trong tráp, và mang theo nhiều sợi thun để chằng giữ những cây xương rồng. Khi đóng tráp lại rồi, bảo đảm những cây xương rồng sẽ không bị sứt mẻ gãy dập gì cả. Buổi trưa, nghĩa địa vắng ngắt, thật chẳng có một bóng ma nào. Ông già giữ cổng đang ngủ trưa; vả lại nghĩa địa rộng ngút ngàn, lấy gì ở đây ông già cũng chẳng biết. Tôi chằng cẩn thận bình xương rồng thứ bảy. Sắp xong rồi. Hình như sau lưng tôi có ai đấy. Tôi chưa kịp quay lại thì tiếng nói đã vang lên:
– Ông bạn lấy mấy cái này làm gì vậy?
Một ngài cảnh sát đáng sợ. Tôi cố bình tĩnh để giải thích:
– Cô em nhỏ của tôi thích xương rồng quá, tôi lấy về làm quà sinh nhật cho cô bé.
Chiếc mũ cảnh sát đội trật về phía sau, gương mặt của người này có cái vẻ giễu cợt hằn học: – Thế mà tôi cứ tưởng ông bạn là nhà nghiên cứu thực vật.
– Không. Không (Tôi hơi líu lưỡi). Tôi là sinh viên Văn Khoa thôi mà.
– Sinh viên à? Ông bạn vui lòng cho tôi xem cái thẻ sinh viên được chứ?
Tất nhiên tôi chỉ có mỗi cái thẻ sinh viên, nhưng từ cái năm học cách đấy đã ba năm; dù sao cũng chỉ có nó để trình ngài cảnh sát.
– Cái thẻ này xưa quá rồi, ông bạn thừa nhận điều đó chứ?
Thật đã đến lúc tôi phải năn nỉ:
– Vâng. Vâng. Nhưng tôi vẫn đang học ở Văn Khoa. Tôi đem lộn cái thẻ sinh viên cũ. Mong ông thông cảm.
– Nếu ông bạn đã dám đem lộn cái giấy tờ quan trọng chứng tỏ mình đang hợp lệ quân dịch, thì ông bạn cũng nên lộn đường về nhà một phen. Thôi, đi theo tôi, nhà siêu hình.
Ngài cảnh sát lại gọi tôi như vậy, vì đã xem cái thẻ sinh viên ghi tôi theo học chứng chỉ Siêu hình. Tôi thật tính toán sai lầm, vào giữa thời khắc cực kỳ vắng lặng này mà xách cái tráp kỳ lạ vào nghĩa địa, đúng là làm mục tiêu theo dõi của các ngài cảnh sát. Chiếc xe Jeep cảnh sát đậu ngay ngoài bờ tường nghĩa địa, có ba ông cảnh sát ngồi trên xe chờ. Một trong ba ông đăm chiêu ngó tôi, vẻ mặt tử tế, hỏi tôi một cách thông cảm:
– Anh là sinh viên à?
Tôi nói với người này:
– Tất nhiên các ông phải giữ tôi vì tôi không có giấy tờ hợp lệ. Nhưng ông nói giúp cho xe vòng qua đường Nguyễn Lâm ở quận Mười, tôi gửi món quà sinh nhật này cho em tôi.
Ông cảnh sát vẻ mặt tử tế nhìn các đồng sự một cách ái ngại. Ông cảnh sát lái xe Jeep nói ngay, giọng ồm ồm:
– Giỡn hoài cha nội. Cảnh sát quận Nhất đâu có rề sang phạm vi hoạt động của cảnh sát quận Mười. Tôi chẳng biết làm gì nói gì nữa, ngó cái tráp cổ xưa mượn của chị tôi, đựng bảy cây xương rồng ở trong đó, càng ngó càng thấy cái tráp kỳ dị.

bài đã đăng của Nguyễn Đạt


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch