Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Hội thảo Văn Học Miền Nam (2014 - USA), Tham luận, Văn Học Miền Nam Việt Nam Email bài này

Khảo Sát Khái Niệm Di Sản, Gia Tài, và Bóng Ma của Mẹ trong Văn Học Miền Nam (qua các tác phẩm của Viên Linh, Dương Nghiễm Mậu, Nhã Ca, Minh Quân, và Trùng Dương)

“Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm nô lệ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của mẹ để lại cho con
Gia tài của mẹ là nước Việt buồn.”

Năm 1965 Trịnh Công Sơn viết ca khúc “Gia Tài Của Mẹ” và gọi cuộc chiến Việt Nam là nội chiến và ví đất nước như một thứ gia tài “buồn” của Mẹ. Trước đó, năm 1963, các nhà văn Viên Linh và Dương Nghiễm Mậu đã viết những tác phẩm với nội dung về di sản hay dự phóng về tương lai của dân tộc qua ẩn dụ về gia tài của Mẹ và qua việc tranh chấp giữa những người con. Phần trình bày của tôi là một cố gắng nhằm tìm hiểu quan điểm về màu da, giới tính, chủng tộc, và giai cấp như một thứ di sản của Miền Nam Việt Nam. Bài viết này là một cách đọc lại Thị Trấn Miền Đông (TTMĐ) của Viên Linh trong ý niệm về Mẹ/ Cái Chết của Mẹ/ Sự Ám Ảnh của Hồn Ma Mẹ/và tất nhiên trong một bao trùm lên tất cả, là cách những người con của dân tộc kế thừa Gia Tài của Mẹ ra sao. Vì chủ đề của bài viết này khởi đi từ việc đọc TTMĐ, những tác phẩm khác đề cập trong bài, tùy theo mức độ nhiêu hay ít, đều nằm trong tương quan đối chiếu với TTMĐ, và những tác phẩm này bao gồm: hai truyện dài Gia Tài Người Mẹ (GTNM) của Dương Nghiễm Mậu và Đêm Nghe Tiếng Đại Bác (ĐNTĐB) của Nhã Ca về các mặt ý thức hệ và định nghĩa về di sản của Mẹ, truyện ngắn “Cuộc Chơi Đã Kết Thúc” (CCĐKT) của Trùng Dương về khái niệm cái Chết của Mẹ, và truyện ngắn “Ăn Chịu Thử Một Lần” (ĂCTML) của Minh Quân cùng với Gia Tài Người Mẹ về quan điểm màu da, giới tính, và chủng tộc trong di sản của Mẹ để lại. Bài viết sẽ tìm cách mở rộng những câu hỏi về căn cước Việt Nam trong cuộc “tranh chấp tương tàn” như Dương Nghiễm Mậu đã nêu ra, câu hỏi về tương lai của đất nước trong bối cảnh hậu thuộc địa và ý thức hệ nội chiến, và dự cảm của Văn Học Miền Nam đứng vào thời điểm năm 1963 khi Viên Linh viết TTMĐ và Dương Nghiễm Mậu viết GTNM.

Trước khi bước vào TTMĐ, tôi định nghĩa sơ lược, theo cách hiểu thông thường, về những khái niệm sẽ dùng trong bài:

Gia tài theo định nghĩa thông thường là một thứ cụ thể, có thể chia chác, là nguyên nhân tranh chấp, ganh ghét, giết chóc. Là thứ có thể sở hữu, chiến đoạt, làm chủ. Là thứ đương nhiên có quyền hưởng trong tư cách là con cái. Là thứ chỉ có thể tận hưởng sau khi Mẹ chết đi.

Mẹ: là nguồn yêu thương, nuôi dưỡng, bảo bọc. Là sự hỗ trợ tinh thần và hy sinh vô điều kiện. Là nguồn kết nối các anh chị em trong gia đình. Mẹ cũng là biểu tượng của quê hương đất nước.

Anh chị em: những người cùng mẹ, cùng lớn lên trong một gia đình, cùng quá khứ và có sự hiểu biết thông cảm dựa trên lịch sử chung, cùng mang niềm tự hào về nguồn gốc sinh trưởng. Những người sẵn sàng lắng nghe và nâng đỡ. Những người chia xẻ niềm tin vào hiện tại cũng như tương lai của gia đình/ dòng tộc.

 

1. Di Sản Giai Cấp và Ý Thức Hệ của những người con Miền Nam trong Thị Trấn Miền Đông

Trong TTMĐ, cái nhìn về Mẹ, anh chị em, quê hương, và gia tài đã khác.

Những người con “không còn muốn nhắc đến người mẹ, đã trở thành một ám ảnh” (77). Mẹ là chỗ nối kết và cũng là nguyên nhân gây chia rẽ trầm trọng giữa các anh em. Mẹ là nguồn gốc của sự thiên vị. Mẹ là sự bất công, nhất là với người con gái bị coi như một thứ “quái thai,” “một con đòi ghẻ lở” (16). Mẹ còn là nguồn gốc xung đột và mâu thuẫn với các con vì “Mẹ chỉ tin cẩn một mình mẹ thôi” (16).

Trong phần “Tác Phẩm Đầu Tay” nhà văn Viên Linh viết: Tạp chí Bách Khoa lúc đó từ chối in tác phẩm này vì “không thể chấp nhận được thái độ của các nhân vật trong truyện.” Thị Trấn Miền Đông được khởi viết tháng 8 và kết thúc tháng 12/1963. Thời điểm này là lúc cuộc tranh đấu của Phật Giáo và sự đàn áp của chế độ đương thời lên tới chỗ quyết liệt nhất.” Đó là thời gian mà bạo động xảy ra hàng ngày, chính quyền gia tăng việc bắt bớ giam cầm những thành phần trí thức, sinh viên yêu nước, biểu tình, đảo chánh, “máu đổ trên đường phố, và cùng lúc với chiến trận lan tràn khắp tỉnh thành, làng xóm.” Để khảo sát về xã hội Việt Nam khi bước vào giai đoạn tăng tốc khốc liệt của cuộc chiến, TTMĐ là một trong những tác phẩm quan trọng trước hết vì tính nghệ thuật trong hình tượng, ngôn ngữ, nhân vật, đối thoại, khí hậu truyện, và sau đó vì những vấn đề tác phẩm đưa ra qua những ẩn dụ quanh việc an táng, cỗ quan tài biến mất, cải táng, cái chết lần thứ hai… Không khí của ngôi nhà, của Tây Phố, của TTMĐ là một không khí đặc thù tỉnh nhỏ – với mưa, lạnh ẩm, buồn nản, hoang vắng thấm vào tâm hồn của người đọc qua cách tác giả tinh lọc và vận dụng ngôn ngữ thi ca vào từng câu từng chữ. Đó là không khí của bóng tối và đồ đạc cổ trong những căn phòng thắp nến dù giữa ban ngày. Đó là những lối đi âm thầm trong tiếng dơi đập cánh cuối ngày và từ cửa sổ nhìn ra sẽ thấy thung lũng Suối Cá Thần hiện ra trong “khoảng xanh âm u tẻ nhạt” (58). Ngôi nhà của gia đình Thịnh Phước đang suy tàn. Cấu trúc gia đình và hình ảnh Người Mẹ là những ẩn dụ để tác giả nói về một đề tài bao trùm hơn, đó là hiện trạng của Miền Nam; thái độ, quan niệm sống, cách hành xử và trách nhiệm của thế hệ đương thời; và sự phân hóa về giai cấp, giới tính,và ý thức hệ trong bối cảnh thời chiến.

Nhìn vào bố cục của tác phẩm, các chương của TTMĐ lần lượt có tên Thế Hệ Cuối Cùng, Nhà Trí Thức, Nhà Cách Mạng, Bản Di chúc, Cỗ Áo Quan, Thi Hài Trở Lại, Người Mẹ, và Thế Hệ Lên Đường. Mở đầu truyện, những người con trở về Tây Phố khi nhận được tin mẹ mất. Họ về để lo ma chay và để nhận gia tài. Người mẹ- bà Thịnh Phước- là một nhân vật có thế lực của Tây Phố. Thế lực này vừa do cơ sở làm ăn, vừa do nguồn gốc phong kiến với chức sắc phong dưới triều hoàng đế Bảo Đại, vừa tồn tại như một biểu tượng của một quá khứ huy hoàng đang đến giờ hấp hối. Thế lực này đang bị lung lay bởi những tranh chấp quyền lực trong Tây Phố mà đại diện là ông Hội Đồng và những phần tử kinh doanh mới. Điều họ mong ước nhất là nhìn thấy sự phá sản của gia đình Thịnh Phước.

Những người con của TTMĐ, mỗi người có một lý do riêng để rời bỏ ngôi nhà của Mẹ. Mỗi người mang một cái tên tiêu biểu cho tính cách và sự nghiệp của họ: Người con cả tên Học- nhà cách mạng, hành tung bí ẩn, tính cách phức tạp, nhiều mặt. Kế là Sĩ- tiêu biểu cho giới trí thức, đi vào con đường kinh doanh chữ nghĩa và ứng cử, nhân vật phản diện của TTMĐ. Hiệp- con út- bất mãn gia đình và bỏ đi làm thợ đập đá ở cao nguyên- một hành động mang tính biểu tượng của thế hệ trẻ: đập phá và mở đường. Và Liên- nhân vật chính, người con gái duy nhất trong nhà và cũng là con riêng của người cha đã mất từ lâu. Liên làm gái giang hồ và cái tên Liên của cô gợi liên tưởng “gần bùn nhưng chẳng hôi tanh mùi bùn.”

Toàn truyện xoay quanh việc an táng mẹ. Những người con Hiệp, Liên, Sĩ lần lượt từng người về nhà, người gia nhân trung thành biến mất, thấy cửa vào nhà đã mở sẵn, trừ căn phòng có ổ khóa bằng đồng đặc. Người này tưởng người kia phải ở nhà và an táng mẹ. Họ dường như không cần biết thi hài mẹ quàn ở đâu, họ bận đấu khẩu với nhau bằng một ngôn ngữ thẳng băng, tàn nhẫn, cố tình gây thương tích. Học anh cả là người cuối cùng xuất hiện cùng lão gia nhân. Đến chương bốn chúng ta biết được lão gia nhân đã quàn thi hài người mẹ trong căn phòng có ổ khóa đồng đặc trước khi bỏ đi tìm Học. Nhưng khi lão gia nhân, người duy nhất giữ chìa khóa, mở cửa phòng thì cỗ quan tài đã biến mất.

Câu chuyện mở ra với âm mưu của ông Hội Đồng và ông Chưởng Khế thông đồng nhau để lấy một phần gia tài vì một trong những điều khoản của di chúc là trong trường hợp những người con vắng mặt thì ai đứng ra lo an táng sẽ được hưởng 1/5 số tiền mặt một triệu rưỡi. Trong lúc gấp rút hành sự trước khi các người con quay về, họ đã chôn bà Thịnh Phước ở thung lũng Suối Cá Thần, ngược với ước muốn chôn ở đỉnh đồi Lương Sơn theo di chúc của bà.

Trong chương kế, những người con bàn xem có nên cải táng mẹ ở đỉnh đồi như tâm nguyện bà vẫn nói lúc còn sống. Tuy nhiên các nhân vật hầu như không làm gì cụ thể cho việc an táng me, họ bận tranh luận và đấu khấu, có bất đồng giữa Sĩ và Liên, có bạo lực xảy ra giữa Sĩ với Liên và Hiệp. Cuối cùng, bị cô lập, Sĩ bỏ đi mang theo tấm chân dung của bà TP. Quan hệ anh chị em giữa họ là để “thanh toán” những di sản quá khứ, không phải để tưởng niệm hay hàn gắn (31). Họ ngồi cùng nhau trong một một sự nhìn lại (nhau) không dễ dàng hay đơn giản (31). Đó là quan hệ trút trách nhiệm cho nhau: người này buộc người kia phải ở lại nhà chăm sóc mẹ. Đó là quan hệ kết án nhau: người này “tưởng” người kia phải trở về sớm nhất để lo ma chay. Đó là quan hệ phủ nhận nhau: Sĩ không nhận Liên là em. Đó là một quan hệ gần đến mức loạn luân khi Sĩ chửi Liên là “đồ điếm” mà không biết rằng ông đã tới tìm Agnes Liễu – tên nghề nghiệp của Liên để mua hoa- và bị Liên từ chối không tiếp. Đó là quan hệ coi nhau như đã chết, hoặc như người lạ mặt: “Tôi chỉ là con nhà Thịnh Phước trên giấy tờ” (22). Còn Liên thì là “Một đứa con mồ côi đối với tất cả mọi người trong gia đình” (21). Anh em họ chấp nhận sự ghẻ lạnh trong liên hệ: “Chúng ta sống theo đời mình. Nên chết không cần ai thương và sống không ai thương được” (35).

Cách nhìn về quê hương đã thay đổi, tùy theo thế hệ:

-Liên nhìn Tây Phố và thấy “những mặt nhà ngô nghê,” “những ruộng muối bằng phẳng từng bậc” về mé biển. Quê hương trong TTMĐ là một “mô hình bằng giấy bìa” tẻ nhạt, một “quê hương không phải nhà ở, không phải cửa hàng, lưng chừng sự nghèo nàn tiều tụy và sự đảm đang muộn màng” (10).

-Quê hương là một thị trấn “xác xơ âm thầm trong những cơn mưa nhạt nhẽo” (Viên Linh 10). Và kiến trúc nổi bật nhất từ trong chuyến xe đò nhìn ra là “đài tử sĩ ở giữa tình nhô cao hơn tất cả” (10). Với đài tử sĩ, quê hương bây giờ mang nặng dấu vết của chiến tranh.

-“Quê hương Tây Phố chúng ta chưa đủ tư cách để đào tạo những gì gọi là nhà nghề, trên lãnh vực nào cũng thế. Nó chưa là một thành phố, nó mới là một thị trấn đang cố thích nghi với đồ dùng nhập cảng” (Viên Linh 42). Quê hương ở đây bị đánh giá trên tiêu chuẩn của chủ nghĩa tiêu thụ và đế quốc. Quê hương đã không còn thuần túy là chính nó khi bị đặt trong bối cảnh thời chiến và những ảnh hưởng ngoại lai. Quê hương là một “thị trấn nhỏ nằm ven Quốc lộ số Một, về mé biển, thuộc miền đông cao nguyên Trung phần” (9). Quê hương là thị trấn miền Đông nhưng sao lại có tên là Tây Phố? Có phải Viên Linh muốn nói đến một thứ “phố Tây” đang hình thành trong tâm thức mỗi người dân thị trấn?

Quê hương trong lần trở về của Liên, người con gái Sài Gòn ăn chơi, gây cảm tưởng buồn bã và xa lạ, “ngôi nhà thời thơ ấu hình như lén lút trong những hàng cây che phủ,” “những tàn cây rậm rạp xum xuê có cái nín thinh của một buổi chiều xa lạ, cái nín thinh của một bóng tối không quen mặt”(13). Quê hương bây giờ đồng nghĩa với một quá khứ buồn tênh và bị bắt buộc phải lặng câm.

Trong bốn nhân vật, chỉ có người anh cả- Học- không chấp nhận việc chặt đứt quá khứ. Học trách móc các em về “cái thứ đánh đĩ chín phương… cái thứ tâm trạng lớn lên ở chỗ khác không quê hương không quá khứ” (40). Ông muốn duy trì, muốn đóng khung, ở Tây Phố, một hình ảnh trang trọng của quá khứ gia đình và dòng tộc. Nhưng Học, ở vị thế một chính khách thường xuyên phải lánh mặt để tránh bị phiền phức với chính quyền, Học đã muốn một điều nằm ngoài khả năng của ông. Con người cách mạng của Học như thế là con người không tưởng. Và cuộc cách mạng ông theo đuổi, trong ám chỉ của Viên Linh, hẳn cũng thế. Những nhân vật tiêu biểu trong xã hội miền Nam được khái quát hóa trong TTMĐ bằng những nét phác mang tính liên tưởng. Người đọc tìm thấy sự bất xứng giữa điều họ theo đuổi, điều họ thừa nhận, và điều họ thực hiện ở thời điểm đó, được phơi bày với dự cảm rất chính xác của nhà văn. Người em kế, một trí thức như cái tên Sĩ của ông, giám đốc các trường tư thục, người dùng chữ “khai thác” cho việc mở trường học, người tìm cách ứng cử để trục lợi, tất nhiên phải chạy theo những cơ may của thời thế. Sĩ là người bỏ đi đầu tiên, tuy xác mẹ chưa tìm thấy lúc đó. Và lý do- như Sĩ đã khẳng định: “mấy trăm ngàn đối với tôi là cái chó gì?”- có lẽ đúng thật. Sĩ ra đi mang theo tấm hình của bà TP, tấm chân dung lộng kiếng đã bị bể sau trận xô sát giữa Sĩ và Hiệp. Đây là một việc làm dường như của “kẻ sĩ”, kẻ thích giữ những chứng tích, giơ cao những biểu tượng, dành những vinh hạnh, và không phải cực nhọc mảy may đào xới và chôn cất. Hiệp là thế hệ trẻ hơn hai mươi năm, chính là thế hệ của tác giả, như chính nhà văn Viên Linh đã xác nhận. Hiệp cũng như Liên, chán chường, già trước tuổi, nghi hoặc mọi giá trị, nhiều tình cảm, và cũng dễ tổn thương, dùng sự thờ ơ hay bất cần đời để tự bảo vệ mình. Bốn anh em, như cách nói của Liên, là bọn lợi dụng (Sĩ), bọn khí tiết (Học), bọn dửng dưng (Hiệp/ trôi theo dòng nước), và bọn thỏa hiệp- Liên nói về chính cô trong tư thế “mắc kẹt” ở lại để lo việc an táng và cáng đáng những công việc lẽ ra phải do những người con trai và con ruột đảm nhiệm: giải quyết gia tài của mẹ. Nhưng rốt cuộc ai sẽ thừa nhận di sản? Di sản đó chia chác ra sao? Đó là một di sản suy tàn, nơi mà người ta chỉ muốn chôn vùi thi thể Mẹ như “vùi đi một tàn tích lỗi thời” (40).

Viên Linh đã lưu ý người đọc về cái “tàn tích lỗi thời” và rất dễ nhận ra đó là một quá khứ gần, nhưng đã thuộc về một giai đoạn lịch sử khác. Tàn tích lỗi thời vào thời điểm năm 1963 ở miền Nam là bóng tối của “100 năm đô hộ giặc Tây” và những di sản hậu thuộc địa mà Dương Nghiễm Mậu đã chất vấn trong GTNM. Tôi sẽ còn quay lại với đoạn kết ly kỳ của TTMĐ ở phần cuối bài thuyết trình này. Nhưng nếu trong TTMĐ người ta có hy vọng vùi lấp đi cái quá khứ buồn thảm ấy thì trong GTNM của Dương Nghiễm Mậu những vết nhơ của quá khứ và lịch sử dân tộc vẫn tồn tại ngay trong tâm thức của anh em một nhà và thể hiện ngay trong quan hệ giữa họ với nhau.

 

 

2. Di Sản Hậu Thuộc Địa

Gia Tài Người Mẹ theo nhận định của nhà phê bình Thụy Khuê :

« Tiểu thuyết Gia tài người Mẹ trình bày cục diện một dân tộc trước những xâu xé đớn đau gây ra bởi chính những đứa con thoát thai trong lòng dân tộc ấy : Một người mẹ trước khi chết gọi tất cả các con ở xa về để trối trăn và chia gia sản. Gia tài người mẹ, của Trịnh, (…)  «là nước Việt buồn ». Gia tài người mẹ, của Mậu, không chỉ là nước Việt buồn, mà là một đất nước trống rỗng, anh em giằng xé, tranh quyền làm chủ. Trong cái gia đình thoái hóa tồi tệ ấy, mỗi người xướng lên một thoại. U già, bà mẹ, và bốn người con : Thạch, Nhược, Nhẫn, và Tuấn, mỗi nhân vật đều xưng tôi, đều kể chuyện nhà dưới cái nhìn chủ quan của mình. Người mẹ, rách nát thể xác và tâm hồn, trải hai đời chồng (cả hai đều tham gia cách mạng nhưng dưới những ngọn cờ khác nhau), với những đứa con riêng, con chung. Người chồng đầu chết trong nhà lao, người chồng thứ nhì trở về thân tàn ma dại, nghiện ngập, yếu đau, bị lính lê dương giết trước khi hãm hiếp vợ, sinh ra đứa con lai là Nhẫn. Đó là hình ảnh bầm tím, khốn cùng của mẹ Việt Nam mà người đọc có thể mập mờ chắp vá lại qua những mảng độc thoại nội tâm, đối thoại với người chết, trách móc, oán hờn, của mỗi nhân vật, gọi là mập mờ chắp vá, bởi không có một sự thật mà có nhiều sự thật khác nhau, tùy theo cách nhìn và cảm quan của mỗi người. Bên giường mẹ hấp hối, lũ con tiếp tục cãi vã, đánh lộn, thậm chí giết nhau, giành giật quyền có lý, phần thắng, quyền sở hữu ngôi nhà dột nát trống trơn không còn gì trừ hận thù và đói khổ. Cái gia tài tàn mạt ấy, còn bị cưỡng bách thông gia với những gia tài khốn khổ hơn của một loạt những dân tộc nhược tiểu khác, cũng bị đô hộ như mình, cũng phải đánh thuê, giết mướn, tạo ra những đứa con vô thừa nhận như Nhẫn » (http://thuykhue.free.fr/stt/d/dnmau01.html)

Trong di sản của « nhược tiểu, đói khổ, kỳ thị, dốt nát » mỗi nhân vật của GTNM đều dành cái quyền được làm người duy nhất đau khổ, hoặc người chịu nhiều đau khổ nhất, quyền làm nạn nhân, để phủ nhận nỗi đau của người khác, để giữ gia tài về phía mình. Họ đau khổ vì dòng máu trong người họ. Các nhân vật sống dưới cái nhìn đầy thiên kiến về màu da, sự tranh chấp của các thứ chủ nghĩa, sự hung bạo của di sản thuộc địa. Gần như Liên của TTMĐ, những người con trai trong GTNM của Dương Nghiễm Mậu bỏ đi vì họ không tìm được chỗ đứng trong lòng ngôi nhà của họ, vì họ mang mặc cảm không phải là người mang trọn vẹn dòng máu “thuần chất” của một cha một mẹ, vì họ là những đứa con cùng mẹ khác cha hoặc cùng cha khác mẹ, hoặc khác cả cha lẫn mẹ. Hoặc vì sự có mặt của những dòng máu không chính thống, hoặc kém chính thống so với họ. Họ bỏ đi vì không thể chấp nhận Nhẫn, một người em gái lai Tây đen, kết quả của một cuộc hãm hiếp và coi cô như một thứ tai ương: “Gánh nặng của tôi chính là đứa cháu mồ côi và đứa em cùng mẹ khác cha này, một đứa em lai đen.” Trong GTNM có một thứ một thứ gia tài khác trong liên quan đến thân phận đất nước, đó là di sản của màu da và giới tính- sản phẩm của chủ nghĩa thuộc địa sau 100 năm thống trị của Pháp ở Việt Nam. Nếu quan hệ mẹ con trong TTMĐ có thể đọc như một ẩn dụ của quyền lực và áp chế trong mọi cấu trúc xã hội, thì trong GTNM với sự có mặt của Nhẫn trong truyện như một “vết nhơ” của lịch sử, quan hệ mẹ con và những nỗ lực thoát ly khỏi gia đình của những người con trở thành biểu tượng của một tinh thần dân tộc muốn phủ nhận quá khứ bị trị và những di sản của chế độ thực dân. Trong cả hai truyện GTNM và TTMĐ, quan hệ mẹ-con là một quan hệ phức tạp, lẫn lộn nhiều thứ tình cảm xung đột- một quan hệ tương tự giữa nước thuộc địa và nước bảo hộ, nước thống trị và nước bị trị, một đế quốc với những quốc gia nhược tiểu rơi vào vòng kiểm soát kinh tế, quân sự, chính trị của đế quốc đó. Đó là xung đột khi mẫu quốc muốn nước thuộc địa là một hình ảnh nối dài của chính nó, và mâu thuẫn khi nước thuộc địa tìm cách thoát ly khỏi ảnh hưởng của mẫu quốc để khẳng định bản sắc và sự độc lập của mình. “Chúng ta sống trong sự bất công của mẹ và chúng ta không thể chịu đựng mãi” (Viên Linh 31). Mâu thuẫn xảy ra khi mỗi người con lớn lên theo một cách riêng và điều đó làm người mẹ đau lòng, “đau lòng một cách chính đáng”, và làm chính họ cực nhọc, “cực nhọc một cách vô lý” (Viên Linh 31).

Dương Nghiễm Mậu đã dùng người mẹ như ẩn dụ về dân tộc qua những lần “kết hôn” với những thể chế khác nhau: chế độ thuộc địa (qua ẩn dụ bị cưỡng hiếp), ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa và lý tưởng tự do của miền Nam (qua ẩn dụ nhiều đời chồng và khuynh hướng chính trị khác biệt của những người con)… Nhưng ngay tại thời điểm 2014 này, GTNM lại đưa ra một chiều kích lịch sử khác. Cuối truyện GTNM là cảnh bóng tối bao trùm và những người con ngồi nghe tiếng chân của những kẻ lạ mặt tiến lại gần. Vào thời điểm đó Dương Nghiễm Mậu muốn ngụ ý những thế lực quốc tế của hai khối cộng sản và thế giới tự do đang tranh giành ảnh hưởng trên phần đất gia tài của Mẹ. Hơn 30 năm sau, chúng ta không thể nào không liên tưởng đến tình trạng đất nước ngày hôm nay với sự có mặt của những kẻ lạ đã hiện diện ngay trên chính quê hương.

 

3. Di Sản của Căn Cước bị Xa Lạ Hóa

Các khái niệm đồng dạng và dị biệt luôn có mặt trong quá trình hình thành căn cước cá nhân và hòa nhập với cộng đồng. Trên một bình diện lớn hơn, hầu hết nhận thức về bản thân của mỗi cá nhân đều hình thành hay ít nhiều ảnh hưởng bởi những quy ước xã hội về sự khác biệt giai cấp, màu da, hay giới tính… Khái niệm “kẻ khác” (Otherness) thường được sử dụng như công cụ khảo sát căn cước xã hội của những nhóm đa số và thiểu số trong ngành xã hội học. Nhóm thiểu số thường bị nhóm đa số- vốn nhiều quyền lực hơn- chi phối, áp chế, coi nhẹ, và bị dán nhãn hiệu chung đồng dạng (chẳng hạn trong xã hội Hoa Kỳ, người da đen bị coi là lười biếng và bạo động, người Á châu luôn luôn cần cù và thụ động). Khi nhóm đa số mặc nhiên coi họ như nhóm nắm giữ tiêu chuẩn chung, những khác biệt (nếu thật sự có) của nhóm thiểu số sẽ trở thành những yếu tố bị coi là xa lạ trong xã hội, và đặt nhóm thiểu số vào vị trí của “kẻ khác” hay “kẻ lạ”. Quá trình tự xa lạ hóa thường xảy ra khi những cá nhân của nhóm thiểu số chấp nhận cách nhìn của xã hội và họ cũng nhìn chính họ như thế (thường là cái nhìn mang tính tiêu cực).

Căn cước cá nhân là một vấn đề dằn vặt những người con trong GTNM và TTMĐ. Một mặt, họ nhìn chính mình bằng đôi mắt thành kiến của xã hội. Mặt khác, cách họ nội soi bản thân lại khác lạ và xung đột với cách xã hội định nghĩa họ. Từ đó xảy ra việc con người trở nên xa lạ với chính mình qua nhiều tầng cấp. Quá trình “xa lạ hóa” xảy ra với tất cả, nhưng nó hiện hình rõ rệt nhất trong những phân loại về giới tính, màu da, và giai cấp. Nhẫn trong GTNM mang trong người tất cả những xung đột mâu thuẫn này. Khi biết mẹ sắp mất, Nhẫn quyết định tự tử trước vì cô không hình dung được đời sống mình sẽ ra sao khi mất mẹ. Vì cô chỉ có mẹ là người thành thực thương yêu mình. Giữa Nhẫn và Mẹ không có phân cách. Để sự hiện hữu của mình mang một chút giá trị chính thống, Nhẫn chỉ có cách duy nhất là nhìn chính mình như “con của Mẹ” và nếu không còn mẹ thì cũng không còn cô nữa. Việc xa lạ với chính cơ thể mình, màu da mình, với nguồn gốc mình, ngay trong gia đình mình, ở trường hợp Nhẫn là di sản nặng nề nhất. Những người con còn lại, trong một mức độ nhẹ hơn, cũng bị vấn đề căn cước cá nhân dằn vặt (Thạch, Tuấn) và họ không thể dàn xếp được xung đột giữa cách họ nhìn chính họ và cách họ bị nhìn nhận dựa trên liên hệ với mẹ và gia đình. Không phải là họ thờ ơ với nhau như các anh em trong TTMĐ, trái lại những người con trong GTNM quá quan tâm tới nhau, quan tâm nhất tới những dòng máu khác biệt chảy trong người nhau. Họ bị rối loạn bởi những yếu tố di truyền, dị biệt, đồng chủng vốn được định nghĩa theo truyền thống. Ai là con cha, ai là con mẹ, ai là con chung của cha và mẹ, và ai chính thống hơn ai? Họ phủ nhận nhau, tìm cách triệt tiêu nhau, là để giải trừ những lo lắng của chính họ về bản thể mình. Họ nhìn nhau như người lạ và nhìn chính mình như kẻ lạ. Nhẫn tự hủy mình vì không thể khẳng định hay chấp nhận chính mình, vì cách cô nhìn chính mình đã bị “lạ hóa’ do thành kiến và kỳ thị của bên ngoài. Nhẫn có thể biết giữa cô và những anh em kia không có gì khác biệt trên căn bản một con người, nhưng cô không thể nói lên đều đó vì ngoại hình và màu da đen của cô. Quá trình “tự xa lạ hóa” đã xảy ra khi cô phải đối mặt với câu hỏi về ranh giới giữa cơ thể mình và những gì còn lại.

Cô tự hỏi, “Lịch sử của họ thế nào? Nhưng vô ích, tôi chẳng thể biết được trên mảnh đất Phi Châu rộng lớn kia bố tôi ở vào vùng nào? Mà có biết chăng nữa thì cũng có ích lợi gì đâu, cần thiết gì đâu. Bố tôi chỉ là một kẻ lạ mặt không tên, không hình dáng, không tiếng nói, không hơi thở, chắc đó là một kẻ da đen khốn cùng nô lệ trong một đời sống nhiều đê nhục khốn khổ, và bố tôi cùng những người đồng loại không phải là những người đi chinh phục, chiếm đóng mà chỉ là những người nô lệ, bị trí dưới quyền uy sức mạnh của người da trắng, như chính quê mẹ tôi trước kia.”

Luôn luôn, cùng với di sản màu da là sự xuống cấp trong bậc thang xã hội, của “một kẻ da đen khốn cùng nô lệ” và một chủ nhân da trắng với sức mạnh quân sự, kinh tế, và văn hóa. Với cái nhìn thấu suốt lịch sử chế độ thuộc địa, điều Dương Nghiễm Mậu viết ra vào thời điểm 1963 vẫn còn đúng trong thế kỷ này. Di sản hậu thuộc địa là một đòn giáng nặng nề. Cho đến bây giờ, những quốc gia Phi Châu, châu Mỹ Latin, nói chung là thế giới thứ ba như Haiti, và Việt Nam, vẫn chưa thể nào hồi phục. Trong “Ăn Chịu Thử Một Lần” (ĂCTML) của Minh Quân, bé Tâm, lai Mỹ đen, mồ côi mẹ, bảy tuổi, làm con ở không công cho gia đình cậu. Tâm bị bỏ đói, bị ngược đãi, bị mắng chửi, bị hành hạ đánh đập. Tâm ở vị trí hạng bét trong nhà, thấp hơn cả u già, cả chị bếp, vì màu da của nó. Khi khách đến chơi Tâm không có quyền bưng nước trà lên nhà trên mời. Tâm là một vết nhơ cần phải chối bỏ. Trong GTNM, Thạch xấu hổ với bạn bè nên đã nói Nhẫn em gái mình là người ở trong gia đình. Trong trường hợp Nhẫn và Tâm, máu mủ ruột thịt đã bị lạ hóa bởi di sản hậu thuộc địa và chủ nghĩa đế quốc, đến mức máu mủ gia đình không bằng người dưng nước lã trong những giai cấp thấp hơn. Trong GTNM, việc lạ hóa với bản thân là kết quả của một quá trình lạ hóa đến từ các thế lực quốc tế bên ngoài. Trong dự cảm của tác giả Dương Nghiễm Mậu, việc lạ hóa này đi xa hơn khuôn khổ hai mươi năm Văn Học Miền Nam 1954-1975. Nó đi theo dân tộc Việt Nam cho đến tận giờ này, trong tình hình kinh tế, chính, trị, xã hội, văn hóa bị những ảnh hưởng ngoại lai xâm nhập. Tính chính thống độc quyền của văn học trong nước, việc dịch thuật thoải mái những tác phẩm văn học thế giới (một điều nên làm), và sự tiếp tục phủ nhận nền văn học miền Nam 1954-75, tất cả lả những bằng chứng cho việc lạ hóa trong tương tác giữa chủ nghĩa dân tộc độc quyền, ý thức hệ, và các thế lực toàn cầu.

Quá trình lạ hóa xảy ra khi con người đánh mất hay bị tước đoạt quyền làm chủ không gian và chỗ đứng của mình. Những nhân vật của Viên Linh, Dương Nghiễm Mậu, Minh Quân, và Trùng Dương đều là kẻ lạ trên quê hương bị chiến tranh tàn phá. Trong TTMĐ, Liên làm điếm, xuất hiện ngay đầu truyện với “nụ cười kiêu hãnh làm mặt lạ” với nơi mình sinh trưởng (Viên Linh 12). Trong”Cuộc Chơi Đã Kết Thúc”, Bích của Trùng Dương muốn sống như kẻ xa lạ của Albert Camus. Tuấn của DNM trong cơn hoang tưởng đã cầm dao giết người và khi tỉnh lại anh nhận ra người bị giết chính là mình, mình đã giết chính mình. Còn những người con của TTMĐ- khi trở về Tây Phố- nhận ra họ mới chính là người lạ mặt ở ngay trong lòng quê hương, là người lạ ngay trong ngôi nhà của Mẹ bởi họ trở về như khách mời trước mắt dân Tây phố, họ về theo thư mời của ông Chưởng Khế, và năm lần bảy lượt nhân viên của Hội Đồng Tỉnh đến nhà triệu họ ra trụ sở bàn chuyện. Ở TTMĐ, Học người anh cả muốn giữ nguyên căn nhà, muốn là người cuối cùng ở lại, muốn duy trì những giá trị truyền thống. Ở Học là một thứ quyền uy gia trưởng lỗi thời, là dạng ra mệnh lệnh, dùng lý tưởng áp đặt lên người khác, nhưng lại phủi tay khi cần bảo vệ tính mạng. Ở Học, hành động và lời nói không đi với nhau, ước muốn và thực tế xa lạ với nhau. Ở Học nhà cách mạng, cái sứ mạng xã hội mà ông theo đuổi đã góp phần vào sự xa lạ giữa Học và những giá trị gia đình/quê hương/quá khứ của ông. Trong cả GTNM lẫn TTMĐ, giới tính nữ đã bị lạ hóa trong môi trường gia đình toàn những người con trai. Liên- khi mất khẩu súng về tay Học- cô trở thành người bị tước mất quyền lực, một điển hình của việc quay lại tôn ti trật ti trong chế độ phụ hệ gia trưởng. Trong TTMĐ, phần gia tài của mẹ mà Liên được hưởng là một trăm ngàn đồng, bằng phần tiền của lão gia nhân. Giới tính nữ luôn bị đẩy về phía phải khuất phục, chịu đựng, thiệt thòi, ngay cả khi người mẹ bị hiếp dâm thì xã hội lại quay trở lại hành tội chính nạn nhân (GTNM). Giới tính nữ bị phân biệt đối xử nhất khi họ rơi vào những thân phận bất hạnh bên lề. Khi hiện hữu của họ bị coi là phản quy ước, không đồng bộ, thì sự trừng phạt xảy ra, nói chung, vì họ khác mọi người, vì họ là họ trong thế yếu. Sự trùng hợp ở đây là những nhân vật này đều mang giới tính nữ, đều ở vị trí không chính thống, như con ghẻ, hay con mồ côi, và/hay con lai da đen, con bị từ khước, và trùng với đáp án rằng giới tính nữ là một yếu tố xa lạ, cũng như yếu tố chủng tộc/ màu da, và giai cấp đã nói ở trên. Khi chúng ta nhìn nhau khác đi, thì cùng lúc chúng ta đã đánh mất chính mình trong quá trình bị xa lạ hóa. Trường hợp này đã xảy ra cho những người anh em của Liên, của Nhẫn, khi họ nhìn vào ruột thịt mà chỉ thấy giai cấp, thấy màu da, thấy sự nhục nhã của giới tính nữ (nghề nghiệp của Liên, vị trí con ghẻ của Liên). Tôi liên tưởng đến câu nói của Carlos Fuentes trong The Burried Mirror: “Con người và văn hóa của họ sẽ hư hoại trong sự cô lập, nhưng họ sẽ sinh trưởng hay tái sinh thông qua giao tiếp với những con người trong những văn hóa khác, nguyên lý khác, chủng tộc khác. Nếu chúng ta không nhận thấy nơi người khác tính nhân bản của mình, hẳn chúng ta sẽ không tìm thấy sự nhân bản trong chính chúng ta.”

 

4. Định Nghĩa lại Gia Tài

Đêm Nghe Tiếng Đại Bác (ĐNTĐB) của Nhã Ca là một thể hiện của việc nhìn thấy chính mình trong người khác, cách thức hữu hiệu để tìm ra sự nhân bản trong mọi quan hệ. Như Nguyễn Mạnh Côn đã viết trong phần mở đầu, quan hệ anh chị em và cha mẹ-con cái ở đây thật lý tưởng, tất cả đều quan tâm và yêu thương nhau. Gia đình ở đây là một đơn vị đúng nghĩa:

“Tiếng đại bác trong đêm gợi ý chiến tranh, mà tôi nghĩ đến chiến tranh rất ít. Phan đi lính. Phan chết trận. Nghĩa đi lính. Nghĩa mất tích. Bữa chả giò để mừng Phan nhưng cũng để tiễn Hoàng đi Thủ Đức. Không kể Mẫn, Đông, Đảo… rất nhiều truyện lính tráng và tiếng đại bác trong đêm. Nhưng trong khi đọc, và sau khi đọc xong tác phẩm của Nhã, cái mà người ta nhớ nhất, mà người ta thương yêu hay ao ước hơn cả, là gia đình. Ông bố, bà mẹ, Phượng, Quyên, Kim, Hoàng – với cả Phan, Nghĩa và Mẫn – mỗi người đã giữ đúng vai trò của mình. Vai trò bà mẹ cố nhiên có phần trội hơn vai trò của ông bố, cũng như Phan tuy vắng mặt mà "hiện hữu" hơn Hoàng, nhưng tất cả những vai trò ấy không riêng lẻ, không cô đơn, kể cả Mẫn ra đi thật buồn. Tất cả họp lại thành một gia đình, cùng một số người thân, đang chịu đựng chiến tranh. Sự chịu đựng không nói thành lời ấy dai dẳng, mà cái chết tàn nhẫn của Phan không cắt đứt được: Phan chết, đã có Hoàng thay thế. Sự chịu đựng tiếp tục. Chịu đựng như thế có phải đâu là tiêu cực.

Con người bằng cách tụ họp thành những đơn vị lớn hơn, đang chống trả thắng lợi với ý chí tiêu diệt của chiến tranh – ngoại cảnh.

Những nhân vật của ĐNTĐB nhìn họ như một phần tử của gia đình, họ nhìn chính mình qua tương quan với nhau, một tương quan hòa hợp, khác với TTMĐ hay GTNM. Có thể cho rằng khác biệt này một phần đến từ giới tính của người viết, hay đúng hơn là vai trò gia đình/xã hội mà giới tính nữ đảm nhiệm đã ăn vào tâm thức và thể hiện qua trang viết. Nhã Ca nhìn chiến tranh từ góc độ người phụ nữ, người mẹ, người em, người tình trong vai trò nuôi dưỡng, chăm sóc, đan áo, thêu khăn, nấu nướng, đi ủy lạo những người cô quả…, những công việc thiết yếu cho đời sống nhưng nam giới không khả năng hay không muốn thực hiện. Giai cấp trong ĐNTĐB hầu như chỉ có lính và không-lính, thể hiện qua việc nhân vật Quyên nhìn về lính trước và sau khi anh Phan của cô nhập ngũ. Giới tính trong ĐNTĐB thể hiện qua hình ảnh một bữa tiệc do những người phụ nữ chuẩn bị để những người đàn ông của ông thụ hưởng. Di sản của Mẹ trong ĐNTĐB nói chung mang tính thuần chất. Trừ câu chuyện một người tên Vạn- lai Mỹ đen- quay trở lại đốt ngôi chùa nơi mẹ mình tu hành (một bằng chứng nữa về cái nhìn màu da/ chủng tộc trong di sản chiến tranh) thì gia tài trong ĐNTĐB không để chia năm xẻ bảy mà để cùng chung hưởng. Đó không là một gia tài để dành dật mà là một gia tài cần có mọi thành viên. Tiêu biểu là bữa tiệc chả giò của Mẹ dời từ tuần này sang tuần khác để đợi Phan và Nghĩa. Gia tài của Mẹ ở đây không là vật chất mà là tinh thần, sự nuôi dưỡng, và bồi đắp.

Như vậy để định nghĩa lại gia tài, có phải đó là một sự mồ côi cả về tinh thần lẫn vật chất như trong ĂCMLT của Minh Quân? Đó có phải là sự tranh giành và khẳng định tính chính thống trong GTNM của Dương Nghiễm Mậu? Hay đó là một bữa tiệc mà nhân vật được mời không xuất hiện như trong ĐNTĐB của Nhã Ca? Và vắng một người là vắng tất cả, và không thể nào có sự loại trừ nhau, phủ nhận nhau, mà mỗi người chúng ta còn giữ nguyên vẹn di sản của chính mình?

Truyện ngắn “Cuộc Chơi Đã Kết Thúc” của Trùng Dương đưa ra một cách nhìn siêu hình hơn về gia tài của Mẹ. Nhân vật chính trong ngôi thứ nhất là Bích, một phóng viên, một người có cá tính độc lập, không muốn sống theo quy ước chung của xã hội (con gái đến tuổi phải có người yêu, lập gia đình, có con cái…). Tuy vậy để làm vui lòng người cha đang hấp hối, cô đã nhờ một anh bạn thân đồng nghiệp đóng vai người yêu đến trình diện người cha trước khi ông qua đời. Truyện viết vào mùa xuân 1975 với bóng dáng của cuộc chiến được nhắc đến thoáng qua. Hãy nghe tác giả Trùng Dương nói về bối cảnh ra đời của truyện CCĐKT:

“…Viên Linh muốn có bài của tôi đăng trên Thời Tập Mùa Xuân 1975 mà tôi thì từ ngày nhảy ra làm tờ ST ngất ngư với những thăng trầm của nó, có sáng tác được gì đâu. Đã gần ngày phải giao bài, một bữa ngồi tại tòa soạn, ngắm ký giả Hùng Phong đầu hói, nhỏ bé, vui tính và nữ văn sữ kiêm ký giả Thục Viên mà tôi rất mến, có dáng cao lớn, tính tình ngay thực bốp chát – tôi viết xong cái truyện nội một buổi sáng, đọc phớt qua, rồi nhờ người mang lại tòa soạn TT.

Hùng Phong và Thục Viên quen biết nhau rất sơ sài qua tình đồng nghiệp nhưng tôi cho hai người đó là bạn thân trong truyện. Đó là câu chuyện về một nữ ký giả không lấy gì làm nổi lắm, nhưng độc lập, có người cha vì tính tình quá ngay thực nên suốt đời chỉ gặp toàn những đổ vỡ, thất bại, và một bà chị góa chịu đựng, làm chủ một tiệm bán hoa giả. Câu chuyện xoay chung quanh cái chết dần mòn của người cha vào một dịp cuối năm khi tất cả mọi người đều vội vã như thể cái Tết có khả năng ‘ngắt thời gian ra làm hai và khiến cho ai nấy vội vã như thể ngày mai sẽ không bao giờ đến nữa.’

Tôi muốn nói về cái cuộc chiến tuy không được đề cập đến trong truyện nhưng ẩn hiện qua từng nhân vật: người cha đại diện cho thế hệ gồm những hư sự chỉ vì thực thà, cả tin; người con gái lớn đại diện cho cái thế hệ chịu đựng của những người đàn bà thời chiến, người con gái thứ hai tức người nữ ký giả đại diên cho cái thế hệ đang lớn, bơ vơ, xa lạ, nửa muốn phá phách, nổi loạn, nửa muốn cười dài trong quên lãng dửng dưng.”

(“Thạch Trung Giả, Một Cái Hẹn Không Bao Giờ Còn Được Thực Hiện”)

Người mẹ của Bích đã qua đời nhưng bà xuất hiện trong truyện bằng sự vắng mặt của mình. Qua cách kể thoáng qua về mẹ, nhân vật Bích nói một cách gián tiếp sự mất mát mẹ của cô, và vì vậy, chính đời sống của cô, phản chiếu qua sự mất mát đó. Bích có nhiều cơ hội để cặp bồ hoặc lấy chồng nhưng cô đã “bỏ qua”- một sự bỏ qua với chủ định sống theo kiểu “người-khách-lạ”. Chị của Bích đã tiếc khi Bích vì “lười biếng” đã lỡ một cơ hội lấy một phóng viên ngoại quốc.

“Riêng tôi, tôi khoái tỉ với trò chơi làm-người-khách-lạ kiểu Camus trong cuộc sống. Và trong thâm tâm thì tại tôi… lười, lười đủ thứ, lười cả yêu đương cả chồng con. Tôi vốn tuổi Mèo và tôi cũng yêu giống Mèo lắm, coi nó như một nhà hiền triết. Ở phòng ngủ của tôi, tôi có treo một tấm hình con mèo ngồi lơ mơ trên một bức tường đổ lỗ mỗ những vết đạn vào một buổi trưa, tấm hình được phóng lớn do một nhiếp ảnh viên ngoại quốc chụp và tặng tôi (hồi đó nếu tôi không lười viết thơ cho anh ta, nếu tôi không lười lo giấy tờ xuất ngoại thì tôi đã là vợ anh ta rồi. Bà chị tôi nhắc hoài về chuyện đó, cho rằng tôi đã bỏ lỡ một cơ hội tốt vì bà cho rằng đàn bà Việt lấy chồng ngoại quốc là tiên).”

Bích không có một kiểu mẫu người Mẹ để chống đối như trường hợp Liên trong TTMĐ hoặc để làm thần tượng như Nhẫn trong GTNM. Vì thế cách cô suy nghĩ/ nhìn/ soi rọi về bản thân mang tính độc lập và thể hiện ý thức tự chủ một cách tự nhiên, trong đó có việc tự chăm sóc đời sống tinh thần và trí tuệ của mình. Việc không có mẹ trở nên tích cực khi Bích có thể thành “mẹ của chính mình” qua hành động tự chăm sóc mình. Việc “lười cả yêu đương cả chồng con” chính là thái độ cô chọn lựa để sống như một nhà hiền triết, hoặc một kẻ xa lạ, nghịch với các quy ước xã hội. Từ chối không thuộc về một người đàn ông nào là hành động khẳng định quyền sở hữu bản thân. Từ chối không lấy một người chồng ngoại quốc là một thái độ, của Bích, để thách thức những quyền lực áp chế của chủ nghĩa đế quốc Mỹ đang bành trướng, và để giải trừ những di sản hậu thuộc địa như trong trường hợp Nhẫn, người con gái lai tây đen, trong GTNM.

Trong liên kết với khái niệm Mẹ, mà Bích không có mẹ, tôi chú ý đến chi tiết Bích giả bộ nói chuyện với hồn ma của mẹ. Mỗi lần Bích nói chuyện với hồn ma của mẹ hay người anh rể chết trong trận Hạ Lào năm 1970 thì cô moi được tiền của người chị có cửa tiệm bán hoa giả. Có nhiều thứ giả trong truyện: hoa giả và vị hôn phu giả, cuộc trò chuyện giả với người chết, và hồn ma (người mẹ/ người lính) cũng là giả nốt. Nhưng số tiền cô lấy được từ người chị thì có thật. Và đó có thể là một thứ gia tài của mẹ để lại cho Bích. Một gia tài trừu tượng, phi vật thể, như bóng ma của mẹ, như ám ảnh của cuộc chiến, như sự quái dị của một “cuộc chơi đã kết thúc” mà tác hại của nó vẫn còn đó hoặc biến dạng đi, ghê gớm hơn, hung hãn hơn.

Truyện chấm dứt trong nghĩa trang ngày 30 Tết, đám tang cha Bích diễn ra vội vã để mọi người còn về nhà ăn Tết:

“Mọi người đã ra về và Hồ Vân tần ngần đứng cạnh tôi dường như cũng muốn chuồn nhưng không nỡ bỏ tôi một mình. Tôi bỗng cảm thấy không muốn anh ta bỏ tôi. Tôi níu tay anh ta ngồi xuống một nấm mộ cũ làm anh ta như ngồi phải một đống lửa. Cuối cùng, anh ta bảo tôi:

Thôi, về đi, má.
Tôi nói thành thực:

Ngồi nghỉ một lát đã. Anh đâu thể bỏ tôi một mình.

Ý! bộ má nói thiệt đó hả?

Thiệt thì sao?

Thôi mà má. Má cho con về để con sửa soạn tết nhất chớ.

Tôi trừng trừng nhìn anh ta. Có lẽ cái khung cảnh nghĩa trang xung quanh đã khiến cho cái nhìn của tôi có vẻ ghê khiếp liêu trai sao đó khiến Hồ Vân có vẻ kinh hãi:
– Ê, Bích! Bà làm cái gì vậy? Coi chừng tôi nhát ma lắm à nghe. Tôi bỏ chạy thì đứng có trách à.
Tôi chợt phá lên cười và không thể nào ngăn lại được.
Khi tôi ngưng tiếng cười thì chỉ còn lại mình tôi trong nghĩa trang vắng vẻ. Tôi lau nước mắt đứng dậy ra về với ý nghĩ một phần đời tôi đã được chôn theo với ba tôi. Bắt đầu từ ngày mai, tôi sẽ sống với một con người khác.”
(Tạp Chí Thời Tập, 1975)

Ở đây Bích đã biến thành Ma trong mắt người khác. Bích đã trở nên giống Mẹ. Đó là một quá trình đẩy tới tận cùng ý niệm về Mẹ, từ hấp hối (GTNM), đến tự vẫn (TTMĐ), và trở thành một hồn ma không siêu thoát được, mà lại là một hồn ma còn sống nữa (CCĐKT). Những người con đã trở thành chính di sản mà Mẹ muốn trao cho họ.

 

Phần Kết: Giải Pháp nào cho Gia Tài và Bóng Ma của Mẹ

Tôi quay trở lại với đoạn kết ly kỳ của TTMĐ của Viên Linh.

Sau khi Học và Sĩ bỏ đi vì những lý do khác nhau, hai chị em Liên và Hiệp thuê người xuống thung lũng Suối Cá Thần vào buổi tối để cải táng mẹ. Nhưng khi nắp áo quan tình cờ bật ra dưới huyệt, họ phát giác trong đó không có thi thể mẹ mà chỉ là những đồ đồng quý giá mà khi còn sống bà Thịnh Phước cất kỹ trên rầm thượng. Khi tất cả trở về nhà, hoang mang trước cái chết mất xác (Viên Linh 85) thì bà Thịnh Phước xuất hiện. Bà đã dựng kịch cái chết của chính mình để kêu gọi các con trở về. Trong suốt thời gian lánh mặt ở trên rầm thượng bà đã nghe những tranh cãi của những người con, và đã thất vọng trước cách ứng xử của họ đối với mẹ cũng như đối với nhau. Hiệp đã bỏ đi ngay khi biết mẹ mình còn sống. Anh nói, “Chắc chắn không bao giờ tôi còn về đây nữa, dù có nhận được tin má từ trần” (Viên Linh 87).

Tối hôm đó bà Thịnh Phước thắt cổ tự tử.

Tại sao bà Thịnh Phước thất vọng về những người con trai đến nỗi phải chọn cái chết tự tử? Với mô hình gia đình được sử dụng như một biểu tượng của đất nước cùng những vấn đề di sản, thừa kế, thì những chọn lựa, những thái độ, và cái chết tự chọn ở cuối truyện có thực sự là một lựa chọn tự do, hay vì không còn cách nào khác? Và về những dự cảm của nhà văn trong vai trò người bắt mạch xã hội, linh cảm về vận mệnh đất nước, thì cái chết này có sẽ báo hiệu trước cho tương lai miền Nam VN sau này hay không?

Người Mẹ ở cuối truyên GTNM cuối cùng không chết. Tim hãy còn đập, điều hòa, không có gì đáng ngại, những người con đã chẩn đoán như thế trong bóng tối không ai nhìn thấy mặt nhau.

Bà Thịnh Phước của TTMĐ thì đã chết hai lần. Nhưng cái chết của bà là một cái chết không thực thể, một cái chết mất xác. Một cái chết đầy nghi vấn, cho dù cuối truyện đã có một ngôi mộ mới xây trên đỉnh đồi Lương Sơn. Với tư cách người đọc, tôi không nhìn thấy xác chết của bà. Những người con cũng không ai nhìn thấy thi thể của bà. Khi bà chết treo cổ, người gia nhân phát hiện và tẩm liệm nhưng Liên hoàn toàn không tham dự và cũng không chứng kiến. Cô ngồi ở phòng ngoài, hút thuốc như đang thắp hương. Nếu cái chết của một người Mẹ chỉ được thực chứng khi có sự hiện diện của những người con, thì trong TTMĐ cái chết này đã không xảy ra. Hoặc nó xảy ra ở một “vùng lạ” khác. Với hai người con đã bỏ đi từ trước khi bà Thịnh Phước xuất hiện (Học và Sĩ), cái chết treo cổ của bà là một cái chết khác, một cái chết nằm ngoài đời sống thực của họ. Với Hiệp, anh đã từ khước mọi hiểu biết về mẹ từ giây phút rời nhà, mẹ của anh sống hay chết không còn là điều bận tâm nữa. Trước đó Hiệp đã nói với Học, “nếu tôi quên được tôi là thằng Hiệp, thằng Nguyễn Văn Hiệp của cái gia đình này, tôi đã không vể đây” (Viên Linh 45). Như vậy khi Hiệp bỏ đi cuối truyện, dứt khoát, chúng ta hiểu là cuối cùng anh đã có thể quên được chính mình là Nguyễn Văn Hiệp, anh đã thực sự đoạn tuyệt với quá khứ, có nghĩa là hoàn toàn tự do và anh đã kết thúc quá trình tự xa lạ hóa, để sống trong một căn cước gần nhất với chính anh: “Nó sẽ vô cùng thảnh thơi sống đời mình, không ràng buộc chút chi nữa hết” (Viên Linh 94). Tôi cho rằng đây là giải pháp mà Viên Linh muốn dành cho thế hệ của ông, những người trẻ tuổi trong thập niên 1960, để tự do dấn thân trên con đường lý tưởng. Nhưng trên thực tế, vào thời điểm hôm nay, dường như thế hệ này vẫn mang nặng hệ lụy của những di sản đã nói ở trên. Họ không thoát ra khỏi ám ảnh của bóng ma dù họ đã rời khỏi ngôi nhà của mẹ, cách này hay cách khác, trên quê hương, hay trong tâm tưởng.

Như một biểu tượng, ngôi nhà của Mẹ đã không còn nguyên vẹn khi có kẻ lạ đột nhập và đánh cắp quan tài của mẹ (TTMĐ). Và khi người con bỏ đi thì quan hệ mẹ con cũng thay đổi. Quan hệ này có thể nhìn như một di sản bị lạ hóa, đi qua nhiều giai đoạn từ khi con còn thơ dại cho đến khi con trưởng thành. Người mẹ chứng kiến sự thay đổi của những đứa con và cùng lúc tự thay đổi, hay bị thay đổi trong cách con cái nhìn lại mình. Liên nói với Hiệp, “Chú hay tôi, anh Học và anh Sĩ, mỗi người đều lớn lên bằng một cách riêng. Đó là điều làm mẹ đau lòng. Đau lòng một cách chính đáng. Và đó cũng là điều làm chúng ta cực nhọc. Cực nhọc một cách vô lý” (Viên Linh 31). Mối liên hệ mẹ-con đã biến dạng, đã hư hao, trước khi cái chết đến. Với Liên, mọi thứ phức tạp hơn, vì quan hệ giữa cô và bà Thịnh Phước là quan hệ con hoang-mẹ ghẻ. Khi người gia nhân tẩm liệm trong phòng, Liên hình dung “bà Thịnh Phước với cái miệng mở, thâm đen, cái lưỡi dài trắng rộp, và một sợi dây thừng tròng khít qua cổ, treo như một trái chuối chín nẫu bị dơi ăn nham nhở.” Nhưng đó là một hình ảnh của Ma hơn là Mẹ. Vì mọi thứ liên quan đến cái chết: như xác mẹ, tẩm liệm mẹ, đặt mẹ vào áo quan và đóng nắp quan tài lại, đã xảy ra ở phía sau cánh cửa gỗ gụ với quả nắm bằng đồng đặc. Một sự kín bưng! Cái chết của bà TP là một cái chết khuất mặt vì vậy nó luôn ám ảnh. Nó cũng như cái chết còn mang nhiều bí ẩn của miền Nam Việt Nam vẫn theo ám ảnh chúng ta đến ngày hôm nay. Cho đến bây giờ, sau hơn 50 năm, việc đọc lại TTMĐ vẫn giữ nguyên tính phi lý, đa nghĩa, với tất cả mọi diễn dịch khả thi, như cách nhìn vào cuộc chiến tại miền Nam và kết thúc của nó.

Cuộc đối thoại giữa Liên và bà Thịnh Phước buổi tối trước khi bà tự vẫn đã đẩy câu chuyện lên một tầng khác mà mọi suy đoán hay liên tưởng đều không dễ dàng hay đơn giản: “Ai cũng nghĩ rằng mẹ đã chết rồi. Nay mẹ còn sống nên mẹ đã làm hỏng hết. Mọi thứ trở thành lỗi thời và thừa ra. Mẹ ạ, có ai nhìn thấy cái chết của mình đâu. Mẹ đã nhìn thấy mình chết dưới mặt các con nên mẹ đã là người khác rồi. Mẹ không còn như trước nữa” (Viên Linh 92). Trong quan hệ với Liên, bà Thịnh Phước rõ ràng đã khác trước. Trước khi “lẳng lặng bỏ xứ lên đường,” bà đã trao lại cho Liên món quà của Vịnh- thầy giáo và người yêu đầu tiên của cô: một cái hộp sơn mài khóa kín và không có chìa. Đó là hành động giảng hòa giữa hai mẹ con với lời xin lỗi về ngày xưa bà đã ngăn cấm cuộc tình duyên giữa Liên và Vịnh. Liên đã trở thành “đứa con yêu dấu”, đứa con ở lại đến phút cuối cùng, đứa con duy nhất làm theo ý muốn của Mẹ, theo sát tinh thần của bản di chúc. Giới tính nữ đã trở thành kẻ thừa kế chính thức. Đứa con ghẻ đã trở thành yêu dấu hơn con thật. Liên, cuối truyện, đã lên đường với hai “tín vật thân yêu”: cái hộp của người yêu và bản di chúc của mẹ. Chúng ta hiểu rằng cuộc đời cô sẽ thay đổi, tương lai có lẽ sẽ tốt đẹp hơn. Nhưng vẫn còn một ẩn số rất lớn về chiếc hộp và điều nó chứa đựng. Cũng có thể đó chỉ là một chiếc hộp không? Điều này không ai biết, vì chiếc hộp không có khóa. Truyện Cuộc Chơi Đã Kết Thúc chấm dứt ở một nghĩa trang vào cuối năm, nhân vật Bích hiểu rằng bắt đầu từ ngày mai cô sẽ là một con người khác. Đó là ẩn dụ cho một chấm dứt, một chôn cất thực thể, và một tái sinh tinh thần nơi những người đang sống. Giải đáp, hay chìa khóa, thuộc về những thế hệ tương lai.

Cũng có thể nghĩ rằng toàn bộ TTMĐ là câu chuyện hồn ma của Mẹ. Ngay từ đầu truyện bà Thịnh Phước là một nhân vật đã chết, bà đã là một người chết với tất cả những nhân vật khác. Và sự xuất hiện của bà ở Chương V, kết quả của một sự giả chết, chính là sự xuất hiện của Hồn Ma: sống ngoài thời gian của mình, chỉ như một oan hồn, hay như một điều quái gở (94). Nhưng đã là bóng ma thì không thể khuất phục định mệnh. Bóng ma phải trở về để phủ nhận cái chết đã xảy ra. Bóng ma sẽ không yên nghỉ nếu bản di chúc chưa được đọc, nếu gia tài bị thất lạc, nếu căn phần không người thừa tự.

Viên Linh đã viết, “Câu hỏi vẫn còn nguyên cho thời thế và quê hương của Liên, nhân vật chính trong truyện này, dù đã hơn một phần tư thế kỷ trôi qua, và mẹ Liên nếu chưa treo cổ, có thể sẽ vẫn treo cổ lại” (Viên Linh, Tác Phẩm Đầu Tay). Bóng ma của Mẹ vẫn còn đó giữa quê hương Tây Phố của Viên Linh ngày hôm nay: dù những người con Học-Sĩ-Liên-Hiệp bỏ đi, thì sẽ nẩy ra những Học-Sĩ-Liên-Hiệp khác để gây ra những cái chết khác cho Mẹ. Bóng ma của Mẹ vẫn tồn tại ở đây, bốn mươi năm sau khi một đất nước bị bức tử. Nếu chấp nhận rằng tinh thần hay linh hồn của một đất nước là nền văn học của nó thì rõ ràng tuy miền Nam đã chết nhưng linh hồn của miền Nam vẫn sống. Linh hồn đó đã trải qua cuộc phần thư, chết đi sống lại, và cương quyết từ chối bị vùi dập. Nhân vật của DNM đã nói ở cuối truyện, “Những di sản nói cho cùng không phải của riêng ai. Nhưng nó thuộc những ai giữ gìn và bảo vệ nó. Nó kế tiếp lưu truyền…” Hồn ma Mẹ và di sản của Mẹ là một dự cảm rất sớm của những người viết miền Nam giai đoạn 54-75 về sự tồn tại của một nền văn học chết rất trẻ, và giữ trong nó tất cả chất tươi mới, đột phá, sáng tạo, của một thế hệ viết trong tự do và viết trong ý thức rạch ròi về trách nhiệm xã hội của người viết. Hồn ma ấy đang nằm trong mỗi người chúng ta đang có mặt nơi đây, trong buổi hội thảo này- một hồn ma của một cái chết uổng, rất dai dẳng, và quyết liệt. Nếu chúng ta đã viết cho dòng VHMN, nếu chúng ta đã đọc những tác phẩm của VHMN, nếu chúng ta đã từng là nhân chứng hay nhân vật sống cho những tác phẩm của VHMN, thì chúng ta là người đã tạo ra những hồn ma đó, và chúng ta chịu trách nhiệm phải cư xử thế nào cho phải. Gìn giữ gia tài của quá khứ là làm phong phú tinh thần nhân bản của hiện tại và của tương lai.Đó là công việc của người làm văn học để lưu truyền những di sản tinh thần cho những thế hệ tiếp theo. Vả để nhắc nhở rằng hồn ma của Mẹ là gia tài đích thực của các con.

 

 

Tài Liệu Tham Khảo:

Dương Nghiễm Mậu. Gia Tài Người Mẹ. http://www.vietnamvanhien.net/giatainguoime.pdf

Minh Quân. “Ăn Chịu Thử Một Lần.” http://vietmessenger.com/books/?title=anchiuthumotlan

Nhã Ca. Đêm Nghe Tiếng Đại Bác. Việt Nam Thư Quán:
http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nmnnnmnqn31n343tq83a3q3m3237nvn&cochu=

Thụy Khuê. “Dương Nghiễm Mậu- Con Người Nội Soi trong Bạo Lực Chiến Tranh và Thân Phận Nhược Tiểu.” http://thuykhue.free.fr/mucluc/duongnghiemmau.html

Trùng Dương. “Cuộc Chơi Đã Kết Thúc.”  (tựa cũ “Người Con Gái Tuổi Mèo).” Thời Tập Mùa Xuân, 1975.

Viên Linh. Thị Trấn Miền Đông. San Jose: Thế Giới, 1991.

bài đã đăng của Đặng Thơ Thơ


2 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Bài khảo luận công phu, nặng về phân tích mỗ xẻ tâm lý nhân vật. Tuy nhiên, bài viết hơi khô khan. Và hơi thiếu cân bằng. (Cũng có thể đây là chủ ý của Đặng Thơ Thơ). Ở chổ, bài bắt đầu với tác giả Viên Linh, kết thúc cũng VL nhưng lại thiếu phần dẫn văn bản của tác giả này. Theo tôi, lý luận văn học, tự nó, cũng chính là trình bày văn chương. Không nêu ra được khía cạnh hay, độc đáo, trong văn bản là một sự thiếu sót. Nói đúng ra, ĐTT cũng có trích dẫn VL: “Ai cũng nghĩ rằng mẹ đã chết rồi. Nay mẹ còn sống nên mẹ đã làm hỏng hết. Mọi thứ trở thành lỗi thời và thừa ra. Mẹ ạ, có ai nhìn thấy cái chết của mình đâu. Mẹ đã nhìn thấy mình chết dưới mặt các con nên mẹ đã là người khác rồi. Mẹ không còn như trước nữa” (Viên Linh 92). Nhưng trích dẫn này lại chú ý tới khía cạnh ý, tưởng hơn là văn, chương.

    Nhưng, ở tác giả khác, DNM, thì đoạn trích dẫn lại xuất sắc:

    – Thôi, về đi, má.
    Tôi nói thành thực:
    – Ngồi nghỉ một lát đã. Anh đâu thể bỏ tôi một mình.
    – Ý! bộ má nói thiệt đó hả?
    – Thiệt thì sao?
    – Thôi mà má. Má cho con về để con sửa soạn tết nhất chớ.

    Tôi trừng trừng nhìn anh ta. Có lẽ cái khung cảnh nghĩa trang xung quanh đã khiến cho cái nhìn của tôi có vẻ ghê khiếp liêu trai sao đó khiến Hồ Vân có vẻ kinh hãi:
    – Ê, Bích! Bà làm cái gì vậy? Coi chừng tôi nhát ma lắm à nghe. Tôi bỏ chạy thì đứng có trách à.
    Tôi chợt phá lên cười và không thể nào ngăn lại được.
    Khi tôi ngưng tiếng cười thì chỉ còn lại mình tôi trong nghĩa trang vắng vẻ. Tôi lau nước mắt đứng dậy ra về với ý nghĩ một phần đời tôi đã được chôn theo với ba tôi. Bắt đầu từ ngày mai, tôi sẽ sống với một con người khác.”
    (Gia Tài Người Mẹ, Dương Nghiễm Mậu)

    Theo tôi, đoạn văn trên hay. Cái hay phối hợp tài tình giữa ngôn ngữ nói và văn chương viết cùng với ý tưởng suy tư sâu sắc của nhân vật.

  • black raccoon viết:

    Sorry, xin sửa lại 2 chổ vì có sự nhầm tên tác giả trong đoạn văn trích dẫn:

    1- Nhưng, ở tác giả khác, DNM, thì đoạn trích dẫn lại xuất sắc, sửa lại => Nhưng, ở tác giả khác, TD, thì đoạn trích dẫn lại xuất sắc

    2- (Gia Tài Người Mẹ, Dương Nghiễm Mậu) , sửa lại => (Cuộc Chơi Đã Kết Thúc của Trùng Dương)

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch