Trang chính » Bàn Tròn: Văn Học Nghệ Thuật, Nhận Định, Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975 Email bài này

Vài ý nghĩ về “Nhân một cuộc hội thảo về văn học miền Nam 1954-75” của Vương Trí Nhàn

Trên “Vương Trí Nhàn’ Blog”, ông Vương Trí Nhàn đã “thất vọng vì ba lẽ” về cuộc hội thảo văn học miền Nam 1945-1975 được tổ chức tại Mỹ vào khoảng đầu tháng 12/2014.

Phần việc trả lời cho ông Vương đúng ra là do Ban Tổ Chức hay quý vị diễn giả, nếu họ muốn. Riêng cá nhân tôi thấy “ba lẽ thất vọng” này không đáng, phải, là thất vọng nên xin nêu ra vài ý kiến hầu tiếp với ông; chứ tôi hoàn toàn không có tư cách nào để nói thay cho họ.

1/ Ông viết: “Chính là lúc này, một số bạn trẻ rất có năng lực ở Hà Nội có, ở Sài Gòn Huế có, đang âm thầm hướng tới những Võ Phiến, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan… để hy vọng qua kinh nghiệm của các nhà văn bậc thầy ấy, may ra hé lộ con đường đi tới của văn chương nước nhà. Sao các anh không tính chuyện thảo luận cùng họ, cộng tác với họ?”

Việc phổ biến các tác phẩm của miền Nam 54-75 có hai cách: Một là in thành sách, hai là đăng trên mạng điện tử.

Việc in thành sách sẽ có hai trường hợp.

-Thứ nhất phải in chui để giữ nguyên vẹn tác phẩm. In ra thì sẽ bị tịch thu ( chưa nói đến việc tù tội có thể đến với người ấn hành), hơn nữa số lượng sẽ không được bao nhiêu.

– Thứ hai là in có giấy phép. Đã có rất nhiều tác phẩm khi được in qua điều kiện này thì bị cắt xén, đục bỏ những điều “nhạy cảm” làm tác phẩm què quặt, chẳng ra làm sao cả.

Như vậy việc in ấn coi như bất khả. Chỉ có một cách khả thi là qua mạng điện tử, và đã có ít nhất là ba trang mạng làm lâu rồi.

Vậy ông Vương hỏi: “ Sao các anh không tính chuyện thảo luận cùng họ, cộng tác với họ?”. là một câu hỏi chỉ nhằm củng cố lý lẽ của mình, chứ không nhằm đưa ra vấn đề để giải quyết. Từ câu hỏi này , người ta cũng có thể nghĩ rằng giữa người hỏi và người được hỏi không có mối liên hệ cộng tác chút nào. Mặc dù tôi là nhà văn chân chính(có nghĩa là cũng vì văn học), Việc tôi hỏi là để các anh (nhà văn hải ngoại) giải quyết, tôi không can dự!.

Ông viết tiếp: “Các anh than thở “Văn học miền Nam (VHMN) từ 54-75 là một trong những nền văn học bất hạnh nhất trong lịch sử văn học Việt Nam” với nghĩa nó bị cấm đoán, nó không được thu thập đầy đủ. Cái đó có, nhưng tình cảnh đâu đến nỗi bi đát lắm, hiện nay nó đang được khôi phục dần dần. “.

Ông muốn xử dụng chữ “bất hạnh” (theo nghĩa nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc dùng cho nền văn học miền Nam) cho cả “nền văn học miền Bắc” tôi thấy không ổn rồi. Nhưng đây là chuyện của ông Nguyễn, tôi xin miễn bàn. Nhưng ông nói “ hiện nay nó đang được khôi phục dần dần.” thì tôi xin được không đồng ý. Mới gần đây nhất, Thu Tứ đã cho in ở trong nước hai tác phẩm của cha mình là nhà văn Võ Phiến mà ông ta đã tự ý đục bỏ những phần ông ta cho rằng “bất ổn”. Chúng tôi cố chọn những tác phẩm vừa giá trị nhất vừa hoặc không chứa hoặc chứa rất ít nội dung chính trị. Nếu có nội dung chính trị, khi biên tập chúng tôi loại bỏ hết. Mục đích của việc chọn và bỏ như thế là đưa những thành tựu văn học đỉnh điểm của văn nghiệp Võ Phiến đến với người đọc mà không gây hại cho nước. Chúng tôi đã tưởng mình thế là chu đáo với nhà với nước! Hóa ra, việc hai tác phẩm Quê hương tôi và Tạp văn được người đọc quốc nội đón nhận khá tốt lại chính là cái nền rất tiện lợi cho tổ chức kia toan đặt lên đấy thứ nội dung hoàn toàn bất ổn trong tác phẩm Võ Phiến!”(*).

Có phải ông Vương Trí Nhàn cho rằng văn học miền Nam đang “khôi phục dần dần” theo lối ThuTứ này chăng?

2/ Về cái “lẽ” thứ hai ông cho rằng cuộc hội thảo:“chưa mở ra được cái phương hướng mới đủ sức giúp bạn đọc hôm nay hiểu thêm về một nền văn học mà mọi người cùng yêu mến.”. Điều này không liên quan đến tôi nên không nói đến. Nhưng tôi là người tham dự suốt hai ngày, thấy rằng những đề tài của các diễn giả đưa ra chỉ nằm trong khuôn khổ nói về 20 năm văn học miền Nam, tôi nghĩ rằng mục đích của họ không có phần ông đòi hỏi.

3/ Trong phần ba, ông nói rằng: “ một trăm năm sau, khi nói tới thế kỷ XX, người ta không bỏ được nền văn học miền Nam, cũng như không thể bỏ được văn học miền Bắc.
Dù phân lượng không đồng đều, song mỗi bên có đóng góp riêng vào việc ghi lại đời sống tinh thần dân tộc, không bên nào thay thế được bên nào.”.

Tôi cũng không chủ trương sổ toẹt bất cứ một thực thể nào. Khảo cổ học vẫn mằn mò bới từng chút từ lòng đất những công trình của quá khứ, dẫu cho những công trình đó là chỉ dấu những tàn ác, đày đọa con người. Tần Thủy Hoàng là một thí dụ.

Văn học miền Bắc là một thực thể, xin ông yên trí, sau này con cháu chúng ta chắc chắn sẽ nhắc đến, cả văn học miền Nam nữa . Nhưng điều quan trọng nhất là cái cách các thế hệ đấy nhắc như thế nào. Một nền được gọi là văn học được/bị, định hướng hoàn toàn và một nền văn học được xây dựng bằng tự do.Con cháu chúng ta sẽ trân trọng nhắc đến ai?

Cuối cùng ông viết: “Chính ra là trong sự phát triển của mình, văn học hai miền thời gian 1954-75 đã có sự nhìn vào nhau, đối thoại ngấm ngầm với nhau.
Việc nghiên cứu trở lại cuộc đối thoại xảy ra trong những năm đó là một trong những  phương cách thiết yếu để đẩy tới cuộc đối thoại giữa văn học trong nước và văn học hải ngoại hôm nay.”

Tôi hoan nghênh ý kiến này của ông, có điều thời gian gần đây nhất, những người có quyền chức trong văn học trong nước vẫn gọi nền văn học miền Nam là “văn học đô thị” , vẫn cắt xén, đục bỏ, thêm thắt vào các tác phẩm văn học miền Nam. Cũng vậy, văn học hải ngoại có quan hệ máu mủ, cả về nghĩa đen và nghĩa bóng với văn học miền Nam 54-75 thì tôi e rằng việc “đối thoại” với văn học trong nước chắc còn xa vời vợi./.

Chú Thích

(*) Trường hợp Võ Phiến. Góc nhìn-Thu Tứ

bài đã đăng của Đặng Phú Phong


1 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Đối thoại, đàm thoại, nói chuyện

    Di·a·logue noun
    : the things that are said by the characters in a story, movie, play, etc.
    : a discussion or series of discussions that two groups or countries have in order to end a disagreement
    : a conversation between two or more people
    (Merriam-Webster Dict)

    Đối thoại, trong Việt văn, tôi hiẻu là sự nói chuyện giữa 2,3 người. Nhưng hai người bạn hay tình nhân tâm tình thì ít khi gọi là đối thoại. Hoặc 2 phái đoàn đại diện QG thì thường gọi là hoà đàm, thương thuyết v.v…
    Tôi phải viện vào cái định nghĩa của M-W vì tôi nghĩ hiện nay người ta hay dùng theo nghĩa này, dialoge. Theo M_W, có 3 nghĩa như trên

    1. Phần đối thoại của nhân vật trong tiểu thuyết, phim ảnh, kịch, etc
    2. Sự thảo luận, bàn cãi giữa 2 nhóm của 2 quốc gia nhằm chấm dứt sự bất đồng ý kiến
    3. Nói chuyên, trò chuyện giữa 2 hay nhiều người

    Trở lại từ “đối thoại” văn học mà ông Vương Trí Nhàn viết, 1. thì không đúng; 2. Có thể đúng nhưng gượng ép vì không phải xảy ra cho 2 quốc gia. Còn, 3. thì đúng trong trường hợp ở đây. Tôi thấy, cũng có những văn nhân của cả trong ngoài nước, do chính họ viết lại, họ cũng ngồi lại nói chuyện (hay mail) với nhau về văn học đấy chứ.

    Tóm tắt, theo thiển ý của tôi, từ ngữ “đối thoại” dialoge, rất nên ứng dụng vào trường hợp trên bình diện QG nhằm giải quyết bất đồng. Như vấn đề biển Đông hiện nay chẳng hạn. Chứ mỗi việc thường, lại mỗi đối thoại thì có vẻ “căng” quá. Văn học mà, cũng không có gì phải bàn cãi lâu quá. Sáng tác thì cứ sáng tác, việc làm thì cứ làm chứ đối thoại gì nữa?

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch