Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới » bờ kia–phần 5
Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

bờ kia–phần 5

0 bình luận ♦ 11.12.2014

*

Cô Đồng nói liên hồi, giọng uất hận. ‘‘Chúng nó’’ (khỏi nói rõ là ai) mưu tính cướp đền từ hai năm nay, tiếng là để có đất xây dựng khu du lịch sinh thái, có sân gôn và khách sạn 5 sao, làm suối nước nóng nhân tạo, cho khách ngoại quốc (không phải Tây-balô đâu nhé) tắm bùn dưỡng da, và các loại dịch vụ nhất dạ đế vương cóp-pi theo phong cách bên Bắc Kinh. Em đây (cô Đồng lấy ngón tay trỏ gí vào ngực, vênh váo) phản đối, dĩ nhiên là thế, bảo đền là nơi thờ phụng tiền nhân, là văn hóa phi vật thể, không có cái lý gì để cho phép làm thế. Chúng bảo, đất đai là sở hữu toàn dân, dân muốn thế. Em hỏi, dân nào, ở đâu, ai biết dân muốn thế. Chúng bảo, dân bầu Quốc Hội, còn Quốc Hội thì đồng tình với Chính Phủ, đẩy mạnh dịch vụ du lịch hầu hội nhập với thế giới. Em hỏi, thế Quốc Hội có bảo phải giải thể đền Ngọc Trần này không? Chúng đáp, đền này nằm trong chính sách chung, không cần phải thông qua những qui định cụ thể. Em hét, tổ sư cha chúng mày, luật với chẳng lệ, tao biết tỏng bọn Tỉnh ủy đứng sau giật dây tính cướp đất. Chúng nó còn rủ bọn Tư Bản quốc tế ở Thái ở Sing hứa hẹn bỏ vốn hợp tác kinh doanh, đút lên Trung Ương, chẹn họng những ai còn có lòng có dạ với văn hoá ông bà ta. Nhưng em xuất thân là bộ đội, thú thật chỉ có tí ti văn hóa, nên em phải đi cầu viện. Và em gặp Anh-giáo!

– Ai vậy?

Cô Đồng ỏn ẻn, anh ấy trẻ lắm, kém em cả chục tuổi, cũng con nhà danh giáo, bố dạy trường Đảng đào tạo một lô các ngài Bộ Trưởng,Thứ Trưởng từ thời Đại Hội 6. Anh-giáo em học Đại Học Kinh Tế nhưng thấy chán, bỏ rồi qua học khoa Văn ở Đại Học Sư Phạm. Học xong, anh ấy không chịu đi xa, ở lại Hà Nội dạy văn cấp 2 rồi hợp đồng với mấy tờ báo, và viết blốc. Sau, anh ấy khá dở hơi, trở thành người chuyên viết đơn trình lên các vụ dân oan khiếu kiện với Nhà Nước.

Chuyên gia khiếu kiện nhận lời giúp cô Đồng, liên tiếp làm 4 bức đơn trong 6 tháng gửi lên ‘‘bề trên’’, không có hồi âm ngoại trừ có lần ông bố quát ‘‘Thằng gàn, mày nhiễu sự, chỉ rách việc!’’ Nhưng ông con kiên quyết trước sau như một, cao giọng bảo muốn chế độ này trường tồn thì phải giữ được lòng dân, và phải biết tôn trọng những giá trị phi vật thể trong truyền thống văn hóa cha ông. Ông bố chỉ tay ra ngoài cửa, phán ‘‘Thế thì mày đi đi!’’. Ông con hiên ngang đứng dậy, mẹ giúi cho ít tiền, yên chí lên đường, ngâm nga một đi không trở lại kiểu Kinh Kha qua sông Dịch.

Anh-giáo lên đền Ngọc Trần, hội ý với cô Đồng về khả năng chống trả với đám Thường Vụ huyện được sai phái làm chuyện thu hồi đất. Đầu tiên, Anh-giáo đề nghị cô Đồng điện thoại cho tất cả những thiện nam tín nữ có bề thế, tức hoặc là phu nhân những vị quyền chức từ Thứ Trưởng, Vụ Trưởng trở lên, hoặc là những đại gia có tiếng. Hai tháng trôi qua, cuộc vận động với thượng tầng kiến trúc không mấy khả quan. Anh-giáo nghiên cứu khả năng của hạ tầng cơ sở. Với kinh nghiệm Tiên Lãng, Anh-giáo đề nghị phải vận động quần chúng mà không để rơi vào nguy cơ bọn ‘‘khiêu khích’’ bày trò súng hoa cải, vừa làm trò vô ích, vừa để nhà cầm quyền có cớ khủng bố, và mang ra tòa kết tội cho có vẻ đất nước ta đây cũng có luật pháp chứ chẳng không. Cô Đồng nghe lọt tai, và với kinh nghiệm một bộ đội từng trải chiến trận rồi mang thương tích đến phải băn khoăn giới tính, cô ôn lại những kinh nghiệm về tổ chức, chia quần chúng ủng hộ làm ba tuyến bảo vệ đền.

Tuyến đầu, ở chân đồi dẫn lên đền, gồm các thành viên U-70 trở lên, làm nút chặn những đoạn đường giao thông chính, chăng biểu ngữ và chửi như hợp xướng, mục đích đầu là làm sao để giới truyền thông truyền hình chớp được âm thanh và hình ảnh để phổ biến. Tuyến này tuyển được vài chục cụ, có những cụ đảng viên trên 60 tuổi đảng, từng đi qua hai cuộc kháng chiến thần thánh, và là hàng bố mẹ bọn quan chức tỉnh, huyện hiện nay. Khẩu hiệu chữ vàng trên nền đỏ rất đúng tiêu chuẩn. Có cái viết ‘‘ Đừng đụng hộ khẩu của thần thánh’’, cái thì ‘‘Vì tâm linh tối thượng, quyết bảo vệ đền Ngọc Trần’’, cái lại nêu cao ‘‘Tinh thần hoà hợp hòa giải với cõi trên muôn năm’’. Có cụ ăn trầu, nhả bã, nhổ đỏ lòm trên đường. RFA Việt ngữ, rõ là đài địch diễn biến hòa bình, chụp ảnh một cụ bà mồm đỏ loét, rêu rao máu đã đổ trên quảng trường đền Ngọc Trần. Đối phó lời kêu gọi thế giới hãy lên tiếng ủng hộ Tự do Tôn Giáo có ghi trong Hiến Pháp 1982, rồi 1990 ở Việt Nam, Bộ Ngoại Giao lên tiếng, khẳng định là quết trầu mầu đỏ, nhưng những thế lực thù địch lớn tiếng dọa có những chiến sĩ dân chủ ở hải ngoại sẽ tự thiêu. Tình hình phức tạp kéo dài cả tuần. Xe tăng, xe ủi đất, xe xúc đá…nằm ì, lính Lam-y uể oải nằm chây, và nắng hè không là yếu tố thiên thời khi trời im gió. Một vị sĩ quan an ninh góp kế, và xung quanh tuyến đầu, đường vận tải lương thực bị ách lại. Thế là…các cụ dẫu ăn ít lại so với thời trẻ nhưng vẫn đói. Được hai, ba ngày, tuyến đầu vỡ.

Tuyến hai, cũng đói, nhưng phần lớn là loại U-18 trở lên U-60 nên vẫn đương cự, nêu khẩu hiệu ‘‘Chết đói chứ không đầu hàng’’ và trương hình Đức Thánh Trần, bác Hồ làm bùa dọa. Xe cơ giới vẫn lừng lững tiến vào, bọn đầu gấu xã hội đen đi sau yểm trợ lính Lam-y dàn thành hàng, đầu súng lắp lưỡi lê, thỉnh thoảng lại lọp bọp bắn chỉ thiên. Đồng chí Đại Tá chỉ huy đeo kính đen, uy nghi trên xe bọc thép, nói với trợ lý ‘‘Chú ra lệnh hạ hình hai cha già đó xuống, ghi cho anh mọi diễn biến! Trận này phối hợp nhịp nhàng, chắc chắn sẽ thành tài liệu quân sử đấy!’’ Dân nằm xuống đường, hét ‘‘Có giỏi thì cán chết chúng tao đi! ’’ Đầu gấu xông vào, tay thước tay dao, nhưng không đông nên bị đẩy lùi. Đồng chí chỉ huy quai hàm bạnh ra như rắn hổ, miệng phun phì phì, điện về Hà Nội, vâng vâng dạ dạ. Ba giờ sau, xe vòi rồng cứu hỏa hàng chục chiếc vào hiện trường. Trời sẩm tối, xe phun nước trắng xoá, dân ướt như chuột, nhưng chửi không phải là cách hữu hiệu chống lại những chiếc vòi rồng vô cảm. Đêm xuống, lạnh quá, có một người hào hển lên cơn suyễn, thở ra như sắp chết. Dân kêu, nhưng xe cứu thương không có phép lên. Đến sáng, trận địa vỡ, ướt nhẹp, chắc có cả những giọt nước mắt chảy ra vì vô vọng. Nhân dân lúc nào cũng bị cái đói và cái lạnh đánh cho oải ra nằm đứ đừ. Chuyện này, là yếu tính lịch sử, cho đến lúc, theo Anh-giáo, có những kẻ châm mình cháy thành lửa.

Tuyến ba, toàn U-7 đến U-15, mất phương hướng khi xe ủi nhào lên sát cổng đền sáng hôm sau. Đồng chí chỉ huy hạ kính đen xuống, bắc loa chõ vào:

‘‘Các cháu thân mến, các cháu là tinh hoa dân tộc, là tương lai của đất Việt anh linh, các cháu phải cảnh giác, đừng nghe lời bọn xấu chống lại chính sách của Đảng, của Nhà Nước. Đền thờ Mẫu, thờ ông Hoàng này, bà Chúa nọ, tổ chức lên đồng, thu tiền nhân dân đều là chuyện mê tín dị đoan, ta phải bài trừ triệt để lấy đất xây dựng những công viên xanh, những khu du lịch sinh thái, đúng chỉ tiêu quốc tế. Bây giờ, cháu nào đứng lên đi ra, sẽ được phát một lon coca, một miếng bánh mì thịt, và năm ngàn đồng ăn quà. Nào…’’.

Ùn ùn, tuyến ba vỡ khá dễ dàng. Thèm ăn, các cháu tranh nhau ra trước, có đứa bị dẵm ngã vật xuống đất, những đứa kia cứ thế xông lên, hô muôn năm, muôn năm! May đứa bị ngã chỉ bất tỉnh, không chết.

‘‘Chúng nó’’ theo sau xe ủi xông vào đập phá tất tần tật. Tượng Mẫu, bị lột xiêm y, lõa lồ, trắng hếu. Tượng bà Ngọc Trần thì chúng để tượng Đức Thánh Trần đè lên như thể…rồi cùng nhau cười hô hố. Còn tượng Bác, chúng nó vặt râu vặt ria, cởi quần cởi áo thếp vàng mốt Đại Cán bốn túi, Bác trần truồng trông tội nghiệp vô cùng. Vế thơ của Bác khắc dưới chân nay đọc chữ còn chữ mất, thành ra Tôi .. ẫn năm châu… đến dại … ồn.

– Bây giờ, chúng cướp sạch, em chẳng còn gì…Xin đi ăn mày chúng cũng không cho…

Kể đến đó, cô Đồng nghẹn lời, mãi sau mới nói được thành tiếng:

– Đấy, thế là em mất nơi thờ tự, nay tay trắng đến đây nương nhờ cửa Phật! Phục xuống lạy Sư, cô tiếp – Xin thày thương mà cho sang Bờ Kia!

Nhìn Chà, rồi nhìn Bà Mệnh phụ, Sư ngập ngừng:

– Thí chủ cứ…yên tâm, chuyện đâu có đó! Thân nghiệp ai rồi cũng an bài!

Cô Đồng thút thít như không nghe, đầu gục xuống kẹp giữa gối, bóng in lên vách một khối sần sì không định được hình dạng.

*

Đêm hôm đó, Bà Mệnh phụ và cô Đồng xin ngủ lại. Sư thấy bất tiện nhưng chùa xa, đi lại không phải không nguy hiểm nên đành ưng chịu, xếp khách ở với hai đứa trẻ. Đêm đầu tháng không trăng sao, trời đông đặc đen kịt như miếng thạch ăn cho mát miệng bán ở chợ. Vào thu, gió lạnh xào xạc thổi qua những tàn cây rụng lá, sương hiu hắt mơ hồ trải lên vạn vật, lâu lâu lập loè dăm con đom đóm xà xuống mặt ao.

Vắt tay lên trán, Chà ngẫm nghĩ đến cách giải quyết chuyện ‘‘đầu tiên’’. Bà Mệnh phụ hẳn là loại có tiền, nhưng chịu chi trả bao nhiêu? Lời cô Đồng lại văng vẳng, món bở đấy, Zzô đi! Nhưng zzô là thế nào? Ngẫm lại đời mình, mới lớn lên là long đong, Chà xưa nay chưa dám thả lòng mình để thực sự yêu một người con gái nào. Đàn bà, Chà biết ít nhiều qua những mối tình đầu sông cuối chợ, nhưng chưa một lần Chà gắn bó với ai để ru mình vào giấc mơ làm cha làm chồng. Hừm, dễ gì, Chà tự nhủ. Nhưng tán tỉnh, không phải là Chà không biết. Bà Mệnh phụ dân Nam bộ, chắc hẳn theo Cách Mạng trước giải phóng. Đối tượng như vậy học hành qua loa, nếu có là cán bộ thì chủ yếu là được học tại chỗ, chẳng thi cử cũng tốt nghiệp như ai. Một điều chắc như một cộng một là hai, dân Nam bộ chẳng mấy ai mà không thích ca cải lương, chêm tân nhạc vào thì gọi là đờn ca tài tử. Món này, Chà biết nhưng ở đây thiếu mất cây đàn. Không sao, Chà cười trong bóng đêm, khó khăn nào cũng vượt qua mà!

Đẩy cửa ra ngoài, Vện và Vằn nhẩy cẫng lên, đuôi vẫy, khụt khịt như sắp được Chà cho ăn. Gạt chúng ra, Chà nghe con sáo chửi ‘‘Đ. má mày’’, vội vàng mang lồng chim vào trong bếp. Chà ra dựa gốc cây xung ven bờ ao, nhấp giọng rồi thả một câu :

Mai này đám cưới người ta

Tại sao sơn nữ Phà Ca lại buồn…

Chà ca hết bài nhưng tuyệt nhiên không một động tịnh nào. Nhớ bài Chuyện tình Lan và Điệp, Chà tiếp tục tỉ tê. Vẫn thế, chỉ Vằn và Vện nằm thiu thiu. Bực mình, Chà chuyển qua ca kiếm hiệp, xuống một câu mùi về chuyện Tạ Tốn ra đảo tìm Kiếm Ỷ Thiên:

Thúc phụ ơi, người ta đã rạch mặt nàng Hân Ly và xẻo tai Chu Chỉ Nhược

Còn Đồ Long đao và kiếm Ỷ Thiên thì Minh quận chúa đã mang ra khõi đảo Linh Sà….

Đúng lúc Chà ngân nga chữ cuối thì có tiếng kẹt cửa.

– Cha chả, nghe mùi dữ ha…

Chà giả như mắc cở, đằng hắng:

– Xin lỗi phá giấc ngủ nghen, ca bậy bạ chơi cho đỡ buồn, không ngờ làm phiền cô …

– Hổng phiền chi đâu anh, em lâu cũng thèm nghe đờn ca tài tử miền Nam, anh à!

Chữ em phát âm mới ngọt làm sao. Giọng tự tin, Chà xưng anh rất vô tư:

– Phải có cây đờn, anh đệm cho em hát… Giọng em chắc là tuyệt vời đấy!

Bà Mệnh phụ cười hinh hích. Chà chỉ xuống bên cạnh, tay vẫy mời. Bà Mệnh phụ ngồi xuống, giữ một khoảng cách, giọng e thẹn:

– Tối trời ghê…Khi xưa, trời tối là em sợ!

– Sợ chi?

– Sợ chết anh à!

Nhớ một câu danh ngôn do một văn sĩ mà Chà quên mất tên có nói, đại khái, khi phụ nữ sợ chết là lúc nàng thèm sống nhất, Chà mạnh dạn ngồi sát vào Bà Mệnh phụ, miệng hạ một câu rất thiếu sáng tạo:

– Phải sao đêm nay cứ mãi thế này, không bao giờ sáng nữa…

Tuy vừa sáo vừa rẻ như vậy, Bà Mệnh phụ vẫn run lẩy bẩy như lên cơn sốt rét ác tính khiến Chà chẳng thể hành xử khác hơn là choàng tay ôm lấy vai và xiết nàng vào lòng.

Chuyện tình kể trước rạng đông thường lắm cái nhàm, kể sợ mắc vào cái tội kích dục. Sáng ra, ai nấy mặt mũi tươi tỉnh, nhìn nhau hơi có chút bẽn lẽn, kể cả cô Đồng thỉnh thoảng nháy mắt cười duyên với hai nhân vật chính. Sau tình, hẳn lại là chuyện tiền, như thường lệ. Nghe Chà trình bày ‘‘ kế hoạch’’ và những dự trù kinh phí, cô Đồng bảo rẻ nhưng Bà Mệnh phụ cứ trợn mắt lên. Sư chùa Lọ không tham dự, niệm nam mô rồi gọi hai đứa bé ra quét sân chùa đầy rác rưởi sau ngày mồng một.

Bà Mệnh phụ hỏi Chà:

– Bờ Kia dùng tiền gì? Em có vàng và một ít tiền đô. Tiền Bác nhìn thẳng hai trăm ngàn thì nhiều, có sài được không hay cần tiền lẻ…

– Loại tiền này dễ mất giá…Ta dùng tiền đó Bên Này. Còn ở Bờ Kia, cứ đô với vàng cho chắc ăn, Chà đáp.

– Nhiêu để em trả. Em đặt cọc thôi, phần còn lại thì khi lên bè qua Bờ Kia em thanh toán nốt!

Thế là nổ ra chuyện ai tin ai, ai không tin ai. Nhưng phải nói, tình bôi trơn tiền, phần nào. Sau khi đạt được thỏa thuận cả hai bên cùng có lợi, Chà hân hoan ra mặt. Bảo mai sẽ lên đường đến chỗ hẹn với Nhà-chài, người lo chuyện đóng bè và một trăm thứ vặt vãnh linh tinh có quan hệ với sông nước, Chà huýt sáo, tay kín đáo bấu vào chỗ đàng sau người yêu, nơi cấm kỵ sờ vào nơi thanh thiên bạch nhật. Bà Mệnh phụ đập nhẹ vào tay Chà, hỏi Nhà-chài ở đâu thì Chà đưa tay lên miệng suỵt suỵt. Thiên cơ mà, bất khả lậu.

*

Đừng trách Chà. Bổ xung câu nói bất hủ ‘‘Tổ chức, tổ chức, và tổ chức’’ của cái vị đầu hói ở Nga LaTư mà nay sang gác ‘‘vườn hoa nước mình’’, Chà giữ phương châm ‘‘Bí mật, bí mật, và bí mật’’, phần bởi cái máu điệp viên phá lưới, phần vì sợ, và sợ nhất vẫn là cái sợ những trại cải tạo mà Chà đã được hưởng mùi vị hơn một lần. Suốt hai tháng, Chà nghiên cứu giờ giấc của đoàn Tuần Giang ngày ngày qua lại trên khúc sông mà Bờ Kia là nơi đến. Cứ hai tuần một lần, Chà đi đốc thúc và kiểm tra những công đoạn đóng bè. Bè sẽ có bốn sào chống, độ dài ngắn khác nhau. Hai bên bè, trồng bốn cột, buộc bốn mái chèo dài 2 thước, xử dụng khi nước sâu không thể dùng sào chống đẩy bè đi. Và với Nhà-chài, việc cuối cùng là tuyển được 4, 5 thanh niên trai tráng lo chuyện chống sào, chèo bè qua sông. Khi Nhà-chài hỏi điều Chà chưa nghĩ đến, Chà ngẫm nghĩ rồi đáp:

– Mình hợp đồng trả công cho chúng nó. Qua được Bờ Kia, đứa nào muốn ở lại thì cho ở, đứa nào muốn về lại Bên Này thì để chúng lên bè chống về… Đơn giản thôi!

Nói xong , Chà chột dạ. Muốn xây dựng một cộng đồng con người cho ra con người ở Bờ Kia thì phải có chế độ tuyển chọn thành viên, không thể bạ ai nấy nhận được. Suy nghĩ rất lung, khi ăn tối với Nhà-chài, Chà nói về nỗi lo lắng của mình. Nhà-chài đáp:

– Mình tuyển bọn thanh niên mạnh khoẻ, ăn chắc mặc bền. Nghề chính của chúng nó là nghề nông, chỗ nào ta cũng phải sản xuất lương thực mà. Tôi thì tiếp tục nghề cá, cần sẽ tiếp tay nuôi gà nuôi lợn, phục vụ miếng ăn tươm tất…

– Thế cái phần tâm linh và văn hoá thì sao? Chuyện với Sư chùa Lọ, người cùng tôi lo toan phi vụ này, Sư và tôi đồng ý cho rằng phải khôi phục chữ Tín, ai nghĩ chi nói nấy, thôi cái kiểu nói dzậy mà không phải dzậy. Muốn thế, phải chống lại cái Sợ…Nhà bác có ý kiến khắc phục gì không?

Nhà-chài cắn tay, rồi reo:

– Dễ…Bờ Kia không có Nhà Nước, thế là hết sợ. Cái ông ngáo ộp này chuyên nhân danh an ninh làm cho mọi người mất hết cả an ninh!

Chà hồi tưởng những cuốn kinh Mác-Lê đọc khi xưa, vỗ đùi:

– Đúng thế, Nhà Nước tiêu vong, giai đoạn cuối cùng khi xã hội bước vào giai đoạn cộng sản. Khi đó, không ai tha hoá, mọi người đều tự do, tìm lại mình, và tự tại chứ không sống dưới bất cứ một áp lực nào, và có quyền chọn lựa một xã hội do chính mình đồng thuận tạo ra… Loài người sống chung với nhau là do điều kiện sinh tồn bắt buộc, nhưng phẩm giá mỗi con người tự do trong cộng đồng đó phải là giá trị nền tảng cho tất cả!

Chà bắt tay Nhà-chài, và không hiểu sao bật nói tiếng ngoại, giọng rất Mỹ kiều ta thường nghe tiếng chào khách trong mấy cái ba rượu giành cho người nước ngoài:

– You are welcome, my friend, my comrade[1]!

Ngớ người ra vì không hiểu Chà nói gì, Nhà-chài đáp bằng mấy chữ tiếng Anh độc nhất mình biết:

– Ô-kê, đô-la! Gút…

Tối hôm đó, Chà loay hoay với những liệu pháp chống lại cái sợ, nguyên nhân chính tạo ra sự vô cảm trước bất công, áp bức. Lan man, Chà mơ màng đến Bờ Kia, một miền đất hứa Chà sẽ góp tay vào xây nền tảng. Nhân sự, có Sư lo chuyện tâm linh tuyên huấn. Chà đảm đương chuyện dậy cho bọn trẻ những kiến thức Nhân văn và Ngoại ngữ. Về Kinh Tế, Bà Mệnh phụ xưa nay tay hòm chìa khóa, lại có một tài sản không nhỏ, có thể làm cái chuyện định hướng kinh tế nhưng chớ rêu rao xã hội chủ nghĩa rồi cứ đường lên mạn ngược mà đi. Cô Đồng? Khá gay go. Ừ, có thể để cô lo khâu Ngoại Giao, với khả năng ngoại cảm cô có thể thương thảo với cả thế giới bên kia cơ mà. Nông nghiệp và ngư nghiệp tạm ổn với Nhà-chài, nhưng còn Khoa học Kỹ Thuật, Công nghệ, và vấn đề Hiện đại hoá thì để cho ai lo đây? Chà kẹt, thở dài liên tục, mãi chán rồi chuyển sang suy nghĩ về những vấn đề dễ quyết hơn. Chẳng hạn như Quốc hiệu. Ta là dân Việt ở miền Nam sông Dương Tử, bị Hán tộc đánh đuổi, ta theo đường bay chim Lạc di về phương Nam, nên bộ tộc ta có tên là Lạc Việt. Vậy chẳng phải là hồi cổ mà nay ta hoàn nguyên, Bờ Kia mang quốc hiệu Lạc Việt, nghe suôi tai đấy chứ. Còn Quốc huy, Chà mường tượng ra mặt trống Ngọc Lũ trên có hình chim Lạc, vừa đẹp, vừa truyền thống , lại có ý nghĩa từ buổi tạo sinh ra dân tộc. Đến Quốc kỳ, khá dễ. Chọn nền xanh biểu dương hòa bình, ta chỉ cần in quốc huy mầu trắng, cánh chim tráng bạc lóng lánh, chẳng xích xiềng liềm búa gì cả. Quốc ca thì hơi có vấn đề. A, chim là quốc huy, phải có chi gắn với chim một cách tự nhiên. Chà lẩm nhẩm một điệu hát quen thuộc trong thởi Mặt Trận Giải Phóng miền Nam trước 75: Nếu là chim tôi sẽ là loài bồ câu trắng. Ối giời, nghe sao mà ướt át thế, và toàn mơ mộng vớ vẩn, thảo nào! Hay là, Chà ngân nga: Em, như cánh chim biển hiền hòa/ Chỉ còn gió trời để tiễn bước em đi…Chỉ còn….Thôi, quốc ca chẳng nhẽ kết bằng cái câu hỏi bi thiết đất trời rộng sao em không bến đỗ trong bài hát đó à!

Chà chưa biết chọn Quốc ca thế nào, nhưng bụng bảo dạ, nhất định thay bài ‘‘Tiến Quân ca’’ toàn là thề phanh thây xé xác quân thù, đầy máu đầy lửa, cứ mỗi lần nghe ớn lạnh đến nổi gai ốc.


[1] Chào mừng bạn, đồng chí của tôi !

bài đã đăng của Nam Dao


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)