Trang chính » Câu chuyện Nghệ thuật, Hội Họa, Nghệ Thuật, Tạo hình Email bài này

Cái “Vô” trong tranh thủy mặc

6 bình luận ♦ 21.11.2014

 

Trong tranh thủy mặc, yếu tố vô hình (hay những khoảng trống trong tranh) có ý nghĩa rất đặc biệt, mang ý nghĩa như kiểu yếu tố “vô” của vũ trụ, là nơi ẩn chứa một điều lớn lao mà mắt thường không thể thấy. Nhìn những bức tranh phong cảnh cổ điển của các họa sĩ phương Đông, chúng ta thường bắt gặp những chỗ mây mù lẩn khuất bằng cách để trắng giấy hay những chỗ núi được kết thúc bằng một khoảng trống mơ màng phía sau. Điều đó khác hẳn với những bức tranh phong cảnh của châu Âu vốn tuân theo luật phối cảnh rất chặt chẽ và dù cảnh ở gần hay xa thì chúng đều được vẽ bởi một màu nào đó (dẫu là màu rất nhạt ở phía xa), chứ không thể có khoảng trống.

Quách Hy, một bậc thầy vẽ phong cảnh thời Bắc Tống, nói: “Muốn vẽ núi cao thì nên vẽ có mây phủ ở lưng chừng. Núi mà vẽ rõ ra cả thì trông sẽ không cao. Muốn vẽ sông dài thì nên vẽ nó lúc ẩn lúc hiện. Sông mà vẽ rõ ra cả thì sẽ không dài. Núi mà vẽ lộ hoàn toàn thì mất cái sắc khí tiêu biểu của núi mà chỉ giống như cái đầu chày mà thôi. Sông mà nhìn thấy đầy đủ từ đầu đến cuối thì không thể vẽ nó uốn lượn nhiều, và sẽ giống như một con giun vậy”. Tức là, phong cảnh mà hiện lên trọn vẹn thì không có chiều sâu, hình mà không bị ẩn thì trông sẽ thô lậu. Mây phủ (tức khoảng trống) ở lưng chừng núi tuy làm cho hình của núi ít đi nhưng làm cho núi cao hơn. Cái khoảng trống đó, hẳn nó chứa đựng một lực lượng tiềm ẩn, một sức mạnh vô hình làm cho cái giới hạn chật hẹp của khung tranh bị phá vỡ, để cho ngọn núi trở thành “đại tượng”. Ví dụ, trong bức tranh “Buổi sớm mùa xuân” của Quách Hy chúng ta có thể thấy rõ những kinh nghiệm mà ông nói ở trên. Khoảng trống ước lệ mây mù ở lưng chừng và phía sau ngọn núi làm cho cảnh trí hư hư thực thực, tiêu dao bay bổng như lên tới tận tiên cảnh. Lớp cảnh ở gần được thể hiện rõ ràng các yếu tố đất đá cây nước nên có cảm giác vững chãi, nhưng nhờ mây mù ở giữa bức tranh mà làm cho lớp cảnh phía xa như bay hẳn lên, chạm tới trời cao.

 

huevien

Buổi sớm mùa xuân – Quách Hy

 

Dù sử dụng những khoảng trống nhưng Quách Hy vẫn chỉ làm cho nó ở mức mờ ảo ẩn hiện, tức là vẫn còn có thể có nét mờ đi vào cái khoảng trống đó. Nhưng đến Thạch Đào, một thiền sư – họa sĩ cuối đời nhà Minh, còn mạnh dạn hơn trong cách thể hiện những khoảng trống, thậm chí ông làm cho các nét đột ngột biến mất, và dùng khoảng trống tách bức tranh ra thành hẳn các cảnh riêng biệt, làm cho bức tranh có khả năng thâu tóm các không gian khác nhau vào trong một bố cục. Ví dụ ở bức tranh “Bờ sông”, Thạch Đào tách ngọn núi ra hẳn khỏi cảnh sông nước vốn đang hòa quyện vào nhau. Đây là cách bố cục ông gọi là “chấm dứt đột ngột”. Nếu ai quen vẽ phong cảnh theo luận viễn cận của châu Âu thì nhìn bức tranh này thật khó chấp nhận. Nhưng khi đã hiểu được tư tưởng “đại tượng vô hình” của hội họa Trung Hoa thì thấy bức tranh thật thú vị. Khoảng trống vô hình đã xua tan cái cảm giác nghi ngờ luật viễn cận, biến sự vô lý của phối cảnh thành sự hợp lý của tinh thần. Bức tranh tuy bị tách ra làm hai phần trên dưới nhờ vào khoảng trống ở giữa nhưng nó không thể nào thiếu nhau được, bởi khi khoảng trống mở ra cho lớp cận cảnh thì nó cần có lớp viễn cảnh phía trên đóng lại, như thế mới tả được cái chuyển động của vũ trụ.

 

clip_image004

Bờ sông – Thạch Đào

 

Theo Thạch Đào, “chấm dứt đột ngột” là một trong sáu cách bố cục độc đáo nhất của thể loại tranh phong cảnh. Ông viết: “Chấm dứt đột ngột nghĩa là cảnh trí thình lình biết mất, tất cả cây đá không được vẽ cho xong, các nét bút đều bỏ lửng ở đó. Những nét bỏ lửng ấy phải làm sao như tự chúng biết mất đi vào cõi hư vô với những đuôi bút mảnh dẻ nhất”. Bố cục kiểu này không những áp dụng với tranh phong cảnh mà còn được sử dụng trong tranh hoa điểu. Ví dụ như vết mực để lửng ở phía bên phải trong bức “Hoa cúc” của Bát Đại Sơn Nhân, một người bạn của Thạch Đào đã cùng với ông làm cuộc cách mạng trong hội họa. Cả một tập hợp hoa lá bên trái bức tranh được đối ứng với một vết mực để lửng, một vết mực đưa người xem vào cõi hư vô. Cái khoảng trống bên phải bức tranh hẳn phải chứa đựng những giá trị nào đó của hoa cúc mà những hình ảnh không thể nào diễn tả được.

 

clip_image006

Hoa cúc – Bát Đại Sơn Nhân

 

Cùng thời Bắc Tống với Quách Hy, nhưng Tô Đông Pha (một cư sĩ Phật giáo) lại chủ trương một tư tưởng hội họa phóng khoáng, vẽ theo cảm hứng, không cao thâm tinh tế như Quách Hy. Tô Thức và những người bạn của ông lập ra Văn nhân họa phái với chủ trương tả ý là chính, dùng rất ít nét, vẽ rất nhanh và bố cục đơn giản ví dụ như chỉ vẽ một phần của cành mai cành trúc. Văn nhân họa đặt trọng tâm vào hành động vẽ chứ không phải kết quả của việc vẽ, đề cao cái cảm hứng xuất thần khi vẽ chứ không phải là bức tranh trông có giống mẫu hay không. Ông viết: “Xem tranh mà chỉ xem có giống mẫu hay không thì chỉ là phường con trẻ. Nếu chỉ vì muốn làm thơ mà đặt bút làm thơ thì chắc chắn không phải là thi nhân vậy”. Với cách vẽ nhanh và không chú trọng bố cục như vậy thì bức tranh sẽ thường không cân đối và xuất hiện nhiều khoảng trống trong tranh. Và ý nghĩa của cái khoảng trống vô hình đó được diễn giải bằng ngôn ngữ của thơ, văn hay một hàm ngôn, gọi là lạc khoản. Vì thế khi xem một bức văn nhân họa, ngoài việc ngắm nét vẽ ra chúng ta còn phải cảm nhận giá trị của bài thơ, bài từ được viết kèm nữa. Với chất lãng mạn như thế, văn nhân họa có sức ảnh hưởng rất lớn không chỉ tới các thế hệ sau của Trung Hoa như Thạch Đào, Bát Đại Sơn Nhân, Tề Bạch Thạch… mà còn lan ra cả những nước lân cận. Ví dụ như bức tranh “Đọc sách trong nhà tranh” của họa sĩ Nhật Bản Tensho Shubun, một trong những họa sĩ đặt nền móng cho nền hội họa Nhật Bản (thời kỳ Muromachi, thế kỷ XV) là một ví dụ rất hay của văn nhân họa. Bức tranh vẽ một người đang đọc sách trong một lều tranh giữa cảnh núi non nhưng chỉ được bố cục ở góc dưới bức tranh. Cả một khoảng trống rất lớn phía trên là một bài văn, có lẽ chính là trích đoạn sách mà người đang ngồi trong lều tranh kia đang đọc.

 

clip_image008

Đọc sách trong nhà tranh – Tensho Shubun

 

Không chỉ là nơi giấu những “đại tượng”, những khoảng trống còn là thành phần không thể thiếu trong bố cục bức tranh để tương tác với những chỗ có hình thể. Bức Cúc của Một Danna cho ta thấy sự tương tác giữa yếu tố vô hình và hiện hữu có ảnh hưởng quyết định tới bố cục một bức tranh.

 

clip_image010

Cúc – Một Danna

 

Và chúng ta cứ ngẫm mà xem… Từ cái vô hình của giấy trắng (mở), nét mực được vẽ lên tạo thành hình ảnh (đóng), rồi lại cần có khoảng trống (mở) để các nét vẽ được nghỉ ngơi suy ngẫm, chuẩn bị cho những nét tiếp theo (đóng)… Hiện hữu và vắng mặt, hình và vô hình, sắc và không – chúng là những thành tố không thể thiếu trong một tác phẩm nghệ thuật.

bài đã đăng của Huệ Viên


6 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Tôi không rõ hiện nay thế nào, tranh sơn thuỷ (thuỷ mặc) của người TH dường như khó có thể phát triển ở VN, từ ngày xưa . Chẳng những vậy, người Việt còn tỏ ra chế giễu nó theo óc hài hước vốn có. Câu chuyện tiếu lâm khi Trạng Quỳnh đấu hoạ với sứ thần người TQ cho thấy sự ý nhị sâu sắc về chuyện này. Trạng Quỳnh và sứ thần cùng nhau thi tài vẽ, trước mặt Vua. Trong khi vị sứ giả còn đang vẽ chưa xong 1 com chim đậu trên nhánh trúc thì Quỳnh đã vẽ xong . Quỳnh nhúng 5 ngón tay vào mực và vẽ ngoằn ngoèo lên giấy với lời chú: “Ngũ long du xuân”. Nhà vua phải bật cười, lạ hơn nữa là sứ thần TQ ngắm nghía và tỏ ra thán phục, nhận là mình … thua. Ở trong Nam có câu chuyến khác, chế giễu thư hoạ. Ông thầy cúng đám ma chay, hỏi tên người quá cố là gì, chủ nhà nói là Nguyễn Văn Tròn. Thấy viết xuống gờ giấy. chữ Tròn thì không viết được chữ Hán, thầy khuyên một vòng tròn lớn, đến lúc làm lễ, đọc tên người chết, thầy lại đọc thành Nguyễn Văn … Gáo. Thì ra do nhúng mực bút lông hơi nhiều, chữ O bây giờ có thêm 1 lằn mực sổ xiên ngang, trông như hình cái gáo múc nước.

    Người VN ngày xưa hay gọi là tranh sơn thuỷ, có lẽ dựa theo bản Kinh Dịch, quẻ Sơn Thuỷ Mông. Chữ mông 蒙 là tối mù mịt, cũng còn có nghĩa là mông lung, mêmh mông 曚曨 . Ở vùng miền Tây, Nam Phần, người dân hay treo cạnh tủ thờ 1 tấm tranh in mộc bản sơn thuỷ vẽ hình trái núi, dòng suối uốn quanh và đàn chim bay, với 2 câu thơ:

    Công cha như núi Thái Sơn
    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

  • thường mộng viết:

    Thần Đi Bộ,

    Chuyện,vốn là chuyện tiếu lâm.Trong cái tinh thần chống “Tàu”,trong cái tinh thần làm lớn “Việt”;ông cha chúng ta đã “đẻ” ra những câu chuyện,chỉ là chuyện thời dư:châu chấu mà lại đá xe,tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng…cho đến thời cụ Kim Định:Nho có nguồn từ Việt,Dịch có nguồn từ Việt,và, cũng theo cụ-Những nhà khảo cổ đã không tìm thấy “trứng Rồng”!!!
    -Những chấm phá nhỏ chỉ là để chống “Tàu”,chẳng có dính dáng gì tới tranh sơn thủy;cái gáo của thầy đồ,con giun của “trạng”,chỉ là biểu tượng chống “Tàu” bàng bạc trong dân gian.
    Người Tàu đem cái “không” vào tranh,tiền nhân Việt đem cái “không” vào lời:

    Nước lã mà vã nên hồ
    Tay “không” dựng nỗi cơ đồ mới ngoan.

    Con đân Việt đã đem cái “không” trải dài khắp năm châu.

    Cảm ơn tạp chí Da Màu.

  • Võ Tấn Phong viết:

    Tôi nghĩ rằng chuyện người Việt không có truyền thống vẽ tranh thủy mặc là một sỉ nhục của giới trí thức vì chỉ có họ mới có thể có thời gian và trí tuệ để tìm tòi nghiên cứu về hội họa. Và tôi không tin rằng trí thức Việt Nam bận rộn hơn trí thức Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, nhưng các nền văn hóa đồng văn kia đề đều để lại rất nhiều những họa sĩ và những nhà thư pháp nổi danh. Trong khi đó Việt Nam chỉ có vài người nổi danh về thư pháp (Cao Bá Quát, Đào Tấn) và không có họa sĩ nào.
    Cái chuyện học Tàu thì trí thức ta có khi còn “bảo hoàng hơn dzua”. Ta không màng chuyện học các thứ xấu xa như kiểu trung quân thái quá, bắt chước những hình phạt tàn bạo như lăng trì tùng xẻo, tru di tam tộc. Nhưng khi đụng những cái hay cần phải dụng công như hội họa, thư pháp, kiến trúc, thì trí thức ta sẽ có đủ cớ để bài xích cười cợt . Có phải trí thức Việt lười nhác hơn trí thức các nước khác?
    Vì vậy khi đọc một bài viết mới mẻ một chút như thế này, có lẽ ta nên học hỏi thay vì cười nhạo và tự sướng!

  • black raccoon viết:

    Cầm kỳ thi hoạ

    Dường như trong 4 thứ nghệ thuật và giải trí nêu trên, ngày xưa, người Việt Nam hơi yếu về hoạ (thuỷ mặc). Tôi không rõ. Hay là VN cũng có nghệ thuật hoạ “riêng biệt” nhưng đã mai một vì chiến tranh? Vì, hơn bất cứ quốc gia nào khác, người Việt có lịch sử chống lại ngoại xâm phương Bắc lâu dài. Và hoạ phẩm sẽ dễ dàng bị tiêu huỷ so với thi ca hay âm nhạc.

    Riêng thi ca và âm nhạc thì không thể nói VN yếu. Cũng như các quốc gia khác theo triết học Âm Dương của văn minh Kinh Dich, cổ nhạc VN cũng dựa vào ngũ cung và thơ ca cũng theo luật bằng trắc. Thế nhưng nhạc người Việt rõ ràng khác nhạc Tàu, thơ Việt cổ cũng không hoàn toàn giống thơ TQ. Ca dao Lục Bát của VN là một thí dụ và ca diễn Tuồng Chèo miền Bắc hay 6 câu Vọng Cổ trong Nam là thí dụ khác.

  • thường mộng viết:

    Trong Ngày Tạ Ơn,

    Chúng ta có thể hỏi:với lịch sử truyền đời của một dân tộc được viết bằng chiến tranh,tại sao không làm nỗi một viên đạn;tại sao một dân tộc có hơn bốn ngàn năm văn hiến lại không có nỗi một học thuyết;nhưng chúng ta không thể hỏi tại sao trí thức Việt không có tranh sơn thủy để lại cho hậu thế như Tàu,rồi cho đó là một sự sỉ nhục.
    Người Tàu bước ra thấy mây,bước vào thấy núi,chính cái địa dư của họ đã tạo nên những bức tranh như vậy.Đừng đòi hỏi tại sao chúng ta không ăn Bánh Mì,đừng đòi hỏi tại sao chúng ta không có Vạn Lý Trường Thành,đừng đòi hỏi tại sao chúng ta không là Mỹ…

    Hãy cảm tạ tiền nhân,hãy nhìn “Tổ Tiên” ở dạng biến hóa,để thấy tiền nhân cao cả đến dường nào.”trâu ta ăn cỏ đồng ta,bao giờ hết cỏ mới ra đồng ngoài;ta về ta tắm ao ta,dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn…”
    -Tiên là biến,tiên cũng là vận dụng.
    Cảm ơn tạp chí Da Màu.

  • Võ Tấn Phong viết:

    Tôi đã quá vội khi viết “người Việt không có truyền thống vẽ tranh thủy mặc là một sỉ nhục của giới trí thức”, mà lẽ ra phải là “người Việt không có truyền thống hội họa là một sỉ nhục của giới trí thức”. Bởi vì để đi từ “dã man” sang “văn hiến”, một dân tộc cần có văn hóa ẩm thực thay vì chỉ ăn ngấu nghiến cho no; cần coi lời nói có vai trò quan trọng hơn là thông tin, và họ làm ra thi ca; cần thưởng thức chữ đẹp hơn là những ký hiệu ghi lại lời nói, và làm ra thư pháp; cần các trí thức học vẽ và suy ngẫm về hội họa thay vì chỉ giao vai trò vẽ tranh truyền thần cho các thợ vẽ; cần trí thức suy tư về âm luật để làm ra nền âm nhạc dân tộc thay vì chỉ giao vai trò âm nhạc giải trí cho các thầy đờn và cô đầu. Đó là các yêu cầu bình thường của hầu hết các nền văn hóa.

    Còn yêu cầu dân tộc phải có học thuyết này nọ có hơi vĩ cuồng quá chăng? Các dân tộc Nhật Bản, Triều Tiên hiện nay hơn ta rất nhiều, họ có học thuyết gì?

    Cái ý cho rằng “dân Tàu bước ra thấy mây bước vào thấy núi” nên mới có tranh thủy mặc là một ngụy biện. Dân Việt không có núi đẹp sông dài chăng? Sao tự ti quá vậy? Núi Tản, sông Đà, vịnh Hạ Long, núi Yên Tử, đèo Ngang, v.v. không đẹp sao? Và tại sao giới nho sĩ ta không ngừng làm thơ làm phú ca ngợi non sông gấm vóc, đề thơ sông này, khắc thơ núi nọ, mà không có nổi một họa sĩ vẽ cảnh sông núi? Chắc chắn vì lười, vì học làm thơ phú dễ đem lại công danh hơn, và vì dễ hơn học vẽ. Ngụy biện nữa là, không phải cứ vẽ thủy mặc là phải sông núi trời mây. “Ao thu lạnh lẽo nước trong veo” cũng có thể vào tranh. “Đêm qua sân trước một cành mai” cũng có thể vào tranh.

    A, mà sao đang nói trí thức lại lôi tiền nhân vào hở trời?

    Thực sự tiền nhân Việt ta càng đáng kính trọng. Họ giữ được tiếng nói bất chấp giới trí thức kém cỏi không làm nên chữ viết. Họ mở đất khai phá bất chấp giới trí thức không đóng góp gì nhiều. Họ chinh phục cái lưỡi của thế giới với các món ăn ngon tuyệt bất chấp giới trí thức không nghĩ ra một kiểu trang trí nội thất đặc thù cho nhà hàng Việt.

    Nhưng thấy mình bé nhỏ, thì mới yêu quý những cái nhỏ bé còn lại của mình. Mới bỏ bạc triệu mời chuyên gia thế giới về trùng tu các chùa Một Cột, chùa Bút Tháp, thay vì tốn bạc tỷ xây dựng các công trình vĩ cuồng chùa Bái Đính, cầu Rồng. Trí thức vì thế cần thấy sỉ nhục mà cố gắng.

    Mà để làm được như vậy, thì phải tỉnh giấc mộng dài, đừng ru ngủ trong cái ảo tưởng bốn ngàn năm văn hiến và tranh giành những triết thuyết Việt Nho này nọ.

    Và khi nghe nói về cái vô của tranh thủy mặc, thì thằng AQ trong ta đừng có nhảy xổ ra phát biểu: “ấy ấy, ông cha ta không biết vẽ nhưng biết đưa cái vô vào thơ, rất đáng tự hào”. Phải không?

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)