Trang chính » Phê Bình, Phiếm luận Email bài này

LÁ THƯ TỪ KINH XÁNG: Vài hàng gởi nhà văn Kiệt Tấn

Kinh xáng Bốn Tổng ngày 18 tháng 02 năm 2008

Thưa ông Kiệt Tấn,

Số là mấy ngày nay sắp nhỏ có in một bản Sông nước Hậu Giang và Nguyễn Ngọc Tư (1) của ông viết về Nguyễn Ngọc Tư, người gốc gác Cà Mau, làm nghề viết văn, mà tui nghe mấy thầy giáo trong làng Định Mỹ miệt Núi Sập, Ba Thê này bàn nhau trong mấy dịp ăn đám giỗ là văn chương của cô ấy viết văn được lắm!

Nghe thì nghe vậy, tui hổng dám có ý kiến ý cò gì. Rồi, có dịp đọc bài của ông, sẵn dịp đi thăm mấy đứa cháu nội trên Cua Lò Thiêu, thuộc xã Bình Đức, tui mới ghé chợ Long Xuyên mua trà dìa uống, tiện dịp tui tạt vô nhà sách ngang chỗ công viên “Bông Lúa” cũ, xéo xéo rạp hát Minh Hiển, trên công viên Trưng Nữ Vương ngày xưa, tôi mua ba bốn cuốn sách mỏng của Nguyễn Ngọc Tư đọc thử xem văn hay tới bực nào mà ông Kiệt Tấn và mấy ông thầy giáo vườn ca quá mạng vậy.

Thưa ông,

Sau khi đọc hết bấy nhiêu cuốn sách rồi, rồi đọc lại bài của ông, tui mới bật ngữa ra mà nghĩ cái ông Kiệt Tấn này đọc Nguyễn Ngọc Tư kỹ thiệt. Thế nhưng có điều tui hổng chịu cái cách viết và cách xưng hô của ông, ông Kiệt Tấn à! Với mưòi hai trang giấy in loại chữ nhỏ rức trên khổ giấy lớn hơn giấy học trò, nếu in chữ lớn cho hạng người già sáu bảy bó như tui đọc, chắc phải có tới 15 hoặc hai chục trang chớ chẳng chơi, tui thấy ông toàn là khen Nguyễn Ngọc Tư không thôi chứ hổng chê chỗ nào ráo trọi. Nhà văn mà viết văn khen nhau là chuyện thường tình, hổng có gì đáng nói ông à. Ở quê tui mấy ông bà già xưa hay nói phủ binh phủ, huyện binh huyện, xóm nào binh xóm nấy lâu rồi.

Nhưng tui nói là tui hổng chịu cái cách viết của ông không phải vì ông chỉ khen mà là cái cách ông khen Nguyễn Ngọc Tư là có dụng ý. Tui cứ tưởng ông khen Nguyễn Ngọc Tư là ông khen thiệt, ai dè ông khen Nguyễn Ngọc Tư đã thèm rồi ông lại đem ông ra so sánh ông cũng có những cái giống y chang Nguyễn Ngọc Tư, chẳng khác nào ông vẽ bùa rồi ông tự đeo cho mình: “Trong cuộc hành trình này, tôi chợt nhận ra giữa Tư và tôi có nhiều điểm tương đồng. Tư thương loài vật, tôi cũng thương loài vật. Tư có vịt xiêm Cộc, con vịt mù, và chim bìm bịp. Tôi có vịt xiêm Đại bang, em vịt vàng nhỏ và một con chim sáo rất khôn, lần nào cũng bay xuống đậu lên vai lúc tôi đi học về. Tư có bà mẹ quê với bộ mặt sạm đen và bàn chưn chai nứt. Tôi có bà già quê hương với nụ cười tre trúc và bàn chưn nứt nẻ phù sa . Và còn nhiều thứ nữa, như viết văn, như lo chuyện trên trời dưới đất, như nhớ sông nhớ nước, như thương cây mắm tiếc cây bần chẳng hạn.”(trang 12)

Qua đoạn văn ông mà tui vừa trích, té ra đời bây giờ có nhiều cái nghịch kỳ đời. Xưa nay người ta hay nói người đi sau bắt chước người đi trước, con thì giống cha, chứ hổng ai mà nói người trước giống người sau, cha giống con bao giờ . Chẳng lẽ từng tuổi như ông, tên tuổi nổi như cồn như ông mà phải cầu cạnh hạ mình xuống chỉ để tìm cái mà Nguyễn Ngọc Tư có để rồi ông khoe mình cũng có như Nguyễn Ngọc Tư sao?! Tui thấy ba cái lẻ tẻ này giống hay không giống gì, nó hổng có làm cho văn ông hay hơn hoặc dở hơn ông à ! Hay hoặc dở là do cái tài viết văn của ông chứ! Cho dù ông có giống Nguyễn Ngọc Tư như đúc chưa chắc gì ông hay hơn Nguyễn Ngọc Tư và ngược lại, chưa chắc gì văn Nguyễn Ngọc Tư qua mặt ông được. Mà trên cõi đời này làm gì có chuyện hai người giống nhau như đúc, chưa kể mỗi người mối cảnh, tuổi đời chênh lệch ba bốn chục năm, kinh nghiệm trường đời còn cách xa nhau ngàn cây số đường trường, thì làm sao mà những cái lẻ tẻ giống nhau đó làm cho ông lại vui mừng qúa đổi phải hông, thưa ông?

Về từ ngữ ông dùng, dù có lúc tui nghĩ ông “cà rỡn” chơi hầu câu độc giả, nhưng tui thấy ông hạ mấy chữ này tui nghe sao mà văn chương văn chiết gì mà ghê quá mạng: ”không sần sùi ngổ ngáo” như lối viết “mới” hiện nay”, “không xốc táp ngang ngược.” Tui e ông viết như vậy có khi hơi hổng công bình ông à. Cũng là người viết trẻ, cũng là người làm văn, viết văn cùng thời với Nguyễn Ngọc Tư mà ông hạ câu “như lối viết mới” để nhằm đưa Nguyễn Ngọc Tư lên, hạ nhiều người có “lối viết mới” khác hiện giờ xuống thấp, thì thiệt là thiếu công bình dữ lắm…

Phải nói thiệt tình là qua cái phần nhập đề của ông, tui thấy ông tung một lớp khói mịt mù trời đất bằng những chữ dễ gây bất bình cho nhiều người chung quanh lắm, ông làm tui tối tăm mày mặt ông à . Tui thì dân ruộng, tui thấy dân miền sông rạch này ai mà viết được văn là tui mừng lắm, thế nào rồi mình cũng được tiếng thơm lây. Nhưng nói vậy hổng phải mình binh dân vùng mình rồi mình nói tưới hột sen các nhà văn xứ khác thì làm người ta buồn lắm nhe ông!

Rồi lần lần xuống, tui thấy ông viết “Đọc vài ba truyện khác, có cảm tưởng Tư mê cải lương, mê điện ảnh và cũng có thể mê làm đào hát luôn không chừng?” Cái này ông đoán hơi trật rồi ông à! Tui thấy Nguyễn Ngọc Tư viết:”Tôi không mê cải lương. Tôi chỉ thích thú với nghiệp của người nghệ sĩ. Họ có thể sống nhiều cuộc đời, nhiều vai diễn khác nhau.”(2)

Đến câu dưới đây, thì tui thấy ông “cường điệu” và “mâu thuẫn” thiệt tình: “Tưởng chừng như những nhân vật đó có thật trong đời sống. Họ bị phăng cuốn trong dòng đời bất cưỡng, quanh quẩn trong rạch ngòi Hậu Giang chằng chịt …”(trang 2). Mấy chữ “phăng cuốn trong dòng đời bất cưỡng,” tại sao lại phải dụng tới cái chữ “bất cưỡng” làm gì cho câu văn thêm trúc trắc quá trời vậy ông ? Mà đã “phăng cuốn” rồi sao hổng “phăng cuốn” luôn đi mà còn “lẩn quẩn trong rạch ngòi” làm gì cho câu văn dễ bị hiểu lầm là ông thích dùng chữ cho nổi mà ý thì cứ xà quần, xà quần, không thoát ra khỏi mấy con sông, con rạch được. Hổng biết ý ông qua hai chữ “phăng cuốn” rồi “quanh quẩn” vậy có mâu thuẩn gì với nhau hông, thưa ông???

Tiếp đến ông phê câu:”Bằng lối viết dung dị, Tư đã làm bật sáng lên được cái tương tư của hai người tuy cách mặt nhưng không xa lòng… Cái thương nhớ tơi bời hiện lên theo từng hình ảnh rõ nét, khắc khoải theo từng chữ viết dung dị mà đúng tận tâm can.”(trang 2). Ở đây, chỉ hai câu trong một đoạn văn ngắn, mà hai lần ông dùng chữ “dung dị”, thiệt tình tui hổng hiểu ông muốn nói gì ông à! Phải chăng chữ “dung dị” vì nó ít ai xài, thành ra giống như chữ lạ, mà kỳ thiệt nó cũng cũ rồi và ít thông dụng nên có chút gì cầu kỳ nữa và nó làm câu văn của ông tối nghĩa chăng? Ông có thể thế hai chữ “dễ hiểu” hoặc ông thích dùng chữ “dị” thì chữ “bình dị” vừa quen, vừa rõ nghĩa thay cho chữ “dung dị” được hơn không? Ấy chết, ông là nhà văn tên tuổi mà tui lại đề nghị ông thay chữ này thế chữ kia, quả là tui quá phạm thượng! Nhưng mong ông hiểu giùm cho nhe ông Kiệt Tấn!

Nhơn đây, tui cũng biết sợ ông khi ông dám giỡn với hai chữ “bàn thờ” hồi năm nẵm. Thiệt tình tui ớn ông hết biết ớn ông à ! Dù là người dân dốt nát miệt kinh xáng, tui tui thấy người ta lấy cục đá lập miễu thờ Ông Thổ Thần nơi gốc cây da, cây gừa; thờ Ông Tà ngoài bờ đìa, ngoài bụi tre thì cũng là Ông Thổ Thần , Ông Tà thiêng liêng trong lòng dân ruộng, nó là lòng thành, là tín ngưỡng của nông dân dù huyễn hoặc . Đó là tui chưa kể các “bàn thờ” trong mỗi nhà, trong các chùa, trong các miếu, trong đình làng, đâu đâu khắp trong thiên hạ cái “bàn thờ” hổng phải là chỗ giỡn chơi nhe ông. Ông đem “bàn thờ” ra mà cuời cợt, đùa giỡn, chẳng những ông làm nhiều người bất bình mà ông còn mang tội với những người khuất mặt khuất mày dữ lắm . Tui nói thiệt đó chứ hổng phải chơi đâu. Ông là “bần tăng”, tui nghe ông hay tự xưng như vậy, nhưng tui cũng biết ông muốn giỡn như vậy cho đã miêng, viết cho đã tay, nhưng ông sẽ mang tội cho mà coi !!! Nói cách khác, trong văn ông có cái ác trong cách chơi chữ là vậy ! Đâu phải là nhà văn sông lâu năm và nổi tiếng như ông rồi ông muốn phóng bút mà đùa cợt với thánh thần, ông bà, trời đất lúc nào cũng được. Ông thử nghĩ kỹ lại mà coi tui nói có trúng hông?

Trở lại việc dùng chữ trong văn Nguyễn Ngọc Tư và nhận xét cách viết của Nguyễn Ngọc Tư “dung dị”, tui thấy ông cũng không được công bình cho lắm ông à! Ngay câu văn bên dưới cùng trang 2 này ông có viết: ”Và cuối cùng người đàn ông chết trong mong đợi, thi thể vùi chôn ở vườn nhà …” Làm gì có chuyện “người đàn ông chết trong mong đợi”, tui đọc thấy sao nó giống cải lương quá mạng. Còn Nguyễn Ngọc Tư thì: “Má tôi vẫn không ngừng tìm dì, hỏi để làm gì, má tôi nói để cho dì hay và nói với dì, nếu sống mà không gần được, chừng nào chết, mời dì lên nằm trên đất vườn tôi.”(trang 2) Và , “Đó là nỗ lực cuối cùng má tôi làm để chấm dứt cái cảnh ba nằm bên má mà hồn vẫn hướng về những dòng sông miên man chảy” (trang 2).

Thưa ông, tui thấy cái cách viết như vậy chẳng có chút gì gọi là “dung dị” ông à, mà là kiểu cách, làm điệu hổng đúng chỗ, nói cách khác, câu văn sao mà cầu kỳ, khách sáo quá mạng. Làm gì mà có “mời dì lên nằm trên đất vườn nhà”, làm gì mà một ông chồng nhà quê mà “hồn vẫn hướng về những dòng sông miên man chảy”, cho dù có mê vợ bé , thưa ông? Qua những trang sách của Nguyễn Ngọc Tư mà tui mua dìa, tui thấy hổng thiếu gì những chữ cầu kỳ làm kiểu, làm cách như vậy, nhiều lắm .

Để dẫn ra vài ba thí dụ ông xem chơi cái cách chơi chữ cầu kỳ của Nguyễn Ngọc Tư, chẳng hạn như: “Bạn cứ nhìn cái nhánh cây thon, dài buộc ở đầu ghe kia, trên cây treo gì thì ghe bán thức ấy, lúc la lúc líu trông lạ vậy, nhưng đó là tiếng chào mời không lời”(3). Bốn chữ “lúc la lúc líu” là gì hỡ Trời? Có phải những trái cây, rau cải treo bẹo trên ngọn nhánh cây thon dài bị gió thổi làm cho chúng “lắc lia lắc lịa” không?

Rồi trang kế của truyện này tác giả lại dùng chữ “to đùng” rất là lạ hoắc : “… những người đàn ông xếp bằng ngồi trên mui ghe vấn những điếu thuốc to đùng bằng đầu ngón chân cái, phì phà nhả khói lên trời.”(4) tại sao lại phải dùng chữ “to đùng” mà chỉ “bằng ngón chân cái”? Dân miền Tây Nam Việt hổng ai mà nói “to đùng” bao giờ vì nó có vẽ lai lai, nghe khó chịu lắm.

Thêm một thí dụ khác, Nguyễn Ngọc Tư viết: “Những đứa trẻ con ngồi tênh hênh trên mũi ghe câu cá chốt, cá mè.”(5) Chỗ này tôi nhận thấy tác giả dùng chữ “tênh hênh” hơi cầu kỳ mà không xác nghĩa. “Tênh hênh”, theo bộ Việt Nam Tự Điển của Lê văn Đức và Lê Ngọc Trụ, có nghĩa là “Chình ình, bộ nằm ngửa rất tự do, không chút e ngại : Nằm tênh hênh giữa nhà” (6). Do vậy, hổng ai nói hay viết “ngồi tênh hênh” bao giờ vì không trúng chữ!

Chẳng hạn những chữ sau đây cũng không kém vẻ cầu kỳ trong tạp văn Nguyễn Ngọc Tư như: “Ba nhìn má qua ánh đèn chong leo lét, chợt giật mình, đôi gò má của vợ hiền năm ngoái còn hồng vì rượu, nay đã seo sắt quắt queo vì trơ trọi dưới nắng và gió trời.”(7) Mấy chữ “seo sắt quắt queo” thiệt là lạ quá mạng. Theo quyển Tự Điển Việt Nam vừa dẫn thì “seo” là teo lại (8); “sắt” là quéo đặc lại (9); “quắt” là teo lại, co rút lại, như héo quắt, khô quắt, người bé quắt (10); “queo” là teo lại, co lại, như héo queo, khô queo.(11) Qua giải thích trong tự điển, tui mới thấy Nguyễn Ngọc Tư cố làm cho câu văn có chữ mới bằng cách ghép bốn chữ vô một chỗ mà bốn chữ ấy có chung một nghĩa là “teo lại”, đó là một cố gắng chơi chữ, nhưng cách ghép chữ kiểu này làm cho câu văn thêm cầu kỳ, trúc trắc và tối nghĩa dữ lắm.

Ngoài ra, chữ của Nguyễn Ngọc Tư dùng, phần nhiều mang tính địa phương nhiều. Điều nầy làm cho tui rất thông cảm cho tác giả, nếu không phải là người cùng quê với tác giả như tui, thì tui thấy cái bất tiện là vừa đọc sách của Nguyễn Ngọc Tư vừa phải đổi chữ lại cho hợp và phổ thông hơn. Chẳng hạn “làng quê yên ả” thành “làng quê êm ả”; “để mua ít đỉnh” thành “để mua chút đỉnh”; “chạy cà cồng cà cưỡng” thành “chạy cà cồng cà cồng”; “già cóc thùng thiếc” thành “già cúp thùng thiếc”, “già cúp bình thiết”(tiếng lóng); “đau như thắt” thành “đau như cắt”… Ngoài ra, tác giả có chú thích chữ “chó cò”: tiếng địa phương, chỉ chó gầy ốm còi cọc”(12). Ở vùng Long Xuyên, Sa Đéc, Châu Đốc, thì gọi “chó cò” là chó có bộ lông trắng như cò. Thành ra, chú thích như vậy cũng có phần hổng được chính xác cho lắm!

Rải rác trong các sách của Nguyễn Ngọc Tư mà tui có, thì các loại chữ mang tính địa phương này nhiều lắm, thưa ông. Âu, đây cũng là những khác biệt cách nói, cách gọi mỗi vùng có khác nhau nhiều. Do vậy mà tui dễ thông cảm cho tác giả phần này dữ lắm, chứ hổng có cố ý khen chê gì ba cái vụ dùng chữ này nhưng đó cũng là cái nét riêng trong chữ nghĩa của Nguyễn Ngọc Tư, sẵn dịp thì ghi ra với ông luôn thể vậy!

Thưa ông,

Còn nhiều lắm những chỗ cầu kỳ như vậy, kể hổng xiết ông à, nhưng thôi, tui xin dẫn ra vài ba thí dụ để cho ông thấy văn Nguyễn Ngọc Tư hổng có “dung dị” như ông nhận xét đâu và bây giờ xin xuống trang 3, chỗ ông cắt nghĩa “nhà sàn”. Tui thấy ông cắt nghĩa nhà sàn như sau:”Nhà sàn, loại nhà nửa trên bờ nửa dưới nước, dựng trên những chưn cột rắn rỏi đóng chặt xuống lòng sông, sàn lót bằng ván. Nhà sàn rất phổ thông ở vùng sông nước đồng bằng Cửu Long, như Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Thơ, Vĩnh Long, Mỹ Tho…” Điều này có một nửa trúng và một nửa chưa đủ, ai ai cũng biết nhà sàn, nhưng xin nói thêm là nhà sàn không nhất thiết “nửa trên bờ nửa dưới nước,”  mà có khi nhà sàn còn nằm hẳn trên bờ hoặc nằm ngay trên mặt nước vì lý do miền Tây Nam Phần là vùng đất bị ngập lụt hằng năm, nên chỗ nào cao ráo thì dân cư đổ nền cất nhà nền đất hoặc có tiền cất nền đúc bê-tông, còn nghèo hoặc không có đất cao thì cất nhà sàn cho nước khỏi ngập vào mùa nước ngập. Do vậy mà miền Tây dân cư thường ở nhà sàn mà nhất là miệt Châu Đốc, Long Xuyên, Cao Lãnh, Sa Đéc đi đâu cũng thấy người dân ở đây đều ở nhà sàn. Càng xuống xa các tỉnh dưới, đất giồng cao hơn, nên có nhà sàn nhưng dù gì thì gì cũng hổng nhiều bằng miệt trên như mấy nơi tui vừa kể . Và nhà sàn ở miệt trên này thì sàn nhà cao hơn ở miệt dưới, có nơi như vùng Tân Châu, Châu Giang, sàn nhà cao tới 2,50 mét; còn dài xuống vùng Mặc Cần Dưng, Chắc Cà Đao, Nhơn Mỹ, Kinh Xáng Bốn Tổng, Ba Thê, Núi Sập… sàn nhà cũng cao nhưng hổng cao bằng Tân Châu, Châu Đốc…

Thưa ông,

Xuống trang 4, tui thấy ông viết: ”Mãi đến khi bước chân vào tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư, “trăm năm bến cũ con đò”, tôi mới bắt gặp lại chiếc võng đưa và mái nhà sàn ở miệt phù sa của Tư”. Ở đây tui thiệt tình là thương cho ông, là một nhà văn miệt vườn tên tuổi như ông mà phải đợi tới khi đọc “Tạp văn của Nguyễn Ngọc Tư” rồi mới “bắt gặp chiếc võng và mái nhà sàn ở miệt phù sa của Tư” thì hơi yếu. Tui cứ tưởng ông có “những điểm giống của Nguyễn Ngọc Tư” và là dân Bạc Liêu nữa, chắc ông đã biết ba cái lẻ tẻ nầy lâu rồi chứ đâu phải đợi tới bây giờ?!

Và từ đây đi lần xuống trang 11, với 7 trang giấy in quá dài này, tui bị ông làm mờ mắt, nhiều lúc tui dụi mắt hoài hổng biết tại mắt mũi tui mờ hay tại ông quá dông dài làm tui hổng biết ông viết gì. Ông cà kê hết chuyện này qua chuyện khác không ngoài cái ông muốn tìm là ông giống Nguyễn Ngọc Tư chỗ nào và rồi ông “Cảm ơn Tư, cảm ơn Tư” hai ba bận; đến cuối bài ông lại cũng: ”Nhờ Tư, thình lình tôi sực nhớ hết những ân nhân đã ân cần dìu dắt tôi đi suốt một quãng đường dài đầy bất ngờ, cho tôi nhận ra rằng, dù tôi có vấp ngã nhiều lần, cuộc đời này vẫn hết sức vồn vã, hết sức nồng nàn, hết sức đẹp đẽ.” Té ra, xưa nay ông quên hết mọi người ơn và giờ đây nhờ Nguyễn Ngọc Tư nhắc ông mới nhớ. Trời thần ơi, nếu sau năm 1975 mà hổng có Nguyễn Ngọc Tư chào đời, rồi hổng có Nguyễn Ngọc Tư viết văn, thì có lẽ nhà văn Kiệt Tấn hết còn nhớ kẻ ơn người nghĩa nữa rồi! Tui thiệt tình là quá thương ông, một ông già Bạc Liêu làm nhà văn gần thất thập rồi mà cái ơn cái nghĩa lớn như ông kể mà ông hổng nhớ nổi, thì còn nhớ gì, viết gì nổi nữa phải hông, thưa ông Kiệt Tấn.

Tưởng cũng nên nói qua chỗ này là bài này ông có nói qua là nhằm bổ túc và đề cập tới hai cuốn “Giao Thừa và Tạp Văn” của Nguyễn Ngọc Tư, nhưng sao tui thấy mấy cái truyện “Hiu hiu gió bấc”, “Nhớ sông”, “Dòng nhớ” trong cuốn Giao Thừa mà ông đọc nó cũng có in trong cuốn “Tuyển tập truyên ngắn Nguyễn Ngọc Tư”(13) và nó cũng được in trong cuốn “Cánh Đồng Bất Tận”(14) nữa. Với ba tập sách thiệt là mỏng mà có tới 5, 6 truyện in đi in lại hết cuốn này qua cuốn khác, thì đúng là “dòng nhớ” thiệt tình!(15)

Cái sau cùng mà cũng là cái trước tiên tôi nhận ra khi bắt đầu đọc bài viết của ông là cách ông gọi “Nguyễn Ngọc Tư” với cái tên gọn lỏn là “Tư”, sao tui thấy nó có cái gì không suôn sẻ chút nào hết ông à! Ông gọi tên Tư gọn lỏn như vậy, ông hổng sợ người ta nói ông ỷ mình già, ỷ mình nổi tiếng, ỷ mình bà con thân thích và gốc gác Bạc Liêu – Cà Mau sao ông? Mà cho dù có thân cách mấy đi nữa, hoặc Nguyễn Ngọc Tư đáng tuổi con cháu của ông đi nữa, khi ông viết về văn của Nguyễn Ngọc Tư, ông phải tôn trọng cái tên cái họ của tác giả. Từ cổ chí kim, trong làng tui, tui biết, khi con cháu trong bà con dòng họ hay ngoài xóm giềng khi còn nhỏ, cô bác cậu dì có thể kêu con cháu bằng tên đứa này đứa nọ; nhưng khi con cháu lớn lên rồi, có vợ có chồng rồi là mình có cách xưng hô khác cho hợp cái lễ nghi, phong tục mà vẫn không làm mất cái tôn ty trật tự trong dòng họ, chòm xóm của mình. Ông có thấy ai kêu Mai Thảo là Thảo hông? Nguyễn Xuân Hoàng là Hoàng hông? Kiệt Tấn là Tấn hông? Người ta có tên, có họ đầy đủ, mình cũng phải gọi đủ tên, đủ họ người ta ra chứ. Có như vậy mới là “điệu nghệ,” phải vậy hông, thưa ông?

Thưa ông,

Lời thiệt thì thường dễ bị mích lòng, nhưng nghĩ sao tui xin thưa cùng ông như vậy thôi ông à. Vả lại, thời buổi bây giờ ít có ai dám nhận xét trung thực, thẳng thắn về một bài văn lắm vì sợ tác giả giận. Tui thì tui vốn là dân ruộng tay lấm chưn bùn, nên tui mới dám nói thiệt với ông mấy ý như vậy; cho nên nếu ông có buồn giận gì tui, thì tui đành chịu. Chứ hổng khéo mà cứ xúm xít lại rồi nhà văn Bạc Liêu cứ khen nhà văn Cà Mau, mấy cha “miệt vườn” cứ xúm nhau khen cho lấy được cái phe “miệt vườn” hoài thì tui thấy có điều gì hơi kỳ kỳ đó ông à.

Nay kính thư,

Hai Trầu

Tái bút:

Kinh Xáng Bốn Tổng ngày 27 tháng 09 năm 2014

Thưa ông Kiệt Tấn,

Cái thơ vừa rồi tui viết cách nay lâu lắm rồi, có hơn sáu năm qua, tức là từ hồi con cái trang “talawas” tận bên Đức lận nhưng tui hổng dám gởi cho ông vì sợ ông giận. Nhơn mấy hôm nay đọc cuốn “Tuyển tập Kiệt Tấn”(16) do nhà Văn Mới (Hoa Kỳ) xuất bản mà đứa cháu bên Mỹ mới ghé tặng tui hôm rồi, nên tui đọc lại lá thư từ kinh xáng cũ và ghi thêm ông vài ghi nhận về các truyện của ông trong tuyển tập vừa rồi, xin được chia sẻ cùng ông vậy.

1/ Trước nhứt về văn phong của ông, tui thấy ông có óc khôi hài, chuyện gì ông cũng có thể đem ra giỡn chơi cũng được, dù ông gởi ở đó nhiều ý tưởng thâm trầm. Có lẽ nhờ vậy mà đọc văn ông ít ngán hơn đọc văn của nhiều nhà khác. Nhưng có điều ông hay kéo nhây quá, chẳng hạn khi ông nhắc qua cái chết của con vịt vàng phải tới gần ba trang sách (từ trang 81 tới trang 83 trong Tuyển tập Kiệt Tấn).

2/ Thứ đến, trong mỗi truyện, cái cách tả về chuyện yêu đương trai gái của ông cũng hơi mặn mòi, nhưng phải khen ông là ông biết chọn chữ và ngừng lại chỗ nào nên ngừng, thành ra nhiều lúc thấy tục vậy mà hổng tục gì cho lắm ông à.

3/ Thứ ba là, ông có tài mượn thơ và dẫn thơ trong hầu hết các truyện, nhưng hay nhứt là bài “Tết này chưa chắc em về được.” Dường như dẫn thơ vào trong truyện là sở trường trong văn cách của ông mà tui ít thấy ai làm được!

4/ Thứ tư là, ngoài truyện “Nụ cười tre trúc” mà dường như nhà phê bình văn học nào cũng khen ông, tui thấy truyện “Năm nay đào lại nở” của ông cũng hấp dẫn hổng thua gì truyện tui vừa nhắc. Ông thương những “bà già lượm lon”, “bà già bán đậu phọng lép”, “bà già bán mía ghim”, “bà già bán cà rem”… Tui hiểu và tui tin tấm lòng ông nhớ quê hương qua hình ảnh các bà già nghèo lăn lóc giữa nắng mưa mưu tìm chút đỉnh tiền đựng trong cái áo túi rách giữa chợ đời…

Vài hàng chia sẻ cùng ông sau khi đọc xong tuyển tập truyện ngắn của ông. Mong ông đừng giận về những gì tui nói thiệt tình nhe ông! Tui không quên kính chúc ông luôn dồi dào sức khỏe để yêu nhiều thêm và viết truyện cũng như làm thơ nhiều thêm nữa.

Nay kính chào ông

Hai Trầu

Phụ chú:

1/ “Sông nước Hậu Giang và Nguyễn Ngọc Tư” của Kiệt Tấn, trang nhà Talawas, ngày 26-12-2007

1/ Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, nhà xuất bản Trẻ và Thời báo kinh tế Sài Gòn , tái bản lần thứ 3, năm 2006, trích ở bìa sau cuốn sách.

2/ “Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư”, sđd, trang 135-136

4/ & 5/ “Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư”, sđd, trang 137

6/ “Việt Nam Tự Điển” của lê văn Đức & Lê Ngọc Trụ, nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, năm 1970, quyển Hạ, trang 1382.

7/ “Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư”, sđd, trang 147

8/”Việt Nam Tự Điển Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ”, sđd, trang 1289.

9/” Việt Nam Tự Điển”, sđd, trang 1283

10/” Việt Nam Tự Điển”, sđd, trang 1198.

11/ “Việt Nam Tự Điển”, sđd, trang 1204

12/”Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư”(sđd), , các trang 38, 39, 55, 57, 64….

13/”Tuyển tập truyện ngắn Nguy ễn Ng ọc T ư”, nhà xuất bản Văn Hoá Sài Gòn, năm 2006, các trang 5, 19,73,100, 110, 114.

14/ “Cánh đồng bất tận” cua Nguyễn Ngọc Tư, nhà xuất bản Trẻ và Báo Tuổi Trẻ, bản in lần thứ chín, năm 2006, các trang 27, 37, 63, 99,113, 121

15/ Các truyện “Hiu hiu gió bấc”, “Dòng nhớ”, “Nhớ sông” in trong ba cuốn Giao Thừa, Cánh đồng bất tận, Tuyển tập truyện ngắn; các truyện “Nhà cổ”, “Huệ lấy chồng”, “Biển người mênh mông” vừa in trong “Tuyển tập truyện ngắn”, vừa in trong Cánh đồng bất tận”.

16/ “Tuyển Tập Kiệt Tấn”, của Kiệt Tấn, nhà xuất bản Văn Mới (Hoa Kỳ), năm 2002.

bài đã đăng của Lương Thư Trung


3 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Seo sắt quắt queo

    “Ba nhìn má qua ánh đèn chong leo lét, chợt giật mình, đôi gò má của vợ hiền năm ngoái còn hồng vì rượu, nay đã seo sắt quắt queo vì trơ trọi dưới nắng và gió trời.” (NNT)

    Nhà văn Lương Thư Trung có vẻ không đồng ý lối dùng chữ “seo sắt quắt queo” vì, nó trúc trắc tối nghĩa. Theo ông thì dùng 1 chữ seo là đủ nghĩa.

    Theo tôi thấy, cách dùng nầy khá thông dụng trong tiếng Việt. Như, linh tinh lang tang, lấm la lấm lét, con cà con kê, lục cục lòn hòn, ầu ơ dí dầu… Nhưng đây là cách nói, cách nói thông dụng cũng có thể đem vào cách viết được. Nhất là trong tiểu thuyết phần đối thoại. Nếu nhà văn khéo dùng, sự dung dị có thể trở nên đắc địa.

    Ngoài ra, chữ “dung dị” xuất phát từ Hán Việt 容易. Có nghĩa là dễ dàng, easy.

    Dễ dàng là thói hồng nhan
    Càng cay nghiệt lắm càng oan trái nhiều
    (Kiều, ND)

    Có giáo sư dạy trung học Bác Ái của người Hoa Chợ Lớn ,trước 75, đã dịch hết Truyện Kiều của ND trở ngược lại thơ chữ Hán bảy chữ.

    Dung dị hồng nhan xưng mỹ đức
    Tiêm toan khắc nghiệt thị oan khiên
    (Trương Cam Vũ)

    Hồi trước, đọc 2 câu lục bát trên của ND tôi cứ ngờ ngợ không rõ ND muốn nói gì. Người phụ nữ thời xưa có Tứ Đức để noi theo, tại sao ND lại cho rằng sự dễ dãi nên là thói quen của họ? Rồi sau nầy, đọc thêm qua thơ chữ Hán, thấy ông giáo sư viết “dung dị” là mỹ đức thì tôi hiểu ra phần nào.

    Tà tà bóng ngả về tây
    Chị em thơ thẩn dang tay ra về
    Bước lần theo ngọn tiểu khê
    Lần xem phong cảnh có bề thanh thanh
    (Kiều, ND)

    Tà tà nhật ảnh tiệm trầm tây
    Tỷ muội trì trù huề thủ qui
    Tín bộ tiểu khê duyên lộ khứ
    Lưu quan cảnh sắc biệt thanh thê
    (Hán Dịch, TCV)

    Một đặc điểm của Việt Văn là cách nói đôi: xa xa, chiều chiều, nhà nhà, dễ dãi, nhỏ nhẹ, vẩn vơ, tù mù, tần mần, lả lướt v.v…
    Trong Hán Văn cũng có cách nói đôi. Như: thê thê, lâm li, lãng đãng, tà tà, du du, bình bồng, phiêu phiêu, v.v…

    Nhưng phải nhìn nhận là người Việt duy trì cách nói (và viết) nầy sâu rộng hơn người Hoa hiện tại. Theo cố GS Lương Kim Định, đây là cũng là phần đóng góp rất lớn của Cộng Đồng Bách Việt cách đây hơn 2000 năm. Di chứng còn lại chính là bộ Kinh Thi:

    Quan quan thư cưu
    Tại hà chi châu
    yểu điệu thục nữ
    Quân tử hảo cầu

    Nguồn: http://poem.tkaraoke.com/17657/Kim_Van_Kieu___Han_Dich_2.html

  • hoàng xuân sơn viết:

    Chào bác Hai Trầu !
    Nhà văn Kiệt Tấn là người mang nhiều bộ mặt khác nhau : có khi hiền như cục bột, có khi dữ thần “tơi bời hoa lá “. Không chừng khó minh bạch như mấy câu tối tăm sau :

    K I Ệ T . il était une fois

    thúy nan không thời xanh
    vòng quay đời lặng lẽ

    Uống cạn tinh đời
    khật khừ hoan trinh bọ ngựa
    tay loạn quơ hớt nhào thinh không
    đổ xuống thân nồng a – ha – ha
    tìnhyêutìnhyêu lải nhải yêu tình
    nổ tung trái phá

    nếm tuổi vườn hoa tranh
    mù trễ xuống vai điếng lời
    nuốt bụm miệng run tay lần khúc
    áo thơm tình bóc vỏ
    cuộc sống kéo màn thiên thể
    mờ con mắt sao nhương
    luân hồi bày ra thế sự
    thẳm đen . ôi !!!
    đóa thược dược nhiệm mầu

    sóng lan dần độ non yếu
    chồm ngất đại dương bão cộng trừ

    năm thần vào cửa viện nhánh biển xõa tóc chân đất lờ cờ em
    đêm tay mơn dỗ ôm cỏ tuyết
    lêlêlêlêlêlê
    mộng mị tru gào
    ăn trớt hiện thực con mắt đỏ tròng
    uống một lần đập vỡ chai
    và khóc trẻ nít

    hôn một lần tay thiếu phụ
    là hôn suốt một đời
    sương khuê

    HOÀNG XUÂN SƠN
    27 . dec . 2006

  • thường mộng viết:

    Với bác Lương Thư Trung,

    Rất thú vị khi đọc:”LÁ THƯ TỪ KINH XÁNG: Vài hàng gởi nhà văn Kiệt Tấn”từ bác.

    …” chẳng khác nào ông vẽ bùa rồi ông tự đeo ”
    ” Nhà văn mà viết văn khen nhau là chuyện thường tình, hổng có gì đáng nói”…
    -Tôi rất thích lối viết nầy.Trong tâm tình sông nước miền Nam,một góc mạn đàm:

    ” “Đọc vài ba truyện khác, có cảm tưởng Tư mê cải lương, mê điện ảnh và cũng có thể mê làm đào hát luôn không chừng?” Cái này ông đoán hơi trật rồi ông à! Tui thấy Nguyễn Ngọc Tư viết:”Tôi không mê cải lương. Tôi chỉ thích thú với nghiệp của người nghệ sĩ. Họ có thể sống nhiều cuộc đời, nhiều vai diễn khác nhau.”(2) ”
    -Câu nầy bác bói không linh!KT chỉ có cảm tưởng…
    “:”Bằng lối viết dung dị, Tư đã làm bật sáng lên được cái tương tư của hai người tuy cách mặt nhưng không xa lòng… Cái thương nhớ tơi bời hiện lên theo từng hình ảnh rõ nét, khắc khoải theo từng chữ viết dung dị mà đúng tận tâm can.”(trang 2)
    -Chỉ cần bỏ đi hai chữ “dung dị” sau là câu văn sẽ rỏ nét.
    ***dung dị: thung dung,bình dị.từ kép được Việt hóa.Văn phong miền Nam mang đầy dung dị tính,nhưng không hề là dễ dàng.
    ” “… những người đàn ông xếp bằng ngồi trên mui ghe vấn những điếu thuốc to đùng bằng đầu ngón chân cái, phì phà nhả khói lên trời.””
    -Chắc bác không hút thuốc rồi.Điếu thuốc to bằng ngón chân cái!…đúng đấy thôi!
    ” “lúc la lúc líu””
    -Cũng có thể viết:”lúc la lúc lắc”,”lung lay lúc lắc”.
    …gió theo lối gió mây đường mây
    dòng nước buồn thiu hoa lẳc lay
    thuyền ai đậu bến sông trăng đó
    có chở trăng về kịp tối nay…
    hoài ức về một đêm trăng,đối diện với dòng sông,với mây trời,với gió,với hoa cỏ bên bờ,với những con thuyền như say ngủ,người thơ mong một thần thoại…
    Với ba miền ngôn ngữ,vài ba dị biệt,đôi khi chúng ta đọc nó,cũng phải cười trừ.
    Như:thông thường chúng ta(những người Việt Nam) nói:Bắp trổ cờ rồi!chúng ta không hề nghĩ nó là hoa;nhưng có một ngày chúng ta bỗng đọc thấy hoa bắp…cũng là vui thôi…
    Cảm ơn bác Lương Thư Trung.
    Cảm ơn tạp chí Da Màu.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch