Trang chính » Biên Khảo, Phê Bình Email bài này

MỐI TÌNH ĐẦU hay THỬ NHÌN LẠI “ĐÂY THÔN VỸ” của HÀN MẶC TỬ

 

Mối tình đầu? Đó là câu chuyện trữ tình, lãng mạn của một vài trăm năm về trước? Mà ngay vào thời kỳ ấy nó cũng chỉ áp dụng cho một số trường hợp. Là vì nếu có người tha thiết, trân trọng và ôm mãi trong lòng “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy”, thì cũng có kẻ xem đấy như một kỷ niệm bé nhỏ, êm đềm, một biến cố trong vô vàn biến cố khác tất nhiên phải xẩy ra trong đời người. Nhưng dù sao đó vẫn là đề tài muôn thuở, muôn nơi của những chuyện tình sướt mướt như Tristan và Iseut thời trung cổ châu Âu, Romeo và Juliet, Catherine và Heathcliff ở Anh, Paul và Virginie ở Pháp, Werther ở Đức, vân vân.

Thế trong văn học của ta? Cũng không thiếu những thiên tình sử, những mối tình đầu. Chỉ xin đề cập đến một vài truyện tiêu biểu mà thôi

Đầu thế kỷ thứ 19 (1804) Phạm Thái viết Sơ Kính Tân Trang kể mối tình của mình với Trương Quỳnh Như. Phạm Thái, một chiến sĩ cần vương quyết chí khôi phục Nhà Lê, và là một nhà thơ tài ba có chỗ đứng trong văn học nước nhà; Quỳnh Như, cô em gái của một người đồng chí. Bôn ba khôi phục Nhà Lê nhưng mộng không thành, nhóm cần vương cuối cùng tan vỡ, ôm ấp khối tình với Quỳnh Như thì người đẹp chết sớm, Phạm Thái hết muốn sống, mới 37 tuổi đã lìa đời, để lại những vần thơ ảo não:

“Ta hăm hở chí trai hồ thỉ, bởi đợi tình cho nấn ná nhân duyên; mình long đong thân gái liễu bồ, vì giận phận hóa ngang tàn tính mệnh.

“Cho đến nổi hoa rơi lá rụng, ngọc nát châu chìm; chua xót cũng vì đâu, não nuột cũng vì đâu?

“Nay qua nấm cỏ xanh, tưởng người phận bạc, sùi sụt hai hàng tình lệ, giải bày một bức khốc văn, đốt xuống tuyền đài, tỏ cùng nương tử …”

Nhưng thê thảm hơn nhiều, ngang trái hơn nhiều, đó là cuộc tình của Thúy Kiều và Kim Trọng trong Truyện Kiều dưới ngòi bút thiên tài Nguyễn Du. Thà cả hai người yêu nhau cùng chết như Romeo và Juliet, hoặc một người lìa đời để người còn lại sống trong thương nhớ như Phạm Thái và Quỳnh Như, hay Heathcliff và Catherine. Đằng này số phận cay nghiệt tách đôi Kim và Kiều mỗi người một ngã, cách biệt nhau như trời với vực – chàng thì đường rộng thênh thang tiến bước, nàng thì từ nơi khuê các phong gấm rủ là nay ngụp lặn trong chốn bùn nhơ. Đối nghịch quá lớn! Cho nên những “Khi Về” không phải là những hạnh ngộ mà là tai nạn. Hai tiếng ngắn ngủi “Khi Về” nghe như tiếng nạt nộ của định mệnh, của tiếng búa đập vào nắp quan tài.

Khi chàng về vườn Thúy tìm nàng:

“Khi về hỏi Liễu Chương Đài

Cành xuân đã bẻ cho người chuyên tay.”

Và cả “Khi Về” ở giai đoạn Kim Kiều tái ngộ. Lúc ấy Kiều mới qua khỏi tuổi 30, tính từ tuổi đôi tám bắt đầu cài trâm (Xuân xanh xấp xỉ đến tuần cập kê) cho đến sau 15 năm hoạn nạn. Vâng, Kiều còn trẻ lắm “Chừng xuân tơ liễu còn xanh” và nhan sắc thì “Hoa tàn mà lại thêm tươi/Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa”. Nhưng chỉ vì những kỷ niệm không thể nào quên được của mối tình đầu, Kiều đành phải nhận lời sống bên cạnh, bên lề cuộc đời của người yêu cũ đang hưởng hạnh phúc với em gái của mình. Dù muốn biện bạch thế nào đi nữa, đấy không phải là một cuộc sống bình thường và hạnh phúc; trái lại nó bỡ ngỡ, lúng túng, bẽ bàng. Đó là chưa kể trong một xã hội phong kiến gò bó, khép kín, và đầy thành kiến, sẽ không thiếu những lời ong tiếng ve về quá khứ của một gái giang hồ. Nếu không có biến cố nào khác nữa xẩy ra, thì suốt cuộc đời của Kiều quả là một bi kịch lớn. Có lẽ Kiều sẽ giã từ cuộc sống tạm bợ ấy để về với song thân nay đã nương thân với gia đình người con trai là Vương Quan chăng? Lại “khi về” thêm một gánh nặng và tai tiếng cho em trai. Hay nàng sẽ trở lại chốn “am mây” tìm sự yên ổn cho tâm hồn trong lời kinh tiếng kệ, trong mùi thiền và màu thiền mà nàng đã bắt đầu yêu mến:

“Mùi thiền đã bén muối dưa

Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng.”

*

Nhưng lại cũng có những mối tình đầu một chiều, những mối tình thơ mộng tuổi học trò, tuổi mới lớn, tuổi của e thẹn, sợ sệt, tuổi bắt đầu biết yêu, thế mà nó đeo đẳng rất lâu, có khi suốt một đời người. Loại tình ái này xẩy ra vô số kể trong cõi người ta, trong thơ, trong văn, trong thư, trong “lưu bút ngày xanh”, trong những mẫu chuyện kể qua cốc cà phê, chén trà, trong canh bạc, hoặc những lúc vui nhộn cũng như những khi buồn rầu. Lại càng thú vị hơn nữa khi đó là chuyện mối tình đầu một chiểu của nhà thơ nổi tiếng Hàn Mặc Tử, một mối tình không đầy nước mắt như những mối tình lớn trên thế giới mà ta vừa kể, trái lại nó bâng khuâng, mơ hồ, lãng đãng, được diễn tả một cách xuất thần trong bài thơ Đây Thôn Vỹ.

Hàn Mặc Từ yêu nhiều người, nhưng người mà thi nhân mỗi khi nhắc nhở đến đều dùng lời lẽ trân quý, đó là Hoàng Cúc. Năm 1932 lúc Hàn Mặc Tử vừa 20 tuổi, lần đầu tiên gặp Hoàng Cúc tại Quy Nhơn là yêu ngay, không cần biết người mình yêu nghĩ gì về mình, và đấy là mối tình đầu của nhà thơ. Tình yêu nồng nàn, tha thiết ấy không được đền đáp. Bốn năm sau, năm 1936, khi tiếng tăm đã vang dậy, Hàn Mặc Tử có dịp gặp Hoàng Cúc lần thứ hai, tình yêu trong lòng người thơ vẫn sôi nổi, mà người đẹp thì vẫn hững hờ.

Đến năm 1939, bệnh tình đã tới thời kỳ vô phương cứu chữa, Hàn Mặc Tử càng làm nhiều thơ, những bài thơ kinh dị, đau đớn, khổ não[1] khiến Hoài Thanh trong Thi Nhân Việt Nam đã thảng thốt:“Chỉ trong thơ Hàn Mặc Tử mới thấy một nỗi đau thương mãnh liệt như thế. Lời thơ như dính máu … Đến đây ta đã hoàn toàn ra khỏi thế giới thực và cả thế giới mộng của ta … Hàn Mặc Tử đi trong trăng, há miệng cho máu tung ra làm biển cả, cho hồn văng ra, và rú lên những tiếng ghê người … Ta rùng mình, ngơ ngác …”

Thế nhưng, thật là kỳ lạ, khi nhận được “bức ảnh phong cảnh, chụp cảnh hoàng hôn mua ở phố. Trong ảnh không có cô gái nào khác ngoài cô chèo đò” (Thư của Hoàng Cúc trả lời Quách Tấn đề ngày 15/4/1971, trích từ cuốn Lá Trúc Che Ngang của Hoàng Thị Quỳnh Hoa ) do người đẹp của mối tình đầu từ Huế gởi vào tặng, Hàn Mặc Tử dường như quên hết mọi khổ não tục lụy đã đáp lại bằng một bài thơ rất đẹp, rất trân trọng, rất êm đềm, tuyệt nhiên không có một chút gợi ý nào về những nỗi đau đã kinh qua, hoặc về ám ảnh nhục dục mà ta thỉnh thoảng gặp trong những bài thơ tình khác[2] của Hàn, mà vào thời ấy tình dục trong văn thơ bị lên án là xấu xa. [3]

Và cũng không buồn thảm như hầu hết thơ của Hàn vào giai đoạn đó[4].

Đó là bài Đây Thôn Vỹ.

Đây Thôn Vỹ lời lẽ nhẹ nhàng, thanh cao, lung linh, êm ái, man mác, như nhung, như lụa, một kiệt tác, một bài thơ nổi tiếng nhất của Hàn Mặc Tử. Thơ hay phải được đọc đi đọc lại nhiều lần, và mỗi lần đọc không chừng lại khám phá được một cái gì mới. Ta thử đọc toàn bài:

Đây Thôn Vỹ

Sao anh không về chơi Thôn Vỹ?

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên.

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về̀ kịp tối nay?

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra.

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

Bài thơ mới đọc qua thấy êm ả, giản dị, dễ hiểu. Nhưng đọc đi đọc lại ta nhận ra không phải thế. Có những dòng nước ngầm, những tình ý miên man, những lời lẽ hàm súc, đa tầng, đa nghĩa.

Trước hết, hãy nhìn lại hai từ tưởng như đơn sơ “anh” và “em”. Hai từ này có thể ở ngôi thứ nhất, thứ nhì, hoặc cả ngôi thứ ba, tùy cách dùng. Trong những bài thơ khác, danh xưng, chủ thể, khách thể được tác giả sử dụng đâu vào đấy. Chẳng hạn trong bài Tình Quê:

Trước sân anh thơ thẩn

Đăm đăm trông nhạn về

Ngàn lau không tiếng nói

Lòng anh dường đê mê

chữ “anh” ở ngôi thứ nhất.

Chữ “em” trong bài Bẽn Lẽn cũng ở ngôi thứ nhất:

Em sợ lang quân em biết được

Nghi ngờ tới cái tiết trinh em.

Trong bài Lưu Luyến thì chữ “anh” ở ngôi thứ nhất, chữ “em” ngôi thứ hai:

Chưa gặp nhau mà đã biệt ly

Hồn anh theo dõi bóng em đi

Nhưng trong bài Đây Thôn Vỹ, chữ “anh”, “em” dùng ở ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ hai đều được.

Trước tiên, theo cách hiểu thứ nhất, nhà thơ đóng vai người đẹp nhắn mình ra Huế thăm. Thì chữ “anh” được dùng ở ngôi thứ hai. Câu đầu tiên đã là một ngạc nhiên lớn cho người đọc. Đó là lối nói làm duyên thay vì nói thẳng rằng xin anh về đây thăm em nhé, nhân tiện chơi thôn Vỹ luôn. Chữ “chơi” thật đắc dụng. Chơi Thôn Vỹ có nghĩa là ngao du, thăm thú đây đó, nào vườn cây trái sum sê, nào tre trúc xanh tươi, rồi bến nước mát rượi, trưa thì kiếm con thuyền nhỏ hoặc chiếc đò ngang qua dòng sông Hương tới cồn Hến, nổi tiếng cơm hến đặc biệt, rồi được tráng miệng bằng chè bắp Cồn… Nhưng câu nói đầu tiên ngắn ngủi ấy cũng có thể là câu trách móc nhẹ nhàng, hờn mát – nhà thơ giàu tưởng tượng mà:

Sao anh không về chơi Thôn Vỹ?

Và về để nhìn nắng trong vườn của “ai”. (Lại chữ “ai”. Vườn ai? Vườn của “em” đấy):

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Đồng thời cũng về để nhìn khuôn mặt của em sau lá trúc? Chắc không hẳn thế, người đẹp không quá sỗ sàng đến thế. Vậy thì có thể là anh về để “người ta” được nhìn anh sau những cành lá trúc:

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Trong khổ hai của bài thơ, vấn đề chủ thể, khách thể, tương đối dễ giải quyết. Trước cảnh vật không ngừng chuyển động, gió, mây, nước, chỉ có em (chỉ có tôi) đứng yên như cây bắp chôn chân vào lòng đất, như em đứng yên một chỗ lòng dạ bồn chồn, như hoa bắp lung lay trước gió, mong sao tối nay con thuyền tình kịp chở trăng về.

Khổ cuối lại nổi cộm vấn đề chủ thể, khách thể. Ai mơ khách đường xa: Em (tôi) mơ. Nhưng “ai” không nhìn ra vì áo “em” trắng quá: Anh. Cuối cùng “ai” biết tình “ai” có đậm đà: Có lẽ cả “anh” và “em”:

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà

Đúng vậy, khó có thể biết rằng “tình ai có đậm đà” hay không khi anh thì yêu em một chiều, em thì tặng anh một tấm hình mua ngoài phố!

Theo cách hiểu thứ hai, như đã trình bày, chữ “anh” có thể ở ngôi thứ nhất, do đó “anh” ở đây có nghĩa là “tôi”, “mình”. Tác giả tự bảo: “Ừ nhỉ, tại sao mình không về Thôn Vỹ một chuyến chơi, tại sao anh không về Thôn Vỹ nhân đó thăm em?” Về để được nhìn nắng hàng cau, được nhìn ngôi vườn xanh mướt, được nhìn khuôn mặt yêu dấu sau mấy ngọn lá trúc.

Khổ hai của bài thơ mô tả những rung động trong lòng người bằng những xôn xao bên ngoài. Đây là cách diễn tả nội tâm quen thuộc của Hàn. Trong bài Tình Quê chẳng hạn, anh thì đi thơ thẩn, nhạn thì từ xa bay về, còn mây, gió, nước[5] cũng luôn luôn chuyển động để chỉ sự “đê mê” trong lòng anh.

Nhưng ở khổ ba chủ thể và khách thể lại hòa lẫn ngay từ hai câu đầu. Ai mơ khách đường xa? Em chứ đâu phải anh. Nhưng đến câu thứ nhì, chủ thể lại trở về anh:

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Điều lạ lùng là dù đứng từ quan điểm nào, quan điểm người kể chuyện là “anh” hay “em”, hoặc có lúc quan điểm lẫn lộn như vừa được nêu lên, tác giả vẫn tạo nên sự trong sáng, nhẹ nhàng, êm đềm, trôi như dòng nước xuôi, như đám mây vờn. Người đọc hoàn toàn bị bài thơ lôi cuốn, không hề thắc mắc về vấn đề chủ thể, khách thề. Anh và em quyện vào nhau hòa lẫn, đồng điệu, mơ hồ, lãng đãng, tuy hai mà một, tuy một mà hai, trong một không gian thanh khiết, trong một tâm cảnh đầy hoài niệm, thương nhớ, lẫn băn khoăn, tần ngần, trong một khung cảnh rất Huế, Huế xưa. Đây thôn xóm xanh tươi với nắng trong vườn với cau, chuối, tre, trúc – Huế nổi tiếng loại nhà vườn. Kia, bên kia nhánh sông Hương, bên kia dòng nước buồn thiu, là Cồn Hến có hoa bắp lay, có bắp ngon, có cơm hến, hến vớt từ đáy sông Hương, và chiều về thì sương khói dâng lên bao trùm cảnh vật. Rất đặc thù Huế mùa Thu.

Thế là, trong tưởng tượng của nhà thơ, hai người đã được sống với nhau trọn một ngày từ lúc nắng lên cho đến khi chiều về. Và tối nữa chứ: “thuyền ai đậu bến sông trăng đó” chắc sẽ “chở trăng về kịp tối nay”.

Hai người bên nhau trọn một ngày? Niềm ước mơ này của Hàn Mặc Tử khiến liên tưởng ngay đến câu thơ “Đôi lứa thần tiên suốt một ngày” trong một bài thơ cũng rất hay của Huy Cận, bài Áo Trắng[6]. Lại cũng áo trắng, nhưng không phải áo em trắng quá nhìn không ra mà là áo trắng có thật, đơn sơ, dịu dàng, như hạnh phúc có thật, và “anh” là người được hưởng hạnh phúc đó, và cũng có gió nhưng không phải gió lay hoa bắp trên cồn mà là gió lùa vào tóc em, cũng nắng nhưng nắng xuyên qua một căn phòng ấm cúng dệt lên trên tà áo chứ không phải nắng trong vườn cau. “Anh” và “em” được phân ngôi định vị đâu vào đấy. Tuy nhiên, áo trắng cũng chỉ là một biểu tượng, em còn cho anh những thứ khác quý giá hơn nhiều, rất gẩn gũi, rất cụ thể, sờ mó được. “Anh” thấy rõ và nắm bắt được nơi “em” từ “gót ngọc” đến bàn tay “ngón ngón thon”, rồi “đôi má nắng hoe tròn”, rồi “gió biếc vào trong tóc”; anh nghe nơi em “tiếng lẫn lời”; anh thở cả “hồn em”. Còn gì nữa? Cuối cùng hai bàn tay của anh nâng niu được cả “hạnh phúc”- đó là cái gì vậy mà ấm áp, êm ái, tròn đầy:

Em ban hạnh phúc chứa đầy tay

Nhưng bài Áo Trắng Huy Cận lại viết tặng Nhất Linh. Phải chăng, trong tình huống này, chẳng khác gì Xuân Diệu “Đến gần tổ ấm đôi chim bạn/ Bỗng thấy lòng cuồng yêu ngẩn ngơ”, Huy Cận cũng chỉ là người ngoại cuộc “cảm tác”. Chính Nhất Linh mới là kẻ may mắn?

Hàn Mặc Tử, trái lại, là một bất hạnh lớn. Trải qua bao đau khổ trên tình trường và cơn bệnh hiểm nghèo, cuối cùng, lúc sắp lìa đời – chưa đầy một năm sau nhà thơ mất – Hàn Mặc Tử mới được chút an ủi qua tấm hình gợi lại kỷ niệm của mối tình đầu, mối tình một chiều, dù đấy là tấm hình người con gái chèo đò mà Hoàng Cúc mua ngoài phố gởi tặng chứ không phải là tấm hình của Hoàng Cúc. Hàn Mặc Tử luôn luôn là người tình bất hạnh. Từ bất hạnh trong tình yêu, Hàn Mặc Tử đã để lại nhiều bài thơ tình bất hủ, trong đó bài thơ Đây Thôn Vỹ sẽ chịu sự thử thách của thời gian.

Cũng nên để ý rằng trên bề mặt Đây Thôn Vỹ tả cảnh, nhưng đây là một bài thơ tả tình tuyệt vời.

Lầu Hoàng Hạc bên Tàu nổi tiếng nhờ bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu. Tương tự như thế, làng Vỹ Dạ ở ngoại ô Huế càng được nhiều người biết đến kể từ khi bài thơ Đây Thôn Vỹ của Hàn Mặc Tử ra đời.


[1]

Cứ để ta ngất ngư trong vũng huyết

Trải niềm đau trên mảnh giấy mong manh

Đừng nắm lại nguồn thơ ta đương siết

Cả lòng ta trong mớ chữ rung rinh

(Rướm Máu)

hay

Hồn là ai? Là ai! Tôi không hay

Dẫn hồn đi ròng rã một đêm nay

Hồn mệt lả và tôi thì chết giấc

(Hồn Là Ai)

[2]

Làn môi mong mỏng tươi như máu

Đã khiến môi tôi mấp máy thèm

(Gái Quê)

Tôi thường muốn thấy người tôi yêu

Nhơ nhởn đồi thông lúc xế chiều

Để ngực phập phồng cho gió rỡn

(Tôi không muốn gặp)

Ống quần xo xắn lên đầu gối

Da thịt, trời ơi! Trắng rợn mình!

(Nụ Cười)

[3]

Vũ Ngọc Phan trong Nhà Văn hiện Đại: “Cũng như Thế Lữ, Hàn Mặc Tử là một thi sĩ luôn luôn ca ngợi ái tình, nhưng cái quan niệm về tình yêu của Hàn Mặc Tử không được thanh cao như của Thế Lữ. Cái tình yêu của Hàn Mặc Tử tuy diễn ra trong tập Gái Quê còn ngập ngừng, nhưng đã bắt đầu thiên về xác thịt … Đến bài hát giã gạo (Gái Quê, trang 31) của ông thì lời suồng sã quá, thứ tình yêu ở đây đặc vật chất, làm người ta phải lợm giọng.”

[4]

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu

Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu

Sao bông phượng nở trong màu huyết

Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu

(Những Giọt Lệ)

[5]

Trước sân anh thơ thẩn

Đăm đăm trông nhạn về

Mây chiều còn phiêu bạt

Lang thang trên đồi quê

Gió chiều quên ngừng lại

Dòng nước luôn trôi đi

Ngàn lau không tiếng nói

Lòng anh dường đê mê

[6]

Áo Trắng

Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong,

Hôm xưa em đến, mắt như lòng.

Nở bưng ánh sáng. Em đi đến,

Gót ngọc dồn hương. Bước tỏa hồng.

Em đẹp bàn tay ngón ngón thon;

Em duyên đôi má nắng hoe tròn.

Em lùa gió biếc vào trong tóc

Thổi lại phòng anh cả núi non.

Em nói anh nghe tiếng lẫn lời;

Hồn em anh thở ở trong hơi.

Nắng thơ dệt sáng trên tà áo,

Lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài.

Đôi lứa thần tiên suốt một ngày.

Em ban hạnh phúc chứa đầy tay.

Dịu dàng áo trắng trong như suối

Toả phất đôi hồn cánh mộng bay.

bài đã đăng của Ngự Thuyết


14 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Mặt chữ điền

    Bài thơ 12 câu, có 3 khổ, mỗi khổ 4 câu.

    1- Cảnh làng trên bờ, nhà, vườn, nắng, cau, trúc
    2- Cảnh dưới bến, mây, nước, thuyền, trăng
    3- Đoạn tả tình và hình dáng người con gái, áo em, mờ nhân ảnh, tình ai

    Có người ở Huế và cho rằng “mặt chữ điền” là cái bình phong trước những nhà khá hoặc giàu. Người Nam còn lưu lại cách nói “nhà mặt chữ điền” là cái nhà ngói nhỏ hơi vuông. Tôi rất thích đọc theo ý nầy. Vì nó đi liền với toàn khổ thơ # 1 tả cảnh đẹp Vỹ Dạ vườn và nhà.

    Ngoài ra, theo tôi, tre trúc trong thơ văn xưa ít đi liền với mặt người. Nó hay đi cùng với cảnh và vật như trăng, mặt trời hay đình chùa v.v… Mặt trời lên khỏi ngọn tre. Trúc xinh trúc mọc đầu đình.

  • thường mộng viết:

    Lạy Chúa,

    Đọc NT bình thơ đã thấy mệt,đọc qua anh Raccoon càng mệt hơn.Với chúng ta, HMT là một nhà thơ “mới”,sao có thể gọi là xưa!
    Tôi cố gắng tiêu hóa cái “hoa bắp”từ NT,bây giờ lại cố gắng tiêu hóa ba khổ thơ từ Anh Raccoon…

    “… rồi được tráng miệng bằng chè bắp Cồn…”

    “…chỉ có em (chỉ có tôi) đứng yên như cây bắp chôn chân vào lòng đất, như em đứng yên một chỗ lòng dạ bồn chồn, như hoa bắp lung lay trước gió…”

    “…Gió theo lối gió, mây đường mây

    Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…”

    Chẳng có “hoa bắp” nào trong thơ HMT,chỉ có những dòng chữ ngỡ như là rất giản đơn:

    gió theo lối gió,mây đường mây
    dòng nước buồn thiu,hoa lắc lay
    thuyền ai đậu bến sông trăng đó
    có chở trăng về kịp tối nay?

    Anh Raccoon,anh có bao giờ điên chưa,anh có bao giờ loạn chưa,anh có bao giờ giam mình vào bốn bức tường chưa,anh có bao giờ hoang mộng-nếu anh không có một trong những điều trên,bình thơ HMT không có chỗ cho anh rồi.

    Cảm ơn tạp chí Da Màu.

  • hoàng xuân sơn viết:

    Cám ơn black raccoon đã nhắc : làng Vỹ Dạ nơi tôi sinh trưởng có nhiều “nhà vườn” với bức binh phong nơi cửa ngõ đi vào. Cũng không hẳn là khá hoặc giàu. Có khi là nhà hương hỏa, người giữ nhà đã, và vẫn nghèo “rớt mồng tơi “. Có điều mỗi nhà vườn là một thế giới riêng, khép kín :
    “cành ngâu trước mặt chữ điền
    bỗng vàng hương hỏa thơm duyên nhà người” (HXS)

  • hồ đình nghiêm viết:

    Bác Thường Mộng nói oan cho anh Raccoon quá. Trong võ thuật, người ta vẫn trau dồi “lấy tĩnh chế động”. Trong văn chương cũng có thể lạm bàn, dùng tỉnh táo để hỏi chuyện người “nổi loạn”. Theo như cách nhắn gửi của bác Thường Mộng “bình thơ HMT không có chỗ cho anh rồi” thì e là sẽ không có chỗ cho bất cứ ai muốn nói “linh tinh” về thơ Bùi Giáng? Cái bi kịch chúng ta chả có mấy nhà phê bình văn học chắc rơi vào trường hợp na ná như trên? Theo thiển ý, anh Raccoon cứ việc đưa ra những nhận định riêng của mình. Những phản hồi ấy cần thiết để làm giàu thêm một “hoàn cảnh” và rồi đi tới một vỡ lẽ: Ồ, hoá ra là thế. Không phải ngẫu nhiên mà Bùi Giáng ưa nói: VUI THÔI MÀ! Tôi mạo muội mang cái tinh thần ấy để thưa với hai vị.

  • black raccoon viết:

    @ Nhà thơ Hoàng Xuân Sơn. Cám ơn sự bổ túc của ông, một người sinh trưởng tại Vỹ Dạ. Nhờ vậy tôi biết cái feeling của tôi về Huế không đến nổi so bad.
    @ Nhà văn Hồ Đình Nghiêm. Cám ơn sự góp ý khuyến khích của ông. Tôi chỉ viết góp ý bình luận trong phạm vi BBT cho phép cũng như sự chịu trách nhiệm với người viết bài chủ. Ngoài ra, sự chú ý của của quý vị đối với người viết dĩ nhiên là đầy lý thú, và đôi khi quý giá.

  • thường mộng viết:

    Nghĩa Là Thế Kia,

    Hình mhư trong “Mùa Thu Thi Ca” thi sĩ Bùi Giáng có viết:

    – Đọc rồi ta mới thấy ra,
    chữ là thế ấy,nghĩa là thế kia…

    Nghĩa là thế kia,chốn phiêu bồng rất mực…cũng chỉ là đùa vui.Thi sĩ Nguyên Sa:Hãy tránh đi những chú bình thơ,cho thơ ta tràn vào bốn cửa thành Đông Tây Nam Bắc.Bình giả vốn không tai.
    Bác HĐN,tôi viết:”…nếu anh không có một trong những điều trên…”,tôi tin-bác,anh Raccoon,cùng tất cả trong đó có tôi,ai chẳng đã một lần…
    Chúng ta,tất cả đều có thể bình thơ bác ạ.Đội nón cối bình thơ,đội nón sắt bình thơ,đeo kính màu bình thơ, đều được.”bình thơ HMT không có chỗ cho anh rồi” chỉ là lộng ngữ mà thôi.
    Chào bác HĐN.
    Cảm ơn tạp chí Da Màu.

  • hồ đình nghiêm viết:

    Bình luận đầu tiên, bác Thường Mộng mở đầu: Lạy Chúa! Bác than mệt vì đọc phải cái sai sót của bài chủ rồi gửi lời bàn đi, hoạ may đỡ mệt. Bác nói rõ, rằng thì là trong bài thơ nổi tiếng của Hàn Mặc Tử ấy tuyệt không có “hoa bắp lay”. Chẳng biết bác vin vào tư liệu nào để khẳng định? Bác viết “dòng nước buồn thiu, hoa lắc lay”. Mô Phật! Xin bác trưng ra chứng cớ cho bá tánh nhờ, cho người lỡ yêu thơ HMT khỏi than mệt. Bài “Đây thôn Vĩ” được in vào sách giáo khoa trước 75 và khi thầy cô bình phẩm cho học trò, vẫn có chung một nhận xét: “dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay” chính là nhãn tự của toàn bài thơ. Chúc bác TM luôn khoẻ, và sáng suốt.

  • thường mộng viết:

    Rồi Thôi,

    Tôi sẽ không còn viết về cái “hoa bắp” rất buồn nản nầy nữa.Bởi làm gì có “cây bắp ra hoa”.chúng ta có cây bắp trổ cờ,có râu bắp,râu ngô.”hoa bắp” cũng như “sông Trăng” bởi vì “Đây Thôn Vỹ”…
    Khi đọc HĐN đến: “dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay” chính là nhãn tự của toàn bài thơ.
    Tôi biết mình nên dừng lại.

    Cảm ơn tạp chí Da Màu.

  • black raccoon viết:

    Zea mays, corn, maize, mealie
    Cây bắp, cây ngô

    Brief facts:

    … the corn plant has separate male and female flowering parts.
    Cây bắp có hai phần hoa đực và hoa cái khác nhau.

    Người Việt gọi phần hoa đực là cờ bắp, cờ ngô. Phần hoa cái là đùm… râu của nụ bắp hé ra từ kẹt nhánh. Nguyên tắc căn bản của vạn vật học là phấn hoa đực rơi xuống hoa cái thụ tinh làm ra hạt.

    Tóm tắt, bắp có hoa chứ. Vấn đề chỉ là cách gọi tên.
    Vậy, nếu bài thơ của HMT mà thay từ “hoa bắp” bằng “râu bắp” thử coi, nhãn quan biến thành chột… quan ngay tức khắc.

    Nguồn: http://www.geochembio.com/biology/organisms/maize/

  • hồ đình nghiêm viết:

    Cám ơn B. Raccoon đã nói thay. Xưa nay câu “nói có sách, mách có chứng” bao giờ cũng là tiếng chuông nhắc nhở: Kéo màn. Trước khi hạ màn, tôi xin đưa ra một hình ảnh, giả dụ bây giờ tôi viết: “Đ.M cây bắp, mày không trổ bông, tao nhổ mày đi, máu trào thiên cổ” thì nhà thơ NĐSơn (còn ở trong nước) có nhảy đựng nhảy đột lên không? Hài Kịch? Hay Bi Kịch?

    Xin hãy để cho hoa bắp được quyền lay bên dòng nước buồn thiu như nó đã từng. Nó vô lý, nó chẳng hay, là gì đi nữa thì nó đã ở yên trong lòng người yêu thơ HMT mất rồi.

  • Lê Chất viết:

    Bài thơ của HMT làm trước năm 1940, chúng ta nên hiểu cảnh vật thôn Vỹ thời đó khác xa thôn Vỹ bây giờ.Những vườn bắp ở vùng Cồn Hến, ở bờ sông thôn Vỹ tiếp nhận phù sa màu mỡ sau mỗi mùa lụt lội nên sinh ra những trái bắp Cồn ngon nổi tiếng của xứ Huế.
    HMT đã từng ở Huế, HMT đã từng thấy hoa bắp lay động là thực tế.
    Câu ” hoa bắp lay ” diễn tả tuyệt vời tròn đầy ngữ nghĩa , còn ” hoa lắc lay ” thì què quặt, mù mờ quá.

  • Phan Đức viết:

    Bình thơ cách trịch thượng hay khẳng định kiểu ‘đinh đóng cột’ như Thường Mộng trên
    đây có lẽ qúa hiếm hoi,thậm chí không có ai cả,chỉ trừ ra Bùi Giáng nhưng nhà thơ BG.
    dù tài hoa…nhất mực thi nhân nhưng tôi nghĩ nhà thơ đó còn biết tự chế hay khiêm tốn hơn ông TM.rất nhiều !
    Nhà thơ HMT.là một nhà thơ “mới” nhưng mới vào thời điểm nào là điều phải cân nhắc để đánh giá cho đúng.Hôm qua mới nhưng hôm nay đã cũ !

  • thường mộng viết:

    Với Phan Đức,

    .Mấy câu tôi viết được Phan Đức gọi là “bình thơ”! Bình thơ trong ý tưởng của Phan Đức xoàng vậy à?
    -Phan Đức cũng không biết hai chữ “trịch thượng” dùng làm sao-có bật tiên hiền nào nơi những dòng chữ tôi viết?
    -” khẳng định kiểu ‘đinh đóng cột’ “-Những câu như:”Đinh Đóng cột”,”mọi con đường đều dẩn đển La Mã”v.v.đã không còn là một khẳng định!
    -Khi nào cần phải khìêm tốn,khi nào cần phải tự chế,khi nào cần phải điên loạn…Phan Đức đem tôi đi so sánh với cụ Bùi Giáng về cái “tánh khiêm tốn”…Phan Đức …!!!
    -“Hôm qua mới nhưng hôm nay đã cũ !”-Trong giáo lý của chư Phật:Sinh diệt trên từng mỗi sát na;cũ mới trên từng mỗi sát na…
    -Nếu lý luận kiểu nầy,Phan Đức còn viết làm chi.
    Cảm ơn tạp chí Da Màu.

  • Lê Chất viết:

    Tôi thấy vài nhà thơ ” gàn, bướng ” sửa lời thơ người khác theo ý ” dở hơi ” của mình.
    Té ra, khả năng của họ tệ vậy sao!
    Cám ơn Da Màu.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch