Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

Núi Đoạn Sông Lìa – phần 55

 

NuiDoan-48

Dưng không núi đoạn sông lìa
Đêm ôm gối lạnh, ngày chia ngắn dài.

 

(tiếp theo)

 

*

Sau giờ cơm trưa, quán còn lại độc nhất má con người khách phương xa. Trưa làng quê thinh vắng. Thoảng hoặc, vọng lại tiếng gió khe khẽ dỗ giấc cành lá. Ăn uống no bụng, thằng con trai kêu buồn ngủ. Bà khách kê hai cái ghế sát vách, biểu thằng nhỏ tháo xăng-đan, leo lên ngủ tạm. Bà chủ quán dọn bàn xong xuôi, bưng chén chè trôi nước cho khách tráng miệng, tự động kéo ghế ngồi cạnh. Bà khách nhúng muỗng khuấy nhẹ, xắn một miếng bánh đưa lên miệng.

– Bà chủ nấu chè trôi nước thiệt ngon.

Bà chủ tươi mặt:

– Cám ơn cô. Chắc tại nếp mới nấu với đường thẻ Châu đốc.

Bà khách buột miệng bâng quơ:

– Vắng vẻ quá!

Bà chủ quán đưa mắt ngó ra miền ruộng đất ngập nắng, không một bóng người, gợi chuyện:

– Trưa nắng, ai cũng rút vô nhà nghỉ ngơi. Nói vậy chớ, cũng tuỳ lúc. Mới chủ nhựt tuần rồi chớ đâu, khách thập phương tụ về đây hà rầm. Tui đổi thực đơn, quay qua bán cơm chay, bán được rủng rỉnh. Vui quá tay!

– Cớ gì họ tới đây vậy bà chủ?

– Tại cô em ở xa, nên hổng biết. Năm nào cũng vậy, tới ngày vía bà Vãi Trắng, đạo hữu gần xa dìa đây hành hương lên chùa Phụng cầu phước.

Thấy nét mặt bà khách lộ vẻ quan tâm, bà chủ quán tự động tiếp lời:

– Ở miệt nầy, ai lại hổng biết danh bà Vãi Trắng. Bả hổng phải người mình, chưn mày lông mi luốc luốc như cháy nắng, mũi cao da trắng, nhưng biết nói sỏi tiếng Việt. Hổng hiểu từ đâu, khi khổng khi không bả lạc chưn tới chùa Phụng, xin sư ông cho tá túc. Mà cô em biết hông, đâu phải bả đi một mình, bả còn dắt theo thằng con trai, làm thiên hạ rỉ tai nhau… úi trời, tùm lum đủ chuyện. Một đồn mười, mười đồn trăm. Người ta kéo tới chùa Phụng rần rần, cúng bái thì ít, mà để ngó mặt bà vãi da trắng thì nhiều. Còn thằng con, tóc nâu đen dợn sóng tự nhiên, da trắng bóc, hai con mắt xanh lè, trong veo như mắt mèo. Mặt mũi rõ ràng nửa tây nửa ta, coi ngộ hết sức. Tới bữa nọ, bén duyên Phật pháp, bả thí phác quy y, tu luôn. Bắt đầu từ đó, thiên hạ đặt tên cho bả là bà Vãi Trắng, còn thằng con là chú tiểu Lai. Chưa hết chuyện đâu nghe! Rồi hổng biết cớ gì, tui nghe kể lại, lần nọ có mấy ông lính kín tây ngoài chợ tỉnh tới chùa kiếm bả. Hai đàng nói chuyện ra sao hổng biết, mà sau đó tui nghe nhiều người đồn đãi chuyện nầy chuyện nọ, rối nùi. Có người kể rằng, sen đầm tới để hỏi cung bà Vãi Trắng, vì có kẻ nộp đơn tố cáo chuyện bả ăn nằm với chú đầy tớ người mình cho tới bụng mang dạ chửa. Ông chồng tây biết được, làm dữ, bị đôi gian phu dâm phụ lập mưu đầu độc, chết hổng kịp ngáp. Sau đó hai đàng hè nhau đem giấu thây ông tây, chỗ nào chưa kiếm ra…

Nghe tới đó, bà khách chép miệng xen vô:

– Ác quá!

Bà chủ quán xua tay, che miệng thầm thì:

– Chưa chắc đúng đâu cô! Vì kẻ khác lại nói, vợ chồng bả bị mấy ông Việt minh ùa tới bắt. Ông chồng bị họ cho đi mò tôm. Còn bả bị họ giữ lại, thay phiên nhau làm hỗn. Tới lúc chán chê, rồi có lẽ biết bả mang bầu, họ thả cho đi. Cơ duyên đưa đẩy, rốt cuộc bả tìm tới chùa Phụng xin làm công quả, như tui kể mới nãy đó.

Bà khách nhíu mày:

– Bà chủ mới nói, chủ nhật trước là ngày vía bả, nói vậy…

Bà chủ quán gật đầu:

– Bà Vãi Trắng mắc bịnh gì đó hổng biết, viên tịch ba năm trước. Ma chay bả kéo dài bảy ngày bảy đêm. Bữa đem thiêu, người đi đưa dài cả cây số. Tui chưa thấy đám ma ai rầm rộ như vậy. Nghe nói, vía bà Vãi Trắng linh như thần. Cầu mười, được bảy tám. Bởi vậy, tín hữu gần xa tới viếng chùa Phụng nhơn ngày rằm, ngày lễ lớn đông hơn trước. Quán cơm của tui, nhờ vậy, bán được rủng rỉnh.

Bà chủ quán ngưng lời, thở ra như vừa trả xong món nợ lần khân. Bà khách lưỡng lự giây lâu rồi buột miệng:

– Bà chủ quen biết ra sao với gia đình ông bà Phạm huy Chương?

Người đàn bà im lặng như để lục soạn, xếp đặt đầu đuôi những chương hồi ức bừa bộn. Bà nheo mắt ngó ra cảnh trời rực nắng ngoài kia. Tiếng một con cắc kè chặc lưỡi lẻ loi trên mái lá. Những hình bóng quá khứ xô về. Bà chép miệng:

– Nhiều chuyện quá, tui hổng biết bắt đầu từ đâu.

– Từ hồi chia đôi đất nước.

– Ờ, ờ, … Ông bà Tư có cả thảy bốn người con, hai trai hai gái. Cậu Chúc là con trưởng, tới cô Châu, cậu Chung, đứa út là cô Cẩm. Hồi đó thằng Được, con trai tui, học chung trường làng với cô con út của ổng bả. Cô Cẩm đẹp gái, lại sáng dạ. Vậy mà, hổng hiểu sao, cổ lại thích cặp kè với thằng con tui, bữa nào cũng ghé ngang rủ nó đi học chung. Cũng nhờ cổ mà thằng con tui ham học, chớ bản tánh nó tày lay, làm biếng nhớt thây, thêm tật nhớ đầu quên đuôi. Tới tuổi trổ mã, tự dưng nó đổi tánh, bớt nói, chịu khó học, làm tui mừng thiếu điều chết đi sống lại. Đậu xong bằng trung học ở trường cao tiểu bên Mỹ tho, nó học lấy bằng đánh máy chữ, rồi dìa đây xin làm thơ ký cho ty hành chánh tỉnh. Nó được miễn quân dịch vì lý do gia cảnh. Lóng rày đương mùa bãi trường, nhiều người ở tỉnh dắt gia đình dìa đây thăm quê, quán tui làm ăn khấm khá. Bữa nay chủ nhựt, thằng con trai tui nghỉ làm, về phụ tui được nhiều chuyện. Chủ nhựt ngày lễ nó dìa thăm tui ban ngày, lúc trời chạng vạng lại quành ra tỉnh ngủ. Tui hổng muốn cho nó ở lại đây qua đêm đâu cô, sợ sanh chuyện phiền phức. Lóng rày mấy ổng hay gõ cửa giữa khuya, xin gạo, kêu đóng thuế ủng hộ giải phóng…

Bà khách ngắt ngang:

– Mấy ổng là ai vậy bà?

Bà chủ quán quét mắt ngó quanh, không thấy ai, rồi thấp giọng:

– Là mấy người vô bưng theo bên kia chớ ai. Họ không ưa mấy người làm việc cho chánh phủ, kêu là tay sai cho đầu sỏ đế quốc gì đó, ai biết đâu nà! Ờ, lát nữa đây nó đạp xe về tỉnh, tui kêu nó dẫn cô với cháu ra bến xe cho lẹ.

– Cám ơn bà.

Bà chủ quán rót trà ra tách cho khách, rút một chân lên ghế, ngồi bó gối.

– Tui kể tới đâu rồi hé? Ờ, nhớ rồi… Sau khi cô Cẩm theo gia đình lên Sài gòn, tui thấy thằng con tui buồn ra mặt. Hồi đó, chỉ có mình cổ chịu kết bạn với nó.

– Bà biết lý do tại sao ông bà Phạm Huy Chương bỏ đi không?

Câu hỏi của bà khách khiến bà chủ quán sửng mặt lặng thinh. Lát sau bà hắng tiếng:

– Có người nói, tại lợi tức miếng vườn thửa ruộng không mấy khá, nên họ lên Sài gòn hùn hạp làm ăn với ai đó. Người khác lại bêu riếu, họ lên trển để lo kiếm thầy thuốc tây trị bệnh cho bà Tư với lại cô Châu. Từ bữa cậu Chúc bỏ nhà biệt tích, bà Tư mắc bệnh lãng trí. Còn cô Châu, thiên hạ đồn rùm beng, cổ lậm tình ông thầy giáo ở đàng ngoài vô đây dạy học. Năm đó, khi khổng khi không ổng xin nghỉ dạy, làm cổ thương nhớ tới độ sanh bệnh. Tui có thấy, người cổ mét xanh mét chằn như đờn bà ốm nghén. Tui có hỏi dò chị Ba Khởi với chú Năm Tự là hai người giúp việc cho ổng bả, nhưng ai cũng nói hổng biết.

Kể tới đó, bà chủ quán ngưng lời, day ngó bà khách trẻ, ánh mắt dò xét. Thiếu phụ chớp mắt ngập ngừng, rồi cất tiếng, khó khăn như mới học ráp chữ:

– Chuyện tôi với anh Chúc… Thú thiệt với bà chủ, có người mối mai trước khi ảnh ra ngoải.

Bà chủ quán nhíu mày:

– Ngoải nào, đi đâu, sao cậu Chúc hổng dắt cô em theo? Chồng vợ kiểu gì kỳ cục vậy?

Bà khách lúng túng:

– Dạ,… tại ảnh muốn vậy. Với lại mấy người khác nói, ảnh đi ra Bắc học tập vài năm rồi trở lại. Có tôi theo, chỉ thêm bận bịu.

– Ra Bắc? Xa dữ he!… Hay là ý cô em muốn nói tới lệnh tập kích hồi nẳm?

Bà khách nhoẻn cười lệch lạc:

– Dạ, phải. Anh Chúc đi tập kết theo chỉ thị, biểu tôi ở lại chờ. Năm thì mười hoạ tôi với ảnh có viết thơ cho nhau, qua trung gian cơ quan hồng thập tự ở bên Tây. Trong lá thơ chót, ảnh dặn tôi dẫn con về đây thăm ông bà nội với lại cô chú, tiện thể báo tin cho mọi người hay là ảnh còn sống. Ai dè…

Thiếu phụ ngưng ngang, cúi mặt, chừng như dằn cơn xúc động. Ngửng lên, hai vòm mắt bà mọng nước đỏ hoe. Bà lục trong xắc tay, rút ra khăn mù-xoa, giơ lên chặm mắt. Bà chủ quán giơ tay đặt lên vai người khách lạ, vuốt nhẹ. Chờ cho niềm mưa nỗi nắng lắng xuống, bà mới cất tiếng:

– Nghe cô em kể chuyện thơ từ, tui sực nhớ, thằng con tui với lại cô Cẩm cũng thường xuyên biên thơ cho nhau.

Nét mặt thiếu phụ rực sáng, lắp bắp:

– Nói vậy… vậy… cậu ấy có địa chỉ nhà ông bà Tư ở Sài gòn.

Bà chủ kêu lên:

– Ðúng rồi. Vậy mà tự nãy giờ tui hổng nghĩ ra!

Rồi bà quay mặt vô trong, cao giọng:

– Được ơi, ra đây má biểu! Nhớ cầm theo lá thơ với lại địa chỉ của cô Cẩm ở Sài gòn đem ra đây!

 

(còn tiếp)

bài đã đăng của Ngô Nguyên Dũng


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)