Trang chính » Bàn Tròn: Chính trị, Biên Khảo, Quan Điểm Email bài này

Hoàng Sa Trường Sa và công hàm Phạm Văn Đồng

 

Paracels Islands

 

Thủ tướng phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà

Thưa đồng chí tổng lý, chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí tổng lý rõ, chính phủ nước VN DCCH ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước VNDCCH tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của TQ trong mọi quan hệ với nước CHND TQ trên mặt bể. Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng. Hà nội ngày 14 tháng 9 năm 1958. Phạm văn Đồng. Thủ tướng chính phủ nước VN DCCH kính gửi đồng chí Chu Ân Lai, Tổng lý quốc vụ viện nước CHNDTH tại Bắc Kinh”.

Trên đây là toàn bộ nội dung cái gọi là “công hàm Phạm Văn Đồng”. Từ lâu tôi đã phong thanh có những thông tin về công hàm của Phạm văn Đồng, thủ tướng nhà nước CS miền Bắc Việt Nam ký năm 1958 “dâng” hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt nam cho Trung cộng. Tôi tự hỏi, vào năm 1958 thì Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam Cộng hòa, một quốc gia được công pháp quốc tế công nhận, thì Phạm Văn Đồng thủ tướng nhà nước CS Bắc Việt vào thời ấy hiển nhiên không có tư cách ký kết dâng tặng hay làm bất cứ điều gì trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, với bất kỳ đối tác nào, hay quốc gia nào khác?

Cách đây chừng 4-5 năm, tôi truy tìm được cái gọi là Công hàm Phạm Văn Đồng gì đó, tôi đọc và không quan tâm lắm vì thấy nó mang tính chất như một lời nhắn riêng tư chứ không có gì để cho rằng đó là một “công hàm” của quốc gia này gởi cho quốc gia khác. Trong bức thư, Phạm Văn Đồng thủ tướng CS Bắc Việt gửi cho Chu Ân Lai, lúc đó là tổng lý quốc vụ viện của CS Trung Quốc và bày tỏ rằng rất tán thành một quyết định gì đó của Trung cộng ký vào ngày 4 tháng 9, 1958. Trong thư Phạm Văn Đồng không cho biết rằng cái quyết định ký ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính quyền cs Trung quốc chứa đựng những gì. Rõ ràng bức thư của Phạm Văn Đồng rất mơ hồ và hàm hồ.

Việc Trung Hoa lấn chiếm đất và biển của Việt nam đã xảy ra từ ngàn đời. Dù dưới thời Trung Hoa quân chủ phong kiến hay Trung cộng vô sản thực dân. Cái gọi là công hàm Phạm văn Đồng từ mấy chục năm qua vẫn là một bí ẩn đối với tất cả mọi người dân Việt nam. Còn cái tuyên bố ký ngày 4 tháng 9, 1958 của Trung cộng lại càng là một thứ vô hình vô tướng, không ai biết nó chứa đựng những mưu tính xảo quyệt gì. Trong cái gọi là “công hàm Phạm Văn Đồng” không hề nhắc gì tới Hoàng Sa Trường Sa hay bất cứ đảo lớn đảo nhỏ nào của Việt nam. Còn cái gọi “tuyên bố ngày 4 tháng 9, 1958, hiện giờ Trung cộng muốn chế tạo nó ra sao chẳng được?

Ngay cả tập bản đồ in năm 1972 và sách giáo khoa Địa lý lớp 9 in năm 1974 mà Trung quốc vừa viện ra gần đây, cho rằng của Bộ giáo dục cs Việt nam in, để bao biện và lấy đó làm bằng chứng rằng Việt nam đã từ chối chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng không hề có nghĩa lý gì hết.

Tôi rất nghi ngờ về trình độ chuyên môn và kiến thức của mấy ông soạn sách này, vì mấy ông có lẽ cho rằng “Tây sa” và “Nam sa” theo cách gọi của Trung cộng là hai hòn đảo nào đó sát bên Trung hoa lục địa chứ nó không dính dáng gì đến Hoàng Sa và Trường Sa của Việt nam. Bên cạnh đó, tôi cũng rất nghi ngờ về xuất xứ của tập bản đồ và cuốn sách địa lý lớp 9 này. Rất có thể nó là sản phẩm ngụy tạo của Trung cộng phục vụ mưu đồ xâm lấn Việt nam.

Từ hơn nửa thế kỷ qua, Trung cộng vẫn nổi tiếng nhất thế giới về làm hàng nhái và đồ giả. Bạn nào từng đến Hongkong, Bankok hay những thành phố lớn ở châu Âu và Mỹ, như Paris, Amsterdam hay Los Angeles, New York… bạn hẳn đã từng gặp hoặc một anh chàng Mỹ đen hay Arab, hoặc một anh Tàu, tới chào mời bạn mua những món như đồng hồ Rolex, Longines, Omega, những brand name rất ư nổi tiếng với giá hời. Một chiếc Rolex thể thao giá thông thường khoảng 1000 usd trở lên bạn có thể mua được với giá 50, 30 hoặc thậm chí 20 usd. Chiếc Longines tuyệt đẹp cũng giá 30- 40 usd. Đó là hàng nhái do Trung cộng chế tạo. Nhìn đẹp và y chang như thật nhưng có thể ngưng hoạt động bất cứ lúc nào sau khi bạn đã trả tiền và chiếc đồng hồ thuộc về bạn.

Từ thiết bị điện tử, kính Rayban cho đến nữ trang hay áo quần thời trang của các brandname lừng danh đều bị Trung cộng làm hàng nhái, hàng giả. Thậm chí đến thuốc men trị bệnh hay thực phẩm, đồ uống, sữa bột cho trẻ em… đều bị Trung cộng làm giả hoặc mặc sức gia công bằng các hóa chất độc hại để kéo dài thời giam bảo quản hay làm giả các chỉ số chất lượng, điển hình là vụ “gia công” melanin vào sữa bột trẻ em bán ngay tại Trung quốc. Các hóa chất này có thể gây ung thư trong một thời gian ngắn nếu người ta dùng thường xuyên thực phẩm, trái cây từ Trung Quốc, thậm chí có thể gây ngộ độc cấp tính, chết người nếu không được cấp cứu tức thì. Nhưng Trung cộng không cần quan tâm đến tất cả hậu quả đó.

Bởi vì, mục đích của Trung cộng là lũng đoạn kinh tế và chính trị thế giới. Để đạt mục đích đó, họ bất chấp mọi thủ đoạn. Bạn đọc nào muốn tìm hiểu thêm vấn đề này, xin mời đọc cuốn Death By China[1].

Trung cộng, ngoài nạn nhân mãn là hiểm họa chung cho toàn thế giới – vì họ luôn phải tìm cách lấn chiếm đất đai của các quốc gia lân cận, lấn chiếm những vùng đất mới cho dân họ sinh sống, xa hơn nữa là xâm lấn sang tận châu Phi, châu Úc, thì chủ nghĩa Đại hán bành trướng và chủ trương đạt mục đích là trên hết, bất chấp thủ đoạn lại là một hiểm họa khác. Hiểm họa trước hết là cho chính dân tộc Trung quốc và sau nữa là cho toàn thế giới. Vụ tàn sát đẫm máu hơn 7000 sinh viên và thường dân đấu tranh vì tự do dân chủ trên quảng trường Thiên An môn năm 1989, sau 25 năm chính quyền Trung cộng bưng bít và xuyên tạc trước người dân Trung quốc cũng như công luận thế giới, nhưng những hình ảnh và thông tin vẫn còn đó. Nhà cầm quyền Trung quốc cho xe tang cán tới cán lui trên thân thể những con người, cho đến khi họ trở thành những đống máu thịt bầy nhầy, rồi cho xe ủi gom thành đống để đem thiêu rụi. Cuối cùng là dùng xe vòi rồng cọ rửa cho thật sạch dấu tích. Thông tin về chính quyền Giang Trạch Dân tàn sát những người theo môn khí công cổ truyền Pháp luân công có thể tìm thấy đầy rẫy trên internet. Những người theo Pháp luân công bị mổ giết một cách lạnh lùng như mổ giết những con vật, để lấy nội tạng rao bán trên toàn thế giới. Một bệnh nhân cần thay gan hay thận, sẽ được chào mời mua nội tạng cần cấy ghép, chỉ cần thông báo các chỉ số sinh học như nhóm máu, tế bào… được hứa hẹn là chỉ 1 tuần sau sẽ được cung cấp đầy đủ từ Trung quốc! Nhà nước Trung cộng đối xử với chính người dân của họ như vậy, thì còn thủ đoạn nào mà họ không dám thi hành với tất cả người dân nước khác?

Và nước Việt nam nhỏ bé của chúng ta hiển nhiên là nạn nhân đầu tiên của họ. Tôi sẽ không ngạc nhiên chút nào nếu nay mai Trung cộng công bố cái tuyên bố ký ngày 4 tháng 9 năm 1958 của họ, mà trong đó, ngoài Trường Sa và Hoàng sa còn có thêm … Vịnh Cam Ranh (!) hay thậm chí … Hà Nội (!) là của Trung cộng!

Lãnh thổ Việt nam không phải mới có từ hôm qua, mà được truyền lại từ cha ông tổ tiên qua bao nhiêu thời kỳ lịch sử. Từ ngót sáu trăm năm trước, người Việt đã ghi mối hận Nam Quan, khi Nguyễn Trãi đưa chân cha tới ải địa đầu này rồi phải chia ly vì Nguyễn Phi Khanh bị quân Minh bắt giải về Trung Quốc. Nguyễn Trãi đã giữ đúng lời ước hẹn rửa thù cho nước, trả hận cho cha. Ông cùng Lê Lợi đánh đuổi quân Minh giành lại giang sơn đất nước. Đau buồn thay, đến ngày hôm nay thì cả Ải Nam Nam và Thác Bản Giốc đã nằm sâu trong lãnh thổ Trung cộng vài chục cây số.

Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt nam. Trước năm 1975, Hoàng Sa và trường sa là của Việt Nam Cộng hoà.

Trong thực tế, Chính quyền Việt Nam Cộng hòa, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền lâu đời của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi chủ quyền thực tế trên hai quần đảo này[2].

Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân Việt Nam Cộng hòa chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974. (đánh giá của ông Trần Công Trục, Trưởng ban biên giới Chính phủ, báo Giáo dục Việt nam, 13/6/ 2014)

Sau cuộc nội chiến, miền Nam thua, miền Bắc thắng trận thì Hoàng sa và Trường sa là của nước VN Cộng sản. Bằng mọi giá, tất cả người Việt phải bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ lãnh hải của đất nước bao gồm cả hai quần đảo Hoàng sa và Trường Sa. Không phải chỉ có đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam mới có trách nhiệm này vì họ đang cầm quyền trên đất nước Việt nam, mà mỗi người dân, nhiều tầng lớp người dân khác nhau đều phải cùng gánh vác.

Công hay tội của những chính quyền đã và đang giữ vị trí lãnh đạo đất nước Việt nam qua từng thời kỳ sẽ được nghiêm khắc phán xét trong lịch sử. Nhưng khi nguy cơ mất biển và mất nước đang nhãn tiền trước mắt thì phải đặt ra câu hỏi, liệu đến một ngày Việt Nam có còn lịch sử để ghi chép hay không? Hãy thức tỉnh trước khi quá muộn, đừng để Việt Nam có chăng chỉ còn là lịch sử của mất nước và lưu vong.

June 17, 2014

Trần Nghi Hoàng


[1] Tác giả: giáo sư kinh tế Peter Navarro and Greg Autry, nhà xuất bản Pearson Prentice Hall (U.S. A), tháng 5/ 2011,

được dựng thành phim, tác giả kịch bản Martin Sheen với tên gọi Death by China (Chết vì tay Trung cộng), công chiếu năm 2012.

[2] Trong hoàn cảnh lịch sử cuối năm 1946 đầu năm 1947, mặc dù Việt Nam đã tuyên bố độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, không còn ràng buộc vào Hiệp định Patenotre 1884, song Pháp cho rằng theo Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn nằm trong khối Liên hiệp Pháp, về ngoại giao vẫn thuộc Pháp, nên Pháp có nhiệm vụ thực thi quyền đại diện Việt Nam trong vấn đề chông lại mọi xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Theo Hiệp định ngày 8 tháng 3 năm 1949, Pháp dựng nên chính quyền thân Pháp, gọi là Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu; tuy nhiên, trong thực tế quân đội Pháp vẫn làm chủ Biển Đông , trong đó có 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Năm 1949, Tổ chức khí tượng thế giới (OMM: Organisation Mondiale de Meteorologie) đã chấp nhận đơn xin đăng ký danh sách các trạm khí tượng do Pháp xây dựng tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa vào danh sách các trạm khí tượng thế giới: Trạm Phú Lâm, số hiệu 48859, Trạm Hoàng Sa số 48860, Trạm Ba Bình số 48419.

Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Pháp ký với cựu hoàng Bảo Đại Hiệp định Hạ Long, trao trả độc lập cho chính phủ Bảo Đại, tháng 4, Hoàng thân Bửu Lộc, tuyên bố khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa.

Ngày 14 tháng 10 năm 1950, Tổng trấn Trung phần Phan Văn Giáo đã chủ trì việc bàn giao quản lý quần đảo Hoàng Sa giữa Chính phủ Pháp và Chính phủ Bảo Đại.

Từ 5 tháng 9 đến 8 tháng 9 năm 1951, Hội nghị San Francisco có đại diện của 51 nước tham dự để ký kết Hòa ước với Nhật. Tại phiên họp toàn thể mở rộng, ngày 5 tháng 9, với 48 phiếu chống, 3 phiếu thuận đã bác bỏ đề nghị của Ngoại trưởng Gromyco (Liên Xô cũ) về việc tu chỉnh khoản 13 của Dự thảo Hòa ước, trong đó có nội dung : Nhật thừa nhận chủ quyền của CHND Trung Hoa đối với quần đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa về phía Nam .

Ngày 7 tháng 9 năm 1951, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng của Chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã long trọng tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt nam: “et comme il faut franchement profiter de toutes occasions pour étouffer les germes de discorde, nous affirmons nó droits sur les iles de Spratley et de Paracel qui de tout temps ont fait partie du Vietnam”. Không một đại biểu nào trong Hội nghị này có bình luận gì về tuyên bố này. Ngày 8 tháng 9 năm 1951, Hòa ước với Nhật được ký kết. Điều 2, Đoạn 7, của Hòa ước đã ghi rõ: “Nhật bản từ bỏ chủ quyền, danh nghĩa và tham vọng đối với các quần đảo Paracel và Sprathly”(khoản f).

Tháng 4 năm 1956, khi quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, quân đội Quốc gia Việt Nam, về sau là Việt Nam Công hòa, đã ra tiếp quản nhóm phía Tây quàn đảo Hoàng Sa của Việt nam” và tuyên bố khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam.

Ngày 22 tháng 8 năm 1956, Tàu HQ04 của Hải quân Việt Nam Cộng hòa đã ra quần đảo Trường Sa cắm bia chủ quyền, dựng cờ, bảo vê quần đảo.

Ngày 20 tháng 10 năm 1956, bằng Sắc lệnh 143/VN Việt Nam Cộng hòa đã đặt quần đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Phước Tuy.

Năm 1960, Việt Nam Cộng hòa đã có quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Bá Thược, cán bộ hành chính hạng 1 tại Tam Kỳ, Quảng Nam, giữ chức Phái viên hành chính Hoàng Sa; ngày 27 tháng 6 năm 1961, bổ nhiệm ông Hoàng Yêm giữ chức Phái viên hành chính Hoàng Sa.

Ngày 13 tháng 7 năm 1961, VNCH sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam. Ngày 11 tháng 4 năm 1967, VNCH ban hành Nghị định 809 –NĐ-DUHC cử ông Trần Chuân giữ chức phái viên hành chính xã Định Hải (Hoàng Sa), quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

Ngày 21 tháng 10 năm 1969, bằng Nghị định số 709-BNV-HCĐP-26 của Thủ tướng VNCH sáp nhập xã Định Hải ( quần đảo Hoàng Sa) vào xã Hòa Long quận Hòa Vang tỉnh Quảng Nam.

Trước những hành động xâm chiếm một số đảo ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa do Trung Quốc và Philippines tiến hành vào thời điểm giao thời này, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối: Ngày 24 tháng 5 và ngày 8 tháng 6 năm 1956, Việt Nam Cộng hòa ra thông cáo nhấn mạnh quần đảo Hoàng Sa cùng với quần đảo Trường Sa “luôn luôn là một phần của Việt Nam” và tuyên bố khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam.

Ngày 13 tháng 7 năm 1971, tại Hội nghị ASPEC Manila, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa Trần Văn Lắm đã tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.

Ngày 6 tháng 9 năm 1973, Tổng trưởng Nội vụ Việt Nam Cộng hòa ký Nghị định 420-BNV-HCĐP/26 sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.

Từ 17 tháng 01 đến 20 tháng 01 năm 1974, Trung Quốc huy động lực lượng quân sự đánh chiêm nhóm phía Tây, quần đảo Hoàng Sa. Mặc dù đã chiến đấu quả cảm, nhiều binh sỹ đã anh dũng hy sinh, quân lực Việt Nam Cộng hòa đã không cản phá được hành động xâm lược của Trung Quốc. Tuy nhiên trên mặt trận ngoai giao Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ trước Liện Hợp Quốc và công đồng quốc tế: Ngày 19 tháng 01 năm 1974, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa đã ra Tuyên cáo kêu gọi các dân tộc yêu chuộng công lý và hòa bình lên án hành động xâm lược thô bạo của Trung Quốc.

Cũng trong thời gian này, Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tuyên bố nêu rõ lập trường của mình trước sự kiên này:

Chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ là những vấn đề thiêng liêng đối với mỗi dân tộc.

Vấn đề biên giới và lãnh thổ là vấn đề mà giữa các nước láng giềng thường có những tranh chấp do lịch sử để lại.

Các nước liên quan cần xem xét vấn đề này trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hữu nghị và láng giềng tốt và phải giải quyết bằng thương lượng.

Ngày 01 tháng 02 năm 1974, Việt Nam Cộng hòa tăng cường lực lượng đóng giữ, bảo vệ quần đảo Trường Sa trong tình hình Trung Quốc tăng cường sức mạnh tiến hành xâm chiếm lãnh thổ mà theo nhận định ủa Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: “Trung cộng sẽ đánh Trường Sa và xâm chiếm bằng vũ lực giống như Hoàng Sa, có sự tiếp tay hoặc làm ngơ của Mỹ”.

Ngày 02 tháng 7 năm 1974, tại Hội nghị luật biển lần thứ 3 của LHQ tại Caracas, đại biểu Việt Nam Cộng hòa đã lên tiếng tố cáo Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực và khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam , chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo này là không tranh chấp và không thể chuyển nhượng.

Ngày 14 tháng 02 năm 1975, VNCH công bố Sách trắng về chủ quyền của Việt nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

bài đã đăng của Trần Nghi Hoàng


8 bình luận »

  • Lê Anh Dũng viết:

    Hoan hô ông Trần Nghi Hoàng,

    Những “đại trí thức”, chuyên viết bình luận nổi tiếng của Việt Nam như Nguyễn Hưng Quốc, Ngô Nhân Dụng…, chính trị gia như Đỗ Hoàng Điềm(Việt Tân), và nhiều người khác, trong cơn phẫn hận VC, đã nối giáo cho giặc Tàu, đoan quyết và gán cho công hàm Phạm Văn Đồng giá trị mà nó không có về Hoàng Sa, Trường Sa.

    Đây là điêù kém cỏi cả về học thuật, trình độ lý luận, lẫn nhận thức chính trị của mấy học giả, chính trị gia sa-lông này.

    Giặc Tàu sẽ dẫn chứng chính các “đại trí thức”, chính trị gia kể trên, và nói: chính những tháp ngà học thuật, chính trị Việt Nam đều đồng ý cách chúng tôi diễn giải về công hàm Phạm Văn Đồng, thì các anh còn cãi gì nữa. Nối giáo cho giặc. Vô tình hay cố ý, quí ông kể trên phản quốc.

    Trân trọng cảm ơn ông Trần Nghi Hoàng.

  • Phan Đức viết:

    Nói chung,bài này chỉ chứng tỏ ông TNH.có khả năng làm thơ hay văn gì đó,chứ ông lý luận thế này là không thuyết phục cho lắm (cùng lắm là ở mức độ trung bình).
    Vấn đề không phải công hàm PVĐ có giá trị pháp lý mà nó góp phần làm suy yếu chủ quyền VN đối với 2 đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Một lý lẽ yếu nhất là khi ông giả định một tình huống ở tương lai chưa xảy ra trong khi đáng lẽ là phải tập trung vào cái đã xảy ra (lịch sử) hay hiện trạng để bình luận hay phê phán nhưng ông lại cố tình
    tưỏng tượng một ngày nào đó TC biết đâu sẽ coi một tỉnh nào đó cuả VN cũng là của TC nốt,chứ không chỉ là đảo HS-TS.mà thôi đâu !!! (Đe doạ hay nhỉ ?).
    Nhiều ý kiến của ông hơi thiếu lý luận.Điều đó chứng tỏ ông đã coi đối tượng chính thành phụ,cái quan trọng thành cái vô thưởng vô phạt hay vô hại. Nếu nói kiểu như ông thì ông PVĐ.khi khổng khi không…rãnh qúa đã gửi công thư “ghi nhận và tán thành” vì ông cho là chưa chắc có Bản Tuyên Bố trên của TC,năm 1958(?). Thế nhưng cứ cho là so sánh được thì tốt nhất là thử giả định nếu người Tàu đã tàn ác vô lương tâm với đồng bào họ trong Pháp Luân Công thì chúng sẽ không ngại gì mà không bất chấp luật pháp quóc tế như dùng thủ đoạn lừa lọc để cướp lấy chủ quyền 2 đảo HS-TS của VN với Công Thư (hay Công Hàm) PVĐnăm 1958.
    Thử hình dung 2 anh em đánh nhau chết bỏ để chiếm hết toàn bộ ngôi nhà do cha mẹ để lại nhưng 1 trong 2 đang ra sức chống cự sự xâm chiếm dang diễn ra ở phần ngoài nhà của tên hàng xóm bất lương thì đứa kia không lên tiếng lấy 1 lời kết án vì “mắc kẹt” với Công Hàm 1958 trong đó “ghi nhận và tán thành” bản Tuyên Bố láo về Biển Đông của tên hàng xóm cực kỳ gian mạnh đó. Điều này thì ông TNH nên đọc thêm cho biết những gì họ tuyên bố sau 1975 để thấy quan chức CsVN đã “ngụy biện” như thế nào!
    Tôi xin giả định có phần hợp lý và hợp tình hơn ông TNH nhiều: giá mà lúc TC ra bản Tuyên Bố về Biển Đông năm 1958 thì nhà nước VNDCCH im lặng,vờ như không nghe, không thấy,không biết gì hết thì thuyết phục biết bao vì chẳng ai buộc họ phải ủng hộ. Trái lại,họ đã nhanh nhảu…đoảng,lấy lòng đàn anh TC.nên đã “ghi nhận và tán thành”, như lời họ nói là vì sự nghiệp “giải phóng” miền Nam cho bằng được mà đã… gác lại không phản đối TC xâm chiếm đảo Hoàng Sa năm 1974. Hoá ra,chủ quyền thiêng liêng mà muốn hay chối lúc nào cũng được hay sao,miễn là có lợi trước mắt ? Đó là thứ lý luận thằng Bờm, tức không dổi với bất cứ cái gì,chỉ cần đổi lấy năm xôi (ca dao).

    (Xin được góp ý thêm là ông Lê Anh Dũng có quyền hoan nghênh ông TNH nhưng không có nghĩa là ông lợi dụng “ăn theo” để mỉa mai những người có lập luận khác với TNH. Ông chỉ có quyền phê phán trong một bài nào đó,nếu ông muốn bác bỏ họ. Có phải đây là trò tung hứng của 2 ông?).

  • Lê Anh Dũng viết:

    Lịch sử thường không diễn ra theo lý thuyết, lý luận, biện luận hàn lâm, dù ảnh hưởng của lý thuyết, lý luận, và văn hoá lên lịch sử rất lớn.
    Bài của ông Trần Nghi Hoàng không hoàn chỉnh, có một số khuyết điểm, nhưng nó chỉ ra một số vấn đề quan yếu, đáng lưu tâm. Tôi hoan nghênh ông Hoàng trên điểm chính là phải có cái nhìn rõ ràng về cái được thua, về bản chất đối phương của mình, đây là những điểm then chốt, chiến lược; và bỏ qua những khuyết điểm nhỏ của ông. Ưu tiên là giữ nước Việt, đối phó với giặc Tàu, không phải là vạch lá tìm sâu ông Hoàng. Đây không là trò tung hứng của những kẻ dư thời giờ.
    “Công hàm” Phạm Văn Đồng rất là một văn kiện rất lơ mơ, không việc gì người Việt Nam chúng ta phải diễn giải cái thơ lơ mơ này, theo cách vô cùng có lợi cho giặc Tàu, và vô cùng tai hại cho ta. Dân Việt ở Mỹ đều đã ít nhiều có kinh nghiệm với những giao kèo thuê, mướn, thương mại v.v… và biết là nó chi li, cẩn thận như thế nào. Vậy mà người ta vẫn có những kẽ hở để cãi cho thắng. Huống chi đây là chuyện hệ trọng quốc gia, không phải cho một đời mà nhiều đời. Trong luật học, một câu viết ra rõ ràng còn có thể bị biện luận ngược lại, không đồng ý còn đưa lên toà bảo hiến, tối cao pháp viện cho ra lẽ. Nhưng ngày nay có nhiều người Việt Nam chống Cộng gán cho một văn kiện mơ hồ của ông Đồng, những lý lẽ lợi cho giặc! Họ không thấy hậu quả sau cùng của việc họ làm.
    Công, tội của chính quyền Việt Nam ngày nay, không cần đợi lịch sử ghi lại, hiện trạng tang thương của đất nước sau gần 40 năm thống nhất đã tỏ rõ. Có kéo thêm “công hàm” Phạm Văn Đồng vào bản án chính quyền cũng không làm bản án tệ hơn, nó đã quá tồi tệ. Đòi hỏi quốc hội Việt Nam minh xác lập trường của mình về “công hàm” Phạm Văn Đồng là cho nó một giá trị có lợi cho giặc Tàu mà nó không có. (Giáo sư luật Tạ Văn Tài có đề nghị đáng lưu ý về việc này). Cứ xem cách giặc Tàu và bản đồ lưỡi bò, lúc thì 11, lúc thì 9, và chỉ từ vài ngày nay là 10 đoạn lơ mơ, và cách giặc Tàu nhất định duy trì sự lơ mơ này dù quốc tế yêu cầu minh định, để có thể du di diễn giải tuỳ tiện có lợi cho chúng.

    Để đối phó lại cách lơ mơ tuỳ tiện cố ý của giặc Tàu, các ông văn hoá, chính trị sa-lông nhất quyết gán cho cái thơ lơ mơ của Phạm Văn Đồng một nội dung cố định liên quan tới Hoàng Sa, Trường Sa dù nó không được viết ra rõ ràng theo đúng tiêu chuẩn của một thoả ước quốc tế, có chữ ký của 2 bên (nếu vậy, cũng cần nêu rõ là theo “công hàm” này thì hải phân Trung Quốc chỉ có 12 hải lý, không phải ở chỗ giàn khoan ngoài khơi Đà Nẵng). Thay vì nhổ một kim rỉ, quí ông chính trị nửa mùa đóng thêm thật sâu, thật chặt, gia cố cái kim rỉ và gọi nó là cái cột chủ quyền bằng bê tông của Tàu. Không có chữ nào khác hơn là “nối giáo cho giặc”. Tội phản quốc dù vô tình.

    Nước ta nhỏ yếu, giặc Tàu mạnh, đông, tham vọng xâm chiếm nước ta đã từ ngàn năm. Muốn thắng giặc Tàu, muốn giữ nước, không thể đơn thuần dùng lý thuyết mọt sách, so sánh tương quan lực lượng cứng ngắc, mà phải có trực giác, “gut feeling”, nhìn ngay ra điểm chính của cuộc chiến này là phải giữ Hoàng Sa, Trường Sa bằng mọi giá, phải dứt khoát gạt bỏ những gì có ảnh hưởng xấu tới điểm chính này; rà soát thật kỹ “kho vũ khí” của chúng ta, để ý thức không làm bất cứ một điêù có lợi cho giặc. (Nên nhớ giặc Tàu trưng sách giáo khoa in từ trước 1975 của Việt Nam, nay chúng nó lại có thể dễ dàng thu lượm trên mạng, những bài viết của những tháp ngà tư tưởng Việt Nam về sự thừa nhận điều mà chúng nó đang rêu rao)

  • black raccoon viết:

    公函 [gōnghán] công hàm
    official letter, official correspondence

    Công hàm là thuật ngữ của TQ dùng để chỉ văn thư hồi đáp, thông báo, thăm viếng, trình diện,… đẳng cấp quốc gia. Vì vậy, nội dung của công hàm không cần thiết phải chi li như văn kiện khác của pháp lý là luật hay sắc lệnh. Nhưng, công hàm có giá trị pháp lý chứ. Tùy theo loại công hàm do viên chức nào ký tên, nội dung về chuyện gì.

    “Thưa đồng chí tổng lý, chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí tổng lý rõ, chính phủ nước VN DCCH ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.”…

    Công hàm PVĐ là loại Quốc Thư có nội dung chính là “tán thành” một bản tuyên bố của TQ – Declaration of the Government.

    Có nhiều ý kiến bàn luận chung quanh công hàm nầy, có người cho rằng nó vô giá trị vì HS/TS thuộc VHCH, có người cho rằng không phải PV Đ là người quyết định duy nhất, còn nhiều người cao hơn ông nữa.

    Ý kiến:

    – Nó có giá trị pháp lý vì nó là Quốc Thư của Thủ Tướng ký, gởi cho Thủ Tướng.
    – Nó được vận hành theo hệ thống chính trị của TQ và VN: đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, chính phủ thực hiện.
    – Nó dựa trên nguyên tắc của ý thức hệ CS trong cuộc chiến đương thời: miền Nam là vùng tạm chiếm, VNCH là ngụy quyền tay sai, đế quốc Mỹ là xâm lược.
    – Nó có tính kế thừa, vì nước CHXHCNVN hiện tại chính là nước VN được thống nhất và tuyên bố qua cuộc bầu cử toàn dân vào tháng 6/1976. Ông PVĐ lúc đó từ TT của VNDCCH đương nhiên trở thành TT/ CHXHCNVN như tên gọi hiện nay. Không có gì thay đổi.

    Trong 40 năm nay, thử hỏi có bao giờ người VN chính thức phủ nhận công hàm PVĐ? Bằng cách nào?

    Cũng có ý kiến cho rằng nên dẹp qua hết, người VN chỉ nên tập trung vào chống giặc trước mắt. Rất đúng, nhưng làm sao?

    Quý vị nên nhớ, một, vấn đề công hàm PV Đ do chính TQ đưa ra trước LHQ. Chứ không phải do người VN vô trách nhiệm nhiễu sự. Hai, Hội Nghị Diên Hồng chỉ “theo sau” Hội Nghị Bình Than trước đó 2 năm, của chính quyền nhà Trần đã phân công chu đáo tướng lĩnh và vương hầu lãnh mệnh chống giặc.

  • Phan Đức viết:

    Cám ơn ông Lê Anh Dũng đã trả lời.
    Những ý kiến trên đã chứng tỏ ông công nhận bài viết của ông TNH.không xuất sắc gì
    lắm nhưng ông đã hoan hô TNH.nhiệt liệt là vì “ưu tiên là giữ nước Việt,đối phó với
    giặc Tàu,không phải là vạch lá tìm sâu ông Hoàng”.
    Để thực hiện mục đích như ông nói,tôi thiển nghĩ cần phài nhìn thẳng vào sự thực đã
    và đang xảy ra,chứ không phải phê phán một cách bất công,vô căn cứ hoặc phải tránh
    giả định vu vơ và nhất là phải tránh kiểu “chụp mũ” không đáng có trong tranh luận.
    Tôi quả thật không hiểu lý do tại sao ông có thể kết luận dễ dãi và hàm hồ nhu thế này “qúy ông kể trên phản quốc” !
    Thử hòi ai có khả năng phản quốc hơn nhà cầm quyền VN.hiện nay khi họ đang lãnh đạo
    tất tần tật mọi lực lượng từ công an các loại đến quân đội đủ binh chủng ? Đã thế,họ còn đánh bài ‘lật ngửa’ cho đồng bào trong nước thấy như “Công an còn đảng còn mình”,
    (treo trước Bộ Công An,Hà Nội),”Quân đội không được ‘phi chính trị’ “(giáo sư Hoàng Tiến Bảo)và “Không được hiểu lầm 2 chữ nhân dân” (đại tá Nguyễn Văn Quang).
    Lẽ ra,ông phải cân nhắc phê phán kỹ những sự việc có thật thay vì dễ dãi ngộ nhận
    “phản quốc” ở những đối tượng chỉ có tay không nhưng xử dụng quyền tự do ngôn luận
    để nhận định chính trị.Đó không phải là làm chính trị xa lông mà là tự do phát biểu,
    tự do ngôn luận.Trong các tác giả ông kể,chí có ông Đồ Hoàng Điểm là làm chính trị nhưng không có nghĩa là ông ta không được quyền tự do phát biểu chính kiến như mọi người.Chẳng lẽ ông cho là giặc Tàu ngờ nghêch hay sao mà dùng ý kiến cá nhân của họ
    để làm “bằng chứng” chống lại VN.ta ? Chẳng lẽ đó mới là có giá trị pháp lý hay sao
    so với Công hàm PVĐ.sách giáo khoa,thưa ông ?
    Dù sao,tôi cũng xin cám ơn ông.
    Trân trọng.

  • Lê Anh Dũng viết:

    A/ Mỗi trò chơi đều có luật chơi riêng của nó. Cần nắm vững những luật căn bản của trò chơi để tránh trường hợp tréo cẳng ngỗng, tương tự việc ăn phở bằng dao và nỉa.

    Có 3 trục chính, trước mắt trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc: Bang giao quốc tế, chính trị, quân sự. Thử điểm qua bằng thực tế lịch sử các luật chơi của 3 lãnh vực này, để áp dụng thích hợp:

    1/Bang giao quốc tế: Có một giá trị rất tương đối, và tuỳ tiện khi các quốc gia giải thích hành động của mình, ngay cả khi có các thoả ước rõ ràng, hay có sự xâm phạm vô cùng trầm trọng các giá trị đạo đức căn bản của con người. Các quốc gia dân chủ, dân trí cao thì ít phạm hơn, nhưng không phải là không vi phạm, thí dụ:

    – Vào năm 1978, sau cuộc thảm sát “the killing fields” ở Kampuchia bởi Khmer đỏ,hàng triệu người Kampuchia đã bị giết. Nhưng để chặn đứng Việt Nam, được xem là đồng minh bành trướng của Liên Xô (trong những năm này, Liên Xô bành trướng ở mọi hướng: Angola, Nicaragua, Afganistan), Mỹ và gần như tất cả các đồng minh Tây Phương, Nhật v.v… vẫn biểu quyết để giữ ghế chính thức của Khmer đỏ tại Liên Hiệp Quốc.

    – Cuộc chiến Iran-Iraq chết cả triệu người, Sadam dùng hơi ngạt, vũ khí hoá học để giết Iran, nhưng Mỹ và các nước Tây Phương vẫn đổ quân cụ, trang bị cho Sadam để ngăn cách mạng Hồi Giáo từ Iran lan ra chung quanh.

    Nên nói chuyện văn bản, luật học là chuyện phụ, vì khi cần ngăn Tàu vì quyền lợi của mình, thì các nước vẫn có thể phớt lờ văn bản, công hàm, thoả ước, định chế v.v… Không dại gì phải lẩm cẩm, cù cưa, quan trọng qúa đáng cái gọi là “công hàm Phạm Văn Đồng”.

    2/ Ngôn ngữ chính trị và thái độ rõ ràng dứt khoát, không có chuyện biện luận nối giáo cho giặc. Chính quyền tồi tệ hiện tại ở VN sẽ biến mất, nhưng mất đảo vào tay giặc Tàu thì khó lấy lại, ít nhất là trong 100 năm. Cứ việc chống Cộng, nhưng suy nghĩ, cân nhắc khi lập đi, lập lại là thơ PVD có thừa nhận rõ ràng về HS, TS, chuyện này không đúng và có lợi cho Tàu, khi chính người VN nói ra.

    3/ Trong quân sự từ cổ chí kim, tránh đánh nhau mà đi vào lộ đồ do địch thủ vạch ra, chủ động tấn công thay vì thụ động đối phó, nhất là khi tương quan lực lượng qúa chênh lệch. Không làm bất kỳ gì khinh suất để làm giảm sức đã quá yếu của chúng ta Tại sao không nêu rõ là lập trường của Trung Cộng về hải phận vào năm 1958 thì hải phận của họ chỉ có 12 hải lý.

    B/ Qúi ông Ngô Nhân Dụng, Nguyễn Hưng Quốc là 2 nhà bình luận chuyên nghiệp, xuất sắc nhất của Việt Nam tự do hôm nay.

    Ông Ngô Nhân Dụng giảng dạy đại học tại Canada về kinh tế, tài chánh. Làm thơ, viết biên khảo. Tác phẩm sử học của ông gần đây là Đứng Vững Ngàn Năm nói về quan hệ Trung Hoa- Việt Nam trong suốt lịch sử (đây là cuốn sách người VN cần đọc). Ông giữ mục Bình Luận của nhật báo Người Việt, tờ báo VN lớn nhất, có ảnh huởng nhất ở hải ngoại.

    Ông Nguyễn Hưng Quốc, tiến sĩ văn học tại Úc, với luận án tiến sĩ được xuất bản thành sách “Văn học Việt Nam Dưới Chế Độ Cộng Sản”, từ văn học, ông mở rộng qua lý luận, phê bình. Ông đang dạy đại học tại Úc, có blog tại Voatiengviet.com phê bình văn học, bình luận chính trị. Độc giả của ông ở trong lẫn ngoài nước.

    Khi bàn về chuyện Hoàng Sa, Trường Sa, 2 ông bị chi phối bởi quan tâm đã kích chính quyền Việt Nam hiện tại (tồi tệ ai cũng biết), cộng với méo mó nghề nghiệp của những khoa bảng, nên dường như các ông không biết bang giao quốc tế, chính trị, quân sự có những luật chơi khác hẳn với qui phạm của những giáo chức đại học. Áp dụng sai luật chơi, nhìn sai ưu tiên cho một vấn nạn lớn của đất nước, gán cho “công hàm” PVD một nội dung mà nó không có, 2 nhà bình luận xuất sắc nhất của VN, đưa banh vào lưới của Việt Nam, thay vì đá vào chân cầu thủ Tàu. Đá banh vào lưới nhà gọi là “đá phản” dù vô ý, vụng về. Giết người do bất cẩn gọi là “ngộ sát”. Ở bình diện quốc gia, nhẹ nhàng lắm là “ngộ phản quốc”. Trách nhiệm của bậc thức giả, vốn vẫn lãnh chức năng giáo dục, hướng dẫn quần chúng lớn hơn người thường, do đó lời phê bình phải nghiêm khắc hơn, dù tôi học hỏi từ 2 ông rất nhiều.

    Dụng nhân như dụng mộc, nhân vô thập toàn (vâng, chúng ta bị ảnh hưởng Trung Quốc rất nhiều để mà phải dùng các thành ngữ Trung Hoa), khi làm việc chúng ta tìm những yếu tố tích cực nhất để giải quyết vấn đề. Ông TN Hoàng, có lẽ do bản chất giang hồ hơn, nên ông nắm bắt được luật chơi của vấn đề hơn nhiều người có bằng cao hơn ông, chuyên nghiệp hơn ông trong bình luận. Ông Hoàng lại thấy được ưu tiên của vấn đề “Công hay tội của những chính quyền đã và đang giữ vị trí lãnh đạo đất nước Việt nam qua từng thời kỳ sẽ được nghiêm khắc phán xét trong lịch sử. Nhưng khi nguy cơ mất biển và mất nước đang nhãn tiền trước mắt thì phải đặt ra câu hỏi, liệu đến một ngày Việt Nam có còn lịch sử để ghi chép hay không? Hãy thức tỉnh trước khi quá muộn ….” Ông đi ngược lại tuyệt đại đa số những ý kiến từ lâu nay về thư PVĐ, đây là điểm cần ghi nhận thêm. Những khuyết điểm râu ria khác của ông Hoàng tôi không quan tâm.

    C/ Đây là 1 link tới nhận định đáng lưu ý của Giáo Sư Tạ văn Tài ( http://www.thesaigontimes.vn/116322/Quoc-hoi-va-cong-thu-Pham-Van-Dong.html ), trích “Trong luật quốc tế, không thể cố áp dụng lý thuyết estoppel, tức là lý thuyết trong luật pháp quốc nội của một số quốc gia có quy định là “Đã nói ra thì không nói ngược lại được”, vì lý thuyết này không áp dụng trong luật quốc tế theo cùng các điều kiện như trong luật quốc nội”, chính vậy Trung Quốc có thể tuỳ tiện đi từ qui định hải phận 12 hải lý của họ vào năm 1958, thành cái luỡi bò chiếm hết biển Đông. Trong lúc đó nhiều người Việt Nam lại chế tạo một điều mơ hồ thành một thực thể. Phản quốc vì thiếu sáng suốt, hay kém hiểu biết, (dù vô tình).

    Cám ơn ông Phan Đức cho tôi cơ hội trình bày thêm. Kính.

  • Phan Đức viết:

    Lại xin góp ý với ông Lê Anh Dũng,
    Qua những ý kiến mới nhất của ông mà tôi cho là rất nguy hiểm nên buộc phải góp ý thêm,vì ông thiên về ngụy biện hơn là tranh luận đàng hoàng.
    Tôi chỉ nói sơ qua từng diểm để phản bác lý lẽ của ông :
    1/ Trò chơi : phải nói cho rõ là trò chơi chính trị,là trò cân não,trò đấu trí,ngay
    cả lừa lọc,chứ ông không thể nói nửa vời để ai hiểu sao cũng được rồi hạ thấp thành
    chuyện ăn phở với…dao và nĩa !
    2/ Bang giao quốc tế : những điều ông nói có vẻ lý thuyết mơ hồ,chung chung nên ở đây
    chỉ giới hạn trong quan hệ giữa VN.với Tàu.Các nhà nước CS.nắm độc quyền thông tin thì
    càng dễ bóp méo hay định hướng dư luận làm sao có lợi cho đảng họ.Đó là quan hệ được
    thực hiện giữa 2 đảng mà người dân không hề được dự phần vào.Xin nói thẳng ra đó mới
    là trò lừa lọc mà tôi nói ở trên mà 1 trong những bằng chứng là Công hàm PVĐ.
    3/Ngôn ngữ chính trị : việc ông bảo là không được “biện luận nối giáo cho giặc” thì
    chứng tỏ ông không hiểu gì quyền tự do ngôn luận mà người dân có quyền,nếu không có
    quyền như người dân trong nước thì họ nên tự cho phép mình tự do ngôn luận.Điều đáng
    mừng nhất là ngày càng có nhiều khoa bảng hay trí thức trong nước làm điều này và họ
    đã can đảm đến mức khẳng định Công hàm PVĐ.”là phản động,phản quốc” như Nguyễn Khắc
    Mai (Chủ tịch hội Minh Triết VN.).Hơn nữa giữa “biện luận nối giáo cho giặc” và hành
    động nối giáo cho giặc bằng chứng từ như Công Hàm PVĐ.sách giáo khoa,bản đồ quốc gia
    v.v.của nhà nước VN.thì cái nào đáng bị phê phán và kết án hơn,thưa ông ?
    4/Quân sự : ông nói là tránh lộ đồ của địch vạch ra,chủ động thay vì thụ động v.v.
    cũng là nói lý thuyết mơ hồ nhưng tình hình thực tế VN.đang bị Tàu gậm nhấm dần như “tằm ăn dâu” thề này thì nước ta có chủ động được không ? Nếu phải chờ thời cơ
    để chủ động như ông nói thì e rằng VN.mất từng phần hay toàn bộ rồi ông ạ ?
    Bằng chứng ông không hiểu gì quyền tự do ngôn luận là khi ông nhất quyết dành quyền
    tự do ngôn luận cho ông Tạ Văn Tài và Trần Nghi Hoàng.Hai ông này không đại diện
    cho ai hết,ngoài chính họ.Tưởng cũng cần nói thêm là ông TNH.kêu gọi tất cả mọi đồng
    bào VN.phải gánh trách nhiệm cứu nước với đảng CsVN.Chẳng lẽ các ông không biết là
    đảng CsVN.toàn trị thì người dân có tư cách và điều kiện gì để cứu ?
    Xin mời các ông đọc những nhận định của Hà Sĩ Phu,một trí thức trong nước “Là người
    VN,dù với bất cứ chính kiến nào,không ai muốn hải đảo nước mình rơi vào tay Trung
    Quốc nhưng giải pháp ‘khôn ngoan’ muốn hạ thấp trách nhiệm của Công hàm PVĐ.để vừa
    thoát khỏi ràng buộc với TQ.vừa muốn bảo vệ uy tín CsVN.e rằng bất khả thi”(HSP:Trằn
    trọc tháng 7).
    Lịch sử VN.không phải chỉ dừng lại ở Công hàm PVĐ.1958 mà hiệp định Thành Đô 1990 với
    “4 Tốt và 16 chữ Vàng” và rất nhiều hệ lụy chồng chất tiếp nối.Mới nhất là công văn
    số 1832/BNG-ĐBA.ngày 03-6-2014 do thứ trưởng Ngoại giao Hồ Xuân Sơn ký,trong đó ghi:
    -thúc đẩy uỷ viên BCT,bí thư thành uỷ Hà Nội Phạm Quang Nghị và uỷ viên BCT.,bí thư
    thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh Lê Thanh Hải thăm tỉnh Quảng Đông.
    -trong khuôn khổ bồi dưỡng đào tạo cán bộ giữa 2 đảng CS.Trung-Việt,triển khai đào
    tạo cán bộ đảng CsVN.:kế hoạch 5 năm đào tạo 300 cán bộ đảng CsVN,trong đó có Hà Nội
    và thành phố Hồ Chí Minh,mõi địa phương 100 cán bộ,100 cán bộ của các tỉnh thành có
    quan hệ hợp tác với Quảng Đông như thành phố Hải Phòng,Đà Nãng,tỉnh Quảng Ninh,Quảng
    Nam.
    Điều đáng phẫn nộ là Bộ Ngoại Giao VN.viết thư này theo yêu cầu của tỉnh Quảng Đông
    mà lẽ ra là phải của BNG.nhà nước Trung Quốc mới bình đẳng,hợp lý và hợp pháp.

  • Lê Anh Dũng viết:

    “Bằng chứng ông không hiểu gì quyền tự do ngôn luận là khi ông nhất quyết dành quyền tự do ngôn luận cho ông Tạ Văn Tài và Trần Nghi Hoàng”.

    Dữ kiện, khái niệm và chữ nghĩa lộn xộn quá. Sao lại có “tự do ngôn luận” vô đây?

    Tôi không cấm bất cứ ai phát biểu, và cũng không dành riêng quyền phát biểu cho bất cứ ai. Chỉ trích, đả kích trong tranh luận là chuyện rất bình thường.

    2/”Tưởng cũng cần nói thêm là ông TNH.kêu gọi tất cả mọi đồng bào VN.phải gánh trách nhiệm cứu nước với đảng CsVN”: Kêu mọi người cùng gánh vác chuyện cứu nước khác với “gánh trách nhiệm cứu nước với đảng CsVN”.

    Tương tự, “Mọi cặp vợ chồng VN đều phải xây dựng hạnh phúc hôn nhân” chả lẽ cũng có nghĩa là “Mọi cặp vợ chồng VN đều phải xây dựng hạnh phúc hôn nhân với đảng CsVN”?

    Tiếng Việt thật khó!

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch