Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Lý Luận, Mặc Đỗ, Nghiên Cứu Email bài này

Trăm năm Mặc Đỗ: Những "con người hào hoa" của Cõi tự do

Trăm năm Mặc Đỗ. Suýt soát trăm năm. Từ năm sinh, 1917, cho đến nay, Mặc Đỗ đã sinh ra, trưởng thành qua hai trận thế chiến và một trận chiến dai dẳng tạiViệt Nam; đã sống và đã viết tại nơi cũ Việt Nam và nơi mới Hoa kỳ, nơi cũ và nơi mới đều có mặt đậm đà trong tác phẩm, biểu dương cho một tinh thần suy ngẫm miên viễn như tác giả của nó, tác giả kiêm dịch giả duy nhất vẫn được xem như là một trong những gã khổng lồ của Văn học Miền Nam.

Cái "trăm năm" đó cho phép người viết đặt một câu hỏi và tìm giải đáp, dù chỉ là một giải đáp sơ sài trong phạm vi nhỏ hẹp của bài này: Văn học Miền Nam, trong bối cảnh chiến tranh của cuộc di cư 1953-1954 mang gần triệu người dân Miền Bắc xuống Miền Nam, có những tương hợp nào với Văn học Miền Nam Biển-ngoài (Hải ngoại)? Mà Văn học Miền Nam Biển-ngoài lại là một kết quả trực tiếp và nổi bật nhất của cuộc di cư khổng lồ khác gần đúng 20 năm sau của người Miền Nam, nay gồm cả người Miền Bắc di cư trước đó, ra thế giới bắt đầu vào năm 1975, năm mà cuộc chiến Việt Nam kết thúc.

Tâm điểm của bài này sẽ là những tương hợp đó, nếu có, được biểu hiện qua vài thí dụ tiêu biểu trong cả hai nền văn học di cư và di tản này. Và như thế, quan trọng hơn, cuối cùng, chúng ta rút ra được kết luận nào khi so sánh những tương hợp ấy với chính kinh nghiệm sinh hoạt văn nghệ của nhà văn Mặc Đỗ –một nhà văn di cư vào Nam rồi di tản sang Hoa Kỳ–từ giải đáp ấy?

Cũng trong bài này, người viết sẽ không đề cập chi tiết đến văn học Miền Bắc và nhà văn Miền Bắc mà chỉ chú trọng đến nội tình của Miền Nam và Văn học Miền Nam cùng mối liên hệ với giới báo chí và văn học Hoa Kỳ, đồng minh của Miền Nam trong trận chiến vừa qua, trước 1975 tại Miền Nam và sau 1975 tại Hoa Kỳ.

I- VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975:

1-Quan trên trông xuống người ta trông vào

A-Quan trên trông xuống: "Giải phóng" và "Đứng giữa" ở Sài gòn

Miền Nam không những phải đương đầu với người Cộng sản, lúc ấy đã hoàn toàn làm chủ được Miền Bắc, mà còn gặp khó khăn với một số ít dân chúng và trí thức Miền Nam về sự tham chiến của quân đội Hoa Kỳ và đồng minh. Lúc ấy, nhất là trước khi vụ Mậu Thân xẩy ra, rất khó mà tưởng tượng rằng người lính Miền Bắc đã vượt Trường Sơn sửa soạn cho một cuộc tiến chiếm với bất cứ giá nào. Những người lính Miền Bắc không cỡi trên con ngựa Phù Đổng mà được lăn đi bằng cả khối đại cường Cộng sản ngay từ trước 1954. Họ đã võ trang không chỉ bằng lòng quả cảm vì đã được dậy "chống Mỹ cứu nước" mà bằng những khẩu súng tối tân nhất lúc bấy giờ. Hơn thế nữa, sự khác biệt giữa hai nền văn hóa Việt-Mỹ, sự xung khắc giữa lề lối giao tiếp và cảnh căn cứ quân sự Hoa Kỳ và đồng minh được rào kín– hoàn toàn nằm ngoài luật pháp của chính phủ Việt Nam Cộng hòa (Miền Nam) là một sự xúc phạm nặng nề tới chủ quyền dân tộc– đã khiến sự bất mãn này có lý do để nở bung như một bông hoa ăn thịt người tỏa mùi thơm mê hồn của các cánh độc dược. Bông hoa đó đã được các người cầm bút nằm vùng hay thiên tả, hoặc nhẹ lắm cũng "tranh đấu cho hòa bình,” nuôi dưỡng ngấm ngầm hay công khai để đòi hỏi một thứ "giải phóng" không tưởng. Người viết có thể có thiện ý, như thí dụ của tạp chí Trình bầy (1) sau đây, nhưng người đọc không hiểu họ làm sao đạt được mục đích "giải phóng" cho dân tộc và đất nước một cách cụ thể như đã đề xướng:

-"[…]Và như vậy, con đường đi tới là con đường mưu cầu một nền Hòa-bình, trong đó mỗi người Việt nam không kỳ thị ý -thức-hệ, sẽ có một chỗ đứng xứng với phẩm giá con người trên quê hương mình. ‘Con đường đi tới là con đường giải phóng: giải phóng đất nước và giải phóng con người Việt Nam toàn diện.’ (Trình Bầy số 1, 1-8-1970) …"

clip_image001

(Trình bầy số 25-Kỷ niệm Đệ nhị chu niên, ngày 5.8.1971, trang 5-Tài liệu thuộc thành viên Diễn đàn Sách Xưa, http://sachxua.net/forum/index.php/topic,4066.0.html)

 

Nói một cách khác, nội dung của Trình bầy có khi lại phản ảnh tác phẩm của những trí thức khuynh tả ngoại quốc nhiều hơn là báo chí văn học Sài gòn lúc bấy giờ, điển hình là bìa số 39, ngày 18.4.1972, có hình một phụ nữ Việt Nam đội nón và một em bé. Đôi mắt của bà là hình 2 chiếc máy bay đang dội bom xuống. Tên chủ đề số báo này là "Những tàn phá của Mỹ tại Đông dương.” Hai chữ "Đông dương" (Indochina) này, tồn tích từ thời thực dân Pháp, nay hay được giới trí thức khuynh tả ngoại quốc cố tình hay vô tình dùng lại để tranh luận với cánh hữu về "thực dân Mỹ.” Lạ lùng hơn nữa, số báo này xuất hiện vào đúng lúc cuộc tấn công thứ hai –vẫn được gọi là Mùa hè đỏ lửa –của người Cộng sản phát động bắt đầu ngày 30.3.1972 vào Quảng Trị.

Tương tự như Trình Bầy, tạp chí Đối diện (2) cho xuất bản những tác phẩm hỗ trợ cho tiếng nói của họ. Điển hình là cuốn Những ngày buồn nôn (Bọt biển và sóng ngầm) của Lý Chánh Trung (3), một khuôn mặt trí thức kiêm hoạt động trong giới báo chí rất quen thuộc trước 1975. Ông nổi tiếng với những bài báo cực tả sự bất lực của chính phủ Sài gòn trước tình cảnh đói nghèo do chiến tranh gây ra và nỗi oán hận của một người dân "nhược tiểu" (cái lối nói "thời thượng" rất thịnh hành lúc bấy giờ) đang mong chờ một thứ hòa bình rất đẹp mà không tốn một giọt máu nào. Có khi ông còn trút hết trách nhiệm lên vai người Hoa Kỳ với những lập luận không dẫn chứng:

-"[…]Bởi vì mai sau, có lẽ lịch sử sẽ ghi nhận rằng năm Canh Tuất là năm mà người Mỹ bắt đầu thực thi cái chủ trương gọi là mới nhưng thực sự đã cũ mèm: dùng người bản xứ đánh người bản xứ, dùng người Việt đánh người Việt, dùng người châu Á đánh người Á châu.Và có lẽ lịch sử sẽ mai sau sẽ ghi nhận rằng năm Canh tuất là năm hình thành tại các đô thị Miền Nam những phong trào không Cộng sản nhưng chống Mỹ quyết liệt, không phải chống dân tộc Mỹ mà chống chính sách thực dân mới của Mỹ, mà cái chủ trương nói lên chỉ là một khía cạnh[…]Và trong những phong trào ấy, trong sự chuyển hướng ấy, tôi chỉ thấy những khuôn mặt anh em. Từ bên trái, từ bên phải, từ phía trước mặt, từ phía sau lưng, có những tiếng nói bảo rằng người này là của Mỹ, người kia là của Mặt Trận, kẻ nọ chỉ là con cờ dài hạn trong chiến lược dài hạn của Vatican. Nhưng tôi không tin và không thể tin. Bởi vì nhìn họ, tôi chỉ thấy họ là người Việt, người Việt Phật tử, người Việt Công giáo, người Việt Cao Đài, người Việt không rõ mình theo đạo nào và cả người Việt nhứt định mình không theo đạo nào -những người Việt khác nhau rất nhiều nhưng cũng giống nhau rất nhiều. Và giống nhau ở chỗ họ muốn Hòa Bình cho dân tộc Việt, không phải "hòa bình trong chiến thắng’ mà hòa bình trong hòa giải. Hòa giải giữa những anh em ruột thịt, điều kiện thiết yếu để dân tộc này tạo được cơ hội nắm lấy thật sự vận mạng của mình, thoát khỏi những cái chuồng sơn son thếp vàng của ngoại nhân, bất cứ ngoại nhân ấy là ai. Tôi chỉ nhìn thấy những khuôn mặt anh em…" (Lý Chánh Trung, "37. Những khuôn mặt anh em,” Những ngày buồn nôn, trang 257-261, Giai phẩm đặc biệt Xuân Nhâm tý của Đối Diện, 1972)

Lý Chánh Trung viết bài này vào ngày 18 tháng giêng, 1971, nghĩa là đúng 3 năm sau cuộc tổng tấn công của người Miền Bắc vào Miền Nam vào năm Mậu Thân 1968. Cuộc thảm sát tại Huế với ít nhất là hơn 3.000 người (sinh viên, phụ nữ, lão ấu, thanh niên, linh mục, tăng ni, giáo sư đại học kể cả giáo sư đại học ngoại quốc…) bị chôn sống tập thể, bị hành quyết ngay trước mắt người thân của họ vẫn không đủ để ông nhận thấy việc chống chính phủ Mỹ lẽ ra không thể cần kíp bằng chống lại người Cộng sản. Ngoài Lý Chánh Trung còn có nhà văn Nhã Ca (4). Chính bà có mặt ở Huế trong vụ thảm sát đó nhưng hai năm sau, bà cho xuất bản cuốn Giải khăn sô cho Huế, một cuốn tiểu thuyết hóa cuộc thảm sát này, với lời tựa có đoạn kết tội chung cả Miền Nam lẫn Miền Bắc; một lời kết tội, ai oán thay, lại nhắm nặng nề nhất vào những đồng nghiệp của bà:

-"Tựa nhỏ: Viết để chịu tội- Có nhiều loạt súng đạn, nhiều loại tang tóc, đã nổ và đã tàn phá Huế. Công trình ấy không biết từ đâu, nhưng dù do đâu đi nữa, thì cái tội ác tàn phá một thành phố lịch sử là Huế, chính thế hệ chúng ta, thời đại chúng ta, phải chịu trách nhiệm […]Thế hệ chúng ta, cái thế hệ ưa dùng những danh từ đẹp đẽ phô trương nhất, không những chúng ta phải thắt một giải khăn sô cho Huế, cho quê hương bị tàn phá, mà còn phải chịu tội với Huế, với quê hương nữa. Gần hai năm đã qua, hôm nay, nhân ngày giỗ thứ hai của biến cố tàn phá Huế sắp trở lại, tôi xin viết và xin gửi tới người đọc tập "giải khăn sô cho Huế" này như một bó nhang đèn góp giỗ. Xin mời bạn, chúng ta cùng thắp đèn, châm nhang, chịu tội với quê hương, với Huế…" [Nhã Ca, Giải khăn sô cho Huế, trang 7-12, Thương yêu xuất bản, 524 trang, 1969–Đất lành tái bản, 446 trang, 1971]

Chưa hết, vào tháng 8. 1973, Nhã Ca còn xác định bà không đứng vào bên nào (Quốc gia hay Cộng sản)– và hơn thế nữa, hai bên đều "hung hiểm như nhau"– qua một cuộc phỏng vấn với ký giả James M. Markham của nhật báo The New York Times:

-"ĐỨNG GIỮA" –‘Tôi không thể là thành viên của bất cứ bên nào’, bà Nhã Ca nói, ‘và hầu hết người Việt Nam cũng đang ở cùng một hoàn cảnh như tôi.’ […] Bà nói thêm :’Chúng tôi đang sống trên quê hương của chính mình, mặc dù vậy, ở phía này hay phía kia, đều hung hiểm như nhau'[…]Nhiều tác phẩm của bà và các tiểu thuyết gia khác của miền Nam, theo bà, hiện không thể qua khỏi được lưỡi kéo kiểm duyệt của nhà cầm quyền. ‘Tôi tin rằng chính phủ sẽ không thể tiếp tục được mãi sự kiểm duyệt độc đoán mà mà họ đang thi hành,” bà nói "Tôi tin rằng những cuốn sách bị cấm đoán rồi sẽ được đưa ra ánh sáng sau giai đoạn lịch sử này.’ Ngoài những khó khăn với chính quyền, cũng như mọi người Miền Nam khác, các nhà văn cũng đang phải đối đầu với hoàn cảnh kinh tế cay nghiệt. Giá giấy và giá in tăng vọt. Việc in sách và bán sách trở nên khó khăn"(4) [James M. Markham, "Một nhà văn Sài gòn thấy mọi phía đều có lỗi,” The New York Times, ngày 11.8.1973 –Trích lại trong Hồi ký một người mất ngày tháng (Nhã Ca) trang 519-522, Thương yêu xuất bản, 1991, Hoa Kỳ).

Những lời tuyên bố như thế ("‘Chúng tôi đang sống trên quê hương của chính mình, mặc dù vậy, ở phía này hay phía kia, đều hung hiểm như nhau") như của bà Nhã Ca không khác gì cảm tưởng của một số nhà văn ngoại quốc tới thăm Việt Nam, điển hình là Mary McCarthy.

B- Người ta trông vào: Gái điếm, Chương trình Chiêu hồi và Ấp chiến lược

Năm 1974, Mary McCarthy (1912-1989), một trong những nhà văn nữ viết tiểu luận và phê bình xuất sắc nhất thuộc thế hệ của bà, tập hợp ba cuốn sách nhỏ viết về Việt Nam từ năm 1967 tới năm 1972 thành một cuốn dầy 450 trang có tựa là The Seventeenth Degree: How It Went, Vietnam, Hanoi, Medina, Sons in the Morning. Bà có qua thăm Miền Nam (Sài gòn) nhưng ngay tựa đề, người đọc có thể đã đoán được bà thiên về bên nào. Người viết khỏi cần nhắc ra đây cảm tình của bà với Hà nội để đối chiếu với với những cảnh bệ rạc, nheo nhóc trong các trại tỵ nạn hay một xã hội xuống dốc ở Miền Nam. Vâng, như các cuốn sách của những nhóm thiên tả, cuốn này cũng phải có mấy câu mỉa mai về nạn gái điếm ở Sài gòn và những chú ma- cô vị thành niên. Đọc Mary McCarthy, người ta không thấy học sinh đến trường, đi cùng bố mẹ xem hát hay đi ăn mà chỉ thấy rặt những Mã Giám Sinh tý hon: "Đám nít trai sáu tuổi xinh xẻo đang níu kéo mấy chàng lính (Mỹ) trẻ: ‘Anh tới gặp chị tui đi. Cổ đĩ Số Một’"(‘Six-year-old boys, cute as pins, are plucking at them:’You come see my sister. She Number One Fuck‘)" sđd, trang 68. Giữa một Miền Bắc với các "cháu ngoan Bác Hồ" vừa núp bom B52 vừa học tập với một Miền Nam tràn lan trẻ em đánh giầy rong và dẫn mối thì Miền Nam thua là cái chắc. Thành phố Sài gòn của Mary McCarthy là một thành phố bụi và rác, kết quả của của nền văn minh cơ khí . Đó không phải là thành phố hoa lệ về đêm mà Mặc Đỗ tả trong "Sài gòn của tôi":

-"Nhưng đặc biệt nhất là đêm Sàigòn. Buổi sáng, buổi chiều, Sàigòn làm việc, đêm đến Sàigòn mới thật sự sống. Ra quán uống cà-phê, ăn sáng, đó là một cần thiết ngắn. Tối đến ra đường, đó mới là thời gian của mình của mỗi người Sàigòn. Ăn và chơi mọi thứ đều có đủ. Bỏ ra một năm trời khám phá chưa chắc đã biết hết mọi thứ ăn và mọi thứ chơi của Sàigòn. Rất nhiều người đến Sàigòn rồi không thể bỏ đi. Chưa hẳn bởi họ ham ăn ham chơi. Đêm Sàigòn là của hết thảy mọi người, ai cũng có thể tìm thấy cái phần của mình ở một nơi nào đó trong thành phố nô nức về đêm. Bởi có đêm Sàigòn đời sống thấy dễ chịu hơn. Ban ngày làm việc, đêm đến có cơ hội tức khắc đền bù những nhọc mệt trong ngày. Cần cù, cố gắng được chia thành nhiều đoạn ngắn. Hãy sống cho ngày hôm nay, sáng mai lại tiếp tục. Đời sống Sàigòn đáng yêu bởi lẽ không đòi hỏi nhiều cố gắng tích lũy."(Tạp chí Vấn đề, Chủ biên Vũ Khắc Khoan &Thư ký tòa soạn Mai Thảo, Giai phẩm Xuân Canh tuất- Số 30-31, Tháng giêng&2/1970, trang 57-51. Tài liệu: Viên Linh. Bản điện tử do Tân nương tử thực hiện)

Càng không phải cái Sài gòn của một bồi đắp lâu đời từ tứ xứ muôn dân, cái Sài gòn mà Bình Nguyên Lộc cho là xứng đáng được coi là thủ đô hơn Hà nội:

-"Những nhóm Bách Việt lang thang chỉ có thể trôi dạt vào Sài gòn mà thôi, một thành phố hỗn tạp, một cơ thể có sức khỏe vượt bực chấp nhận sự len lỏi vào của cả những hòn sỏi cứng mà không chết, trái lại còn biến những ngoại tố khó tiêu đó thành tế bào của một tổ chức sinh lý mới Sài gòn là một kẻ ăn sắt mà không đau dạ dày, nó đã ăn tạp như vậy từ năm 1658 đến nay là 311 năm rồi mà không hề phải rước thày lang lần nào, mà xem ra càng ngày nó càng sởn sơ ra với một sinh lực mới cấu tạo bởi những thứ lăng nhăng như vậy[…]Đồng bào di cư đừng có mơ Bắc tiến vô ích. Ta lập thủ đô tại đây, và đây là nơi mà dòng Bách Việt oai hùng của thời Kinh Man được phục sinh với một sức sống mới, mãnh liệt hơn bao giờ cả." (Bình Nguyên Lộc, Vấn đề, sđd, trang 43)

Bình Nguyên Lộc đã nói đúng: Văn học Miền Nam là một nền văn học quá đa dạng quá phong phú. Nó dung thứ hết mọi khuynh hướng. Nó chiều chuộng người mới tới. Nó o bế người bản xứ. Ai cũng có phần và quả như Mặc Đỗ nhận xét: đây là một nơi "mạnh ai nấy sống" nghĩa là mạnh ai nấy viết, trừ những anh nằm vùng hay soi mói vào tác phẩm đề kéo ra những cái mà Sài gòn đã dung thứ.

Nhưng hiếu kỳ nhất là tựa một chương được tuy được Mary McCarthy đặt "Những người trí thức (Intellectuals) mà tuyền những câu miệt thị và diễu cợt về một ông thiếu tá "mắt xếch" (slant eyes, trang 127), và Ấp chiến lược hay chương trình Chiêu hồi. Một câu sau đây diễn tả trọn vẹn cảm tưởng điển hình của McCarthy dành cho Miền Nam: "Mặt trận Giải phóng Miền Nam nhắm tới một cuộc cách mạng xã hội trong khi cẩn thận tránh nhắc đến mấy chữ này mà trong khi đó, đám quân nhân cầm quyền Miền Nam tung ra một chương trình mang tên ‘cách mạng’ lại thất bại trong việc thiết lập bất cứ một sự cải tổ nhỏ bé nào-‘(.”..The NFL aims at social revolution,while taking care not to pronounce the word, and the South Vietnamese junta launches a program styled ‘revolutionary,’ while failing to institute the mildest reform’) " (Mary McCarthy, sđd, trang 128).

Trái lại, tạp chí Văn có nhắc tới bà và buổi tiệc trà do tòa đại sứ Hoa Kỳ tổ chức. Trần Phong Giao, thư ký tòa soạn, dưới bút hiệu Thư Trung, đã viết nửa trang giới thiệu rất trịnh trọng về văn nghiệp Mary McCarthy cùng cảm tưởng riêng của ông, như sau:

-"Chiến cuộc Việt Nam đã lôi cuốn được sự chú ý của nhiều người cầm bút khắp nơi trên thế giới…Mới đây lại có nhà văn Mỹ Mary McCarthy. Hồi 6 giờ chiều ngày 21-2-1967, tại tư thất, ông J. Le Clair, tân tùy viên văn hóa tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, đã tổ chức một buổi tiệc trà để giới thiệu bà với văn giới Sài gòn[…]Với tuổi sấp sỉ sáu mươi, chúng tôi không biết nữ văn sĩ McCarthy cất công lặn lội sang Việt Nam để làm gì? Nhưng chúng tôi xin cầu chúc bà những ngày an lành ở Việt Nam, và khi trở về Hiệp Chủng quốc, bà sẽ nói lên những sự thực mà bộ óc quan sát tinh tường và bén nhọn của bà ghi nhận được trong chuyến viếng thăm này-những sự thực sẽ giúp cho người người khắp nơi hiểu thấu được nỗi khổ đau của quê hương nhược tiểu bị chia cắt, bị tàn phá, bị thống khổ, là Việt Nam chúng tôi…" (Thư Trung, "Tin văn…vắn,” Tạp chí Văn số 77, mồng một tháng 3, 1967, trang 121)

Sau 1975, Trần Phong Giao, từng giữ chức Thư ký Tòa soạn Tạp chí Văn trong gần hết cuộc đời của nó, phải đem dạm bán bộ tạp chí Văn (theo tin của nhà thơ Lê Minh Quốc, Sài gòn) và biến thành một người dịch thuê thầm lặng, nhưng "nỗi đau" này không còn một nhà văn từ Hoa kỳ nào có dịp chứng kiến nói chi tới việc trình bày cho thế giới biết như ông từng rất tin tưởng một cách tội nghiệp vào Mary McCarthy. Nhưng ít nhất, Mary McCarthy không chỉ nhắm vào giới phụ nữ Sài gòn như Germaine Greer.

Nhân vụ John Gorton, Thủ tướng Úc (nước Úc lúc ấy cũng đang tham chiến tại Miền Nam), bị tai tiếng liên quan đến tình dục với ký giả Geraldine Willesie và cô thư ký Ainslie Gotto, Germaine Greer (dân Úc, ký giả và một nhà nữ quyền tên tuổi, 1939-) viết một bức thư ngỏ– mà không báo nào lúc ấy chịu đăng nhưng sau này ấn hành trong cuốn tiểu luận The Mad Woman’s Underclothes— kết án ông đã biến những người đàn ông khác thành những kẻ "giết và tra tấn đàn bà và trẻ em tại Việt Nam." (trang 13, sđd, Nhà xuất bản Atlantic Monthly Press, 1986). Dĩ nhiên ai cũng còn nhớ việc nhiều quân nhân Hoa Kỳ trở về nước đã được đón tiếp tại phi trường bằng những lời nguyền rủa tương tự: "Bọn sát hại trẻ em" (The Baby Killers). Có lẽ Germaine Greer, sang thăm Sài gòn khỏang 1971, cũng là một trong những cây bút ngoại quốc đã gián tiếp đưa huyền thoại bất hảo gần-nửa -triệu-gái điếm này tại Sài gòn lan rộng và biến thành một thứ "sự thật" sau này được mấy nhà nữ quyền Hoa Kỳ ghi chép và kết án một cách hết sức long trọng, thêm phần số tiền phải trả cho các cô để liệt thêm chứng cớ rằng chính phủ Sài gòn và Hoa Kỳ đã buôn, không những xác chết của đàn ông, mà còn thân xác của đàn bà, những người "con gái Việt Nam da vàng,” cũng theo cách nói thời thượng bấy giờ mà đại diện lừng danh nhất là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, người cũng có mặt tại Huế khi thành phố này hấp hối dưới những cơn mưa đạn đến từ Nga Xô và Trung Quốc. Lúc ấy, nếu người viết nhớ không lầm thì Sài gòn chỉ có khoảng 2 triệu dân, nhưng theo Germane Greer thì cứ 10 người dân Sài gòn (kể cả nam phụ lão ấu) thì có 1 cô gái điếm và khi tin tức này sang được đến tay mấy bà nữ quyền Hoa kỳ thì cứ 4 người Sài gòn lại có 1 người hành nghề mại dâm. Nếu tính chung chung là số phụ nữ thường bằng nửa dân số thì như vậy, cứ 2 phụ nữ Sài gòn là có 1 người bán dâm. Suy ra, nếu cứ theo cái kiểu tam đoạn luận (và động trời) này, chúng ta có thể kết luận rằng gia đình Sài gòn nào cũng sẽ có ít nhất là một bà ngoại, bà nội, bà mẹ hay một cô con gái (không cần biết lớn bé cỡ nào) bán dâm dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng nói nôm na vẫn là "làm điếm":

-"Theo số thống kê do Liên đoàn Sinh viên Sài gòn cung cấp, có khoảng 200.000 gái bán bar, gái điếm và vợ tạm thời của người Hoa Kỳ. Hà nội quả quyết là 400.000. ("According to the statistics supplied by the Student’s Union in Saigon, there are 200,000 bar-girls, prostitutes and irregulars wives of Americans. Hanoi claims that there are 400,000...")" [Germaine Greer,"Saigon-Xuất hiện lần đầu trên tờ Sunday Times, ngày 5.tháng chạp. 1971-Đăng lại trong The Mad Woman’s Underclothes, trang 97, The Atlantic Monthly Press, Hoa Kỳ, 1986]

Không hiểu cái "Hiệp hội sinh viên" này ở đâu và làm cách nào mà có con số 200.000 để cung cấp cho Germaine Greer? Bằng cách …mua dâm?! Li kỳ hơn nữa, mấy chục năm sau khi quân đội Hoa Kỳ đã rút về nước mà số gái điếm vẫn bành trướng lên thành nửa triệu:

-"Trong khoảng thời gian Hoa Kỳ có mặt tại Miền Nam, có (tới ) hơn 500.000 gái điếm chỉ tại Sài gòn và cả quân đội Hoa Kỳ lẫn chính phủ Thiệu đã đẩy mạnh việc mãi dâm cũng y như dưới thời thực dân Pháp. […] Gái điếm được trả 1 mĩ kim mỗi lần tiếp khách và 80 % số tiến ấy vào túi của chính phủ trung ương (Miền Nam)…" ("During the US presence in outh Vietnam, there were over 500,000 prostitutes in Saigon alone, and prostitution was promoted by both the American military and the Thieu regime as it had been during the French colonial days. Prostitutes were paid $1 per client and 80% of their earning went to the central (South) government...") [Sisterhood is Global: The International Women’s Movement Anthology, trang 725, Chủ biên: Robin Morgan, Nhà xuất bản Anchor Books, 1984]

Dĩ nhiên, người đọc không cần phải suy nghĩ cho sâu cũng biết ngay rằng cánh tả và khuynh tả luôn luôn mang tệ nạn đĩ điếm ra để gây công phẫn cho dễ bề lôi kéo dư luận vào phong trào của họ. Hình ảnh của một nữ bộ đội Miền Bắc thấp bé chĩa súng áp giải một người phi công Hoa kỳ (máy bay bị bắn rớt) nói được ngàn lời khi so sánh với ảnh của một cô điếm Miền Nam, bộ ngực căng phồng vì "silicone,” hầu như trần truồng bên cạnh một, có khi hai, chiến binh Hoa Kỳ. Hình ảnh cô điếm ấy còn ám chỉ một sự nhục mạ nặng nề hơn: người đàn ông Miền Nam đã không bảo vệ được cương thổ và chính vợ hay con gái của mình. Đó có thể cũng là một lý do quan trọng khiến những người trí thức không-Cộng hay khuynh tả ở Miền Nam muốn đẩy người Hoa Kỳ ra khỏi Miền Nam bằng mọi giá.

Trong khuynh hướng giải quyết chiến tranh bằng cách tố giác "tội ác" của Hoa Kỳ, Trình bầy đã đăng một bài có tên "Những vụ tấn công Miền Bắc nước Việt Nam của máy bay Mỹ ngày 21.11.1970" (Trình bày số 28, ngày 21.9.1971) của Peter Weiss (1916-1982), một kịch tác gia-họa sĩ danh tiếng Đức. Peter Weiss từng tường thuật về cuộc thăm viếng Miền Bắc vào năm 1968 trong cuốn Notes on the Cultural Life of the Democratic Republic of Vietnam, trong đó có một đoạn phân tích về Văn học Miền Nam. Đáng chú ý cũng là tệ nạn ma-cô và gái điếm: "[…]Thế hệ lớn lên trong những thập niên cuối dưới quyền của người ngoại quốc, trên hết là giới trẻ Sài gòn, đã mất hiểu biết về (thế nào là) cách mạng. Bị phơi ra liên miên trước những bầy tỏ có ý thù ghét chủ nghĩa xã hội, vây quanh bằng khẩu hiệu của những kẻ khởi nghiệp thực dân, tràn ngập bởi loại văn chương rác rưởi và thứ phim ảnh bị bạo động hóa, nhiều thanh niên này được huấn luyện khi còn thơ trong việc gian lận và đầu cơ tích trữ. Họ học cách kiếm lời một cách nhậm lẹ bằng cách trở thành những tay chạy hàng chợ đen và ma-cô. Chỉ trong mỗi một năm 1966, đã có 18.000 thanh thiếu niên phạm trọng tội và 40.000 thanh nữ ghi tên vào danh sách gái điếm.("The generation that had grown up in the last decade of foreign rule, above all the youth of Saigon, has lost their understanding of revolution. Exposed to constant expresssions of hate for socialism, ringed round by the slogan of imperialist entrepreneurs, inudated by trashy literature and brutalizing films, many of the young men became trained at an early age in racketerring and speculation. They had learned how to make quick profits as black marketeers and pimps. In the year of 1966 alone 18,000 young people committed crimes of violence and 40,000 young women were registers as prostitutes…") [Peter Weiss, sđd, trang 90-Nguyên bản tiếng Đức và do nhà Suhrkamp Verlag xuất bản lần đầu tại Frankfurt, 1968-Bản Anh ngữ do Dell Publishing Co., ấn hành, Hoa Kỳ, 1970.]

Còn đây là đàn ông Miền Nam dưới con mắt Peter Weiss: "Ngay bên cạnh họ (người Hoa Kỳ -chú của người viết) là nửa triệu người Việt đánh thuê…("At their side stand half-million South Vietnamese mercenaries…") [Peter Weiss, sđd, trang 93]

Những tên tuổi này (Mary McCarthy, Germaine Greer và Peter Weiss…) tuy thế mà còn thua những "tay tổ" như Bertrand Russell (Anh), Jean Paul Sartre (Pháp) và Noam Chomsky (Hoa Kỳ) . Họ đại diện phần nào cho văn minh và văn học Tây phương và tuy không hề biết đến Văn học Miền Nam nhưng đã lập một "thế giới đại đồng" để vô tình tiêu diệt nó bằng cách kêu gọi chấm dứt cuộc chiến với những tin tức một chiều rất bất lợi cho Miền Nam. Không chịu khoanh tay bất lực trước làn sóng đổ ập cả từ bên trong lẫn bên ngoài ấy, người cầm bút Miền Nam biểu dương thái độ không chỉ bằng sáng tác mà thậm chí còn bằng cả những bài tiểu luận nhận định hay phản bác về thái độ "đứng giữa" hoặc "phản chiến" cho dù các thái độ ấy có xuất xứ từ đâu, trong Nam ngoài Bắc hay vượt khỏi mũi Cà mau.

II-Ta là ai giữa mùa thay đổi ấy-Thực trạng ở Miền Nam

A-Đinh Hùng: tiếng Tao Đàn tấu khúc Tự do đang im bặt tại Miền Bắc

Giữa những tin tức bất lợi chung cho Miền Nam, các nhà văn di cư làm gì? Dĩ nhiên họ vẫn sáng tác và có khi làm chủ nhà xuất bản riêng như Mặc Đỗ và các bạn có nhà xuất bản Quan Điểm. Đáng chú ý hơn nữa, họ đều gia nhập ngành báo chí, không dưới hình thức này (Chủ nhiệm, chủ bút, Thư ký Tòa soạn như Mai Thảo, Trần Phong Giao hay Viên Linh…) thì cũng dưới hình thức khác (tập họp thành nhóm như Sáng Tạo) vv…Trên hết thảy, sự có mặt của một số đông người cầm bút chọn sự di cư từ Bắc vào Nam là một biến cố lớn trong văn sử Việt Nam. Mặc Đỗ, trong ban chủ trương tạp chí Phổ Thông từ Hà nội– nơi Cung Trầm Tưởng và Bùi Giáng có thơ đăng từ những đầu năm 1950– cùng các bạn trong nhóm Quan Điểm và Tam Lang lập nhật báo Tự Do ngay sau khi Bộ Thông tin di vào Nam khi cắt chia đất nước.

Rồi Nguyễn Gia Trí, Tam Lang, Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng; rồi Tạ Tỵ, rồi Văn Quang, Thanh Nam, Nhật Tiến, Nguyên Sa, Viên Linh, Hà Huyền Chi, Uyên Thao, Trần Phong Giao, Đỗ Tiến Đức, Nguyễn Đình Toàn… Mai Thảo lập tạp chí Sáng Tạo với Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sỹ, Duy Thanh, Thái Tuấn, Ngọc Dũng, Thanh Tâm Tuyền, (Tô Thùy Yên), Lê Huy Oanh…Danh sách không dứt ấy kéo dài nhập vào với những nhà văn bản xứ như Bình Nguyên Lộc, Ngiuễn Ngu Í, Sơn Nam, Vương Hồng Sển vv…Sau này, danh sách ấy sẽ có thêm những Hà Thúc Sinh, những Hoàng Khởi Phong, những Du Tử Lê…Không riêng giới nhà văn mà giới nghệ sĩ cũng ào ạt xuôi Nam như Phạm Duy, Phạm Đình Chương, Vũ Thành, Thái Thanh… Các gánh cải lương cũng có người Bắc. Đoàn Kim Chung với Kim Chung, Bích Hợp chia sân khấu với các nghệ sĩ Miền Nam như Út Trà Ôn, Út Bạch Lan, Thanh Nga, Thành Được, Hùng Cường …Bên phát thanh thì dưới sự sáng lập và điều khiển Ban Tao Đàn của Đinh Hùng, người ta sẽ ghi nhận hiện tượng ngâm thơ "Tao đàn" với giọng ngâm nam như Thanh Hùng, giọng nữ như Đàm Mộng Hoàn và Hồ Điệp…vv Danh sách văn nghệ sĩ xuôi Nam từ 1964 này sẽ còn dài hơn nữa với thế hệ tiếp nối.

Nhưng sự di chuyển của một nửa nền văn học Việt Nam hiện đại đó–mà lại là một nửa lẫy lừng–và tầm quan trọng của nó đã không được các nhà phê bình chú ý. Thậm chí có khi còn bị coi thường như thái độ của nhà văn Võ Phiến: khi viết bộ bẩy cuốn về Văn học Miền Nam, ông đã bỏ qua Hà Huyền Chi và Du Tử Lê trong danh sách 32 nhà thơ mà ông đưa vào tập Văn học Miền Nam-Thơ.

Bỏ qua những thiên kiến chính trị của người ngoại quốc hay sự đố kỵ thường tình của số rất hiếm đồng nghiệp bản xứ, quyết định xuôi Nam này của nhà văn di cư không phải là một quyết định giản dị và không đau đớn. Quyết định ấy được giải nghĩa rạch ròi bằng một bài viết của Đinh Hùng đăng trên tạp chí Nghệ Thuật vào năm 1965, hơn mười năm sau khi ông rời Hà nội. Câu trả lời của Đinh Hùng, của những người cầm bút Miền Bắc di cư, thật ra không dành cho các đồng nghiệp và độc giả Miền Nam vì họ đã được yêu mến và đón nhận nhiệt liệt, nhưng chính ra là để phản bác các nhà văn theo Cộng sản đã chọn quyết định ở lại:

-"Khi lìa bỏ đất Bắc vào Nam-bỏ lại sau lưng tất cả[…]cả cái thế giới văn nghệ từ hơn 10 năm đã trở thành một Quê hương mê hoặc, và bỏ lại cả một phần nao nức nhất của cái chính mình[…]Xa đất Bắc, không hiểu tôi nhớ tôi thương những cái-gì -ở -lại hay chính những cái gì-ở-lại ngơ ngẩn nhớ thương tôi?[…]Niềm cảm ứng song phương mối thấn giao cách cảm linh diệu giữa hai miền Nam -Bắc, tôi muốn kể như là một nguồn cảm hứng đột khởi và cao diệu nhất của người văn nghệ sĩ còn đủ hồn đủ tim ở bên kia vỹ tuyến. Cũng trên dòng cảm hứng đó, phát xuất từ một mạch nguồn chung tiếng nói "Nhân văn giai phẩm" mấy năm trước đây đã vọng đến tận bên lòng chúng ta gần gũi và thấm thía và thân mật vô cùng tưởng như chính lòng chúng ta âm thầm vang dội ngày nào. Và tâm trạng của kẻ ra đi đã có Trần Dần, một người ở lại nghe thấu từng nức nở lắng chìm tận chiếu sâu tiếng vọng để nói hộ chúng ta lời nói ruột thịt xót đau:

Họ vẫn ra đi.

                – Nhưng sao bước rã rời ?

Sao họ khóc ?

                Họ có gì thất vọng ?

Đất níu chân đi, gió cản áo bay về

Xa đất Bắc tưởng như rời cõi sống.

Tưởng như đây là phút cuối cùng

Răng rối lại : mỗi lùm cây, hốc đá

Mỗi căn vườn, gốc vả, cây sung

Không nói được, chỉ còn nức nở

Trắng con ngươi nhìn lại đất trời…

"Vậy mà những người ra đi vẫn cứ ra đi, mặc dầu mất hết. Tôi còn muốn xác nhận một điều: mặc dầu cuộc ra đì không hề có nghĩa một cuộc chạy trốn, vì trên thực tế, những cái-gì -ở-lại vẫn còn nhớ thương mình, thứ nhất đối với những người làm văn nghệ, khí hậu vẫn còn dịu lành, chiêu dụ, hứa hẹn là khác và mặc dầu hàng ngũ văn hữu chung quanh vẫn còn nhiều gương mặt đồng điệu, tôi vẫn cứ thấy cần phải ra đi. Dĩ nhiên từ những đầu biến cuộc 1945, từ những năm đầu kháng chiến, chúng tôi đã có bao nhiêu là dịp để biết thế nào là văn học nghệ thuật hiểu theo quan điểm của những người mác-xít…" (Đinh Hùng, "Người lên đường và người ở lại,” tạp chí Nghệ thuật số 6, trang 2, tuần lễ từ 7-11 đến 14 tháng 11. 1965-Chủ bút Mai Thảo&Thư ký Tòa soạn Thanh Nam-Tài liệu: Viên Linh)

Đinh Hùng chỉ nhắc chính thức đến mấy câu đầu của Nhất định thắng nhưng là người trong nhóm Dạ đài với Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch (em Vũ Hoàng Chương) và Vương Thanh, Đinh Hùng không thể không có nguyên bản bài thơ này mà nhiều câu khác lại là một sự kết án nặng nề đầy tính võ đoán về quyết định ra đi của những người như Đinh Hùng khiến ông phải chính thức lên tiếng. Thái độ cay đắng gần như phỉ báng ấy của Trần Dần đã tựa trên một lý luận rất thịnh hành do người Cộng sản bầy ra: những người Bắc di cư chỉ là những kẻ chạy theo đế quốc Mỹ:

Chúng ta vẫn làm ăn chiu chắt.
Ta biết đâu bên Mỹ miếc tít mù
Chúng còn đương bày kế hại đời ta ?[…]

Quãng thời gian nhưng nhức chuyện đi Nam
Những cơn mưa rơi mãi tối sầm
Họ lếch thếch ôm nhau đi từng mảng
Tôi đã trở nên người ôm giận
Tôi đem thân làm ụ cản đường đi

       – Dừng lại !

                  – Đi đâu ?

                         – Làm gì ?

Họ kêu những thiếu tiền, thiếu gạo
Thiếu cha, thiếu Chúa, thiếu vân vân
Có cả anh nam chị nữ kêu buồn

      – Ở đây

               Khát gió, thèm mây…

                  Ô hay !

Trời của chúng ta gặp ngày mây rủ
Nhưng trời ta sao bỏ nó mà đi ?
Sau đám mây kia
Là cả miền Nam
Sao nỡ tưởng non bồng của Mỹ !
Tôi muốn khóc giữ từng em bé
      – Bỏ tôi ư ? – Từng vạt áo – gót chân
Tôi muốn kêu lên – những tiếng cộc cằn…

– Không ! Hãy ở lại!
Mảnh đất ta hôm nay dù tối
Cũng còn hơn
               Non bồng Mỹ
                              Triệu lần…
Mảnh đất dễ mà quên ?
               Hỡi bạn đi Nam
Thiếu gì ư?
Sao chẳng nói thật thà ?

Chỉ là:
      – Thiếu quả tim bộ óc !

Những lời nói sắp thành nói cục
Nhưng bỗng dưng tôi chỉ khóc mà thôi
Tôi nức nở giữa trời mưa bão.
Họ vẫn ra đi
…" [Trần Dần, "Nhất định thắng" ("Trích từ tập Trần Dần – Thơ, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008,” http://tuoitre.vn/Pages/Printview.aspx?ArticleID=246626)]

Khác với những người ở lại và sau này đa số tàn đời văn nghệ một cách oan uổng và khốc liệt trong ảo tưởng Nhất định thắng như Trần Dần, Đinh Hùng đã sớm nhận ra "văn học nghệ thuật hiểu theo quan điểm của những người mác-xít" không dung thứ cho ông và bạn hữu ông. Tạ Tỵ thuật lại một kỷ niệm với Đinh Hùng càng giải thích quyết định xuôi Nam ấy:

-"Vào tháng ngày kháng chiến lênh đênh, chúng tôi gặp nhau ở chợ Đa thuộc Khu Ba. Tôi và Hùng ngồi tâm sự trong một quán nước. Hôm đó, không nhằm phiên chợ nên thật vắng vẻ. Những con đường bùn lầy ngập ngụa. Những hố "tăng xê" ngập nước ở hai lối đi. Những mái lá cũ kỹ được chống đỡ với hàng cột tre láng bóng. Lợi dụng sự vắng vẻ nhất là bà hàng già nua, Hùng cao giọng đọc những thơ, những vần thơ mà kháng chiến không chấp nhận…"(Tạ Tỵ, Tạp chí Văn, Số 91, Chủ đề Thương Nhớ Đinh Hùng, 10. 1967, trang 23-Chủ nhiệm Nguyễn Đình Vượng& Thư ký Tòa soạn Trần Phong Giao)

Những vần thơ mà kháng chiến không chấp nhận là những vần thơ nào? Cũng theo Tạ Tỵ:

-"[…]tôi và Hùng chia tay, mỗi đứa một phương trời khói lửa. Nhưng bài thơ ‘Sông núi giao thần’ của Hùng vẫn âm vang trong tôi như lời cầu nguyện: Trăng ơi đừng bỏ Kinh Thành/Hồn Cố Đô vẫn thanh bình như xưa/Nhỡn tiền chợt sáng thiên cơ/Biết chăng ảo phố, mê đồ là đâu…"(Tạ Tỵ, sđd, trang 24)

Tại Miền Nam, Đinh Hùng, ngoài những hoạt động văn học khác, còn lập Chương trình Thi văn Tao Đàn. Dư âm và ảnh hưởng của Tao Đàn còn tồn tại cho tới nay qua một cách ngâm thơ được mênh danh là lối "Tao đàn" và kiểu "Thi Nhạc giao duyên" mà một bài thơ và một bài nhạc được hát và diễn ngâm xen kẽ. Nhà văn Văn Quang, khi được Tạp chí Khởi Hành (bộ mới, Hoa Kỳ) đề nghị viết bài về nhà thơ Thái Thủy, một thành viên của Tao đàn, đã góp vào chân dung hoạt động văn nghệ của Đinh Hùng như sau:

-"Một chương trình phát thanh thuần túy về thi ca và thơ nhạc còn để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng khán thính giả từ xưa tới nay, không thể phủ nhận đó là Tao Ðàn. Ðó cũng là một phần tinh hoa của văn học Miền Nam Việt Nam trước những năm 1975. Những người làm thơ có hẳn một mảnh đất “dụng võ,” một khung trời riêng, một giá trị riêng được giới thiệu với những người yêu thơ.[…]Nhưng chưa ai nghĩ đến việc tổ chức kỷ niệm cho một chương trình văn thơ nào đó. Gần đây, tôi được tin hai tờ báo ở Cali tổ chức một buổi kỷ niệm cho Tao Ðàn. Một ý tưởng rất hay, được rất nhiều bạn bè và độc giả tán thưởng. Bằng cớ là theo những nguồn tin tôi nhận được thì hội trường chỉ chứa được khoảng 300 người, song số các vị khách đến dự tới gần 500 người. Người khai sinh ra Tao Ðà– Người đầu tiên phải kể đến là cố thi sĩ Ðinh Hùng. Khi mới lớn tôi đã nghe danh ông cùng ông Vũ Hoàng Chương. Hai cái tên ấy có một thời cứ như dính liền với nhau. Tôi coi ông như một bậc đàn anh. Dù với tôi, ông rất thân mật, cởi mở, song tôi luôn giữ bổn phận của một người ít tuổi hơn. Tôi chưa thể nào quên hình ảnh một ông nhỏ thó, lúc nào cũng mặc complet, cravate chỉnh tề, tay xách chiếc cặp da căng phồng, chẳng hiểu ông đựng những thứ gì. Nơi ông hay ngồi nhất là quán Givral ở góc đường Catinat và Lê Lợi. Ðôi khi cũng ngồi ở La Pagode với bạn bè. Dường như ông dành chỗ ở Givral với thính giả, còn La Pagode với các anh em trong “làng.”  Mái tóc chải mượt kiểu Tango, đặc công tử Hà Nội thời trước những năm 40 của các vị đàn anh trong Tự Lực Văn Ðoàn, Hàn Thuyên… Có thể nói cố thi sĩ Ðinh Hùng thời đó là một mẫu công tử Hà Nội rất hiếm hoi, còn sót lại giữa Sài Gòn đã thay đổi nhiều với nền văn minh “có mùi Mỹ” với những chiếc áo chim cò, quần ống túm… Mỗi thời đại có kiểu ăn vận đặc trưng của nó. Nhưng ông Ðinh Hùng thì cứ “bổn cũ soạn lại,” cổ điển như thành nếp gấp thẳng tắp, không thay đổi gì được. Ngay cả đến cách nói chuyện, cách giao thiệp của ông cũng thế thôi. Song ông lại là người dễ tính, chẳng nổi giận với ai bao giờ […]Cũng cần nhắc lại thêm là ông Ðinh Hùng còn có một “nghề tay trái” là viết tiểu thuyết kiếm hiệp rất hấp dẫn dưới cái tên Hoài Ðiệp Thứ Lang mà độc giả thường đọc trên nhật báo Tự Do. Hai tác phẩm tiểu thuyết kiếm hiệp của ông rất “ăn khách” trên Tự Do là “ Người đao phủ thành Ðại La” và “Kỳ nữ gò Ôn Khâu.” Chưa hết, con người tài hoa này còn có bút danh khác là Thần Ðăng dành cho loại thơ châm biếm rất có duyên.Tôi kể lại dài dòng về ông vì theo tôi nghĩ: có Ðinh Hùng mới có Tao Ðàn. Vì thế trước khi nói đến những vị khác, tôi thầy cần phải nói đến ông…. Xin gửi đến những bạn đọc không có dịp đến với chương trình kỷ niệm Tao Ðàn, bài viết của tôi về Thái Thủy do chị Tà Cúc đọc trong buổi kỷ niệm này…" Văn Quang, Tao Ðàn- khung trời tưởng nhớ, tháng 8.2006)

Ngoài đồng nghiệp tại Việt Nam, các nhà văn Việt Nam chống hay không theo Cộng sản còn một mối nguy nữa để đối phó: phong trào phản chiến của thế giới.

B-Khi đối diện với thế giới- Trước sự hào nhoáng của trí thức Tây phương

Tại Miền Nam, tiêu biểu cho những người đứng lên phản bác Bertrand Russell, Jean-Paul Sartre và Noam Chomsky là những vị lãnh đạo Đại học Vạn Hạnh, một đại học vẫn được coi là của Phật giáo, đứng đầu là Viện trưởng Thượng tọa Thích Minh Châu. Viện đại học này có một tạp chí tên gọi Tư tưởng (5) và phận sự của nó là "Cơ quan luận thuyết của Viện Đại học Vạn Hạnh" hay sau này, "Tiếng nói của Viện Đại học Vạn Hạnh.” Trong chuyên đề "Thế nào là phê bình,” xuất bản ngày 8 tháng giêng 1970, Chủ nhiệm & Chủ bút Thích Minh Châu đã cho đăng một bài dùng ngay các lý luận triết học Tây phương rồi dựa trên tinh thần Phật giáo, văn hóa Đông phương và Việt Nam cùng tình cảnh người dân thôn quê Miền Nam bấy giờ để kịch liệt đả phá lối suy luận và quyết đoán (nhất là của Chomsky) về cách giải quyết chiến tranh Việt Nam. Theo Tư tưởng, chỉ có một cách chấm dứt được cuộc chiến là trở về với văn hóa dân tộc và chú ý tới tình cảnh người dân quê Miền Nam. Bài này dài gần 20 trang, mà nổi bật ở chỗ đã đào sâu ngay vào sở trường (về triết học) của các nhà trí thức phản chiến này để gay gắt bác lại.

Người viết, không nhận xét rằng đúng hay sai, sẽ dẫn chứng vài đoạn tiêu biểu để cho thấy cái hào nhoáng của các cây cổ thụ Tây phương này đã và còn tiếp tục làm đắm nhiều con đò muốn vượt cái thác thành kiến khi nghiên cứu về chiến tranh Miền Nam và Văn học Miền Nam. Cũng nên lưu ý là bài này được viết bởi những trí thức Phật giáo có tiếng không thân chính phủ Miền Nam cũng không thân chính phủ Hoa Kỳ. Sau 1975, số phận ban biên tập cũng khác: Thượng tọa Thích Minh Châu có lúc đã làm đến Đại biểu Quốc hội (nếu tin tức của người viết là đúng) nhưng Đại đức Tuệ Sỹ, phụ trách phần Phật học cho Tư tưởng, sẽ bị giam gần 12 năm sau khi chính phủ Cộng sản giảm án tử hình rồi bị quản thúc liên tiếp tại chùa nhiều năm sau đó. Tương tự, dịch giả Thích nữ Trí Hải–quản thủ thư viện Đại học Vạn hạnh–cũng bị giam 4 năm. Ban chủ trương Tư tưởng quy trách nhiệm của cuộc chiến Việt Nam vào thuyết thực dụng, hai biện chứng pháp "duy vật và hiện sinh" phát sinh từ Tây phương mà các nhà trí thức Tây phương đã sử dụng:

-"Chúng tôi vừa đọc quyển American Power and the New Mandarin của Noam Chomsky, quyển sách dày đến 404 trang và chúng tôi xin giới thiệu cho những độc giả muốn phê bình chiến tranh Việt Nam., đây là một quyển sách thuộc loại ‘phản chiến’ tích cực chưa từng thấy trong tất cả các sách chống chiến tranh ở thế giới hiện nay. Không có người trí thức nào mà không biết tên của tác giả, vì Noam Chomsky là một nhà bác học nổi danh đã làm cuộc cách mạng cơ cấu bậc ngữ học, giáo sư tại Viện Cơ khí Massachussetts (M.I.T) cái lò tạo ra thông thái hạng nặng của nền văn minh hiện đại. Trong quyển American Power and the New Mandarin (trang 271), chúng tôi có đọc một câu rất cảm động như sau: ‘Điều quan trọng không phải là những lời những chữ mà là thực chất: trả lại nước Việt Nam cho người Việt Nam. (What is important is not the words, but the substance: the return of Vietnam to the Vietnamese)’

"Noam Chomsky đã phân tích và lý luận chặt chẽ đủ mọi sắc thái bình diện về trận chiến tranh Việt Nam, nhất là đặt nặng trách nhiệm vào giới lãnh đạo trí thức của nền văn minh tân tiến. Thể cách và nội dung phê bình của Noam Chomsky làm cho chúng tôi suy nghĩ rất nhiều nhưng có một điều mà chúng tôi cứ mãi mãi thắc mắc: không biết những tâm hồn chân thành như Bertrand Russell, Jean-Paul Sartre và Noam Chomsky có bao giờ tự hỏi: trận chiến tranh hiện nay ở Việt Nam mà họ là những kẻ chống đối chỉ trích quyết liệt nhất lại chính là trận chiến tranh đã đặt một nền tảng trong một lề lối tư tưởng Tây phương do chính Bertrand Russell, Jean-Paul Sartre, và Noam Chomsky khai sinh tạo dựng ra?

"Bertrand Russell là ông tổ khai sinh ra luận lý học mới tinh thần phân tích luận lý và duy nghiệm luận lý; còn Jean-Paul Sartre thì là một lãnh tụ hùng hồn phát động lối phân tích biện chứng pháp hiện sinh khốc liệt nhất và Noam Chomsky là người đã khai tạo ra một cơ cấu mới cho lối phân tích ký hiệu ảnh hưởng lớn lao đối với giới phê bình gia học giả Tây phương[…]Nếu Bertrand Russell, Sartre và Chomsky biết lý luận đến nơi đến chốn cho đến chỗ hợp lý cuối cùng thì điều có ý nghĩa quan trọng nhất là họ phải đốt bỏ hết những tác phẩm toán học, triết học, ngôn ngữ học mà họ đã viết ra, vì tất cả những công trình khảo cứu ý thức của họ đều là củng cố sự thống trị của văn hóa Tây phương trên mặt đất này. Họ chỉ chống đối chiến tranh Việt Nam nơi ngọn, nơi mặt ngoài, nơi hậu đề, còn riêng với tiền đề căn bản thì họ vẫn giữ lại. (C)hỉ có một sự chống đối có ý nghĩa, đó là chống đối ngay gốc rễ, ngay suối nguồn, ngay căn bản, ngay tiền đề: lấy ngón tay trỏ vào con sâu thực dụng, duy nghiệm, biện chứng đang đục khoét ý thức Tây phương và đang tàn phá toàn thể thế giới với những trận chiến tranh tàn bạo nhất trong lịch sử con người. Biện chứng pháp duy vật và biện chứng pháp hiện sinh cũng chỉ là sản phẩm của Tây phương, dù biện chứng pháp có chống lại duy nghiệm đi nữa thì chính biện chứng pháp chủ nghĩa thực dụng chỉ là hai anh em cùng một dòng máu, dòng máu độc tôn của da trắng […]Trái lại những người chân thành như Bertrand Russell, Sartre và Chomskyđã cực lực lên tiếng cho Việt Nam nhưng đằng sau những lời lẽ cảm động trầm thống kia thì lại là cả những tiền đề cố định của ý thức Tây phương, những tiền đề (prémisses) của một thứ chủ nghĩa hư vô (nihilism) khả dĩ xô đẩy toàn thể vận mệnh của Việt Nam đi vào sự diệt vong. "Không phải những lời lẽ, chữ, tiếng mà phải là ‘thực chất’ thực chất hiểu theo Chomsky, Sartre, Russell chỉ là Thực chất trong ý nghĩa Tây phương!" (Tạp chí Tư tưởng, "Lời tòa soạn,” sđd, trang 10-17)

Sau 1975, ngoài Sartre, người còn biết điều một chút khi tham dự vào việc xây một con tầu để vớt các thuyền nhân vượt biển, Noam Chomsky vẫn tiếp tục cho phổ biến những lý luận cũ về chiến tranh Việt Nam. Tháng 11, 1967, lời phát biểu của Russell –khi khai mạc "Phiên Tòa quốc tế xử Tội Ác Chiến tranh,” tháng 11.1967, để xét xử Hoa Kỳ và những quốc gia đồng minh khác đồng tham dự vào cuộc chiến Việt Nam– nay tồn tại, oái oăm thay, như lời cảnh cáo cho bất cứ trí thức nào quá tự tin vào kiến thức chuyên môn của họ như Russell, Sartre và Chomsky:

-" Chúng ta không phải là quan tòa. Chúng ta là chứng nhân. Phận sự của chúng ta là buộc con người làm chứng cho những tội ác kinh khủng này và giúp nhân loại đoàn kết cho công lý cho Việt Nam."

Phải đợi tới sau 1975, cái "công lý" ấy-không của Russell, không của Sartre, không của Chomsky– mới phần nào ló dạng sau cuộc tỵ nạn của người Việt ra thế giới, dẫn tới việc có mặt của Văn học Việt Nam Biển-ngoài (quen gọi là "Hải ngoại"), một nền văn học Việt Nam khác, tồn tại song song với Văn học Việt Nam Trong-Nước cho tới bây giờ.

Trước khi sang phần thứ Hai, phần Văn học Việt Nam Biển -ngoài, người viết muốn nói qua về một nhân tố quan trọng trong cuộc chiến Việt Nam nhưng sẽ xuất hiện trong nhiều trường hợp và hoàn cảnh khác nhau của nền văn học ấy: người lính Miền Nam và cựu quân nhân Hoa Kỳ đã phục vụ tại Miền Nam. Sau 1975, có một hiện tượng ảnh hưởng lớn lao đến ngành Việt nam học, ghé qua ngành Hoa kỳ học và chiếu ngược lại không riêng Văn học Miền Nam mà còn luôn cả Văn học Việt Nam: đó là hiện tượng các cựu quân nhân Hoa Kỳ nay trở về tu học và biến thành những giáo sư hay học giả trong các lãnh vực liên quan đến lịch sử và Văn học Việt Nam, Văn học Miền Nam cũng như Văn học Việt Nam Biển-ngoài. Không ít số cựu quân nhân này chống lại cuộc tham chiến tại Miền Nam và nay, sử dụng vị trí của họ cùng ngân khoản tại các Đại học cũng như từ các chương trình bảo trợ đặc biệt, đã có hoạt động cụ thể để nhắm chứng minh rằng, qua văn chương, sự tham chiến của Hoa Kỳ là một nhầm lẫn vì chỉ có Văn học Miền Bắc rồi Văn học Việt Nam từ nguồn đó và các phần tử liên hệ mới đại diện cho Văn học Việt Nam.

Nghĩa là, một lần nữa, sau khi người Cộng sản đã 3 lần đốt sách của các tác giả Miền Nam và cho đến nay vẫn còn cấm toàn diện tác phẩm của các tác giả ấy, Văn học Miền Nam có cơ nguy lại bị xóa sổ ở một nơi có tự do và Văn học Việt Nam Biển- ngoài thì được trình bày với một chân dung thiếu hẳn nhà văn Miền Nam, nhất là nhà văn Miền Nam từng chống lại Cộng sản hay chống lại chủ trương thỏa hiệp, hợp tác hoặc "hòa giải" với các công an văn hóa của Văn học Miền Bắc.

Trong khi đó, người lính Miền Nam ở đâu? Sau khi chính bản thân họ cũng từng là người cầm bút? Sau khi đã tử trận hoặc thúc thủ trong các trại giam sau 1975? Sau khi họ đã xuất hiện một cách rất tồi tệ trong Văn học Miền Bắc và tác phẩm của các tác giả phản chiến ngoại quốc? Thú thật đây cũng là một kinh nghiệm cho người viết, một kinh nghiệm mà nếu không được trở lại học tại một đại học ở Miền Đông, người viết sẽ không có đủ cái vốn hiểu biết về văn hóa Hoa Kỳ hay không cách nào lường được hậu quả của hiện tượng ấy để sang phần II của bài này. Đoạn viết dưới đây, coi như một lời tâm sự, phản ảnh kinh nghiệm đó, nhắm trình bày phần nào cảm tưởng tại sao chúng ta cần phải tiếp tục nghiên cứu về Văn học Miền Nam để rồi sau đó, giữ được sự trung thành với sự thực qua phần thứ hai, là phần Văn học Việt Nam Biển-ngoài

***

Sau 28 năm, tôi trở lại một tỉnh lỵ Miền Đông để tiếp tục việc học dở dang. Khi đến đây vào năm 1978, tôi mới chỉ là một cô gái đang trưởng thành mà lần này về đứng tại cùng một sân trường thì đã thành một thiếu phụ có tuổi.

Trước đó, tháng 6 năm 1975, tôi đã tới đây, trú ngụ vài tháng trong một trại tỵ nạn dành cho người Miền Nam chạy loạn Cộng sản. Trại này lập trong một trại lính chỉ cách đại học này mấy chục dặm. Rồi ra đi và trở lại rồi ra đi rồi trở lại. Trong bao lần ra đi trở lại, tôi vẫn giữ giấc mộng một ngày nào hoàn tất việc học. Giấc mộng ấy như một lời nguyền dai dẳng theo đuổi ám ảnh trong bao lâu nay, cái lời nguyền thúc dục kết thúc một đoạn đường dang dở bắt đầu từ mấy sân trường êm đềm ở Sài gòn và đẩy tôi trở lại một tỉnh lỵ nhỏ xíu, nơi chỉ có khoảng trên dưới mươi nghìn dân, cộng thêm gần bốn ngàn sinh viên từ năm đầu đến năm cuối cấp tiến sĩ. Tỉnh lỵ heo hút rất đúng với bốn chữ "đêm buồn tỉnh lẻ" chỉ có một rạp hát vài chục ghế, chiếu đúng một xuất nhưng nhà thờ thì vô số kể, cứ quanh một góc đường lại có một ngôi nhà thờ Tin lành, một trong những biểu tượng của quốc gia Hoa kỳ hiển hiện từ ngày lập quốc. Không có Starbuck nhưng có một tiệm đồ cũ do một nhà thờ làm chủ. Nhiều ngày may mắn, người ta có thể lùng được những mảnh "quilt" khâu tay bằng giá rẻ mạt vì tiểu bang này vốn là một trong những tiểu bang cổ nhất của Hoa Kỳ rất nổi tiếng với các tấm quilt của các bà Amish.

Lúc tôi lại trở lại lần này là tháng tám. Mùa hè ở Miền Đông bao giờ cũng rực rỡ với hoa lá cành và muông thú. Những đêm khuya đi học về qua các sân cỏ, có khi gặp cả nai. Rồi đến mùa thu, rồi sang mùa đông với những cơn gió kinh hồn mang nặng băng giá, quật ào ạt dài theo các lưng tường phơi gạch đỏ, tróc nã hết chiếc lá nào còn sót lại từ mùa thu vàng ối một màu dào dạt. Bao lần tôi đã phải tạm dừng ở mấy gốc cây để lấy sức trèo nốt cơn dốc nhỏ, một thứ "đỉnh gió hú" phủ tuyết. Không hiểu tại sao những cơn gió dữ dội và những con đồi lạnh trắng nhờ nhờ phản chiếu màu tuyết mênh mông lại gợi tôi nhớ đến một cái đồi mang tên chiến thuật là "Đồi Bastogne" cùng cái nóng nực ở miền nhiệt đới. Đồi Bastogne phủ một thứ bụi đỏ. Một cô gái mặc áo dài trắng như tuyết nếu được phép lên đến đỉnh đồi nơi có những chiến hào đào ngang đào dọc thì không những áo quần mà cả mặt mũi cô ấy sẽ nhuộm một mầu đỏ lờ lờ. Trong những chiến hào đó, cô gái cũng có thể chứng kiến những trạch cá kho và gặp những người lính thầm lặng.

Có thể sự buốt lạnh làm tôi không chỉ nghĩ về Bastogne (hay Quảng Trị) mà còn thường làm tôi bật nhớ đến một người bạn cũ, một người lính tự sát vào ngày 29 tháng 4 năm 1975. Chôn chân dưới một gốc cây già lụ khụ đợi ngớt gió mưa, nhìn ra bầu trời 3 giờ đêm huyễn hoặc, lúc ấy tôi mới có dịp ngẫm nghĩ về anh, về các bạn anh, dù bao lâu nay vẫn có phảng phất một thứ hình bóng mơ hồ lênh đênh như tiếng chân ai rón rén theo sau, luôn luôn theo sau nhưng không để bao giờ bắt kịp. Người bạn tôi đã chết theo cùng với nhiều binh sĩ khác. Bao nhiêu năm, chợt nhớ chợt quên, tôi vẫn tự hỏi lúc ấy–trước khi đưa súng lên kết liễu đời mình–anh nghĩ gì? Anh đã đối mặt với bờ biển đầy sự chết. Sau lưng anh cũng là sự chết. Anh như An Dương Vương theo đường ra bể lớn mà bể lớn đã cạn dòng sinh lộ. Nhưng tôi biết chắc anh không mảy may rúng động. Anh đã biết anh sẽ chết từ nhiều tháng trước, từ khi sinh lộ ấy bị cắt dần dần từ nửa xương sống Trường sơn. Bốn tháng trước, anh có dịp gặp tôi rất ngắn ngủi. Tôi và anh là hai người bạn không hay nói. Lần này, một sự ảm đạm đã nói hộ nhưng chính ra, chúng tôi đã nói nhiều hơn thường lệ. Tôi có nhìn anh rất kỹ, tìm dấu hiệu của sự chết yểu qua sắc mặt nhưng không thấy gì hơn ngoài mảnh khói thuốc Ruby Queen vương những hốc mắt mệt mỏi quá sức. Cả hai đều ngầm hiểu lần này là lần vĩnh quyết. Anh "không thể bỏ lính,” không thể "để bị bắt sống"; còn tôi, tôi sẽ tìm đường thoát thân mà không chờ đợi dù tôi mong anh sẽ sống sót, không phải từ những mảnh đạn bay lạc của cái "giờ thứ 25" mà từ trại giam của người Cộng sản, vì một người như anh mà nếu sống sót được trong các trại giam ấy thì sẽ đòi hỏi một sự chịu đựng hơn cả sự chết.

Như thường lệ, anh lại càu nhàu về "cái đám ký giả lếu láo xách bị đi ăn mày [Chúng nó vào đến Sàigon thì tha hồ cả nước đi ăn mày],” "cái đám nhà văn dấm dớ dở người đòi đứng giữa [Chúng nó vào đến Sài gon thì đứng cũng không xong đừng nói đứng giữa],” "cái bọn phản thùng nằm vùng [Chúng nó vào đến Sài gon thì viết kiểm thảo mỏi tay]" hay "ba cái cậu luật sư bày đặt dùng luật pháp thời bình trong một xứ đang có chiến tranh [Chúng nó vào đến Sài gon thì các cậu vào tù đầu tiên. Luật với chả luật].” Giữa anh và vài người bạn thì cảm tưởng chung là hai bên nhà binh-nhà báo đều gặp khó khăn vì những lý do hầu như tương tự. Bên nhà binh thì vũ khí càng lúc càng cạn, quân lính Miền Bắc với xe tăng Trung cộng và súng Nga-xô đã tủa xuống, hờm sẵn chờ một trận dứt điểm trong khi lợi dụng màn "vừa đàm vừa đánh" với con bài Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Bên nhà báo (nghĩa là bên cầm bút) thì đám nằm vùng đã lộ diện ngay trong vòng tay bảo bọc của chính Văn bút Việt Nam. Những lời tuyên bố bất lợi cho Miền Nam của vài nhà văn muốn tỏ ra mình "thời thượng" theo thế giới với báo chí ngoại quốc là chiếc khăn sô liệm trên một bàn cờ gần mãn ván.

Nhưng dù chia cùng khó khăn, thậm chí hầu như đa số nhà báo phải mặc áo nhà binh, nhưng người ta vẫn có cảm tưởng nằng nặng rằng hình như hai bên binh-báo không được gần gũi nhau cho lắm. Cho đến khi Sài gòn thất thủ. Nhà binh nếu còn sống sót và nhà báo nếu không trốn hay thoát được đều vào tù sau tổn thất nặng nề của đám nhà binh. Trưa 30 tháng 4, người phi binh phi báo Trịnh Công Sơn hát Nối vòng tay lớn trên Đài phát thanh Sài gòn và gọi những người ra đi (trong số có tôi) "xem như là đã phản bội đất nước.” Ông nhạc sĩ này còn nói một câu mà tôi không đồng ý: "Các bạn không có lý do gì sợ hãi để phải ra đi cả." Không, tôi ra đi vì tự trong thâm tâm, tôi tin người ra đi có một mong muốn dù lúc ấy rất tuyệt vọng: người Cộng sản sẽ không thể là người duy nhất ghi lại lịch sử của Miền Nam. Cũng như người Bắc di cư vào Nam năm 1954 đã không để cho người Cộng sản cái độc quyền ghi lại lịch sử Miền Bắc.

Trong rất nhiều năm dằng dặc sau 1975, đôi khi tôi đã có ý tìm nhưng không một ai biết anh sống chết thế nào. Toàn những tin đồn huyễn hoặc như màu trắng của một bãi tuyết lúc 3 giờ đêm — kể cả tin đồn anh lên trực thăng di tản rồi trực thăng bị bắn rơi. Cuối cùng, một người lính của anh nhận ra tôi trong một tiệm sách bên này:

-Trời, em tìm cô quá trời. Dạ Trung tá chết rồi, chết thiệt rồi cô à. Trung tá biểu tụi em không được chết sảng, phải kiếm đường dzề nuôi ba má dzợ con. Dzậy mà chết cũng bộn. Em ở tù mấy năm rồi theo bà con dzượt biên qua tới đây.

Không, tôi không thể nói tôi đã sửng sốt hay ân hận là anh đã qua đời. Nhưng tự nhiên tôi nhận ra là đến lúc ấy, tôi vẫn còn biết quá ít về anh. Không phải về đời riêng (bao nhiêu bạn gái, khi nào lập gia đình, muốn người vợ tương lai làm nghề gì vv…) nhưng về cái cốt lõi mà có lẽ quan trọng nhất với anh: cái "chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa" mà vì thế, khiến anh tự xử. Viên đạn kết liễu đời anh, theo tôi, là cái chứng minh thư cuối cùng rằng, chưa đến 40 tuổi, anh chọn đúng đường để mà sống thác. Cho nên anh không ngần ngại mà tôi cũng chẳng nên tiếc là anh đã mất tăm khỏi thế gian này, trong cơn bão lửa như những viên đạn bắn vút đi không trở lại. Tôi lại còn mừng là anh đã chứng minh cho người Cộng sản và cả người bạn đồng minh Hoa Kỳ rằng chiến sĩ Miền Nam không hèn nhát, dân chúng Miền Nam không chỉ chạy theo đô-la, đàn bà Miền Nam không chỉ chực "bán bar cho Mỹ" như những lời phát biểu cả trên báo chí Hoa Kỳ lẫn trong vài tiểu thuyết Miền Nam đã làm anh phẫn nộ. Nhưng, như vậy thì (các) anh ở đâu sau khi trận chiến đã tan, xương đã nát? Và những người lính Hoa Kỳ từng cầm súng bên cạnh (các) anh ở đâu? Tôi không muốn họ ở lại muôn đời bó vẻn vẹn trong một dòng chữ, trên tấm mộ khổng lồ tối ám buồn thảm hình chữ V dựng tại Hoa Thịnh Đốn để rồi người thân của họ đến đấy chỉ để khóc thương người nằm xuống cho trận chiến "duy nhất" mà Hoa Kỳ đã thua.

Nếu muốn mang anh, một người lính Việt Nam Cộng hòa, về nơi "an nghỉ cuối cùng,” ra khỏi những trang sách phỉ báng anh là "lính đánh thuê"; nếu muốn mang một cựu quân nhân Hoa Kỳ ra khỏi dòng chữ thần chú vẫn còn trói họ vào trận chiến mà Hoa Kỳ mang tiếng là "thua,” tôi nghĩ chỉ có cách là đi tìm sự thực trên những trang giấy viết, không chỉ của người mang tiếng thắng cuộc hay người cổ võ cho "bên thắng cuộc,” mà còn phải bằng cả chính nền văn học do những người cầm bút tạo nên Văn học Miền Nam rồi lại dẫn đầu trong việc tạo dựng Văn học Việt Nam Biển-ngoài [NTC]

Kỳ sau: Phần II- Văn học Việt Nam Biển-ngoài

CHÚ THÍCH

*Chữ "Biển-ngoài" là của nhà văn Mặc Đỗ. "Con người hào hoa" lả tựa một cuốn sách dịch cũng của Mặc Đỗ

1) Thế Nguyên (còn ký là Trần Trọng Phủ) tên thật là Trần Gia Thoại, sinh năm 1942, Nam Định-1989, Sài gòn, có thể nói là nhân vật quan trọng nhất của tạp chí và nhà xuất bản Trình bầy. Ông đã xuất bản Hồi chuông tắt lửa, Nuôi con nhân tình và các cuốn tiểu luận Cho một ngày mai mơ ướcNghĩ gì (tập I, II). Theo tài liệu và dẫn giải của "quanmaco,” một thành viên Diễn đàn sách Xưa thì tạp chí Trình bầy "là một bán nguyệt san Văn hoá – Chính trị – Xã hội, ra ngày 1 và ngày 15 hàng tháng; tuy có xê xích chút ít, nhưng vẫn đảm bảo đủ hai kỳ một tháng (ví dụ: #25 ra ngày 5-8-1971, #26 – 18-8-1971 v.v….Tập san do Thế Nguyên chủ trương và làm chủ bút; tổng thư ký: Diễm Châu. Toà soạn và trị sự đặt tại 291 Lý Thái Tổ, Saigon (nay vẫn là đường Lý Thái Tổ, Q.10). Số báo đầu tiên ra ngày 1-8-1970 và số báo cuối cùng là #42 ra ngày 2-9-1972 trước khi bị tịch thu liên tục và bị đình bản theo sắc luật 007 của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu…" (http://sachxua.net/forum/index.php/topic,4066.0.html).

Ngoài Trình bày, Thế Nguyên còn làm Thư ký tòa soạn tạp chí Nghiên cứu văn học. Theo ông, trong một cuộc trả lời Ngê Bá Lí đăng trên tạp chí Bách Khoa số 293, thì chỉ hơn 2 năm, nhà xuất bản Trình bầy đã ấn hành được gần 50 tác phẩm. Cuốn sách đầu tên, in typo, là cuốn chuyển ngữ Câu chuyện năm mới của dịch giả nhà thơ Diễm Châu (một nhân vật nồng cốt khác của Trình bầy). Cuối năm 1967, Thế Nguyên nhận in cho cả Đất nước (10.1967) và Nghiên cứu văn học (11. 1967) nên việc in ấn bị chậm lại.

Tạp chí Nghiên cứu văn học, do Linh mục Thanh Lãng "chủ trương và làm chủ nhiệm, Thế Nguyên là thư ký toà soạn. Toà soạn và trị sự đặt tại số 386/14 Trương Minh Giảng, Saigon (nay là đường Trần Quốc Thảo). Số đầu tiên ra tháng 11-1967 đến số 10 (tháng 11-1968) thì ngưng. Khổ báo: 13,5 x 21cm. Trong thành phần ban biên tập thì Thanh Lãng là cây bút chủ lực; ngoài ra còn có Phạm Việt Tuyền (ông này còn là Quản lý Nxb Phong trào văn hoá do Thanh Lãng làm giám đốc), Thế Nguyên, Diễm Châu (hai ông này sau ra làm tập san Trình bầy và nhật báo Làm dân), Nguyễn Văn Trung, Nguyên Sa, Đỗ Long Vân, Lữ Phương…Tục bản vào tháng 3-1971 đánh số lại từ đầu, thay đổi mẫu bìa, lúc này là tạp chí nghiên cứu, phê bình, sáng tác, sinh hoạt văn học và sau số 16 (15-6-1972) thì đình bản hẳn. Như vậy tập san này ra được tổng cộng 26 số: 10 số bộ đầu và 16 số bộ mới." (Dẫn giải của "quan mac co" và "quý,” thành viên Diễn đàn sách Xưa, http://sachxua.net/forum/index.php/topic,4054.msg616079.html#msg616079).

Trước 1975, Linh mục Thanh Lãng từng nhân danh Văn bút Việt Nam đòi trả tự do cho Vũ Hạnh, một cán bộ Cộng sản nằm vùng sau 33 tháng bị cầm tù. Vũ Hạnh có lúc đã ký chung bút hiệu Tràng Thiên với Võ Phiến trên tạp chí Bách Khoa. Lữ Phương, vào bưng và nhận chức Thứ trưởng trong Mặt Trận Giải phóng Miền Nam; sau 1975, bị thất sủng cùng với toàn bộ nhân sự của chính phủ này sau khi nó bị Hà nội giải thể chỉ vài tháng sau tháng 4.1975.

2) Theo Diễn đàn sách xưa, "Đối Diện là tạp chí xuất bản hàng tháng, số đầu tiên ra đời tháng 7 năm 1969. Chủ nhiệm: Chân Tín, Chủ bút: Nguyễn Nghị, Tổng thơ ký : Hà Châu, Quản lý: Phạm Thanh. Tòa soạn: 38 Kỳ Đồng, Saigon, ĐT: 20316. Giá mỗi số: 40 đồng, Giá một năm: 480 đồng, Giá ủng hộ: 600 đồng trở lên, Miền Trung và Cao Nguyên, thêm cước phí máy bay: 40 đồng. Số đình bản là 114, tháng 12 năm 1978 […]Trong quá trình tồn tại của mình, tờ tạp chí đã mang tất cả 4 tên: Đối Diện từ số 1 – 47, ĐD 48 – 54, Đồng Dao 55 – 60, Đứng Dậy 61 – 114. Tòa soạn cũng thay đổi, có lúc phải bôn ba hải ngoại. Có những số báo bị tịch thu khi chưa kịp phát hành […]Đối Diện số 114, số đình bản và Lời Cáo Biệt" (Dẫn giải của Dongnat, thành viên Diễn đàn sách Xưa, http://sachxua.net/forum/index.php?topic=2988.0;wap2) Sau 1975,

3) Trước 1975, Lý Chánh Trung (1928-), sinh quán Trà Vinh, giữ chức Giám Đốc Nha Trung Học Công Lập và được mời dạy triết học tại các Viện Đại Học Huế và Đà Lạt. Sau năm 1975, ông là Ủy viên Ủy Ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Phó Chủ tịch Ủy Ban Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh. (http://tatrungtravinh.blogspot.com/2010/05/giao-su-ly-chanh-trung.html). Kỷ yếu Quốc hội có ghi tên ông trong 20 người đại biểu cho Thành phố Hồ Chí Minh, Khóa VIII. Lý Chánh Trung có một phát biểu được truyền tụng, bầy tỏ sự vỡ mộng của ông khi phải sống dưới chế độ Cộng sản: “Triết học Mác Lênin là môn chẳng sinh viên nào muốn học, mà cũng chẳng giáo sư nào muốn dậy.” Theo giáo sư Đoàn Thanh Liêm thì Lý Chánh Trung còn " làm cả Đổng Lý Văn Phòng tại bộ Quốc gia Giáo dục[…]Sau năm 1975, thì Lý Chánh Trung được cử làm Phó chủ tịch Hội Trí thức Yêu nước và đặc biệt được sắp xếp ra tranh cử chức vụ Đại biểu Quốc hội tại một đơn vị bàu cử ở Saigon. Ông còn điều hành một văn phòng thường trực của Đòan Đại biểu Quốc hội, tọa lạc tại đường Thống Nhất, nơi căn nhà của vị mục sư phụ trách Nhà Thờ Tin Lành của những người nói tiếng Pháp (Eglise Réformée de Langue Francaise)." (Đoàn Thanh Liêm, Nỗi khó xử của giáo sư Lý Chánh Trung, http://motgoctroi.com/DienDan/Dd_Chinhtri/Noikhoxu_LCTrung.htm)

4) Nhã Ca (1937-) là 1 trong 5 nhà văn nữ của Văn học Miền Nam, đoạt giải khuyến khích đồng hạng –với cuốn Nhã Ca mới — cùng với Tuệ Mai và Huy Lực, Bộ Môn Thơ, Giải Văn học Nghệ thuật Toàn quốc 1966 (mỗi tác giả được nhận 30.000 đồng -Kết quả toàn giải thưởng đã đăng trên tuần báo Nghệ thuật số 53, tuần lễ từ 22.10 tới 28.10.1966; tài liệu của Viên Linh); và giải ba, Bộ môn Văn, năm 1970 với cuốn Giải khăn sô cho Huế (Túy Hồng giải nhất, Thụy Vũ giải nhì-Ba nhà văn này hiện đang còn sống: Thụy Vũ tại Việt Nam, còn hai người kia tại Hoa Kỳ).

5) Tạp chí Tư tưởng gồm 7 bộ, 49 số. Số đầu xuất bản vào ngày mồng một tháng 8.1967 và số cuối vào ngày 24.3.1975. (http://sachxua.net/forum/index.php/topic,4063.15.html)

bài đã đăng của Nguyễn Tà Cúc


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch