Trang chính » Chuyên Đề, Giới thiệu tác giả, Mặc Đỗ, Tư Liệu, Tùy Luận Email bài này

MẶC ÐỖ RIÊNG CHUNG

0 bình luận ♦ 19.05.2014

 

VIÊN LINH

1. 23.2.1995

Từ trung tâm thành phố Houston, đổi hai xa lộ, chúng tôi tới thăm anh chị Mặc Ðỗ, nơi một căn nhà dường như là ở đường Bramblewood. Khoảng năm 76, 77, thư anh viết cho tôi là từ địa chỉ ở đường Audley. Bảy mươi tám tuổi, vẫn dáng người thẳng như một cây thông, vẫn bước đi vững chãi không nhanh không chậm cho dù anh bước đi trên một con ngõ đất trộn đá lởm chởm, hẻm 51 đường Nguyễn Trãi Chợ Lớn, khi anh vào thăm một người bạn nào đó, tình cờ dừng lại trước nhà in Phúc Hưng ở đầu ngõ, nơi tôi đặt toàn soạn báo Thời Tập, năm 1973. Từ đó tới hôm nay chúng tôi mới gặp lại nhau.

“Hai mươi năm. Hơn hai mươi năm, Viên Linh!”

Mặc Ðỗ đứng đợi sẵn và khi thấy chiếc xe cũ kỹ dạt vào lề, anh mở cổng, bước tới nửa hè đường đón chúng tôi. Nơi khuôn mặt anh tôi vẫn nhớ và vẫn thấy những nét phương phi và trong cách nói chuyện, không lúc nào anh không rành rọt; dù lúc ấy xung quanh ồn ào tiếng nói tiếng hát, lại là của bọn thanh nữ, và thanh niên, những ẩm khách cốt cán của quán cà phê Hầm Gió của Nam Lộc ở đường Võ Tánh, Sài Gòn. Ðêm ấy, tháng 6.1973, nhà xuất bản Khai Hoá của Vũ Dzũng Ngọc Sương tổ chức ra mắt cuốn tiểu thuyết Hạ Ðỏ Có Chàng Tới Hỏi của tôi, thiệp mời gửi anh, là cứ gửi cho phải phép chứ tôi không nghĩ anh sẽ đến, nhưng anh đã đến, còn kéo theo anh Lãng Nhân Phùng Tất Ðắc, một tên tuổi cùng thời với những Tchya Ðái Ðức Tuấn, Hoàng Tích Trù, Ðàm Quang Thiện, cũng là người chủ trương một nhà xuất bản lớn và một nhà in tiêu chuẩn quốc tế ở Sài Gòn: Nam Chi Tùng Thư và Kim Lai ấn quán.

Các anh đến muộn, mấy chai vang đã hết sạch, mà tôi lại không muốn mang bia mời các anh. Dường như người bạn trẻ của tôi đã kiếm đâu được hai ly mang ra, nhưng nhìn vào tôi thấy ngượng: hai ly rượu vang nổi lềnh bềnh mấy cục đá. Trời ạ, bỏ đá vào rượu vang, lại mang ra mời tác giả Siu Cô Nương và tác giả Chơi Chữ, những người paridiêng khác nào dân Ba Lê, những người uống Bordeau Rosenheim ở Hà Nội từ 1938. như trong một câu văn của anh. Trong khi tôi tìm lời xin lỗi thì hai anh gạt đi, còn nhớ anh Mặc Ðỗ nói: “Sợ vắng nên đến với bạn, không ngờ đông thế.”

Sau khi chào chị Mặc Ðỗ, nhìn quanh căn phòng khách, tôi thấy bốn chữ đại tự trên tường: “Thanh Phong Minh Nguyệt.” Gió trong trăng sáng. Anh nói anh tự viết lấy và biết chúng tôi không giỏi dang gì các điển tích Trung Hoa, anh cho biết bốn chữ ấy rút từ mấy câu thơ của Tạ Huệ Liên đời Nam Bắc triều. Anh nói “Khách của tôi là gió trong, người đối ẩm với tôi là trăng sáng. Qua cửa nhà tôi không có những người tạp, môn vô tạp tân.” Tôi đọc thơ Huệ Liên từ lâu, và nhớ cái tích Cỏ Bờ Ao (Trì thảo. Trì đường thanh xuân thảo) đến nỗi cứ nghe nói đến tên Tạ Linh Vận là nhớ đến câu giảng nghĩa –không rõ của Trần Trong Kim hay Trần Trọng San, nghe ngồ ngộ: “Tạ Linh Vận thường tán thán rằng cứ ngồi gần Huệ Liên là làm được thơ hay.” Nói thế mà cũng nói, cũng thành giai thoại văn chưong! Lan man trong đầu mình, tôi lơ là mất một quãng của của câu thăm hỏi gì đó, bèn quay sang hỏi chuyện nữ chủ nhân.

Chị Mặc Ðỗ cũng cỡ tuổi anh mà vẫn trẻ trung, nhanh nhẹn. Chị cho biết đang làm cho chúng tôi một bữa trưa thanh đạm Hà Nội: chả cá, giò thủ, dưa muối. Anh Mặc Ðỗ mang một chai vang tới bàn. Anh vừa mở nút chai, vừa nói đây là chai vang loại không bán, một người bạn Pháp vô chai từ 1982, gửi tặng anh. Anh vừa mở nút chai vừa nói “Hôm nay mở, ta gặp lại nhau.” Kém anh hơn hai mươi tuổi, song anh luôn luôn đối với tôi một mực mà tôi phải kính trọng, dù biết rằng trong làng văn ta, có nhiều bạn vong niên như tôi không phải là chuyện hiếm hoi gì.

Nhà văn Mặc Ðỗ nói anh không còn viết gì nữa, chỉ đọc. Dường như tôi nghĩ  ngay là anh cần viết lại. Một nhà văn như anh, một người chủ trương viết văn nhưng “không bao giờ làm văn,” mà buông bút thì đó là điều thực sự đáng tiếc. Một câu Mặc Ðỗ nói, nói chứ không viết, tôi nhớ thế nhưng không ghi xuống giấy nên không nhớ anh nói khi nào, ở đâu, rằng đa số những câu văn anh đọc trên mấy tạp chí văn chương Sài Gòn – có lẽ là trên Sáng Tạo – nếu dịch ra ngoại ngữ thì không còn gì nữa. Biến mất. Tôi đồng ý với câu đó, nhất là với văn Mai Thảo. Cuối thập niên ’70, đầu ’80 Mặc Ðỗ vẫn viết, như trong thư anh viết cho tôi vào những năm đó. Bây giờ anh không viết nữa, chỉ đọc, là một hậu quả nào đó. Phần lớn người ta bỏ bút cũng vì không có báo để đăng, báo, theo cái nghĩa một tờ tạp chí văn chương nếu không bay lên khỏi mặt đất được, thì cũng phải ra ngô ra khoai, góp phần mình tạo dựng nền văn học, văn hóa của xã hội, của cộng đồng. Tôi nghĩ sẽ phải thúc giục anh viết lại. Lúc ấy tôi không có báo trong tay, nhưng tờ báo vẫn manh nha trong lòng.

Văn Mặc Ðỗ đọc lên không du dương, vì tác giả Bốn Mươi không còn nghi hoặc gì, không muốn điều mình viết ra sẽ mất vào các dòng chữ chỉ vì những chữ. Nhà văn sáng tác là để nói gì đó, ai cũng biết thế, song để nói được lại là chuyện khó khăn. Có câu văn vì chủ quan của tác giả mà đi quá xa. Có câu văn vì sa đà của ngòi bút mà tới quá gần. Văn Mặc Ðỗ là văn trung tính, không xa không gần, ông viết kỹ càng, lại kỹ càng hơn nữa về cả văn phạm Việt ngữ – rất có thể là trong khi sáng tác, ngòi bút (cái máy chữ Olympia) quen dịch thuật của ông đã khiến nhiều khi người đọc lại thấy là cẩn thận quá. Dùng chữ trung tính là một cách nói; có thể dùng những chữ khác như khách quan, như đứng xa, như tác giả không nhập vào trong truyện, chẳng hạn. Nói một cách khác, tác giả tuyển tập truyện ngắn Tân Truyện không chỉ viết bằng trái tim, ông còn viết bằng trí tuệ.

Trong bữa ăn tôi kể với anh rằng khi còn ở Hà Nội, lúc học đệ lục Chu Văn An, tôi đã say mê một truyện dài anh dịch đăng trên Tạp chí Phổ Thông, “cơ quan văn hoá của Hội Ái-hữu cựu Sinh viên Trường Luật,” nhất là cái cảnh một phụ nữ có chồng đã cho một chàng nghèo khổ tấm thân mình, trong toà lâu đài, giữa một đêm trăng. Cũng không rõ tại sao tôi lại có tờ tạp chí đó để đọc, vì nó bán 14 đồng một số, mà mỗi ngày cậu học sinh trung học chỉ được bà thím phát cho hai đồng, mà tuần nào cũng còn để dành được sáu bảy đồng để mua một cuốn truyện trinh thám của Phạm Cao Củng, đôi khi lại mua được cả một cuốn tiểu thuyết dầy mấy trăm trang của Lê Văn Trương, như tiểu thuyết Cô Tư Thung, hay Trường Ðời, hay Ðêm Hay Ngày của nhà Tân Việt dịch từ Le Zero et L’ Infini của Arthur Koestler. Ðộc giả thiếu niến này nào biết đó là một tác phẩm lớn của thế kỷ XX – và tác giả Hungary này là một nhà báo trở thành nhà văn, với lối viết chắc nịch, nhưng không thiếu phần lãng mạn, đã ảnh hưởng tới mình suốt cả cuộc đời. Những truyện dài Mặc Ðỗ dịch đăng trên Phổ Thông là Một Ðêm Trăng của  Somerset Maugham, Một Giấc Mơ của Vicki Baum. Anh nói anh không nhớ truyện gì.

Tôi kể lại cái cảm tưởng còn sót trong tâm trí về cái truyện đọc trong tạp chí Phổ Thông:

“Truyện đó như thế này: Có một anh nhạc sĩ đệm đàn trong một nhà hàng, cỡ nghèo nhưng không hèn, hơi tàng tàng, để ý tới một người đàn bà sang trọng, người tình hay người vợ của một ông sang trọng vẫn đưa đón nàng đi dự tiệc hay đi đâu đó bằng xe hơi. Tôi nhớ là một chiếc xe hơi bỏ mui màu trắng sữa. Hay ánh trăng đã khiến cho chiếc xe nhìn như thế. Một đêm, anh xin quá giang xe nàng, làm sao đó khi nàng có một mình, rồi còn thú thật đang đói, từ sáng tới giờ chưa có gì ăn. Người đàn bà, không hiểu điên khùng hay không, đã cho anh ta về nhà mình, một biệt thự ở trên đồi. Rồi ăn xong, anh quì dưới chân nàng, xin được ôm nàng, và yêu nàng. Nàng đã cho anh ta mãn nguyện. Sau đó nàng đuổi anh ta ra khỏi toà biệt thự. Người thanh niên phẫn nộ, cho rằng mình bị sỉ nhục, bởi vì anh ta nghĩ rằng anh ta xứng đáng để một phụ nữ như nàng mong ước, dù cách đó một lúc, khi nói chuyện tiền bạc, anh ta chẳng có mấy đồng trong túi. Anh ta đi qua phòng bên, rút súng tự bắn vào đầu mình, chết tốt.”

Mặc Ðỗ nói không nhớ truyện đó là truyện gì, mặc dù anh có dịch Vicki Baum, một nhà văn Áo, và dịch Maugham trên Phổ Thông. Tôi không tưởng tượng được là anh có thể quên một truyện mình đã khổ công dịch, lại là truyện dài đăng nhiều kỳ, cho dù từ khi anh dịch đăng báo, 1953, cho tới khi tôi kể với anh, là 1995, chỉ mới có 42 năm. Chỉ thấy anh cười. [Cũng như sau này khi còn sinh thời nhà văn Nguyễn Sỹ Tế, khoảng năm 2000, tôi nói tôi thích bài thơ “Chị Tôi” của anh đăng trên Sáng Tạo số 25, tháng 10 năm 1958, anh nói anh không nhớ bài thơ ấy. Tôi bực lắm, nói đó là bài thơ hay nhất của anh. Anh cũng chỉ cười.]

2.

Ở đầu thế kỷ XXI, tại một phần đất xa xăm ngoài đất nước mà viết về một nhà văn của giữa thế kỷ trước, khởi từ Hà Nội và nổi tiếng ở Sài Gòn, hiện sống lưu vong, là chuyện nghe như không tưởng; nhưng với người viết bài này, đó là chuyện nghiêm chỉnh, cần thiết, tương tự những chuyện tôi vẫn làm ba mươi năm nay trên các Tạp chí Thời Tập, và bây giờ trên Khởi Hành.  

Cuối thế kỷ trước có ai tin tác phẩm của thế hệ Nguyễn Thái Học, — những thanh niên đảng phái quốc gia chống Pháp, bị thực dân và cộng sản giết, hay cầm tù, hay săn đuổi — như của Trúc Khê Ngô Văn Triện, của Nhất Linh, có thể tái bản tại Hà Nội? Nay thì chuyện đó đang xảy ra, mặc dù cờ cộng sản còn đấy. [Hầu hết các tác giả bị qui chụp và cầm tù vì liên hệ tới phong trào chống đảng cộng sản, đòi tự do sáng tác trong các báo Nhân Văn, Giai Phẩm mấy năm gần đây đã được phục hồi chút đỉnh danh dự, tuy rằng một toà án giải oan, tốt nhất là kiểu Nuremberg, mới là việc còn cần phải làm cho họ, cho các nạn nhân Cải cách Ruộng đất, và cho các nhà văn Miền Nam.] Lúc này, việc tái bản những tác phẩm có giá trị văn học thời Tiền chiến đã là chuyện thông thường ở Hà Nội, Huế, Ðà Nẵng, Sài Gòn.

Những tác phẩm ấy và tác giả của chúng cũng bớt bị những bài báo bài tựa mang tính công an vu vạ. Thơ văn thế hệ đầu tại Miền Nam sau 1954 cũng đang được lác đác trích dẫn, đăng lại, ngay cả trên các sách báo do các cơ quan của đảng đứng tên. Cho nên việc xét lại toàn thể và viết lại toàn thể Lịch sử Văn học Việt Nam thế kỷ XX là chuyện phải xảy ra, sẽ xảy ra, trong một tương lai rất gần: có thể là từ năm 2010, kỷ niệm 1000 năm Thăng Long sắp tới, dĩ nhiên không phải và không còn trên quan điểm mác-xít. Những tác phẩm ấy được tái bản vì quần chúng cần sách có giá trị nhân bản, thời đại tính để đọc, mà loại “văn phẩm” phục vụ giai đoạn có biếu người ta cũng chỉ dùng đến chất giấy của nó, mà không dùng tới chữ nghĩa in trên đó. Ðể có món ăn tinh thần cho lượng người đọc của một dân tộc có 80 triệu người, mà đương thời không thể sản xuất ra, người ta đành cầu cứu đến văn hóa sách vở của các triều đại cũ, từ phong kiến tới thuộc địa, và Cộng hòa miền Nam.

Trong khi ấy, việc thu thập tài liệu, nhắc nhở đến các tác giả và tác phẩm từng làm nên một nền văn học, ảnh hưởng một giai đoạn văn học, là việc chung cho Văn học Việt Nam, không phải việc của một nhóm, hay một phe phái nào. Bỏ qua một người, một tác phẩm, cũng là chuyện bất công, nếu không nói là có tội, với gia sản văn học một người, một gia đình, một làng xã, và với di sản văn học một nước.  Cho nên mỗi người cứ làm việc mình phải làm, còn lại là phần của mai sau, của Lịch sử. Bài này được biên soạn trong tinh thần ấy.

Nhà văn Mặc Ðỗ là một trong ba thành viên nổi tiếng nhất của Nhóm Quan Ðiểm, gồm có Vũ Khắc Khoan, Mặc Ðỗ, Nghiêm Xuân Hồng, không kể vài cây bút khác từng sinh hoạt gần xa với họ. Ông tên khai sinh là Ðỗ Quang Bình, giấy tờ ghi năm sinh là 1920, tại Hà Nội, nhưng trong thư riêng với bổn báo chủ nhiệm ông cho biết thật sự ông sinh vào tháng 1 năm 1917.  Ông tốt nghiệp Luật khoa từ lâu trước 1954, song không hành nghề luật. Ông làm báo ngay từ Hà Nội với tờ Phổ Thông, cơ quan Văn hoá (nguyệt san) của Hội Ái hữu cựu Sinh viên Trường Luật, số 1 xuất bản tháng 9.1951, số chót (28) tháng 7.1954. Những sáng tác của ông trên Tạp chí Phổ Thông xuất hiện khoảng đầu 1950, mặc dù nhiều truyện ngắn hay kịch bản được viết từ 1939, 1940 như ghi chú ở dưới bài. Sau 1954 di cư vào Nam, ông là một trong vài người đứng chủ trương Nhật báo Tự Do, và nhà xuất bản Quan Ðiểm.

Nhóm Quan Ðiểm có chung một nhận định, một thái độ thường được gán cho là có tính tiểu tư sản. Tác phẩm của họ khác xa với loại truyện phổ thông thời Tân Dân, Tiểu thuyết Thứ Bảy thời Tiền chiến ở Hà Nội; hay với các tác giả trong nhóm Sáng Tạo, Văn Nghệ sau 1954 ở Sài Gòn. Nhân vật của Vũ Khắc Khoan, Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Ðỗ có nét chung là sự ưu tư về các vấn đề thời thế, xã hội, chỗ đứng của người trí thức trong sinh hoạt quốc gia.  Trên tờ Phổ Thông, bên cạnh truyện và kịch Mặc Ðỗ còn viết những bài như “Người đàn bà Việt Nam trong sinh hoạt nông nghiệp”  (số 14&15), “Toà Thánh và Chiến tranh” (số 4 và 5). Các tác phẩm văn chương của Mặc Ðỗ, nổi tiếng nhất có Ðộng Phù Vân, kịch (Phổ Thông, Hà Nội, 1952, 40 trang); Về Nam, kịch, Hà Nội, 1953; Bốn Mươi, truyện (Quan Ðiểm, Sài gòn, 1957, in lần 2, 1958, 218 trang); Siu Cô Nương, tiểu thuyết (Quan Ðiểm, 1958; 326 trang); Tân Truyện, tập truyện ngắn (Quan Ðiểm, 1965, 326 trang). Nhưng ông là một dịch giả được ca ngợi vào hàng số một tại Miền Nam, với Ngư Ông và Biển Cả, dịch The Old Man and the Sea của Ersnet Hemingway, Một Ðêm Trăng của W. Somerset Maugham; Người Vợ Cô Đơn dịch Thérèse Desqueroux của Francois Mauriac, Một Giấc Mơ của Vicki Baum, Truyện Ngắn Hồi Giáo (10 tác giả Ả Rập), Văn, Sài gòn, 1972; Con Người Hào Hoa, dịch The Great Gatsby của Francis Scott Fitzgerald. Ðây chỉ là một phần trong rất nhiều công trình dịch thuật của ông.  Ông cũng sáng tác một tập thơ in tại Hải ngoại: Ba câu ở biển ngoài, thơ Haiku, Khởi Hành xuất bản, 2002.

Tại Sài gòn, sau tờ Tự Do, ông là chủ bút Tuần báo Diễn Ðàn của Liên minh Á châu chống Cộng. Ông cũng là giám khảo Giải Văn học Nghệ Thuật Toàn Quốc (VNCH). Trước 1975, ông viết thường xuyên cho các Tạp chí Văn (Nguyễn Ðình Vượng, Trần Phong Giao), Khởi Hành, Thời Tập (TTK, Chủ nhiệm Viên Linh), Vấn Ðề (Chủ trương Vũ Khắc Khoan). Về Nhóm Quan Ðiểm, xem thêm Khởi Hành số chủ đề VKK, số 47.]

3.

Thư Mặc Ðỗ gửi Viên Linh (hải ngoại, từ cuối năm 1975 trở đi, trích từng đoạn).

Ngay từ sau tháng tư 1975, liên lạc thư từ giữa nhà văn Mặc Ðỗ và tôi đã bắt đầu. Nhờ đó ngay trên hai tờ tạp chí do tôi phụ trách biên tập, Lửa Việt Xuân Bính Thìn của The National Center for Vietnamese Resettlement, xuất bản tháng 1.1976 tại Washington, D.C., Mặc Ðỗ đã gửi cho cái truyện ngắn nhan đề “Cái Áo Len Màu Rêu,” đăng trên hai trang 22-23. Ðây có lẽ là số đặc san văn học của các tác giả miền Nam xuất bản sớm nhất tại hải ngoại: làm cuối năm 1975, ra trước Tết 76. Khi tôi làm thư ký tòa soạn tập san Ðuốc Tuệ, tòa soạn đặt tại Chùa Giác Hoàng đường 16 Washington, D.C., nhà văn Mặc Ðỗ gửi cho bài Những Trang Lưu Vong (đăng trên các trang 16-18). Ðây cũng có lẽ là tờ tạp chí văn học đầu tiên tại hải ngoại, hiện còn tiếp tục xuất bản hàng tháng, nhưng đổi tên thành Nguồn Ðạo, tòa soạn vẫn đặt tại Chùa Giác Hoàng như hơn 30 năm trước. [ghi chú 2014: Nguồn Ðạo hiện vẫn ra đều.)

–“Houston, 9 tháng một 1977

Viên Linh thân,

Hôm nay tôi mới viết được vì thư của bạn phải chờ tôi ở nhà trong khi tôi đi vắng hai tuần.

Từ nửa năm nay tôi bắt đầu phải lo về tài chánh vì nguồn lợi sẵn có ở Pháp bị hao hụt nặng vì tình trạng kinh tế bên đó.  Vì vậy cũng cạn nguồn sách vở để đọc. Tôi có đọc hầu hết những sách in bên Pháp liên quan đến VN. Không thấy lý thú lắm vì không đem lại cái gì mới hơn phong trào ồ ạt tin tức trước ngày CS đuổi hết nhà báo đi khỏi SG. Trong số tôi khoái tiểu thuyết Les Canards de Ca Mao [Bày Vịt ở Cà Mâu] của cựu chủ bút Le Nouvel Observateur, Olivier Todd. Cuốn sách duy nhất đụng tới cái diện thật của những người Mặt Trận trong cuộc chiến vừa qua. Theo tôi, có một đề tài đáng khai thác là phong trào đặt lại vấn đề CS qua rất đông sách Pháp đặc sắc mới ấn hành trong vòng hơn một năm nay, khởi đầu là cuốn “e monde tel qu’il est của Michel Legris, tố cáo lối làm báo thiên vị của tờ báo gạo cội đó [tờ Le Monde]. Tôi có viết một bài cho Việt Báo hồi đầu nhưng chẳng biết có ông cố vấn nào cũng sợ như trí thức Pháp sợ Le Monde bài VB không dám đăng, sau tôi ngán chỉ theo dõi vấn đề cho riêng mình. Tôi cũng có đưa ý kiến với một số bạn hữu, hưởng ứng rất yếu chỉ vì các bạn tôi đa số thuộc lứa tuổi đã mòn như tôi. …J.F.Revel của L’Express đã gọi rất lý thú phong trào này là ‘le déniaisement.”

Tình cờ trước khi đi nghỉ hai tuần bên bờ hồ tôi có ghé qua Austin vớ được một xấp báo tị nạn đủ thứ… có dịp ở một mình và suy nghĩ tôi mới tò mò đọc kỹ báo tị nạn. Không những càng buồn nhớ mà còn cảm thấy hổ thẹn cho thân phận tị nạn. [.. .] Người viết tị nạn thà làm thợ in, thợ sơn hay rửa chén không ai dám chê còn thấy đáng trọng là khác nếu lao động rồi vẫn lo viết, tị nạn mà vẫn tiếp tục làm báo thương mại thì ôi thôi…”

–“Houston, 5 tháng mười 1977

Viên Linh thân mến,

…VKKhoan [Vũ Khắc Khoa] mới viết cho tôi, ‘đêm đêm thường nhớ anh em.’ Bay một lèo là tới, cùng lắm thì xe hơi, hay nghèo như NXHồng [Nghiêm Xuân Hồng] dùng bus, anh em gặp nhau không khó mà còn nhớ, huống chi xa..

Sinh hoạt của tôi không có gì đặc biệt từ hồi bẵng liên lạc, trừ một điểm tôi đổi địa chỉ. Tôi vẫn viết dở dang ba truyện dài, dở dang vì chẳng bằng lòng chút nào những trang đã viết, bèn xé viết lại. Hai truyện đã bắt đầu nghiền ngẫm từ VN (Ở Giữa Có Hàng Rào và Trăng Ðỏ), một bắt đầu từ khi hưá với bạn cho ÐT [Ðuốc Tuệ] (Hoá Thân), truyện này được nâng niu hơn cả. [Truyện] ngắn thì tổng cộng được sáu cái và dang dở bốn năm cái nữa. …Thanh Nam cũng cho tôi biết bạn có báo tin sẽ ra lại Thời Tập và tôi đã tự nhủ nếu VL yêu cầu sẽ sản xuất một truyện nữa.

Tôi có một bà bạn kẹt lại người Nam, bả không viết cho tôi nhưng nhờ một người bạn Pháp mới ra đi nói lại với tôi rằng ở SG hiện thời có một món ăn rất được ưa chuộng là dùng bột mì (tương đối dễ kiếm hơn gạo) ngào với nước lã, viên, rồi luộc (như bánh trôi nước) và chấm với nước mắm tỏi ớt. Sáng kiến chiều khẩu cái và ru bao tử đến như vậy thì chúng ta ở ngoài đủ có một ý  niệm về đời sống SG bây giờ.”

–“Houston, 29 tháng ba 1978

Viên Linh thân,

Trả lời phỏng vấn của Viên Linh, đăng trên Thời Tập số tục bản ở Virginia, tháng 4.1979:

–Về Cuộc Phần Thư (đốt sách) tại Sài gòn sau 1975: Ðứng trên bình diện dân tộc hành động đó là một hành động bạo ngược, so sánh được trong ý nghĩa với hành động của vua Tần. Trên hành trình sinh trưởng của nhân loại có lúc thăng trầm lúc đẹp xấu, mỗi mỗi cần gìn giữ cho người tìm học sau này. Trên hành trình sinh trưởng của một dân tộc cũng vậy. Ðơn phương xóa bỏ hết là ngu bạo, là đắc tội với dân tộc. Mọi cố gắng, ở trong và ở ngoài nước, , để gìn giữ những tài liệu văn hóa không cộng sản cần được khuyến khích và nâng đỡ. Nhưng nghĩ cho cùng vua Tần đâu đã đốt được nên văn hóa Trung Hoa.”

Viên Linh thân,

Thư đề ngày 31.3.78 của một người bạn tôi cùng ở trại với Mai Thảo cho biết MT sẽ rời trại ngày 5 tháng tư đi Kuala Lampur. Như vậy chắc chỉ trung tuần tháng này là MT đã có mặt ở Mỹ. Có thể MT sẽ nán lại Seattle ít ngày với Thanh Nam, trước khi đi New York. [Thăm gia đình người anh ruột, chú thích của VL.]

–“Missouri City, 8 tháng sáu 1990

Viên Linh thân,

Vốn là người được rèn luyện từ tấm bé (qua trường Pháp) và qua lò đúc của riêng mình, tôi bắc cân ngang nhau giữa nội dung và hình thức của tác phẩm. Hồi này tôi thường ngẩn ngơ thấy lan rộng tình trạng buông thả ngòi bút, viết như là đùa với chữ, với ý, không phải là nặn óc, bóp tim, để giãi bày một nỗi niềm, như tự ngàn năm người cầm bút vẫn làm.”

–“Austin, 6 tháng năm 1999

Viên Linh thân,

Thấy Viên Linh trù liệu một số Khởi Hành về người anh em Vũ Khắc Khoan tôi bồi hồi nghĩ nhớ những kỷ niệm. Ngẫm nghĩ thét bèn đi tới một điểm (khá hiếm) anh em rất đồng ý. Tôi viết ra gửi kèm đây, Viên Linh có thể dùng, nếu muốn.

Hồi này tự nhiên bao ưu tư (về cá nhân hay tha nhân) cứ mờ nhạt đi. Chỉ còn trổi lên gay gắt mối nghĩ: Xưa kia và mai sau.. . cả ngàn năm nội thuộc nước Tàu:

“Anh em sáng tác trong nhóm Quan-Ðiểm chúng tôi nghĩ rằng, xã hội ta trải qua năm thế kỷ ly tán, văn hoá dân tộc đổ nát do thứ ảnh hưởng ngoại lai, cho nên sinh hoạt của con người Việt Nam ở thời đại này có thể nói rằng phần rất lớn gồm những hình thái mưu sinh và mưu cầu tạp nhạp. Có những con người, những sự việc, được những con mắt chủ quan hữu ý thổi phồng lên, nhưng nhìn vào kết quả của những hành động đều thấy vô vọng, có khi gây tai hại lâu dài nữa; có cố biện bạch thì cũng chỉ đến đổ tại là cùng.

Ðáng kể chăng là có những lúc thanh vắng tinh hoa cá nhân hiện ra qua những giọt tâm tư nhỏ xuống trang giấy. Trên cương vị sáng tác tâm tư tạo thành tác phẩm. Tác phẩm có nói ra được gì, đó là điều nên lưu ý. Lấy tác phẩm để hiểu con người, khi con người có tạo được tác phẩm.

Nếu độc giả nhận ra có tác phẩm Vũ-Khắc-Khoan thì Vũ Khắc Khoan ở trong đó. Những kỷ niệm riêng tư giữa Vũ Khắc Khoan với cá nhân không ra ngoài phạm vi riêng tư, cá nhân với cá nhân, chẳng đáng viết ra. Vì chẳng soi sáng chi hết. Tạp nhạp.”

–“Austin, 25 tháng ba 2001

Hơn tháng nay chúng tôi liên tiếp có khách đến thăm / ở chơi, vui quá, số đặc biệt chủ đề [phụ nữ) phải nằm yên ở góc bàn, sáng nay tôi mới nằm dài đọc được. Nội dung số báo hứa hẹn nhiều  nhưng cũng nói lên một điểm (không hoàn toàn riêng cho số báo này) : Khởi Hành có sắc thái ‘tồn cũ’ không phát huy thật đúng ý nghĩa của hai vết chân giao-chỉ. Ðọc hết số báo thấy vừa bụng, và cũng có ý kiến như sau:

-Tôi ra đời đầu thế kỷ XX, thời hầu như đã cắt đứt với Hán học, sau này cố học chữ Hán để hiểu tiếng Việt hơn mà thôi (80 phần trăm từ Việt gốc Hán). Riêng chữ “thị” nằm giữa tên họ phụ nữ VN tôi chú ý từ lâu lắm. Hồi tôi mới lớn, bắt đầu đọc thông quốc ngữ, tình cờ vớ được một cuốn truyện mỏng, Một Cảnh Làm Dâu, phô bày nông nỗi một cô gái bơ vơ giữa một nhà-chồng khắt khe. Ðọc, thấy cảm thương phụ nữ ta quá sức; cảm nghĩ này ảnh hưởng nặng tới sự viết lách của tôi mãi cho tới nay. Một dịp nói chuyện với anh Nhất Linh ảnh nhìn nhận cũng bị ảnh hưởng như vậy và do đó mới có Ðoạn Tuyệt. Thời còn đi học đôi khi tôi tới tìm hiểu ở toà án và rất bực nghe ba ông thông ngôn dùng chữ “thị” với nữ tội phạm, mỗi khi nghe gọi thị nọ thị kia tôi cảm thấy những con người bị gọi đó là thứ người không như mọi người. Bị ám ảnh như vậy tôi tìm hỏi người Tàu được biết chữ đệm đó do các Cụ ta sáng tạo; hỏi các cụ Việt cũng chẳng hơn chút nào… Tôi tự kết luận rằng, dùng chữ “thị” như vậy chỉ biểu tỏ theo các cụ ta sự lệ thuộc (tam tòng) của phụ nữ. Năm 1946 chúng tôi quyết định bỏ “thị” khi khai sinh cô con gái đầu, quyết định này có sự tán đồng của song thân tôi (mặc dù con gái các anh, chị tôi đều có thị). Thái độ của tôi đối với chữ thị nằm gọn trong ý muốn đổi khác thế sống của phụ nữ ta, bất kể chữ thị đó là thị nào trong bảy tám chữ thị Hán. Tôi nhớ bữa đọc thấy trên báo về vụ phụ nữ Tiệp đòi bỏ/không bỏ cái đuôi của tên họ tôi nghĩ ngay đến cô Tà Cúc tôi coi như một tay đầu têu trong phong trào đổi khác thế cách của phụ nữ và cắt báo gửi kèm ý kiến. Gửi rồi cũng quên đi vì chẳng thấy phản ứng, nay đọc thấy bài của Trần Lam Giang tôi mới chợt nhớ. Ðúng như phụ nữ Tiệp, phụ nữ ta cũng lửng lơ trước vấn đề nữ quyền!

Texas đã sang Xuân có nắng ấm, hi vọng sống dai thấy tăng chút ít!

PS/ Ðòi một thế sống công bằng, thoải mái (và đạo đức, không như kiểu bung-ra-ở-nước-ngoài của một số các bà các cô tị nạn) cho phụ nữ không đụng chi tới chuyện phụ/mẫu hệ. Cố níu lấy một biểu thị nào đó cũng giống như ba anh tân thời đội casquette (tập theo Lênin, Mao) để minh xác (tố cáo) vị trí rất-đúng-truyền-thống-cực-tả của họ.

Tôi cũng rất mong có vị nữ lưu nào đã bỏ ‘thị’ lên tiếng cho biết tại sao.”

20 tháng hai 2002

VL cho biết thuở bắt đầu yêu văn thơ chứng minh điều tôi tin chắc: Viết nằm sâu trong tim óc từ tuổi bắt đầu lớn chứ không thể là accident giữa đường phá ngang làm thơ, viết văn.

Hồi 1947 tôi từ miền Nam trở lại Hà Nội gặp lại [Lê Quang] Luật, Khoan, Hồng sau một tí. Bốn anh em chơi thân, lu bù quanh năm. Vụ Quan-Ðiểm Khoan-Hồng bày ra ở Sài Gòn cùng một số anh em khác, hồi ở HN hoàn toàn chưa ‘hoài thai’.”

–“Austin 12.10.03

VL thân

Ðọc tin trên báo nhà nảy hứng, tặng anh em hai bài haiku:

 

“Ðã tưởng đành mất quê

Nhìn về cách mạng làm mất quê

Còn lại muá rối nước.”

 

“Ðất hương hoả khôn giữ

Tưởng lập công đào bới nghìn xưa

Ðào lên càng dễ bán.”

 

Little Saigon, 2006, đăng trên Khởi Hành số 122.

Sửa lại dành cho Chủ đề Nhà Văn Mặc Ðỗ, Garden Grove, 5.2014. Viên Linh.

bài đã đăng của Viên Linh


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch