Trang chính » Sáng Tác, Tiểu thuyết Email bài này

Núi Đoạn Sông Lìa — phần 44

 

Dưng không núi đoạn sông lìa
Đêm ôm gối lạnh, ngày chia ngắn dài.

 

(tiếp theo)

 

*

Nhân dịp má sai chị Ba Khởi tới nhà bà Sáu Phồng Tôm hỏi mua vài lố bánh phồng tôm, bánh phồng cá để dành ăn Tết, Cẩm xin theo. Nhẩm tính lại từ bữa bà Sáu nhờ Cẩm đọc cho nghe lá thơ từ biệt của chị Năm Quắn tới giờ, đã tròm trèm một năm qua.

Thượng tuần tháng chạp, nắng tưới vàng hực lên ruộng lúa trơ gốc. Vụ lúa năm nay trúng mùa. Ông nội nói, nhờ con nước lụt hồi nẳm đem phù sa bón quén. Anh Chung vọt miệng thêm thắt, với lại xác người xác súc vật nữa nội. Chị Châu hấm hứ, cái thằng nói nghe ghê. Cẩm nghe vậy, mỗi lần cầm đũa lùa cơm vô miệng, không khỏi liên tưởng xác thú và "thằng chỏng" trương phình lềnh bềnh trên mặt nước mênh mông xám xịt. Ngược lại, cây trái thất mùa vì úng thuỷ. Bạn hàng tới coi mua mão vườn cam sành, vú sữa tím, xoài thanh ca, mận hồng đào đều trả giá thấp. Má không than dài thở vắn như lúc anh Chúc bỏ nhà biệt dạng, nhưng ngó nét mặt và ánh mắt má, Cẩm áng chừng gia cảnh đã không giống như trước.

Sang tháng chạp, tiết ban mai trở mát mềm mại, Cẩm và anh Chung rảo bước tới trường, thấy ruộng đất xa xa sương khuya còn lây lất chưa tan, lòng thấp thỏm chờ Tết. Chỏm núi Phụng đứt lìa trong mây mù như bị dao chém. Năm nay vắng mặt anh Chúc và bà nội. Cẩm nhớ lại, năm nào cũng vậy, sang mồng hai Tết Cẩm được bà nội dẫn đi thăm bà hội đồng Hoài. Cẩm thích lắm, dù phải cuốc bộ lâu lắc. Nhà bà hội đồng nằm phía bên kia rừng chuối già nua, không ai chăm sóc, chỗ miễu thờ ông Năm Thê. Mỗi bận đi ngang miễu, bà nội đều ghé vô thắp nhang. Nghe đồn, miễu ông linh lắm. Người nào đi ngang không cúng bái, ông quở. Cẩm muốn theo vô trong, vì e ngại quang cảnh u tịch bên ngoài, nhưng đã có lần bà nội dặn dò:

– Con còn con gái, vô trỏng không tốt.

Cẩm toan hỏi thêm, nhưng bà nội đã dúi cho cái bánh ú đem theo ăn dọc đường, biểu ngồi chờ ở bực thềm.

Gọi là miễu, chớ chỗ thờ phụng ông Năm Thê ngó bề thế như một ngôi chùa nhỏ được xây bằng gạch nung, lợp ngói âm dương, đầu hồi gắn đôi rồng tranh châu chạm miểng chai miểng sành vân vi màu sắc. Trong vuông sân trồng nhiều cội sứ trắng có đào một ao nước con, cá kiểng lượn lờ dưới đám bèo Nhật bổn. Một cọc đá xám xịt, phẳng lì, cắm trơ trọi giữa ao. Cẩm để ý, lần nào ghé ngang đây, trước khi vô điện thờ, bà nội đều tới ao, xá ba cái, đoạn cầm gáo múc nước xối lên cọc đá, vẻ mặt trịnh trọng như đứng trước linh vật.

Cho tới lần nọ, lúc Cẩm ngồi chờ bà nội ở bậc thềm, bà già giữ miễu tới ngồi cạnh, thủ thỉ gợi chuyện như muốn an ủi:

– Tại cô Út còn nhỏ nên chưa biết, chớ con gái mới lớn hợp nhãn ông Năm, ở ngoài nầy tốt hơn.

Cẩm còn ngơ ngác chưa hiểu, bà già đã vọt miệng kể tiếp:

– Mới nãy, tình cờ tui nghe lóm mấy lời bà Cả căn dặn cô Út. Sợ cô ở ngoài nầy một mình buồn, tui ra đây nói chuyện với cô một lát cho vui. Nói vậy chớ ổng cũng chưa đụng chạm gì tới ai, mà ngược lại, còn phò hộ cho người nầy người kia có được mụn con nối dõi. Tui đây là vợ bé thứ năm của ổng, cho nên họ kêu tui là bà Út Nhỏ. Bốn bà kia lần lượt đi theo ổng hết rồi. Bầy con, đẻ non với chết yểu chừng một tá, còn lại chẵn chòi năm chục đứa. Bây giờ tụi nó, mớ đi xa mần ăn mớ cưới vợ lấy chồng, mớ bỏ đi xứ khác lập nghiệp. Vài thằng vô bưng theo kháng chiến, còn bám trụ ở đất Ngàm Long nầy được bảy mống, ba trai bốn gái. Mỗi năm một bận, tới ngày giỗ ổng, tụi nó mới dẫn vợ con cháu chắt tới đây thắp nhang. Năm tháng còn lại mình tui lủi thủi ra vô, dọn dẹp lau chùi bàn thờ cho ổng, nói chuyện với mùng mền, chiếu gối cho đỡ buồn.

Trong khi bà Út Nhỏ chuyện trò bâng quơ, Cẩm lén liếc mắt ngắm bà cụ già kỳ lạ. Cẩm chưa thấy ai già như bà, dám hơn trăm tuổi. Tấm lưng mỏng, còng như miếng ván chất nặng những hưng phế. Đầu tóc thưa sợi bạc trắng, cắt ngắn như tóc á xẩm. Đôi tròng mắt đục lờ, mệt mỏi. Da dẻ nâu quánh màu thời tiết, gấp nếp dầy cui trên mặt. Lưng bàn tay cộm gân xanh như ẩn trùn. Lúc bà say sưa chuyện vãn, những ngấn da trên mặt run giật theo mỗi tình huống, cho Cẩm cảm tưởng, mỗi đường nhăn là một nhân chứng sống đang ôn lại từng chương quá khứ.

– Nói ra, sợ cô Út không tin, chớ tui thấy ổng về hoài, giống như ngó chừng tui vậy đó. Mới khuya qua chớ đâu, tui lại chiêm bao thấy ổng hiện về báo tin, bữa nay sẽ có khách quen tới cúng bái, một già một trẻ. Ổng kêu tui nhắn với người khách trẻ chuyện nầy…

Cẩm giật thót người, da nổi gai, day qua… Trời ơi, cặp mắt của bà già rực lên, đen nháy như của thiếu phụ mười tám, hai mươi. Và tiếng nói đột nhiên đổi lảnh lót như có hồn ma bóng quế ai nhập vô, xui khiến:

– Ổng kêu cô Út bữa nào nhớ đi thăm hai đứa nhỏ. Tội nghiệp tụi nó quá, cô Út ơi!

Cái âm giọng thanh tao nghe quen quen. "Hai đứa nhỏ nào vậy?" Cẩm bối rối. Chưa kịp hỏi, bà già đã đứng dậy, run rẩy bỏ đi, không một lời từ biệt. Chỉ nghe tiếng gió trững giỡn xào xạc từ rừng chuối đưa lại. Từng đợt từng đợt nối nhau như sóng thuỷ triều nhấp nhô con nước lớn. Cẩm bắt ớn lạnh, khoanh tay ôm ngực, dáo dác ngó quanh. Nắng trưa dọi xuống hoang mang từng phiến sáng.

Sau đó về nhà, bên bếp lửa cơm chiều Cẩm kể lại cho chị Ba Khởi nghe chuyện gặp gỡ bà vợ nhỏ kỳ lạ giữ miễu ông Năm Thê. Chị thủ thỉ:

– Chị nghe người ta kể, hồi xưa bả là người đẹp có tiếng ở đây. Vậy mà ưng ai hổng ưng, nhè ngay một người vợ con đùm đống. Hổng ai hiểu nổi!

Chợt, chị thấp giọng:

– Có lẽ… có lẽ… tại ông Năm Thê lấy củ ngải rù quến bả.

Cẩm còn chưa hiểu, chị đã tiếp lời:

– Ông Năm theo đạo Bà-la-môn của người Ấn-độ, được phép cưới nhiều vợ, với lại thờ cái dịch vật của đờn ông. Đó, đó, cái cột đá cắm giữa ao đó Cẩm!

Nói rồi, chị nhoẻn miệng ngỏn ngoẻn, giơ tay chặm mồ hôi tươm trán, hai gò má đỏ lơ đỏ lưỡng. Cẩm hiểu ra, đỏ mặt thỏ thẻ:

– Vậy mà em thấy bà nội múc nước dội lên cái đó chỗ miễu Năm Thê. Sao… sao… bà nội làm chuyện kỳ cục vậy chị?

Chị Ba Khởi che miệng khúc khích:

– Tại nó… nó… linh thiêng. Chị nghe kể lại, hồi nẳm ông bà nội lấy nhau, hổng có con. Bà nội mới nghe lời người ta, tới miễu ông Năm Thê cầu phước. Nhờ vậy mà lọt ra ba của em với lại chú Đức, mới ngộ. Lẽ đó mà năm nào bà nội cũng ghé ngang dội nước, cúng bái tạ ơn ông Năm.

Bất chợt nét mặt chị sa xuống, chị thấp giọng rủ rỉ:

– Chị còn nghe người ta kể thêm về cái chết của bốn bà vợ ông Năm Thê. Sau khi ổng qua đời vì bệnh nan y, người ta đem ổng đi thiêu. Mà quỉ thần ơi, đâu phải mình ổng, mà cả đám vợ lớn vợ bé của ổng cũng bị thiêu luôn đặng hầu ổng theo tục lệ đạo Bà-la-môn. Người ta phải bắt mấy bả ngậm á phiện trước khi trói lại, đem lên giàn hoả. Ác nhơn hông chớ? Chỉ có bà vợ nhỏ may mắn trốn được, ngày giỗ đầu tiên mới dám về. Ông Năm chết rồi mà hồn vẫn còn linh. Ổng làm sao đó hổng biết, mà bả quíu chưn không bỏ đi xa được, chỉ lẩn qua lẩn quẩn trong miếng đất miễu thờ, đi chợ nấu cơm cúng ổng cho tới mãn kiếp. Thiệt, tội hết sức!

Có điều, Cẩm không kể cho chị Ba Khởi nghe lời nhắn nhủ của ông Năm Thê nhờ bà Út Nhỏ nhắn lại trước khi bỏ đi.

Ông bà hội đồng Hoài là chỗ ơn nghĩa với ông bà nội từ lúc ông nội còn giữ chức hương quản trong ban Hương chức Hội tề. Ông hội đồng có bà con sao đó với ông Năm Thê. Không rõ vì lý do gì mà một mình ông hưởng trọn ngôi nhà hương hoả, thổ ngơi minh mông gồm mấy trăm mẫu ruộng và khu rừng chuối âm u. Nhà ông bà hội đồng cất trên miếng đất đắp cao, mái ngói rêu bám, vách ván dầy cui, khoét khung vầng nguyệt, chấn song chữ thọ làm cửa sổ. Một con lạch người đào thẳng băng nối ao nước cắm ghe xuồng với sông cái. Mỗi lần đặt chân tới đó, Cẩm đều có cảm giác sờ sợ, như thể vừa lạc vô cảnh giới nào khác. Nhưng Cẩm vẫn thích, vì trong khi bà nội huyên thuyên chuyện nhơn tình thế thái với bà hội đồng Hoài, Cẩm tự tiện nhón tay bốc mứt, cắn hột dưa, uống nước si-rô tây. Một thẩu sơn mài chia ngăn đựng nhóc nhách đủ loại mứt. Hợp khẩu Cẩm nhứt là mứt mãng cầu xiêm quấn giấy kiếng đủ màu hình viên kẹo. Rồi sau khi Cẩm chúc thọ bà hội đồng, được bà lì xì phong bì đỏ đựng một đồng đông dương cắt chỉ mới tinh.

Một dịp sau Tết, Cẩm theo chị Ba Khởi ra chợ, mua về con heo đất.

Con heo đất lớn cỡ tô sành úp ngược, vỏn vẹn hai màu đen đỏ, lưng khoét rãnh vừa vặn bề dày đồng xu bảo hộ. Con heo trong tư thế nằm, ngó dễ thương lắm. Cái miệng dấu phẩy một vệt chúm chím. Mắt nhắm vẽ hàng lông mi cong đen. Cái đuôi xoắn úp ngắn ngủn. Bụng bầu bĩnh, phết chữ nho. Ông nội nói chữ tài. Có điều không biết người ta dùng thứ nước sơn gì mà sao con heo bốc mùi thum thủm. Nâng niu nó đỗi lâu, màu sơn dính nhớp nhúa hai lòng tay đỏ loét, hôi rình.

Bữa nay, ngủ trưa dậy, Cẩm lỏn lẻn cầm ba nén nhang, hộp quẹt máy và con heo đất đi ra vườn sau. Đâu đó chỗ nầy, trước kia, Cẩm ngồi đọc thơ cho bà Sáu Phồng Tôm nghe. Để rồi từ đó Cẩm đem lòng thương cảm không những cho chị Năm Quắn, mà xót xa cho cả hai đứa con của chị đột nhiên trở thành trẻ mồ côi mẹ. Cuối cùng Cẩm nẩy ý đập con heo đất, lấy tiền mua kẹo bánh và lì xì cho tụi nó vui chơi mấy ngày Tết.

Cẩm đặt con heo lên mặt đất rụng vàng lá điệp quanh mộ bà nội, ngồi bẹp xuống. Cặp mắt heo con vẫn nhắm kín với hàng mi cong đen mượt. Cái miệng vẫn chúm chím như đang mơ thấy chuyện nực cười. Tâm tư Cẩm bồi hồi nhớ lại những ngày đầu năm theo chân bà nội đi chúc thọ bà hội đồng Hoài. Chuyện đã cũ mà sao Cẩm thấy tươi rói như mới xảy ra hôm qua, hôm kia đây. Nhà ông bà hội đồng Hoài nghe đâu bị Việt Minh tới cướp phá. Nhờ có kẻ thân tín báo nguy, gia đình ông bà hội đồng lấy ghe máy thoát thân đúng lúc, chỉ kịp tom góp mớ quần áo và tiền của hộ thân. Ruộng vườn, sau đó, được chia năm xẻ bảy cho tá điền. Giờ đây, ông bà hội đồng trôi giạt nơi đâu, không ai biết. Bà nội Cẩm cũng không còn đó, để mỗi năm Tết tới, bà lại nhẫn nha thuật chuyện quá khứ cho con cháu nghe, lần nào cũng bắt đầu bằng hai chữ "Hồi nẳm…" Khoảnh khắc ấy, ánh mắt bà thoắt chợt xa vời. Nhưng lấp lánh tia sáng thời dĩ vãng yên ấm. Trong trí nhớ Cẩm, cánh rừng chuối rậm bóng âm u thoắt bừng lên những luồng nắng chói rạng huyễn hoặc như giát lân tinh. Ngôi miễu thờ ông Ba Thê phát quang sáng rỡ như kho tàng cất giấu những châu báu thời gian. Cẩm thấy mình nhỏ lại, lít xít cúi lượm bông sứ trắng mới rụng, đem về xâu chuỗi đeo cổ. Nắng ký ức run rẩy rớt vạt thơm tho hương lúa chín. Nắng trưa nay cũng nở đoá sáng ngời lên chỗ an nghỉ sau cùng đắp xi-măng tươi màu vôi trắng của bà nội. Cẩm cầm ba cây nhang, bật hộp quẹt, châm lửa. Khói nhang bạt gió cay xè hai mắt Cẩm. Khuôn mặt da mồi nhăn nheo, đôi gò má lõm, cái miệng móm trơ trọi vài chiếc răng ăn trầu lãng đãng tỏ mờ trong hồi ức Cẩm, rồi sánh lại thành bóng ảnh chờn vờn không gian. Toàn thân Cẩm rúng động, chắp nhang trước trán, khép mắt khấn:

– Bà nội ơi, con nhớ bà nội lắm. Nhớ hồi xưa bà nội ưa dẫn con đi chúc Tết bà hội đồng Hoài, được bả cho ăn bánh mứt, uống nước si-rô, lì xì tiền. Con lấy tiền mua con heo đất, cắt củm dành dụm mấy năm nay. Lần trước bà Sáu Phồng Tôm nhờ con đọc thơ chị Năm Quắn, bắt con tội nghiệp cho hai đứa con của chỉ quá chừng. Mai con đi với chị Ba Khởi tới nhà bà Sáu mua bánh phồng tôm về ăn Tết, con muốn mua kẹo bánh với lại lì xì cho hai đứa nhỏ. Con thương con heo đất lắm, nhưng con cần tiền. Bà nội cho phép con đập nó. Nếu bà nội gặp nó dọc đường lên trời, chỉ nó cách đi đầu thai, kiếp sau làm người đàng hoàng, đừng làm heo đất nữa, bị người ta đập chết…

Khấn bao nhiêu đó, Cẩm xúc động nghẹn lời. Cẩm cắm nhang vô chén cát, mọp lưng lạy ba cái. Rồi Cẩm thẩn thơ leo lên thành mộ, vói bẻ vài cành bông điệp, cắm vô bình. Màu bông đỏ loé, rưng rưng. Cầm chần chừ, mong sao thời gian dừng lại, để Cẩm khỏi làm chuyện đau lòng. Có tiếng chim chèo bẽo rớt xuống tràng dài, rồi lửng lơ ngưng bặt. Cẩm nhắm mắt, nín thở, cầm con heo đất thả xuống lớp gạch bông cẩn trước bia mộ. Âm thanh vỡ vụn khô khốc. Cẩm lạc giọng:

– Kiếp sau nhớ đầu thai làm người nghe mầy!

Rồi khom lưng lượm mớ tiền cắc, tiền giấy gấp nhỏ vung vãi dưới đất. Đếm được ba đồng bảy chục xu. Cẩm giơ tay áo chùi nước mắt, lượm mảnh vụn heo đất, đào mộ chôn xuống. Bấy giờ Cẩm mới nhận ra vết trầy đỏ phồng trên lưng bàn tay trái. Một đường cạn cợt không đủ ứa máu. Nhưng không hiểu sao khuấy lên tâm tư Cẩm niềm giao động khó giãi bày. Cẩm có cảm tưởng như đang bốc hơi. Ngũ quan lơ lửng chập chờn giữa ranh giới thực mộng, trầy trụa dọc ngang. Cẩm bồi hồi tự hỏi, rồi đây sẽ còn bao nhiêu vết xước xảy tới trong đời mình? Và nhận rõ, mình đang ngấp nghé nơi ngưỡng cửa dậy thì. Cẩm bật tiếng lẩm nhẩm: "Ngày ấy khi xuân ra đời …"

Dưng không, Cẩm nhớ ra. Đúng rồi, giọng nói hoá thanh xuân năm nào của bà Út Nhỏ, người vợ bé thứ năm của ông Năm Thê, khi nhắn Cẩm đi thăm hai đứa nhỏ… Trời ơi, y hệt cái giọng mỹ miều như đào thương lúc xuống xề của chị Năm Quắn, làm sao Cẩm quên được. Cẩm rùng mình, thấy ra điều linh diệu của lời báo ứng.

 

(còn tiếp)

bài đã đăng của Ngô Nguyên Dũng


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)