Trang chính » Alice Munro và Thể Loại Truyện Ngắn, Bàn Tròn: Văn Học Nghệ Thuật, Chuyên Đề Email bài này

Mỗi nhà văn là chủ một tiệm tạp hoá ngôn ngữ

 

 
 

clip_image002

1. Vài cảm nghĩ ngắn về văn chương Alice Munro.

Tôi chưa hề được biết tới Alice Munro cho tới khi bà nhận được giải thưởng Nobel văn chương 2013.

"Bà là một tuyệt thủ về truyện ngắn đương đại" [1], và "các đoản văn của bà thường xảy ra tại những thành phố nhỏ, là những nơi mà ‘vấn đề tranh chấp cho một đời sống có ý nghĩa thường gây ra nhiều rối loạn trong quan hệ tình cảm và những xung đột luân lý’ " [2], là vài lời chủ yếu của ban giám khảo trong bài tuyên bố lý do trao giải thưởng cho bà.

Có một điều mới mẻ trong dịp trao giải Nobel văn chương năm vừa qua: lần đầu tiên một nhà văn chuyên viết truyện ngắn nhận được giải thưởng cao quý này. Dẫu vậy tôi vẫn chưa có nhu cầu tìm đọc các trước tác của bà, cho tới khi nhận được thư mời tham dự "Bàn tròn về Alice Munro và Thể Loại Truyện Ngắn" của Da Màu.

Để khỏi mất nhiều thì giờ, tôi tìm đọc các đoản truyện của bà đã được dịch sang Việt ngữ trong các báo mạng. Không nhiều. Bấy giờ chỉ tìm thấy: "Trốn Chạy" do Lưu Diệu Vân [3], "Mùa Gà Tây" do Trần Minh Hương [4], "Bầy Cáo Bạc" [5]"Thị Trấn Bên Đường" [6] do Nguyễn Đức Tùng chuyển ngữ. Và tôi tìm đọc thêm các bình luận của độc giả Đức trong trang mạng thương mại Amazon về các tuyển tập tryện ngắn của Alice Munro đã được chuyển sang Đức ngữ. Đa số khen ngợi. Tôi cũng dọ hỏi ý kiến của một người bạn Đức thích đọc sách văn chương. Ông cho biết, ông không thích và không thể đọc hết một tập truyện của bà. Riêng cá nhân tôi, những truyện ngắn của Alice Munro, mà tôi đọc được, không lưu lại tâm tư tôi nhiều rung động. Ở đây, tôi xin mượn chữ "tạng" của nhà văn Võ Phiến ra dùng để giải thích: "Cái tạng đọc của tôi không hợp với cái tạng viết của Alice Munro."

So đo một cách chủ quan, tôi nhận thấy những truyện ngắn của nhà văn xứ "mình", thí dụ Bình Nguyên Lộc, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, … bên nam giới, hoặc Nguyễn thị Hoàng, Nguyễn thị Thụy Vũ, … trước đây, vừa là nhà văn nữ vừa cùng thời với Alice Munro, hay Phạm thị Hoài, Trần Vũ, … sau này, dường như sắc nét hơn thì phải???

Rất thường xuyên tôi đặt câu hỏi về vai trò của ngôn ngữ trong văn chương. Nếu như các tác phẩm của những tác giả Việt nam được tôi nêu ra ở trên được chuyển sang Anh ngữ một cách chuẩn mực, liệu họ có được các vị trong ban giám khảo Nobel văn chương để ý tới không???

Về đôi lời phát biểu của Alice Munro về khuynh hướng sáng tác cũng như về quan niệm tình dục giữa người viết nam và nữ, tôi nghĩ rằng, điểm khác biệt đầu tiên xuất phát từ bản sắc sinh lý tự nhiên giữa giống đực và giống cái, và sau đó từ môi trường xã hội chịu ảnh hưởng truyền thống văn hoá bao gồm giáo dục, trình độ học vấn, tôn giáo, v. v… Do đó đàn ông thường có tư tưởng hướng ngoại, đàn bà ngược lại, điển hình là xã hội Việt nam. Đặc tính này phản ảnh đậm nét trong kiểu cách sáng tác của họ.

Quan niệm về tình dục của đàn ông và đàn bà cũng không giống nhau. Đàn ông đi tìm số lượng, đàn bà chuộng phẩm chất. Điểm bất đồng này đưa tới những "phiền não", bất bình và xung đột phái tính là chuyện khó tránh, trong văn chương cũng như trong đời sống.

2. Về truyện ngắn và vai trò của yếu tố địa lý.

Tôi nhớ, dường như có một nhà văn nữ ở miền Nam trước 1975, đã có lần lên tiếng, đại khái: "Người viết nào chưa có truyện dài trình làng thì chưa phải là nhà văn."

Tôi mượn tạm lời phát biểu này để đưa ra tính khác biệt giữa ngắn, dài trong văn chương. Một tác phẩm văn chương, dù ngắn hay dài, đều cần có phẩm chất sáng tạo là yếu tính làm thành một áng văn kiệt tác. Một quyển tiểu thuyết vài trăm trang gói ghém nhiều tình huống, vừa lôi cuốn vừa tiềm ẩn một "nhân sinh quan" hay một "thông điệp", có thể trói người đọc từ trang đầu tới trang cuối, vẫn khó viết hơn một tác phẩm vài chục trang. Ðộ ngắn, dài là số lượng, thuộc về hình thức, còn phẩm chất nằm ở nội dung, đòi hỏi óc sáng tạo tài hoa của tác giả. Nói như vậy, không phải tôi có ý đánh thấp giá trị của truyện ngắn. Một "Thác đổ sau nhà" của Võ Phiến hay "Rừng mắm" của Bình Nguyên Lộc, là những đoản văn tuyệt tác của văn chương Việt nam, chỉ là một vài thí dụ điển hình.

Tôi nghĩ rằng, khó lòng mang yếu tố "thời gian, không gian và quan điểm cá nhân của các nhân vật" [7] để xác định chiều dài một tác phẩm văn chương. Cá nhân tôi trong khi sáng tác hoàn toàn không để ý gì tới các yếu tố này. Tôi dự định viết ngắn hoặc dài trước khi hạ bút. Viết cho tới lúc cạn ráo cảm hứng, tôi ngưng.

Cá nhân tôi chuộng tính huyễn hoặc, không phải "quái dị" [8], hoặc những ẩn dụ chứa đựng tư tưởng Phật giáo trong văn chương. Lẽ đó, tôi rất thích truyện ngắn "Tan Theo Sương Mù" của Nguyễn thị Hoàng và "Lòng Trần" của Nguyễn thị Thuỵ Vũ.

Tuy nhiên, cho tới bây giờ tôi vẫn còn ưng ý "Vòng tay học trò" của Nguyễn thị Hoàng, "Khung rêu" của Nguyễn thị Thuỵ Vũ, "Sống chỉ một lần" của Mai Thảo, mặc dù các quyển tiểu thuyết này đặt trọng tâm vào những hệ luỵ tình cảm nam nữ, ngoại trừ "Khung rêu" của Nguyễn thị Thuỵ Vũ còn đá động tới những hưng phế của đời sống và xung đột giai cấp chủ tớ trong xã hội phong kiến.

Ở trong nước, hiện giờ, có Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn nữ sáng tác rất nhiều truyện ngắn. Đề tài trong văn chương Nguyễn Ngọc Tư cũng là những "chuyện bên lề" (như văn chương Alice Munro), nhưng có bối cảnh là làng quê Nam phần, nghèo nàn và lạc hậu sau nhiều năm chiến tranh. Nội dung không có gì cao siêu, vĩ đại. Cái buồn trong truyện Nguyễn Ngọc Tư nhẹ, mà cái vui cũng nhỏ. Tuyệt đối không có gì "dị hợm" hay "quái dị". Tâm tính những nhân vật thường bật tiếng bộc trực, đôi khi rổn rảng, thỉnh thoảng thổn thức, như để che đắp những phiền muộn lắng đọng bên trong. Nếu các đoản văn ấy được chuyển sang ngoại ngữ thì sao? Liệu rằng có dịch giả nào đủ tài năng lột tả thứ văn phong địa phương của bản chính? Tôi ngờ rằng, không. Và độc giả phương tây sẽ đón nhận chúng ra sao? Tôi e rằng, khó thành công. Có lẽ, tương tự trường hợp các tác phẩm của Alice Munro, cho dẫu trúng giải Nobel, vẫn không được độc giả tại Việt nam tìm đọc. Bản sắc "văn chương đặc sản Nam bộ" của Nguyễn Ngọc Tư, theo tôi, khó lòng vượt đường bộ di dân sang Âu châu, nằm chung đụng trong kệ sách với những ông Proust, Grass, những bà Lessing, Duras, v. v… Nói chi tới chuyện chèo tam bản vượt biển sang châu Mỹ. Ôi, gian nan!

Cũng cùng mẫu số chung "truyện ngắn", nhưng cái ngắn của Nguyễn Ngọc Tư có vẻ như khó tới Stockholm hơn cái ngắn của Alice Munro. Thôi, đành đổ lỗi cho "cách trở địa lý" vậy!

Tôi có bi quan lắm không?

3. Về tình dục trong văn chương Việt nam trong và ngoài nước.

Tình dục lúc nào cũng là một "điểm nóng" trong văn chương. Đối chiếu lời phát biểu của Alice Munro về đề tài này, tôi không nhận ra "nhà văn nữ nào viết truyện ngắn về đời sống phụ nữ Việt ở trong và ngoài nước hiện có còn bị coi là ‘đối tượng’ của các cây bút đàn ông khác" [9].

Tới đây, tôi sực nghĩ tới "Tình Cao Thượng" (một truyện vừa?) của Nguyễn Mạnh Côn ấn hành trước 1975. Nhân vật xưng tôi trong tác phẩm này là một phụ nữ đề cập tới đề tài tình dục qua một trường hợp cưỡng dâm. Qua cách đặt vấn đề của Nguyễn Mạnh Côn, tình dục xoá mờ ranh giới chủ thể và đối tượng, và chỉ còn là một hành động để cả hai thoả mãn những nhu cầu của thể xác. Cũng có thể cách nhìn của tác giả, là phái nam, về vấn đề này, vay mượn qua một nhân vật nữ, không phù hợp với tâm lý phụ nữ trong thực tế chăng? Giống như trường hợp của D. H. Lawrence trong tiểu thuyết "Lady Chatterley’s Lover". Nhân vật nữ "bị" tác giả gián tiếp "cho làm" đối tượng mù loà lệ thuộc vào chủ thể dục tính của đàn ông là quan điểm không được Alice Munro chấp nhận (?). Có lẽ vì vậy mà bà "băn khoăn" trong khi sáng tác chăng? Tôi không dám chắc, đã nắm bắt được ý bà qua lời tuyến bố trên.

Dường như những nhà văn nữ Việt nam không gặp những "băn khoăn" này. Trước 1975 các truyện ngắn, truyện dài của Nguyễn thị Thụy Vũ, Tuý Hồng, Nguyễn thị Hoàng, Minh Đức Hoài Trinh được xem như những bứt phá thói lề của xã hội về vấn đề tình dục. Trong số đó, phải kể tới những tác phẩm đầu tay thành công của Nguyễn thị Thuỵ Vũ là ba tập truyện ngắn: "Mèo đêm" (1966), "Lao vào lửa" (1967) và "Chiều mênh mông" (1968).

Ở ngoài nước hiện nay có Lê thị Thấm Vân sử dụng cách viết phóng túng, từ lối suy nghĩ cho tới cách dụng ngữ, trong khi đề cập tới đề tài này trong tiểu thuyết của chị, là những thách thức đòi hỏi nữ quyền, đồng thời phá đổ mọi quan niệm luân lý á đông: một nỗ lực cách tân văn chương Việt nam đáng quan tâm.

Vào thời cực thịnh của nền văn học lưu vong, Hồ Trường An cho ấn hành quyển tiểu thuyết "Hợp lưu" viết về tình dục đồng tính, mà tôi cho là một trong vài quyển tiểu thuyết đặc sắc của văn chương di dân Việt nam. Tình dục trong "Hợp lưu" của Hồ Trường An bôi sạch đối tượng. Hoặc thể, tình dục giữa hai người cùng phái không có những phân biệt để biểu dương lẫn băn khoăn? Nhưng, vướng lại trong ký ức tôi bây giờ không phải là những đoạn tác giả tả cảnh làm tình nhoáng lửa, mà là cảnh bầy quạ chợn vợn trên cách đồng lúa mì sau mùa gặt, và những cảm xúc bất an của nhân vật chính. Thứ cảm xúc mà tôi chưa đọc được ai viết trước đó. Và có lẽ, cả về sau này.

4. Về văn chương đương đại viết bằng Đức ngữ.

Trong danh sách kết quả trưng cầu ý kiến 4000 độc giả toàn cầu vào năm 2011 do viện văn hoá Goethe của Đức thăm dò qua tin mạng, 10 quyển sách văn chương sáng tác bằng Đức ngữ dẫn đầu toàn là truyện dài [10]:

1. Die unendliche Geschichte (Câu chuyện vô tận) – Michael Ende.

2. Der Vorleser (Người đọc truyện) – Bernhard Schlink.

3. Krabat (Krabat, cậu bé mồ côi) – Otfried Preussler.

4. Buddenbrooks (Dòng họ Buddenbrook) – Thomas Mann.

5. Das Parfüm (Mùi hương) – Patrick Süskind.

6. Momo (Cô bé Momo) – Michael Ende.

7. Faust (Faust, nhà thông thái) – Johann Wolfgang von Goethe.

8. Die Wand (Bức tường) – Marlen Haushofer.

9. Siddhartha (Câu chuyện của dòng sông, Phùng Khánh, Phùng Thăng chuyển dịch) – Hermann Hesse.

10. Im Westen nichts Neues (Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh, Tầm Nguyên chuyển dịch) – Erich Maria Remarque.

Trong đó có ba tác phẩm là tiểu thuyết hoa niên (1, 3, và 6), bốn tác phẩm có thể xem như văn chương cổ điển hoặc cận đại (4, 7, 9 và 10) với hai nhà văn được trao giải Nobel văn chương: Thomas Mann (1929) và Hermann Hesse (1946). Các tác phẩm còn lại có thể được xem như văn chuơng đương đại, trong đó chỉ có quyển đứng hạng tám là của một nhà văn nữ, Marlen Haushofer, lại là một tác giả có lẽ chỉ được giới thưởng ngoạn "văn chương nghiêm túc" [11] biết đến tại các quốc gia nói tiếng Đức. Không thấy tác phẩm của các cây viết cổ thụ của văn học Đức như Martin Walser, Heinrich Böll, Günter Grass, Uwe Johnson, v. v… nằm trong danh sách này.

Cá nhân tôi rất thích "Der Vorleser" (Người đọc truyện) của Bernhard Schlink. Trong tác phẩm này, tác giả đã khéo léo dựng nên một chuyện tình chênh lệch tuổi tác, liên quan tới một dữ kiện lịch sử quan trọng: giai đoạn thống trị của Đức quốc xã tại Đức dẫn tới thế chiến thứ hai.

Cùng là nhà văn nữ và cũng đã từng nhận được giải Nobel văn chương như Alice Munro là Herta Müller. Văn phong trong nguyên bản tiếng Đức "Niederungen" (Đất thấp), tập truyện ngắn đầu tay của Herta Müller được viết thuở bà còn ở Lỗ-ma-ni, là một tác phẩm văn chương quyến rũ, chuyên chở một thứ ngôn ngữ đầy thơ tính và giọng văn có sức lôi cuốn vô song, như lời bình phẩm của một vài phê bình gia người Đức.

Một số nhà văn Đức đương đại có tác phẩm được giới phê bình văn học tại đây lưu ý, có thể kể: Herta Müller với "Atemschaukel" (Ðong đưa nhịp thở – tiểu thuyết), Daniel Kehlmann với "Die Vermessung der Welt" (Đo đạc bản địa đồ thế giới – tiểu thuyết), Julia Franck với "Die Mittagsfrau" (Người đàn bà giữa trưa – tiểu thuyết), Frank Schätzing với "Der Schwarm" (Bầy hải sinh vật – tiểu thuyết viễn tưởng), Ferdinand von Schirach với "Verbrechen" (Những câu chuyện phạm pháp – tập truyện ngắn), v. v…

Trong danh mục được nêu ra ở trên, chỉ có "Verbrechen" (Những câu chuyện phạm pháp) của Ferdinand von Schirach là tuyển tập truyện ngắn, lại là quyển nằm trong danh sách các tác phẩm văn chương bán chạy (Bestseller) tại Ðức ròng rã 54 tuần lễ liến tiếp. Hiện tượng này có thể được giải thích: độc giả Ðức chuộng đọc truyện trinh thám, "Verbrechen" là tập hợp những mẩu chuyện phạm pháp có thật, từ hiếp dâm, trộm cướp cho tới giết người, được tác giả là một luật sư hình sự tường thuật lại. Có thể nói, "Verbrechen" của Ferdinand von Schirach là một dung hoà khít khao giữa hai loại văn chương nghiêm túc và giải trí.

Những tác giả và tác phẩm Ðức đương đại được nhắc tới trong đoạn này chỉ là chút kiến thức chủ quan hạn hẹp của tôi, hoàn toàn không tiêu biểu, vì số lượng tác giả mới, thuộc mọi lứa tuổi, xuất thân từ mọi thành phần trong xã hội, sáng tác đủ thể loại văn chương, không thể kể xiết.

5. Kết gọn

Tôi có cảm tưởng, mỗi nhà văn là chủ một cửa tiệm tạp hoá. Ông Võ Phiến mở một tiệm chạp phô ở Qui nhơn. Bà Phạm thị Hoài tất bật với cửa hàng xén ở chợ Đồng xuân. Anh Trần Vũ sang lại một tiệm thực phẩm á châu ở quận 13, thủ đô Paris. Chị Nguyễn Ngọc Tư chèo chống một ghe thương hồ xuôi ngược miền lục tỉnh Nam phần. Còn bà Alice Munro làm chủ một siêu thị nhỏ và một "quán ăn nhanh" đâu đó ở xứ tuyết Canada. Sáng sáng bà vừa gọt khoai tây vừa thai nghén ý tưởng cho một truyện ngắn mới. Siêu thị của bà phảng phất mùi phô-mai. Còn các cửa tiệm của ông Võ, bà Phạm, anh Trần, chị Nguyễn váng vất mùi nước mắm.

Dù sao họ vẫn là những người may mắn, vì có được một cửa tiệm. Biết bao nhiêu người viết khác ở Việt nam chỉ làm chủ mỗi một túm đồ cũ, ngồi bán chợ trời, phải đương đầu đủ mọi bất trắc rình rập thường xuyên.

Quí vị trong ban giám khảo giải Nobel văn chương ở Thuỵ điển hợp khẩu phô-mai là lẽ đương nhiên. Có khi nào họ cảm được hương vị nước mắm?

Đức, tháng 4. 2014


[1] "Eine Virtuosin der zeitgenössischen Novelle." (http://www.handelsblatt.com/panorama/kultur-literatur/entscheidung-in-stockholm-alice-munro-erhaelt-den-literaturnobelpreis/8913646.html).

[2] Ihre Kurzgeschichten spielen häufig im Kleinstadtmilieu, "wo der Kampf für ein würdiges Leben oft Beziehungsstörungen und moralische Konflikte erzeugt." (http://www.handelsblatt.com/panorama/kultur-literatur/entscheidung-in-stockholm-alice-munro-erhaelt-den-literaturnobelpreis/8913646.html).

[3] http://damau.org/archives/14480.

[4] http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=17187.

[5] http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=17126.

[6] http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=17046.

[7] Trích câu hỏi số 3 từ "Những Câu Hỏi cho Bàn Tròn về Alice Munro và Thể Loại Truyện Ngắn" của Da Màu.

[8] Trích câu hỏi số 4 từ "Những Câu Hỏi cho Bàn Tròn về Alice Munro và Thể Loại Truyện Ngắn" của Da Màu. (Tôi nghĩ, có lẽ từ "freakish" được dịch là "quái dị" có thể gây hiểu lầm, vì khiến tôi liên tưởng từ "kinh dị". Có lẽ nên dịch là "dị hợm", "kỳ lạ", "điên rồ" hay "khó lường", chính xác hơn chăng?)

[9] Bà thường bị xáo động bởi cách các nhà văn đàn ông định nghĩa khái niệm tình dục của phụ nữ … Bà tự chất vấn "làm sao tôi có thể thành một người viết khi tôi là đối tượng (tình dục) của các nhà văn khác." (Trích câu hỏi số 7 từ "Những Câu Hỏi cho Bàn Tròn về Alice Munro và Thể Loại Truyện Ngắn" của Da Màu).

[10] http://jetzt.sueddeutsche.de/texte/anzeigen/509997/Welches-ist-fuer-dich-das-beste-deutsche-Buch

[11] Tạm dịch từ "ernste Literatur" hay "Belletristik" (đối lại "Unterhaltungsliteratur": văn chương giải trí).

bài đã đăng của Ngô Nguyên Dũng


Bài này không có phần bình luận.

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch