Trang chính » Alice Munro và Thể Loại Truyện Ngắn, Bàn Tròn: Văn Học Nghệ Thuật, Chuyên Đề Email bài này

Nguyễn Đức Tùng: PHÁC THẢO VỀ TRUYỆN NGẮN

(tiếp theo phần 1)

1. Những nhà văn thế hệ sau Munro

Khi tôi đang đọc những trang cuối của cuốn Ngày Mười Tháng Chạp (Tenth of December) thì nhận được tin tác giả, nhà văn George Saunders, vừa được trao giải thưởng Folio 2014, có giá trị 40,000 bảng Anh. Đây là giải thưởng văn học mới và ông là người đầu tiên nhận giải. Folio được xem là bổ sung cho Man Booker. Điều thú vị là trong năm vị chấm giải có một người gốc Việt, nhà văn trẻ tuổi Nam Lê từ Úc, tác giả của tập Con Thuyền, The Boat, đã được dịch ra tiếng Việt trong nước. George Saunders viết truyện ngắn.

Như vậy tiếp sau Alice Munro với Nobel 2013, nay đến George Saunders, 2014. Đây có phải là tin mừng cho những người thích truyện ngắn không?

Tenth of December: đó là một ngôn ngữ biến đổi linh hoạt, khi buồn bã khi vui tươi, lúc thản nhiên lúc thương cảm. Truyện của ông nối kết những người rất khác, có khi đối lập, với nhau. Nên nhớ Saunders viết truyện ngắn từ những năm 1970, như thế là bốn mươi năm chung thủy như ngày đầu.

Để tôi nhớ lại coi. Bạn có thể hỏi tại sao tôi chọn mua cuốn sách ấy, cách đây hai tháng, trong hàng ngàn cuốn mới trong tiệm Chapters (hay Barnes & Noble)? Tình cảnh không quá ảm đạm như người ta than vãn. Khi nào đi mua sách, tôi cũng phải đứng xếp hàng chờ khá lâu. Lý do quan trọng nhất mà tôi quyết định mua cuốn ấy, là vì ở bìa sau có một câu: “Đây là nhà văn viết truyện ngắn tiếng Anh hay nhất”– Không phải là “một trong những nhà văn,” không phải là “có lẽ,” mà là “Hay nhất.” Thế thôi.

(The best short-story writer in English – not ‘one of;’ not ‘arguably,’ but the Best)

Ai vậy? Thưa, đó là Mary Karr. Nhà văn, nhà thơ nữ mà tôi không nghi ngờ gì về khả năng đọc.

Mà Saunders hoàn toàn khác Munro. Ông cũng như nhiều nhà văn thuộc thế hệ sau đang lao vào truyện ngắn với năng lượng khổng lồ và sự quyến rũ kỳ lạ, của Mỹ như Joyce Oates, Richard Ford, Tobia Wolff, Lorrie Moore, Michael Casey, Tim O’Brien, Steve Almond, Benjamin Percy, của Canada như Michael Ondaatje, Dionne Brand, Annabel Lyon, Jane Urquhart, Madeleine Thien, Lisa Moore. Nhưng sức mạnh của truyện ngắn đương đại nằm ở đâu?

Mặc dù tài năng của Munro không có gì có thể chối cãi, bà chỉ là một phần nổi lên của tảng băng truyện ngắn trong thế giới đương thời. Tôi muốn nói là xung quanh nhà văn được giải Nobel này, sau lưng bà, trẻ hơn, có rất nhiều người tài giỏi. Điều đáng ngạc nhiên là trong khi truyện ngắn giữ một tình trạng lép vế so với tiểu thuyết, sách bán không chạy, bị các nhà xuất bản lắc đầu, độc giả lật vài trang, rồi lén bỏ lên kệ sách trở lại, thì nó ngày càng thu hút các nhân tài về phía mình. Tôi không biết chắc các nhà xuất bản và các nhà phê bình có nhận ra điều ấy không.

Một bắt đầu, một kết thúc: dường như không phải cái này, chẳng phải cái kia. Toàn thể câu chuyện giống như đám mây vừa rơi xuống, khắp nơi trong lòng nó chứa đầy những cơn mưa. Một khởi đầu: người mẹ tìm thấy một chấm máu trên chiếc tã của con mình. Chuyện gì vậy? Ai thả nó vào đây? Lớn và đỏ tươi, với một tĩnh mạch màu kaki tan vỡ. Suốt mấy ngày cuối tuần, thằng bé quấy khóc, lơ mơ, đờ đẫn, buồn rầu. Nhưng hôm nay, nó đã khoẻ hẳn ra – vậy thì chuyện gì, đốm máu đỏ rực kia trên nền tã trắng, hệt như một trái tim chuột nhỏ bé, được gói lại cẩn thận trong chùm tuyết nõn? Hay của một ai khác?

(A beginning, an end: there seems to be neither. The whole thing is like a cloud that just lands and everywhere inside it is full of rain. A start: the Mother finds a blood clot in the Baby’s diaper. What is the story? Who put this here? It is big and bright, with a broken khaki-colored vein in it. Over the weekend, the Baby had looked listless and spacey, clayey and grim. But today he looks fine – so what is this thing, startling against the white diaper, like a tiny mouse heart packed in snow? Perhaps it belongs to someone else.)

Đây là đoạn mở đầu của truyện ngắn “Ở đây chỉ toàn những loại người như thế thôi” (“People like that are the only people here”) (1) của Lorrie Moore.

Một đoạn mở đầu hấp dẫn: nó cuốn hút tôi ngay vào chuyện. Cách viết mới, cách dùng chữ vừa phóng túng vừa cẩn trọng, nhất là nếu bạn đọc trong tiếng Anh. Nhưng ngay cả qua lời dịch vụng về của tôi, chúng ta cũng hình dung được phần nào mạch câu chuyện, sự mô tả vừa lướt qua vừa chi tiết, hiện thực mà không thực, chỉ định mà mơ hồ. Tã trắng được ví như tuyết. Truyện vừa bắt đầu, tràn ngập năng lượng, nhưng lại không hướng người đọc đến bất cứ một lối đi nào rõ ràng.

Như trong truyện của O. Henry, Chekhov, Hemingway.

Quan trọng nhất là: chúng ta không biết nhân vật là ai. Đây là sự tiếp nối của Raymond Carver, nhưng theo hướng khác, không những các nhân vật xuất hiện trong truyện của Moore ngẫu nhiên như chính đời sống của họ, mà sự xuất hiện sắp đến của họ còn thúc đẩy nhau mau lẹ bằng một xung lực mạnh mẽ.

Lorrie Moore cùng với Anne Beattie, khai phá đời sống của những người trung lưu ở Mỹ, trong khi Annie Proulx viết những trang tuyệt vời về vùng nông thôn, khung cảnh thơ mộng, những nhân vật kỳ lạ. Các nhà văn gốc di dân ở Mỹ cũng đóng góp rất nhiều cho truyện ngắn như Jamaica Kincaid và Chimamanda Adachie, Ha Jin, và đặc biệt là Andrew Lâm gốc Việt.

2. Truyện ngắn như một thể loại:

Bất cứ một sự bàn luận nào liên quan đến truyện ngắn cũng sẽ không tránh khỏi các thảo luận liên quan đến quan niệm thể loại. Tôi thiết nghĩ sẽ có ích hơn nếu chúng ta bàn về, ví dụ, thế nào là một truyện ngắn hay, thưởng thức nó ra sao, về phía độc giả, và làm cách nào cố gắng viết được hay tiến tới gần một truyện như thế, về phía nhà văn.

Truyện ngắn ngày nay đang thay đổi. Ví dụ ngày xưa truyện thường nhấn mạnh vào cốt truyện, lối kể đơn tuyến, mạch lạc, có gỡ nút, vào sự phát triển tính cách của một nhân vật. Ngày nay truyện ngắn chú ý nhiều hơn đối với các xúc cảm trữ tình, các giây phút bộc lộ, các tia chớp. Như vậy truyện ngắn ngày càng gần với thơ.

Trong khi tiểu thuyết lấy sự vận động của nhân vật, sự phát triển của họ làm giềng mối chính, thì truyện ngắn chọn cách tiếp cận khác. Nếu tiểu thuyết tựa vào thời gian thì truyện ngắn phải tựa vào không gian.

Bằng cách nào? Bằng cảm xúc trữ tình.

Cảm xúc trữ tình chính là khí hậu của truyện ngắn.

Nếu cần một cách phân loại giản dị, tôi cho rằng truyện ngắn là những tác phẩm hư cấu từ vài trăm chữ đến vài ngàn chữ, thường không quá 50 trang sách. Ít hơn một trang sách có thể gọi là truyện rất ngắn (very short stories) hay truyện ngắn ngắn (short short stories) hay truyện chớp (flash stories) hay truyện tối thiểu (mini fiction), dài hơn 20 trang có thể gọi là tân truyện (novella), để nhớ Duyên Anh lẫy lừng, nhà văn Việt Nam đầu tiên gọi một tác phẩm của ông là tân truyện.

Thật ra, câu hỏi so sánh truyện ngắn và truyện dài hay tiểu thuyết không chỉ giới hạn trong các định nghĩa, mà còn đặt ra những vấn đề sâu xa hơn của văn học.

Nếu tiểu thuyết cần một thời gian dài để viết, về phía tác giả tất nhiên, thì nó cũng cần một thời gian dài hơn nữa để chuẩn bị hậu trường. Tức là chuẩn bị lịch sử cho nó. Tức là một xã hội đã bắt đầu đi vào nề nếp, đã ổn định, không những đối với các cấu trúc căn bản mà còn với các định chế chính trị và tinh thần cao hơn. Lòng dân đã yên. Lòng người có yên thì chúng ta mới có nhà văn lớn ngồi viết nên tiểu thuyết lâu dài.

Tất nhiên, bạn có thể nói, ở đâu mà chẳng có những ngoại lệ.

Gần như ngược lại, truyện ngắn, cũng như ký, cũng như tự truyện, có thể phát triển trong môi trường ngắn hạn, giữa tiếng súng, giữa các biến động lịch sử kinh hoàng, không những vì thời gian viết ngắn hơn, mà còn vì các xúc cảm (phải) có tính tức thời hơn, và khả năng ghi nhận của nó đối với các thay đổi, các rối loạn, hình như cao hơn hẳn.

Điều vừa nói về truyện ngắn cũng đúng cho thơ, thậm chí đúng hơn nữa.

Đã gần hai trăm năm từ ngày truyện ngắn, trong hình thức hiện nay như chúng ta biết, được phát sinh (trở lại) trên thế giới, từ những năm đầu của thế kỷ 19, gần như cùng lúc ở châu Âu với Gogol và ở Mỹ với Frank O’Conner, đã gần một trăm năm nếu tính cho Việt Nam, từ Hồ Biểu Chánh và các nhà văn miền Nam trước ông, tính từ Khái Hưng, cây đại thụ, thế mà đến nay nó vẫn không ngừng phát triển, về đề tài, về cấu trúc, về văn phong. Vậy thì đó là mảnh đất hết sức giàu có cho người viết, người đọc, tin vui.

Chúng ta trở lại với Alice Munro. Thế giới dường như chia làm đôi chăng? Những người thích bà, đến nỗi phải la lên: Read Munro, Read Munro, như Jonathan Franzen, và những người không thích bà chút nào.

Những nhà văn khác nhau lôi kéo những tầng lớp độc giả khác nhau, không những thế, họ góp phần tạo ra các tầng lớp độc giả ấy. Đọc văn đương đại như Munro rất khó, khác với việc trước đây, ví dụ, đọc Hemingway, không phải vì câu văn của bà tối nghĩa, khó khăn hơn, trái lại, bà viết cũng dễ hiểu như vị tiền bối của mình.

Mà cũng chưa chắc.

Có thể đó là sự mô tả theo phương cách khác, một rung động tinh tế khác, ở tần số khác, vì trong khi văn Hemingway di chuyển nhanh và ngắn như gió giật thì Munro lặng lẽ một đám mây đang tích điện.

“Có một chuyện em muốn nhờ anh đây,”cô nói.”Em nghĩ nên nói bây giờ, vì biết đâu chẳng còn dịp nào nữa.”

Rupert hỏi, “Việc chi vậy?”

“Em biết anh có một chiếc thuyền. Em muốn nhờ anh chèo đưa em ra giữa sông. Em có thể chụp hình. Em muốn có một tấm ảnh thật đẹp chụp bờ sông. Những hàng liễu rủ bóng trên bờ đẹp quá sức anh ạ.”

“Được thôi,” Rupert nói, với vẻ hờ hững thận trọng thường thấy ở người nông thôn, trước tính nhẹ dạ phù phiếm của khách phương xa.

Mà cô đúng là một khách đến thăm.

Kế hoạch của cô là chờ khi ra đến giữa dòng, rồi nói với anh là cô không biết bơi. Trước tiên cô hỏi anh nước ở đó sâu bao nhiêu, và chắc chắn anh bảo, sau tất cả những cơn mưa đầm đìa không ngớt kia, nó phải sâu tới bảy hay tám hoặc mười bộ. Rồi cô nói với anh: cô không biết bơi.

Mà đó là sự thật.

(“Mối tình của người đàn bà đức hạnh”- “The love of a good woman”) (2)

Mô tả bình thản, dàn trải, rộng khắp, nhưng chọn lọc, như một người đàn bà lặng lẽ đi tìm mộ của đứa con mình, đi khắp nơi, nhưng vẫn lần theo dấu vết. Không có thì giờ đi lang thang, không cần tạo ra khung cảnh mới. Không khóc. Vì cuộc tìm kiếm ấy đã nhiều năm. Sau hai mươi năm, hay sau bốn mươi năm như người Việt chúng ta, chẳng lẽ lại còn nước mắt?

Vì vậy, trong khi tiểu thuyết mô tả sự vận động trong thời gian, thơ mô tả sự đứng yên, thì truyện ngắn mô tả sự vận động trong không gian.

Nguyễn Đức Tùng

(1) Lorrie Moore, Birds of America, NXB Vintage Contemporaries, 1998, P. 212

(2) Alice Munro, “The Love of a Good Woman,”NXB M&S, 1998, P.71-72

bài đã đăng của Nguyễn Đức Tùng


2 bình luận »

  • black raccoon viết:

    Thật ra, thơ có thể hiện diện trong hầu hết các môn nghệ thuật. Chopin người ta gọi là nhà thơ của âm nhạc; nhiều diễn cảnh trong phim hài hước đen trắng của Chaplin đẹp như bài thơ; hội họa của Miró, Kandinsky, Picasso ngộ nghĩnh trong trắng như ánh mắt ngây thơ của trẻ em.

    Thơ trong truyện ngắn, theo tôi, là điều kiện đủ để một truyện ngắn hay. Tôi có thể trích ra một đoạn mang hơi hướm thi ca của bất cứ truyện ngắn (và truyện dài) nào được coi là hay của thế giới hoặc của VN. Ngay cả của những tác giả viết văn trinh thám nghĩa hiệp như Edgar Allan Poe của Mỹ hay Conan Doyle của Anh hoặc Kim Dung, Cổ Long của Trung Hoa.

    Có một yếu tố rất quan trọng khiến hình thành văn nghệ, đó là yếu tố môi trường sống. Tôi muốn nói môi trường theo nghĩa rộng. Địa lý, văn hóa, chính trị, giáo dục.
    Có những câu chuyện, suy tư, của chổ này, xã hội này sẽ có thể tẻ ngắt lẩm cẩm trong một môi trường xã hội khác.

    Người Âu Mỹ, thí dụ, họ sống quen thuộc thừa thãi trong ý thức cá nhân và luật pháp. Đôi khi, trong văn nghệ, họ sẽ thể hiện ý hướng tìm tòi, thậm chí phản kháng trong chiều hường “trốn lánh” cái tôi chẳng hạn. Tôi e là trong một xã hội khác, khi tư cách đơn lẻ của con người bị vi phạm, nay cũng lại mờ mịt vai trò “cá nhân” nửa thì văn nghệ biết sẽ trôi về đâu (?).

  • black raccoon viết:

    Tôi có nêu ý kiến rằng thơ là điều kiện đủ để một truyện ngắn hay. Còn điều kiện ắt có? Theo tôi, trước hết, là kho ngữ vựng.

    Đọc những tác phẩm hay của những văn thi sĩ nổi tiếng, điều chúng ta dễ nhận ra là từ vựng phong phú của họ. Nói theo Bùi Giáng là “trùng trùng ẩn ngữ, cung bậc thi ca”. Dường như mỗi tác giả có một kho từ vựng riêng cho họ. Họ xử dụng một cách thoải mái, tài tình, hay ho, kỳ ảo, lý thú. Làm người đọc cũng mẩn mê theo.

    Tôi có thử dịch một bài thơ của Tomas Transtromer, bài Allegro, trong đó có mấy câu như:

    The music is a house of glass standing on a slope;
    rocks are flying, rocks are rolling.
    The rocks roll straight through the house
    but every pane of glass is still whole.

    Âm nhạc là ngôi nhà kiếng đứng cheo leo triền dốc;
    Đá bay vun vút, những viên đá lăn long lóc.
    Những viên đá lao xuống thẳng xuyên căn nhà
    Thế nhưng từng khung cửa kiếng vẫn y nguyên.

    Bài nầy trong tậpThe Winged Energy of Delight: Selected Translations by Robert Bly, published by Harper Collins. Copyright © 2004 by Robert Bly. Nghĩa là vào năm ông đã ngoài 70 tuổi.Thật khó tưởng tượng đấy là từ vựng của một cụ già.

    Theo tôi, văn thi sĩ sẽ còn sáng tác cho tới khi nào, ngoài yếu tố sức khỏe, kho ngữ vựng của họ còn đầy ắp ngôn từ.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch