Trang chính » Alice Munro và Thể Loại Truyện Ngắn, Bàn Tròn: Văn Học Nghệ Thuật, Chuyên Đề Email bài này

Tru Sa: Lãnh thổ truyện ngắn không có ngai vàng, và không cần nhà vua

0 bình luận ♦ 16.04.2014

 

 

(1) Trong giới văn học và xuất bản ở Mỹ hiện nay, tuy trong thời đại internet và social media, truyện ngắn không được đánh giá trị cao như truyện dài. Những nhà văn trẻ thường bắt đầu với truyện ngắn như một cách “học nghề,” nhưng sau đó bước chân vào truyện dài như một lẽ dĩ nhiên. Alice Munro, Raymond Carver, Lydia Davis và Lorrie Moore được coi là ngoại lệ, vì đây là những nhà văn nổi tiếng với những cải cách trong thể truyện ngắn. Hiện số mệnh truyện ngắn trong giới văn học Việt trong và ngoài nước như sao? Truyện ngắn có được giới độc giả Việt đánh giá cao hơn truyện dài không? Tại sao?

Mỗi người viết phần lớn đều chọn truyện ngắn làm lối đi ban đầu. Nhiều nhà văn trọn đời chỉ viết truyện ngắn và trở thành những bậc thầy trong loại hình nghệ thuật này (Alice Munro, Raymond Carver, Lydia Davis và Lorrie Moore…). Khác với truyện dài hoặc tiểu thuyết, truyện ngắn không đòi hỏi nhiều về dung lượng. Nghĩa là không phải mất quá nhiều trí lực để tạo ra một cơ số nhân vật, tình tiết, nhiều bối cảnh, chương hồi, sự luân chuyển dai dẳng giữa quá khứ, thực tại, giữa người này với người kia… Chỉ cần một cốt truyện, một hai chi tiết, nhân vật, thắt nút, mở nút thế là đã có một truyện ngắn. Để viết ra một truyện dài phải mất nhiều tháng thậm chí cả năm trong khi để viết ra một truyện ngắn chỉ cần vài giờ (Chekhov từng viết một truyện ngắn khi đang tắm). Ngắn gọn, mất ít thời gian, dễ học đấy có lẽ là lý do nhiều người đã chọn truyện ngắn làm mảnh đất đầu tiên. Nhiều nhà văn sau khi tung hoành chán chê đều chuyển sang viết dài. Cũng không ít người bắt đầu nghiệp viết bằng truyện ngắn và trở thành người tình thủy chung với truyện ngắn (Chekhov, Edgar Poe, Raymond Carver, Maupassant). Việt Nam thì có Nam Cao, Thạch Lam, Nguyễn Minh Châu Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp… Việc bỏ ngắn viết dài không hẳn vì họ đã ngán truyện ngắn và muốn ra đường lớn. Bởi không ít các tiểu thuyết đều được phát triển từ truyện ngắn (Haruki Murakami với Truyện ngắn Đom Đóm và tiểu thuyết Rừng Na Uy). Sự thay đổi này có lẽ bởi chính sự hạn chế của truyện ngắn. Ngắn. Cô đọng. Kiệm lời tối đa. Việc để một vấn đề đi quá lâu, hoặc quá nhiều nhân vật (quản lí được hay không) đều sẽ phá vỡ mô hình của truyện ngắn. Truyện sẽ rườm rà, rối rắm đồi khi còn bị hỏng. Trong khi các nhà văn vẫn còn quá nhiều điều để nói thì bắt buộc phải kết lại. Và họ tìm đến truyện dài, tiểu thuyết như một cách để giải phóng bản thân, để nói hết những suy nghiệm, những trăn trở… Truyện ngắn giống như một thử nghiệm để tìm ra cái gốc để từ đó sẽ nảy mầm lên thành đại thụ. Giữa truyện ngắn và truyện dài vốn có nhiều độ chênh nhưng lý do truyện ngắn không được đánh giá cao có lẽ do chính sự hạn chế về dung tích, nghĩa là một truyện ngắn dù có kiệt xuất thế nào cũng không thể chứa quá nhiều. Truyện ngắn thường nghiêng về hình thái và bút pháp, còn truyện dài nặng về tư tưởng. Truyện ngắn không thể bao quát rộng mà chỉ có thể đi sâu, còn truyện dài có thể chứa cả hai. Trong truyện ngắn luôn cần thiết những “điểm mù”, truyện dài thì khai triển “điểm mù”. Sáng thêm, sáng một nửa, nhập nhoạng, mù hơn, mù một nửa hoặc mù hẳn…

Văn học Việt hàng năm vẫn có nhiều tập truyện ngắn được công bố. Số lượng tập truyện ngắn trong nước luôn nhiều hơn truyện dài hoặc tiểu thuyết. Nhiều cuộc thi truyện ngắn (Văn Nghệ, Văn Nghệ Quân Đội…) rồi thì trên báo, Web không lúc nào thiếu những mục về truyện ngắn. Chưa kể các hội nghị, các lớp tập huấn ngắn hạn…Vẫn có truyện dài nhưng không nhiều. Sự vượt trội này một phần do mạng thông tin quá phát triển, nhiều phương tiện giải trí, đọc ngắn sẽ tiết kiệm được thời gian hơn. Mặt khác truyện ngắn luôn hấp dẫn và dễ theo hơn so với các tiểu thuyết dài hơi. Còn việc đối chiếu so sánh thì rất khó vì mỗi thể loại đều có lợi thế riêng. Truyện ngắn là hạt giống của truyện dài, còn truyện dài là sự cất cánh của truyện ngắn.

(2) Chúng ta có Cung Tích Biền, Trần thị Ngh., Lê thị Huệ, Nguyễn Thụy Long, Nguyễn Xuân Hoàng, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Trần Vũ, Nguyễn thị Thảo An, Phạm thị Hoài, Linh Đinh, Lâm Chương (có thể coi Lâm Chương như một nhà văn viết novella – thể truyện giữa “ngắn” và “dài”), McAmmond Nguyễn thị Tú, Lê Minh Hà, Lê Minh Phong, v.v… là những nhà văn đặc sắc ở thể truyện ngắn. Yếu tố nào là yếu tố chung của các nhà văn viết truyện ngắn đã tạo ra sự chú ý từ độc giả? Ngoài ra, yếu tố nào là đã tạo cho họ vị trí cá biệt trên văn đàn? Những yếu tố này có phải cũng là những yếu tố định nghĩa cho sự sinh tồn của truyện ngắn?

Một nhà văn giỏi không hoàn toàn cần phải lôi kéo nhiều độc giả. Số lượng không nói lên gì. Sách ngôn tình có nhiều độc giả nhưng đấy chỉ là bề nổi. Điều cần nói ở đây độc là là ai? Và họ đến với nhà văn vì lẽ gì? Nhà văn mang lại cho họ điều gì? Sự thành bại của mỗi nhà văn là ở phong cách viết, lối đi và những đột phá chưa từng thấy. Trong đấy yếu tố quyết định lại là tư duy/tư tưởng. Trong văn chương chủ đề để viết không nhiều, chẳng quá để nói rằng mọi con đường đều có chân người, có nhà ở, có thành quách rồi. Phải nhìn xem các nhà văn làm gì trên lối đi của họ. Raymond Carver được mệnh danh là Chekhov của Mỹ, người đã tạo ra sự cách tân lớn trong truyện ngắn. Văn phong của ông ngắn gọn, cô đọng, nhiều đoạn như bị cắt lìa ra, thoại ít hoặc thoại có như không, không có nhân vật chính…Đấy là về hình thức nhưng nếu chỉ thế thì đã không làm nên một Raymond Carver bất tử của văn học Mỹ. Các tập truyện chính của ông “Em làm ơn im đi được không?” và “Thánh đường.” Những sáng tác của Carver giống như những đoạn phim được quay chậm, thật chậm trong một khán phòng không tiếng người. Ông không hề bình luận gì, nhưng trong mạch truyện chúng ta đều thấy sự bất toàn, oái ăm thậm chí tuyệt vọng của cuộc sống. phận người trôi mờ, chạm mặt nhau, rồi tan biến đi như bọt xà phòng. Truyện “Anh có phải bác sỹ?” nói về một phụ nữ góa chồng, có con nhỏ gọi điện cho một anh chàng mà mình không biết. Anh ta rõ ràng không biết cô gái nhưng vẫn nhận lời đến nhà gặp mặt. Anh ta đến rồi chán nản đi vì chẳng hứng thú, còn cô gái vẫn mong anh chàng quay lại. Về nhà nhận được điện thoại vợ và cô nàng nghĩ chồng mình bồ bịch nên đã về khuya. Chỉ có thế. Nhưng điều chúng ta nhận thấy ở đây là các rào chắn giữa các nhân vật. Người phụ nữ lạ/chàng trai/người vợ. Không hề có mối liên kết nào giữa họ. Từng nhân vật bị chẻ ra. Sợi giây mỏng để nối họ lại với nhau có lẽ là sự mong đợi. Người phụ nữ thấy thích thú vì được nói chuyện với chàng trai còn anh ta thì chỉ muốn về sớm. Đoạn tiến đưa chàng trai “…cùng lúc cô đóng sập cửa, suýt kẹt cả áo khoác anh. Một câu ngắn, đời thường nhưng sắc bén. Người phụ nữ đã quá cô đơn và cần đến một người đàn ông để khả dĩ bám lại vào cuộc sống. Chàng trai đã bỏ đi và còn thấy lạ lùng. Giữa hai người không chắc có ngày gặp lại. Sự liên kết giữ hai con người này chỉ tới đây. Độc giả sẽ chẳng băn khoăn vì giũa họ chỉ gặp lần đầu. Nhưng đọc dòng cuối cùng. Khi nhận được điện thoại vợ mình với vẻ đùa cợt anh cứ im lặng nghĩ ngợi về giọng của vợ. Tới đây độc giả không khỏi hãi hùng vì ngay đến hai con người tưởng chừng gắn kết được cũng tuột mất rồi. Việc Caver đứng ngoài cuộc, viết bằng chất văn lạnh lùng, thản nhiên khiến truyện ngắn thêm tàn khốc. “Người bố” là truyện ngắn hơn cả, khoảng hơn 2 trang, kể về nhân vật người bố đang ở trong bếp nghe được cuộc đối thoại giữa những đứa trẻ, người mẹ và bà nội bàn luận xem đứa bé mới sinh giống ai. Người bố được nhắc đến duy nhất một lần bằng một câu kể, nghĩa là ông ta đứng ngoài cuộc không hề tham gia cuộc đối thoại của đám đông kia. Chỉ bằng tiếng “suỵt” của bà nội cắt ngang cuộc đối thoại của mấy đứa trẻ. Chỉ một tiếng sụyt. Thật khẽ, thật nhẹ, hồ như còn chẳng bật nổi thành tiếng. Một bí mật liên quan được gợi ra: liệu người bố có phải là con của ông nội và đứa bé mới sinh có phải là con của người bố không? Bởi chỉ nếu xâu chuỗi lại 3 lời thoại của những người tham gia: “Đứa bé có đôi môi của ông nội” (lời bà nội), “Nó giống bố” (Lời một đứa trẻ), mà “Bố không giống bất cứ ai” (Lời một đứa trẻ khác) thì dễ dàng suy luận ra một sự thực rằng bố – đứa bé – ông nội, cả ba thế hệ trong một gia đình này hóa ra không liên quan gì với nhau. Họ không cùng huyết thống. Vậy điều gì sẽ diễn ra tiếp theo. Carver để lửng. Một trường hợp tương tự là hai vợ chồng tranh giành đứa con trong “ Cơ Khí Dân Dã”. Lấy tích xưa hai bà mẹ thật/giả kéo đứa con về phía mình, người mẹ thật vì sợ con đau sẽ buông tay trước. Tuy nhiên trong truyện Carver thì không có sự nhún nhường nào. Đứa bé bị kéo mạnh sang hai bên,“Và vấn đề được đinh đoạt theo cách ấy.”- Truyện kết trong sự ngỡ ngàng của người đọc. Cách kết thúc đột ngột này này đã khiến mỗi người phải suy nghĩ, thậm chí phải đọc lại nhiều lần. Mọi ấn định về cốt truyện, tình tiết, nhân vật ( truyện của Caver không có nhân vật hoàn toàn chính, thậm chí còn có những nhân vật có như không) đều bị phá vỡ. Thay vào đấy là ngôn từ, các tình tiết tưởng như vụn vặt, hời hợt. Mọi vấn đề đặt ra rồi nhà văn biến mất. Caver đã bỏ rơi độc giả và bắt họ tự tìm lối ra. Lối của Caver hoặc lối của chính họ.

Không ai có thể quyết định sự sinh tồn của truyện ngắn. Lãnh thổ truyện ngắn không có ngai vàng, và không cần nhà vua. Đấy là đất thiêng, một đại các tự không cần cửa. Mỗi nhà văn luôn sáng tạo hết mình, cống hiến trí lực để lãnh địa này thêm màu mỡ. Tất nhiên để xây lên những công trình quý mỗi người viết đều phải có một tư duy sắc bén. Tư duy, đấy là tố chất then chốt bởi có tư duy sắc thì mới có tư tưởng lớn mà tư tưởng chính là tầm vóc của nhà văn.

(3) Có cần nên có ranh giới giữa truyện ngắn và truyện dài? “Ngắn” và “dài” nên là bao nhiêu trang? Một truyện ngắn có thể mô tả một thời gian dài tương đương như truyện dài (10, 20, 50 năm), hay phải ngắn hơn? Nên chú ý việc Alice Munro đã “phá giới” về yếu tố thời gian, không gian, và quan điểm cá nhân của các nhân vật. Trong các truyện “Axis,” The Bear Comes Over the Mountain,” và “Runaway,” Alice Munro cho độc giả trải nghiệm một quãng thời gian dài trong đời sống của các nhân vật chính. Bà không áp dụng một quan điểm (point of view) nhất định trong cách kể truyện, mà di chuyển từ cái nhìn của từng nhân vật, bất kể đàn ông hay đàn bà, làm ta nghĩ đến phim Rashomon của Kurosawa. Trong bối cảnh văn học Việt Nam, đã có nhà văn nào “phá giới” giữa quy luật truyện ngắn và truyện dài chưa? Tại sao chúng ta chưa chịu phá giới thường xuyên hơn?

Nếu không có ranh giới giữa truyện ngắn và truyện dài (tiểu thuyết) thì hai thể loại đã là một. Truyện ngắn là một sự tiết chế, cô đọng, tập trung vào một chủ đề, hoặc một hai tình tiết còn truyện dài thì có biên độ lớn hơn, bao quát và có tầm vỹ mô (Trăm Năm Cô Đơn của Marquez nói về một phả hệ nhiều đời. Đi Tìm Thời Gian Đã Mất thì dài cả ngàn trang, với hàng trăm nhân vật…). Điều khác biệt giữa ngắn và dài là vấn đề trong đó. Có những truyện rất ngắn chỉ một vài trang thậm chí một vài dòng (truyện mini hoặc truyện chớp) nhưng nhiều truyện lại kéo dài tới hàng chục trang ( “Axis,” The Bear Comes Over the Mountain,” và “Runaway,” của Alice Munro) nhưng kể cả việc kéo dài câu truyện như vậy thì đấy vẫn chỉ là những truyện ngắn. Bởi văn phong của Alice Munro không hề giống với truyện dài. Nghĩa là bà viết cô đọng, có độ nén, ngôn ngữ tinh và có chắt lọc. Còn ở truyện dài thì không cần thiết những điều đấy. Mười năm, hai mươi năm thậm chí một trăm năm không thể quy một truyện ngắn thành truyện dài. Khi viết về một bông hoa, người viết truyện ngắn sẽ chọn cho mình những góc quan trọng, còn người viết truyện dài sẽ bày nhiều trò hơn (không chỉ là một bông hoa mà những thứ quanh nó, ai sẽ ngắm nó, ai ngắt nó, ai tranh giành nó, rồi khi bông hoa héo đi…) bên cạnh lối hành văn, ngôn ngữ là còn là chi tiết. Truyện ngắn rất thận trọng trong việc sử dụng chi tiết. Rất khó để tìm ra một truyện ngắn vượt quá mười chi tiết. Với truyện dài thì số lượng chi tiết cần nhiều hơn thế. Việc di chuyển điểm nhìn trong từng nhân vật trong các truyện của Alice Munro là một sáng tạo đáng nể. Như thế ai cũng có quyền nói, mỗi người đều có tư cách dẫn truyện chứ không bị bỏ ngỏ hoặc trở thành nền cho sự phát triển của nhân vật chính. Truyện ngắn “Trong rừng trúc” Akutagawa Ryunosuke đã cho toàn bộ nhân vật, thậm chí hồn người chết được lên tiếng. Kết cấu giống như những ghi chép trong một cuộc hỏi cung, cũng giống với sự bài trí thường thấy ở phim ảnh (chia đoạn…) Ở Việt Nam không nhiều người phá giới khỏi quy luật ngắn – dài mà hầu hết họ tập trung vào những cách tân, đổi mới (Nguyễn Huy Thiệp). Việc dài hay ngắn không quan trọng. Dài chưa chắc đã hay, ngắn chưa phải đã dở. Cần phải nhìn vào sự đột phá giữa ngắn và dài. Sự phá vỡ quy luật luôn là một thử thách lớn không chỉ ở giới cầm bút Việt Nam. Nhưng có lẽ ở nước ngoài thì nhiều hơn vì người Việt dù rất tài năng, giàu sáng tạo nhưng rất hiếm hoa tiêu. Đi sau bao giờ cũng chắc chắn và chắc ăn hơn.

(4) Trong một cuộc phỏng vấn với tạp chí The Paris Review, Alice Munro nói rằng “[Hồi còn trẻ] tôi đã mê đọc Eudora Welty, Flannery O’Connor, Katherine Ann Porter, Carson McCullers. Tôi nghĩ nhà văn đàn bà có khả năng viết về những điều quái dị, hoặc những chuyện bên lề … Còn tiểu thuyết vĩ đại trong giòng chính về hiện thực là giang sơn của đàn ông.” (“I loved Eudora Welty, Flannery O’Connor, Katherine Ann Porter, Carson McCullers. There was a feeling that women could write about the freakish, the marginal…. [But] the mainstream …. big novel about real life was men’s territory,” .) Hiện tượng “nhà văn đàn bà viết về những điều quái dị hoặc chuyện bên lề” và đàn ông “viết về những đề tài vĩ đại” có phản ảnh bối cảnh văn học Việt Nam của ngày hôm nay hay không? Hay hiện tượng này đã được đảo ngược, với một số nhà văn đàn ông Việt viết theo thể magic realism như một cách theo mốt, nhằm tránh bị kiểm duyệt, hoặc do nỗi “cô đơn” trong một thực tại nghiệt ngã của những biến cố xã hội và lịch sử mà Gabriel García Marquez đã đề cập trong diễn văn nhận giải văn chương Nobel năm 1982 của ông?

(5) Liên hệ với câu hỏi (4) ở trên. Những điều “quái dị hoặc bên lề” ở vùng Ontario của Alice Munro có còn “quái dị” khi áp dụng vào bối cảnh văn chương Việt Nam hay không? Tại sao một số độc giả Việt Nam nghĩ rằng truyện của Alice Munro có phần “ảm đạm”? Định nghĩa “ảm đạm.” Hiện nay, ai là những nhà văn “ảm đạm” của Việt Nam?

Văn chương vốn là loại hình nghệ thuật quái dị. Không quái dị thì sẽ thành bình thường mà cái thông thường là mồ chôn của nghệ thuật. Nói về sự ảm đạm trong truyện của Alice Munro, trước hết phải nhận diện độc giả. Họ đã từng trải qua thứ không khí ảm đạm mang tên Alice Munro chưa. Phần lớn nhiều độc giả Việt vẫn quen đọc theo lối truyền thống. Truyện rõ nghĩa, kết có hậu và đọc xong phải thấy trời xanh. Sự ảm đạm ở đây có thể hiểu là một không gian khó hít thở, hình ảnh mù mờ, nhìn thấy nhau nhưng khó chạm đến. Thật ra thì ảm đạm, hay đen tối không phải điều gây tranh cãi. Nếu ảm đạm mà khiến độc giả phải nghĩ, thậm chí soi xét lại bản thân (Hơi cá nhân một chút, khi đọc “Mất Tư Cách Làm Người” (Dazai Osamu) tôi đã “diện bích” (nghĩa đen) cả tuần trời thì có phiền phức gì không. So với những truyện đọc xong, gấp lại, rồi quên tiệt, khi hỏi lại chỉ nói một câu “Hay!” thì Alice Munro đáng đọc hơn. Nếu văn chương không làm con người biết đau thì đấy chỉ là hề. Ở Việt Nam hiện nay khá nhiều nhà văn ảm đạm đấy thôi. Nhưng ảm đạm theo nhiều nghĩa, hơi ảm đạm, một chút ảm đạm, ảm đạm vừa vừa, ảm đạm nhạt, ảm đạm đau thương… Còn nếu muốn thấy cái ảm đạm khiến con người phải trăn trở ngay cả khi sách đọc xong nhiều tuần như của Alice Munro thì có lẽ cần phải chờ thêm. Thời gian còn đấy. Đất Nam luôn có nhân tài.

(6) Yếu tố địa lý – vùng Ontario ở miền Trung của Canada – là bối cảnh chính trong nhiều truyện ngắn của Alice Munro. Yếu tố không gian/địa lý có quan trọng trong truyện ngắn Việt Nam hay không? Tại sao (không hay có)?

Không gian/địa lý rất quan trọng đối với mọi nhà văn, cả thế giới lẫn Việt Nam. Môi trường sống là tác nhân lớn đến những điều bạn viết. Việc sinh sống tại đâu, như thế nào, gặp ai, chịu ảnh hưởng sẽ định hình đặc trưng cho mỗi nhà văn (Chekhov, Garshin, Alice Munro, Raymond Carver…) Không ai có thể viết về cái chết nếu chưa chết hụt hoặc nhiều lần nghĩ về cái chết. Sự đau đớn, am hiển, mối hoài cảm, cô đơn thậm chí cả cái ác nữa sẽ dòn tụ lại và đổ thành chữ. Nhiều khi để hiểu một nhà văn chúng ta phải cần biết về cuộc đời họ. Linda Lê là nhà văn gốc Việt tôi thực sự ngưỡng mộ. Truyện ngắn và tiểu thuyết của Linda Lê đều âm u, tăm tối thậm chí nhiều trường đoạn còn lấy mất đi của tôi hơi thở. Tìm hiểu thêm thông tin tôi được biết Linda Lê sang Pháp từ nhỏ và đến nay dù trở thành một tên tuổi lẫy lừng nhưng lại không thể nói được tiếng Việt. Mất đi tiếng mẹ đẻ cũng là mất đi nửa nguồn gốc. Khi tuyệt vọng quá, muốn tự an ủi bằng một tiếng gọi mẹ cũng chỉ đành dùng tiếng Pháp. Điều này còn đáng sợ hơn cả luyện ngục của Đantê.

Riêng ở Việt Nam thì đã có Nguyễn Huy Thiệp. Đâu phải ngẫu ngiên mà Nguyễn Huy Thiệp đặc biệt chú trọng viết về nông thôn, miền núi và những vấn đề thuộc về quá khứ.

bài đã đăng của Tru Sa


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch